Hướng tới mục đích phát triển năng lực giao tiếp nghĩa là giúp học sinh tích lũy kiến thức về Tiếng Việt, rèn luyện các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp, đáp ứng các
Trang 1Hiện nay, dạy học Văn trong nhà trường phổ thông đang là một vấn đề gây nhiều tranh cãi, đặc biệt là việc lý giải nguyên nhân vì sao học sinh hiện nay chán học Văn hay học văn với tâm lý đối phó Tiếng Việt là một phân môn của bộ môn Ngữ Văn, và vấn đề dạy – học Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông không tránh khỏi tình trạng chung đó Qua quá trình tìm hiểu thực tiễn
và nghiên cứu tài liệu, tôi nhận thấy rằng một trong những nguyên nhân cơ bản của thực trạng chính là sự chậm chạp trong vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, mặc dù yêu cầu đổi mới và quá trình đổi mới dạy học ở nước ta đã diễn ra hơn 20 năm nay
Nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng đối với việc cung cấp cho các
em những tri thức khoa học cơ bản về tiếng Việt, đối với việc vận dụng những những tri thức đó vào thực tiễn đời sống, bồi dưỡng tình yêu đối với tiếng mẹ
đẻ và hình thành nhân cách của người học, tôi nghĩ rằng chúng ta – mỗi người giáo viên và học sinh phải tự ý thức được bản thân mình cần phải dạy như thế nào và học như thế nào để những kiến thức lý thuyết không còn là những điều sáo rỗng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Và dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là một trong những quan điểm dạy học có thể đáp ứng được yêu cầu này
1 Quan điểm giao tiếp là gì?
a Khái niệm
Quan điểm giao tiếp là quan điểm dạy học xuất phát từ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ và hướng tới mục đích phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh
Định nghĩa trên về quan điểm giao tiếp có hai vấn đề chúng ta cần nắm được:
Trang 2Thứ nhất: quan điểm giao tiếp là quan điểm dạy học xuất phát từ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ
- Giao tiếp là một trong hai chức năng cơ bản của ngôn ngữ (chức năng
giáo tiếp và chức năng tư duy) Trước hết, ta thấy ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu và chức năng cơ bản của các tín hiệu là chức năng giao tiếp Ngôn ngữ là phương tiện để con người truyền đạt những tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng, ý chí của mình đối với cộng đồng một cách nhanh nhất, chính xác nhất và trực tiếp nhất Ngôn ngữ là phương tiện để con người thiết lập và thể hiện một cách chính xác các mối quan hệ giữa con người với con người Ngoài ra, ngôn ngữ còn là phương tiện để con người thực hiện chức năng quản lý, điều hành và phát triển xã hội
Ngôn ngữ không những là phương tiện giao tiếp mà nó còn là phương tiện giao tiếp quạn trọng nhất nhất của con người Trong lịch sử xã hội loài người, con người đã giao tiếp với nhau bằng rất nhiều phương tiện khác nhau như giao tiếp thông qua hành động, cử chỉ, nét mặt, công thức, ký
hiệu, biểu đồ…(giao tiếp phi ngôn ngữ) và ngôn ngữ Tuy nhiên, ngôn ngữ
vẫn là phương tiện giao tiếp đặc biệt nhất và tạo ra hiệu quả giao tiếp cao nhất Bởi vì:
Nội dung biểu đạt của các phương tiện giao tiếp bổ sung nói trên nghèo nàn, ít ỏi và đơn nghĩa Trái lại, nội dung biểu đạt của phương tiện giao tiếp ngôn ngữ lại phong phú và sâu sắc Mối quan hệ giữa hai mặt : cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong các phương tiện giao tiếp bổ sung là 1/1 Trong khi đó, mối quan hệ giữa hai mặt trong phương tiện giao tiếp ngôn ngữ có tỉ lệ là 1/n và n/1, vì vậy ngôn ngữ luôn luôn tồn tại các hiện tượng đa nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa…
Nội dung biểu đạt của các phương tiện giao tiếp bổ sung nói chung là
Trang 3lại, ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ lại rất quen thuộc đối với mọi thành viên, mọi lứa tuổi, thành phần, tầng lớp trong xã hội
Ngoại trừ các môn nghệ thuật đơn lập, các phương tiện giao tiếp bổ sung không có hoặc hạn chế khả năng biểu thị cảm xúc Trái lại, ngôn ngữ luôn có khả năng biểu thị mọi cảm xúc, trạng thái tâm lý tinh tế và sâu kín nhất của tâm hồn người Có thể nói, ngôn ngữ không bao giờ “đầu hàng” trước bất kỳ một nhu cầu biểu đạt nào của con người
Giao tiếp là một hoạt động mang tính mục đích và ngôn ngữ chính là phương tiện để thực hiện mục đích giao tiếp đó Như chúng ta đã phân tích
trên đây, cùng với các phương tiện giao tiếp khác như hành động, cử chỉ, nét mặt, công thức, ký hiệu, biểu đồ…các phương tiện giao tiếp đều có chức năng thực hiện mục đích giao tiếp Tuy nhiên, trong số các phương tiện giao tiếp đó, ngôn ngữ vẫn là một phương tiện giao tiếp hiệu quả nhất, giúp cho cuộc giao tiếp đạt được mục đích nhanh nhất, hoàn thiện nhất
- Chức năng giao tiếp quy định giá trị của các yếu tố ngôn ngữ Nghĩa
là, giá trị của ngôn ngữ được thể hiện bằng sự quy ước về ngôn ngữ và sự thông hiểu, thông dụng về ngôn ngữ Ngược lại, trong qúa quá trình giao tiếp, con người trở nên thông hiểu, thông dụng về ngôn ngữ và tạo ra sự quy ước mới, khi sự quy ước được được chấp nhận rộng rãi và có được tính cố định, nó sẽ tạo ra giá trị của ngôn ngữ
Thứ hai: quan điểm giao tiếp là quan điểm dạy học xuất phát từ mục đích của việc dạy học Tiếng Việt trong nhà trường.
- Quan điểm giao tiếp là quan điểm dạy học hướng tới mục đích phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh (Dạy học Tiếng Việt trong nhà
trường nhằm mục đích đích phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh)
+ Năng lực giao tiếp bao gồm: năng lực sinh lý như nói, viết, nghe, đọc
và năng lự tâm lý như hiểu, tạo động cơ hành động
Trang 4+ Phát triển năng lực giao tiếp gồm : rèn luyện các kỹ năng nghe, nói,
đọc, viết, cung cấp những quy tắc, khái niệm sơ giản về Tiếng Việt cho học sinh
Hướng tới mục đích phát triển năng lực giao tiếp nghĩa là giúp học
sinh tích lũy kiến thức về Tiếng Việt, rèn luyện các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp, đáp ứng các nhu cầu ứng xử ngôn ngữ trong học tập, làm việc cũng như trong sinh hoạt hàng ngày
- Dạy học Tiếng Việt trong nhà trường nhằm cung cấp những tri thức
về tiếng Việt và những quy tắc sử dụng tiếng Việt cho học sinh
- Dạy học Tiếng Việt trong nhà trường nhằm rèn luyện năng lực sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp cụ thể , từ đó thực hiện chức năng của quá trình giao tiếp.
- Vì sao dạy học Tiếng Việt phải xuất phát từ chức năng giao tiếp?
Dạy học Tiếng Việt phải xuất phát từ chức năng giao tiếp mới mới có thể giúp học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách hiệu quả ở cả bốn dạng: nghe, nói, đọc, viết
b Các quan điểm cơ bản trong lịch sử dạy học tiếng.
