1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam

207 957 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc
Người hướng dẫn PGS.TS. Ngô Xuân Bình, TS. Đặng Kim Nhung
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam
Chuyên ngành Địa lý tài nguyên và môi trường
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 4,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1 Mục tiêu - Nghiên cứu về công tác QLMT đô thị ở Nhật Bản - Rút ra những kinh nghiệm để áp dụng vào công tác QLMT đô thị ở Việt Nam, tron

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ

VIỆN ĐỊA LÝ - ***** -

NGUYỄN THỊ NGỌC

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ NHẬT BẢN VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ

Hà Nội - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN ĐỊA LÝ - ***** -

NGUYỄN THỊ NGỌC

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ NHẬT BẢN VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Địa lý tài nguyên và môi trường

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Các số liệu được sử dụng trong công trình là trung thực, những vấn đề trích dẫn liên quan đến công trình đều được sự đồng ý của các tác giả

Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận án tiến sĩ, em xin chân thành cảm ơn PGS TS Ngô Xuân Bình, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, nay là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, TS Đặng Thị Kim Nhung, Viện Địa lý, Viện Hàn Lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam đã giúp đỡ, hướng dẫn em nhiệt tình trong quá trình làm luận án Em xin cảm ơn các thầy

cô giáo, các nhà nghiên cứu trong Viện Địa lý, đã có nhiều ý kiến quý báu giúp đỡ em trong quá trình học tập và viết luận án Em cũng xin cảm ơn các nhà khoa học, các đồng nghiệp của Đại học Kinh tế và Luật Osaka, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Nghiên cứu Châu Âu, Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện giúp em để hoàn thành luận án

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, sưu tầm tư liệu và phỏng vấn các nhà khoa học, phân tích, đánh giá song luận án vẫn còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy cô giáo, các nhà khoa học lượng thứ và góp ý cho bản luận án này

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, 10 tháng 05 năm 2014

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thị Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do và sự cần thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2

2.1 Mục tiêu 2

2.2 Nhiệm vụ 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Cách tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu khoa học 3

4.1 Cách tiếp cận 3

4.2.Các phương pháp nghiên cứu khoa học 3

4.2.1 Thu thập và lựa chọn dữ liệu thứ cấp 3

4.2.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp 4

4.2.3 Phương pháp khảo sát 5

4.2.4 Phương pháp chuyên gia 5

4.2.5 Phương pháp thống kê chi tiết 6

4.2.6 Phương pháp phân tích so sánh và tổng hợp 6

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

5.1 Ý nghĩa khoa học 6

5.2 Ý nghĩa thực tiễn 7

6 Luận điểm bảo vệ và những điểm mới của luận án 7

6.1 Luận điểm bảo vệ 7

6.2 Những điểm mới của luận án 7

7 Cơ sở tài liệu của luận án và tình hình nghiên cứu 7

7.1 Cơ sở tài liệu của luận án 7

7.2 Tình hình nghiên cứu 8

8 Kết cấu của luận án 11

CHƯƠNG I 12

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 12

Trang 6

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 12

1.1.1 Khái niệm về quản lý môi trường 12

1.1.2 Các nguyên tắc trong quản lý môi trường 13

1.1.3 Các nội dung chính của quản lý môi trường 14

1.1.4 Tổ chức công tác quản lý môi trường 15

1.1.5 Các công cụ quản lý môi trường 17

1.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ 27

1.2.1 Trên thế giới 27

1.2.2 Ở Việt Nam 28

1.2.3 Ở Nhật Bản 29

Tiểu kết chương I 29

CHƯƠNG II 30

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ NHẬT BẢN 30

2.1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐÔ THỊ CỦA NHẬT BẢN 30

2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên 30

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 32

2.1.3 Đặc điểm đô thị của Nhật Bản 35

2.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ NHẬT BẢN 37

2.2.1 Môi trường không khí 37

2.2.2 Môi trường nước 42

2.2.3 Chất thải rắn 46

2.2.4 Thảm họa, sự cố và các vấn đề môi trường khác 49

2.3 CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ CỦA NHẬT BẢN 50 2.3.1 Giải pháp luật pháp, chính sách 50

2.3.2 Giải pháp kinh tế 58

2.3.3 Giải pháp giáo dục và truyền thông 62

2.3.4 Thúc đẩy hợp tác quốc tế 66

2.3.5 Các giải pháp khác 68

2.3.6 Các kinh nghiệm đúc rút từ công tác quản lý môi trường đô thị Nhật Bản 70

Tiểu kết chương II 71

CHƯƠNG III 72

Trang 7

VẤN ĐỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI

PHÁP ĐỀ XUẤT TỪ KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN 72

3.1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI VÀ ĐÔ THỊ CỦA VIỆT NAM 72

3.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên 72

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 74

3.1.3 Đặc điểm đô thị của Việt Nam 76

3.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ VIỆT NAM 76

3.2.1 Môi trường không khí 76

3.2.2 Môi trường nước 82

3.2.3 Chất thải rắn 87

3.3 CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ VIỆT NAM 92

3.3.1 Giải pháp luật pháp, chính sách 92

3.3.2 Giải pháp kinh tế 97

3.3.3 Giải pháp công nghệ, kỹ thuật 100

3.3.4 Giải pháp giáo dục và truyền thông 102

3.3.5 Hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ môi trường đô thị và một số giải pháp khác 106

3.4 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 108

3.4.1 Hiện trạng môi trường của Hà Nội 108

3.4.2 Hiện trạng công tác quản lý môi trường ở Hà Nội 114

3.4.3 Nhận xét chung 118

3.5 ĐÁNH GIÁ NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG, KHÁC BIỆT GIỮA ĐÔ THỊ VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 119

3.5.1 Những điểm tương đồng 119

3.5.2 Những điểm khác biệt 123

3.6 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ CHO VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở NHẬT BẢN 129

3.6.1 Hoàn thiện và thực thi có hiệu quả luật pháp, chính sách 129

Trang 8

3.6.2 Tăng cường và phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ với chính quyền địa

phương, doanh nghiệp 133

3.6.3 Sử dụng các giải pháp kinh tế một cách linh hoạt 135

3.6.4 Thúc đẩy các hoạt động tự nguyện và tích cực của các thành phần xã hội trong bảo vệ môi trường 137

3.6.5 Ưu tiên chương trình trọng điểm và phát triển công nghệ thân thiện với môi trường 140

3.6.6 Chú trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế về môi trường và một số giải pháp khác 143

3.6.7 Đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường đô thị cho Hà Nội 144

Tiểu kết chương III 147

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN i

TÀI LIỆU THAM KHẢO ii

PHỤ LỤC viii

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

APN Mạng lưới Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu Toàn cầu - Châu á

Thái Bình Dương (Asia-Pacific Network for Global Change Research)

TN &MT Tài nguyên và Môi trường

GEF Quỹ Môi trường Toàn cầu (Global Environment Facility) GIS Hệ thống Thông tin Địa lý (Geographic Information

System)

IGBP Chương trình nghiên cứu sinh địa quyển quốc tế

(International Geosphere-Biosphere Programme) IHDP Chương trình con người trong vấn đề môi trường toàn cầu

(International Human Dimensions Programme on Global) ISO Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (International Standards

Organization) IUCN Hiệp hội bảo tồn Thiên nhiên thế giới (International Union

for the Protection of Nature) JICA Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (Japan International

Cooperation Agency) MEXT Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ

Nhật Bản (Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology)

METI Bộ kinh tế, Thương mại và Công nghiêp Nhật Bản

(Ministry of Economy, Trade and Industry) MOE Bộ Môi trường Nhật Bản (Ministry of Environment of

Japan)

NGOs Tổ chức Phi chính phủ (Non-Governmental Organizations) NEIS Viện nghiên cứu Môi trường Quốc gia Nhật Bản (National

Trang 10

Institute for Environmental Studies) OECD Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (Organization for

Economic Coorporation and Development) ODA Viện trợ Phát triển chính thức (Official Development

Assistant) PPP Người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Priciple)

SEMA Hiệp hội trang thiết bị tiêu dùng đặc biệt (Specialty

Equipment Market Association)

UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc (United Nations

Development Program) UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp

Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)

UNEP Chương trình môi trường Liên hợp quốc (United Nations

Environment Program) UNIDO -

SECO

Dự án của tổ chức các nước phát triển công nghiệp thế giới (United Nations Industrial Development Organization - State Secretariat for Economic)