Dựa vào lịch sử phát triển của ngôn ngữ học, ta thấy, trong dạy học tiếng Việt đã từng có những quan điểm chủ yếu dưới đây:
Quan điểm lô-gic: Đây là quan điểm tương ứng với thời kỳ phát triển
ngôn ngữ của lô-gic học Quan điểm này đã tồn tại từ thời cổ đại cho đến trước khi chủ nghĩa cấu trúc ra đời trước Saussure Quan điểm này dựa trên
cơ sở lô-gic học và thành tựu của ngôn ngữ lô-gic học
Quan điểm cấu trúc: Đây là quan điểm tương ứng với thời kỳ thịnh
hành của ngôn ngữ học cấu trúc, hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ XX Quan điểm cấu trúc dựa trên những thành tựu của ngôn ngữ học cấu trúc,
Trang 5áp dụng tính hệ thống và một phần quan điểm lô-gic trong tiến trình dạy học
Quan điểm giao tiếp: Đây là quan điểm dạy học xuất phát từ chức năng
giao tiếp của ngôn ngữ và cũng hướng tới việc rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh Xét cho cùng, quan điểm giao tiếp có liên quan đến quan điểm xã hội, chức năng xã hội của ngôn ngữ trong ngôn ngữ học Nó sử dụng những thành tựu của ngôn ngữ học theo quan điểm chức năng Quan điểm giao tiếp cũng chỉ xuất hiện từ khi chủ nghĩa cấu trúc bắt đầu nhường chỗ cho các khuynh hướng mới, tiếp cận gần hơn với thực tế giao tiếp
2 Những biểu hiện của quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng.
Trong dạy học tiếng Việt, quan điểm giao tiếp được thể hiện trên bốn phương diện cơ bản nhất:
- Một là thể hiện trên phương diện mục đích dạy học (mục đích giao tiếp)
- Hai là thể hiện trên phương diện nội dung dạy học (nội dung giao tiếp)
- Ba là thể hiện trên phương diện nguyên tắc dạy học (nguyên tắc dạy học hướng vào hoạt động giao tiếp)
- Bốn là thể hiện trên phương diện phương pháp dạy học (phương pháp giao tiếp)
Chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể dạy học theo quan điểm giao tiếp trên từng phương diện
2.1 Quan điểm giao tiếp thể hiện trên phương diện mục đích dạy học
Mục đích của việc dạy học Tiếng Việt là giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp; biết yêu tiếng nói của dân tộc, giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt Như vậy, dạy học Tiếng Việt không nhằm giúp các em học sinh trở thành những nhà văn, nhà thơ hay nhà ngôn ngữ học sau này, mà chỉ để trở thành những công dân có ích, chuẩn bị cho việc học tiếp các chuyên ngành khác nhau trong xã hội
Trang 6Trong các mục đích trên, vấn đề trọng tâm là hình thành năng lực giao tiếp, gồm nghe, nói, đọc, viết
Quan điểm giao tiếp đã chi phối mục đích dạy học tiếng việt Sự chi phối đó thể hiện trong từng bài học cụ thể
Ví dụ: Trong bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” trong Sách giáo khoa Ngữ văn 10 Sự chi phối của quan điểm giao tiếp thể hiệm trong mục đích của dạy học nội dung kiến thức này, đó là: Giúp Học sinh nắm được những kiến thức cơ bản của hoạt động giao tiếp; Giúp học sinh biết xác định các nhân tố giao tiếp trong một hoạt động giao tiếp, nâng cao năng lực khi nói (viết) và năng lực phân tích, lĩnh hội khi giao tiếp