VCEP Dự án môi trường Việt Nam - Canada (Vietnam Canada

Environment Project)

WCRP Chương trình nghiên cứu khí hậu thế giới (World Climate

Research Program) 3R Tái chế, tái sử dụng, giảm thiểu phát thải rác (Recyle,

Reuse, Reduce)

Trang 11

Bảng 2.12 Bảng điều tra liên quan đến nhận thức và thái độ của

người dân về vấn đề môi trường

64

Bảng 3.1 Ước tính lưu lượng, thải lượng các chất ô nhiễm trong nước

thải sinh hoạt đô thị qua các năm

85

Bảng 3.2 Lượng chất thải phát sinh năm 2003 và năm 2008 88 Bảng 3.3 Khối lượng CTR xây dựng tại một số đô thị năm 2009 89 Bảng 3.4 CTR công nghiệp tại một số tỉnh, thành phố năm 2010 89 Bảng 3.5: Kết quản phân tích một số mẫu nước hồ nội thành năm

2009

110

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Diễn biến nồng độ các chất khí ô nhiễm ở Tokyo 39 Biểu đồ 2.2 Số lượng các phương tiện giao thổng ở Nhật Bản từ năm 40

Trang 12

Biểu đồ 3.1 Diễn biến nồng độ bụi TSP môi trường không khí xung

quanh ở các khu dân cư của một số đô thị giai đoạn 2005-2008

77

Biểu đồ 3.2 Diễn biến nồng độ TSP tại một số tuyến đường phố giai

đoạn 2005-2009

77

Biểu đồ 3.3 Diễn biến nồng độ bụi PM10 trung bình năm trong không

khí xung quanh một số đô thị từ năm 2005 đến 2009

77

Biểu đồ 3.4 Diễn biến hàm lượng BOD5 trung bình năm trên các

sông chính giai đoạn 2005-2009

82

Biểu đồ 3.5 Diễn biến hàm lượng coliform trung bình năm trên các

sông chính giai đoạn 2005-2009

83

Biểu đồ 3.6 Diễn biến hàm lượng BOD5 trung bình năm tại một số

sông, hồ, kênh rạch nội thành giai đoạn 2005-2009

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do và sự cần thiết của đề tài

Môi trường đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người và quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Những năm gần đây, hoạt động kinh tế gia tăng mạnh mẽ và sự bùng nổ dân số đã gây ra hậu quả nghiêm trọng cho môi trường các nước nói chung, Nhật Bản và Việt Nam nói riêng Không gian sống bị thu hẹp, môi trường đất, nước, không khí v.v bị ô nhiễm đe doạ trực tiếp đến cuộc sống con người

và sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xu thế tất yếu đã và đang diễn ra trên thế giới

Ở nước ta, thực hiện chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế của Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ khiến cho cấu trúc cảnh quan sinh thái thay đổi từng ngày, từng giờ, đặc biệt là cảnh quan đô thị Nhiều diện tích đất nông nghiệp bị chuyển thành đất đô thị, công nghiệp, đất giao thông ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân Nhiều vấn đề môi trường trong đô thị nảy sinh như ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm môi trường nước, CTR v.v nguyên nhân xuất phát từ nước thải đô thị chưa được xử lý trước khi

xả thải vào sông, ngòi, các chất gây ô nhiễm không khí thoát ra từ các nhà máy, từ hoạt động giao thông, sinh hoạt CTR, đặc biệt là CTR nguy hại ngày càng trở nên bức xúc trong khi công tác thu gom, xử lý còn nhiều hạn chế

QLMT giữ vững sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và BVMT là nhiệm vụ cần thiết đặt ra đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Nhật Bản và Việt Nam Nghị quyết đại hội lần thứ IX, X và XI của Đảng đã nhấn mạnh: “Kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững; tiến tới bảo đảm cho mọi người dân đều được sống trong môi trường có chất lượng tốt về không khí, đất, nước, cảnh quan và các nhân tố môi trường tự nhiên khác đạt tiêu chuẩn mức tối thiểu do Nhà nước quy định”

Thực tế cho thấy, việc QLMT, đặc biệt là QLMT đô thị còn nhiều hạn chế Chẳng hạn, các biện pháp QLMT, kiểm soát ô nhiễm chưa được xác lập đầy đủ, thực hiện thiếu đồng bộ và hiệu quả chưa cao; cơ quan quản lý nhà nước về môi trường từ trung ương đến địa phương còn yếu và thiếu sự phối hợp hiệu quả Việc chấp hành các quy định về QLMT của người dân ở khu vực đô thị còn thấp Năng lực đội ngũ cán bộ tham mưu, quản lý chưa đủ để giải quyết các vấn đề bức xúc liên quan giữa bảo vệ môi trường với tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số, di dân tự do v.v Công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng các công nghệ sản xuất sạch hơn, công nghệ thân môi trường chưa được quan tâm đúng mức Vấn đề bảo vệ môi trường chưa được lồng ghép một cách hợp lý, khoa học vào các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Từ tất cả những lý do trên đặt ra cho chúng ta bài toán làm sao để QLMT, nhất là QLMT đô thị ở Việt Nam thành công? Để giải bài toán này quả là công việc khó nên việc tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển trên thế giới trong đó có Nhật Bản là rất cần thiết

Trang 14

Mặc dù nằm ở khu vực có vị trí địa lý không thuận lợi nhưng Nhật Bản vẫn là một trong những quốc gia điển hình ở Châu Á có nhiều thành công trong lĩnh vực QLMT đặc biệt là QLMT đô thị Hầu hết các đô thị đều đảm bảo các tiêu chí xanh, sạch, đẹp Và Nhật Bản cũng đã trải qua thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, có nền văn hóa mang đậm bản chất Á Đông Kinh nghiệm của họ trong lĩnh vực này sẽ là những gợi ý bổ ích cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Bởi vậy nghiên cứu sinh

đã chọn đề tài “Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu

- Nghiên cứu về công tác QLMT đô thị ở Nhật Bản

- Rút ra những kinh nghiệm để áp dụng vào công tác QLMT đô thị ở Việt Nam, trong

- Nghiên cứu các giải pháp QLMT đã và đang thực hiện ở Nhật Bản bao gồm các giải pháp luật pháp, chính sách; giải pháp kinh tế; giáo dục, truyền thông; hợp tác quốc tế và các giải pháp khác nhằm đạt tới hiệu quả cao nhất trong QLMT đô thị Nhật Bản

- Nghiên cứu thực trạng các giải pháp QLMT đã và đang thực thiện ở đô thị Việt Nam,

đề xuất những giải pháp QLMT đô thị ở Việt Nam trên cơ sở vận dụng những kinh nghiệm của Nhật Bản

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nhật Bản là một quốc gia đạt trình độ đô thị hóa cao, hay còn gọi là “quốc gia đô thị” cho nên trong trường hợp này tên của luận án đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu các giải pháp QLMT thực chất là nghiên cứu các công cụ quản lý nhà nước

về môi trường đã và đang được thực hiện ở Nhật Bản, đặc biệt là các giải pháp quan trọng mang tính chất vĩ mô; đó là luật pháp, chính sách và vai trò của chính quyền, giải pháp kinh tế, xã hội hóa và hợp tác quốc tế về BVMT

3.1 Đối tượng

Các giải pháp QLMT đô thị Nhật Bản và Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Các đô thị lớn, đô thị đặc biệt ở Nhật Bản và Việt Nam

- Về thời gian: Thực trạng và giải pháp QLMT đô thị trong giai đoạn 1990 trở lại đây

Trang 15

4 Cách tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu khoa học

4.1 Cách tiếp cận

Để thực hiện luận án tác giả vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học dựa trên cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường và phát triển cùng với cách tiếp cận liên ngành theo hướng địa lý - môi trường