2.2 Quan điểm giao tiếp thể hiện trên phương diện nội dung dạy học.
Nội dung dạy học gồm những kiến thức lý thuyết phục vụ trực tiếp cho việc học tập kinh nghiệm và khoa học về giao tiếp Ví dụ như: Khái quát lịch sử Tiếng Việt; Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết; Những yêu cầu về sử dụng Tiếng Việt
Nội dung dạy học bao gồm việc rèn luyện các kỹ năng sử dụng tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết (phát âm chuẩn, đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, viết đúng, thành thạo các loại văn bản thông dụng…)
Nội dung dạy học còn bao gồm việc cung cấp và mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh
Nội dung dạy học tiếng Việt trên đây được xác định là do quan điểm giao tiếp chi phối Sự chi phối đó thể hiện ở chỗ: Các kiến thức và kỹ năng được lựa chọn vì mục đích hình thành năng lực giao tiếp cho học sinh (kiến thức về văn hóa, tâm lý – xã hội, kỹ năng sử dụng từ - đặt câu đúng nghĩa, đúng ngữ pháp, kỹ năng hình thành văn bản…) Các kiến thức, kỹ năng đó là sản phẩm của ngôn ngữ học theo quan điểm giao tiếp
Trang 72.3 Quan điểm giao tiếp thể hiện trên phương diện nguyên tắc dạy học tiếng Việt
Mọi qui luật, cấu trúc và mọi qui tắc hoạt động của hệ thống ngôn ngữ,
hệ thống tiếng Việt chỉ được thể hiện trong lời nói sinh động và rút ra từ lời nói sinh động Muốn hình thành kỹ năng, kỹ xảo ngôn ngữ tiếng Việt cho học sinh thì trước hết phải tạo được môi trường giao tiếp cho học sinh tham gia và lĩnh hội, sáng tạo lời nói
Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp chi phối toàn bộ qui trình tổ chức day- học tiếng Việt từ khâu xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến các khâu xây dựng bài học của giáo viên
Nguyên tắc hướng hoạt động vào giao tiếp được cụ thể hoá trong các phương diện sau:
- Việc dạy học ngôn ngữ tiếng Việt không mục đích cung cấp tri thức
“ hàn lâm” về ngôn ngữ mà nhằm mục đích rèn luyện các kỹ năng giao tiếp ( chẳng hạn rèn luyện kỹ năng nghe- nói- đọc – viết với 6 kiểu văn bản THCS : tự sự , miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành chính)
- Nội dung các ngữ liệu phải đảm bảo tính sinh động, tính thực tế của giá trị, câu hỏi tìm hiểu các bài tập thực hành phải gợi mở được thao tác thực hiện, gắn liền với các kỹ năng lĩnh hội, sản sinh lời nói cần rèn luyện Xuất phát từ bản chất của việc dạy học tiếng Việt, trong quá trình dạy học, giáo viên cần phải chú ý tới những yêu cầu cụ thể:
+ Đặt các đơn vị ngôn ngữ đưa ra giảng dạy, học tập trong hệ thống hành chức của nó (ví dụ: từ đặt trong câu, đặt câu trong đoạn văn, đoạn văn trong văn bản, xác định các nguyên tố chi phối, giải thích rõ tại sao lại như vậy?)
Trang 8+ Giáo viên cần tạo ra những tình huống giao tiếp như: các hình thức hoạt động ngoại khóa, các cuộc tranh luận trong giờ học… , hướng học sinh vào hoạt động nói năng để bản chất của ngôn ngữ được bộc lộ rõ nét nhất
Ví dụ: Khi dạy bài Ngữ cảnh (Ngữ văn 11), giáo viên gắn nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp bằng cách đưa ra một tình huống như sau: Trong bối cảnh Lan đi chơi về muộn – lúc Lan về tới nhà là 11h đêm Mẹ
Lan biết lúc đó là 11h nhưng mẹ Lan vẫn hỏi Lan rằng: “Mấy giờ rồi
con?” Với tình huống đó, giáo viên yêu cầu học sinh trao đổi, thảo luận và
đưa ra các phương án trả lời bằng các lời nói cụ thể, chẳng hạn:
+ Con xin lỗi mẹ, con đi chơi về muộn, lần sau con không thế nữa.
+ Con biết lỗi rồi, con xin lỗi mẹ!
+ Bây giờ là 11h ạ!