Như đã biết, trên trái đất không có một sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách độc lập, riêng lẻ mà là một bộ phận của toàn thể chứa đựng vật thể ấy Quan điểm hệ thống trong nghiên cứu cho thấy khi xem xét một đối tượng cần xét một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, trọng trạng thái vận động và phát triển cụ thể để tìm ra quy luật vận động của đối tượng Hệ thống bao gồm các yếu tố nhất định, các hệ thống nhỏ có quan hệ biện chứng với nhau Môi trường cũng bao gồm nhiều hệ thống nhỏ và được tạo thành từ các yếu tố tự nhiên, xã hội Giữa các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau và nằm trong hệ thống quản lý chung của nhà nước Vì vậy khi tiếp cận nghiên cứu môi trường cần đặt chúng trong hệ thống phát triển chung để phân tích, đánh giá đồng thời tách chúng ra thành các bộ phận để nghiên cứu một cách sâu sắc, tìm ra các mối quan hệ và tính hệ thống của vấn đề môi trường và QLMT Khoa học môi trường, QLMT có tính liên ngành vì vậy khi nghiên cứu cần đặt chúng trong mối liên hệ với các ngành khoa học khác như địa lý, kinh tế, xã hội v.v để có cái nhìn toàn diện và sự đánh giá khách quan

4.2.Các phương pháp nghiên cứu khoa học

Để thực hiện luận án tác giả vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học thông dụng có độ tin cậy cao để phân tích, tổng hợp, so sánh và đánh giá các

tư liệu nhằm thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong luận án

4.2.1 Thu thập và lựa chọn dữ liệu thứ cấp

Đây là phương pháp nghiên cứu phổ biến nhất đối với bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào Dữ liệu thứ cấp là những thông tin được thu thập từ trước để phục vụ cho những mục đích khác nhau trong đó có mục đích về nghiên cứu QLMT đô thị Các dữ liệu này được tìm kiếm, phân loại để tìm ra những loại dữ liệu phù hợp

Dữ liệu thông tin thứ cấp có các ưu điểm bao gồm: Phân loại dữ liệu không phức tạp; Việc thu thập dữ liệu thường nhanh chóng và thuận tiện bởi đó là các dữ liệu đã được xuất bản và công bố; Đây là những nguồn có sẵn, thậm chí mang tính định kỳ; chẳng hạn, các loại tạp chí như: Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, Tạp chí Nghiên cứu Môi trường và Phát triển Bền vững, Tạp chí Thông tin lý luận, the Japan Times, các trang web của Bộ Môi trường Nhật Bản, Bộ TN&MT Việt Nam v.v

Đương nhiên dữ liệu thứ cấp cũng có những nhược điểm mà trong quá trình thu thập cần phải lưu ý bao gồm: Các dữ liệu có sẵn có thể không phù hợp với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu hiện thời; Thông tin có thể đã lỗi thời; Kỹ thuật thu thập dữ liệu

có thể không thích hợp, chẳng hạn, quy mô kích thước của mẫu điều tra quá nhỏ, không mang tính đại diện v.v ; Các kết quả có sẵn có thể mâu thuẫn, đối lập, thậm chí loại trừ nhau bởi các nguồn dữ liệu do các tác giả khác nhau xây dựng nên; chẳng hạn, chỉ số ô

Trang 16

nhiễm môi trường nước tại các đô thị lớn tại Nhật Bản do cơ quan thống kê của chính phủ đưa ra khác với số liệu do trung tâm bảo vệ tài nguyên môi trường của Đại học tổng hợp Tokyo công bố

Đương nhiên các loại dữ liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu cần phải xem xét trước; Trong trường hợp này các dữ liệu về môi trường đô thị gồm môi trường nước, không khí, CTR cũng như các phân tích, đánh giá của các chuyên gia về chính sách QLMT ở Việt Nam và Nhật Bản cần được lưu ý; sau đó xem xét tới số lượng dữ liệu cần thu thập và điều này được xác định dựa trên yêu cầu nghiên cứu và những mục tiêu

đã được xác định trước đó

Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thông tin thứ cấp hết sức quan trọng Phương pháp thu thập dữ liệu thông tin thứ cấp trở thành một trong những phương pháp chính để thực hiện luận án