Thông qua các cách giải quyết tình huống của học sinh, giáo viên yêu cầu các học sinh khác phân tích, nhận xét, đánh giá cách gải quyết Với
cách tạo ra tình huống giao tiếp như vậy, học sinh sẽ phải “nhập vai” vào
các nhân vật giao tiếp và do đó sẽ kích thích các em chủ động tham gia vào quá trình học tập Sau khi giải quyết tình huống này, giáo viên hướng dẫn, phân tích và giúp học sinh rút ra khái niệm ngữ cảnh
+ Giáo viên giúp học sinh vận dụng có hiệu quả những tri thức tiếng Việt
đã lĩnh hội được vào quá trình giao tiếp
2.4
Quan điểm giao tiếp thể hiện trên phương diện phương pháp dạy học
Quan điểm giao tiếp yêu cầu giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực , chống thuyết trình, giảng giải, đọc chép, tăng cường giao tiếp, đối thoại không chỉ ở trong văn bản viết mà còn trong văn bản nói
Trang 9Phương pháp giao tiếp là phương pháp giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng những tri thức sơ giản đã học vào việc thực hiện các nhiệm vụ giao tiếp
cụ thể bằng Tiếng Việt
Các phương pháp, hình thức thể hiện quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt như:
- Phương pháp thông báo, giải thích : Là phương pháp dạy học trong đó giáo
viên dung lời nói của mình để giải thích, minh họa các tri thức mới Tuy nhiên phương pháp này ít được sử dụng trong dạy học tiếng Việt
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ.
Phân tích ngôn ngữ là phương pháp học sinh dưới sự chỉ dẫn của giáo viên vạch ra những hiện tượng ngôn ngữ nhất định từ những tài liệu ngôn ngữ cho trước, quy các hiện tượng đó vào một phạm trù nhất định và chỉ rõ những đặc trưng của chúng Bản chất của phương pháp này là quan sát, phân tích các hiện tượng ngôn ngữ theo các chủ đề (vấn đề ngôn ngữ ) nhất định và tìm ra những dấu hiệu đặc trưng của những hiện tượng ấy Phương pháp phân tích ngôn ngữ được chia nhỏ theo đối tượng được phân tích: Phân tích ngữ âm, phân tích từ vựng, phân tích ngữ pháp, phân tích ngữ nghĩa, phân tích phong cách
Phương pháp phân tích ngôn ngữ được tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Giáo viên chuẩn bị ngữ liệu, tạo các tình huống, cung cấp các nhân tố giao tiếp
Bước 2: Giáo viên cho học sinh tiếp xúc với ngữ liệu, học sinh định hướng nội dung cần thực hiện
Bước 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích ngữ liệu theo mục đích yêu cầu của bài học bằng hệ thống các câu hỏi
Bước 4: Thông qua phân tích, học sinh rú ra các nhận xét, khái niệm, quy tắc…ngôn ngữ, sau đó giáo viên kiểm tra lại quy trình thực hiện nhiệm vụ
Trang 10của học sinh, đối chiếu yêu cầu của đề bài để kiểm tra sản phẩm đó có phù hợp hay không và tổng hợp lại kiến thức
Bước 5: Giáo viên yêu cầu học sinh thực hành áp dụng nâng cao
- Phương pháp rèn luyện theo mẫu :
Rèn luyện theo mẫu trong dạy học Tiếng Việt là phương pháp dạy học, trong đó giáo viên hướng dẫn cho học sinh dữa theo mẫu lời nói đã được SGK xây dựng hoặc mẫu lời nói của giáo viên để giải quyết các bài tập, rèn kỹ năng hoặc tạo ra mẫu lời nói của mình
Để thực hiện phương pháp rèn luyện theo mẫu, giáo viên cần tuân thủ quy trình sau:
+ Giáo viên cung cấp mẫu lời nói hoặc hành động lời nói
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu theo một số yêu cầu cụ thể + Học sinh mô phỏng mẫu để tạo ra lời nói của mình
+ Giáo viên tổ chức cho học sinh đánh giá, tự đánh giá kết quả của mình và rút kinh nghiệm
- Phương pháp giao tiếp :
Phương pháp giao tiếp là phương pháp giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng những tri thức sơ giản đã học vào việc thực hiện các nhiệm vụ giao tiếp
cụ thể bằng Tiếng Việt
GS TS Lê A khi bàn về phương pháp giao tiếp đã nói “ Phương pháp giao
tiếp là phương pháp quan trọng trong dạy học Tiếng việt Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lý thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp” [Lê A 2006 69-70] Đặc biệt các
tác giả còn nhấn mạnh “ Phương pháp này có thể được áp dụng khi dạy học
từ ngữ, câu, phong cách và đặc biệt là trong các bài học thuộc phân môn