Có 2 nguồn dữ liệu thông tin thứ cấp sẽ được tập trung khai thác để thực hiện luận án Thứ nhất, nguồn dữ liệu của chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ Điều lưu ý là các cơ quan này thường công bố các loại dữ liệu mang tính chính thức, chính xác và thời sự Chẳng hạn, ở Việt Nam, các dữ liệu về môi trường và quản lý nhà nước

về môi trường thường được công bố trong Công báo, báo cáo môi trường hàng năm, các báo và tạp chí nghiên cứu của Bộ TN&MT, của Tổng cục thống kê, của Đại học quốc gia Hà Nội, của các viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam v.v ; và ở Nhật Bản, các dữ liệu loại này được công bố trong các ấn phẩm của Văn phòng nội các chính phủ, Cục Thống kê, Đại học Tokyo, đại học Kyoto và Bộ Môi trường v.v Thứ hai, nguồn dữ liệu thuộc các tổ chức không thuộc chính phủ, bao gồm các ấn phẩm định kỳ, các loại sách chuyên khảo, các ấn phẩm không định kỳ, thông tin

về môi trường trên mạng internet của một số NGOs hoạt động trong lĩnh vực môi trường tại Việt Nam và ở Nhật Bản

Cho đến nay, các dữ liệu loại này đều được cung cấp miễn phí cho nên rất thuận lợi cho tác giả luận án khi thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

4.2.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp

Dữ liệu thông tin sơ cấp còn gọi là số liệu gốc là những dữ liệu thông tin thu thập lần đầu nhằm phục vụ cho một mục tiêu nghiên cứu cụ thể [24, tr 54] Dữ liệu này

có thể thu thập thông qua phỏng vấn và khảo sát

Để có được các dữ liệu thông tin sơ cấp trong QLMT luận án sẽ sử dụng công cụ phỏng vấn chuyên gia và/hoặc các công chức có trách nhiệm về vấn đề này kể cả ở Nhật Bản và ở Việt Nam Cách làm này cho phép thu được những ý kiến phân tích, đánh giá mang tính thực tiễn, bởi những chuyên gia này hay những công chức hoạch định chính sách là những người hiểu biết sâu về lĩnh vực môi trường Vậy ý kiến của họ

là những dữ liệu đáng tin cậy để từ đó luận án rút ra những nhận xét, đánh giá có căn cứ khoa học và thực tiễn

Trang 17

Trong một chừng mực nhất định, khảo sát có thể được sử dụng nhằm góp phần minh chứng cho những luận giải được nêu ra trong luận án Đây là một trong những công cụ thu thập dữ liệu thông tin sơ cấp có độ tin cậy cao

4.2.3 Phương pháp khảo sát

Như đã biết, khảo sát là cách thức thu thập dữ liệu thông tin từ phía những người được điều tra, khu vực điều tra một cách có hệ thống Phương pháp này có thể thu thập được kết quả và hiện trạng môi trường nhưng không thể thu được toàn bộ các dữ liệu về thái độ, hành vi và phản ứng của người được hỏi về các vấn đề liên quan tới QLMT, thậm chí còn có thể nhận được những câu trả lời thiếu chính xác, sai lệch và chủ quan Tuy nhiên, với cách thức chọn mẫu phù hợp người ta vẫn thu được những kết quả khả quan Có thể tiến hành khảo sát trực tiếp hoặc qua điện thoại hoặc qua thư, internet

Khảo sát trực tiếp được hiểu là tiếp xúc “kiểu mặt đối mặt” với đối tượng được khảo sát Cách làm này rất linh hoạt bởi có thể giải thích hoặc trao đổi để làm rõ ý của những câu trả lời dài dòng hoặc không rõ ý khi đối tượng trả lời Tuy nhiên, chi phí để trả cho đối tượng trong một mẫu điều tra lớn là một vấn đề khó khăn Khảo sát qua điện thoại rẻ hơn, nhanh chóng hơn nhưng đối tượng có thể kém nhiệt tình vì họ bận rộn hoặc cảm thấy bị quấy rầy và không thể hỏi được nhiều câu hỏi nên kết quả mong muốn

sẽ khó đạt tới Còn khảo sát qua thư có thể được thực hiện trên một mẫu điều tra lớn, không tốn kém song sự hồi đáp từ đối tượng có nguy cơ không đạt kế hoạch đề ra

Trong quá trình làm luận án, công cụ khảo sát này chỉ được sử dụng ở một mức

độ nào đó nhằm hỗ trợ cho các công cụ khác chứ đây không phải là công cụ chính Tác giả tiến hành khảo sát thực tế môi trường đô thị Nhật Bản thông qua các chuyến thăm, làm việc, học tập của mình tại Kyoto và Tokyo

4.2.4 Phương pháp chuyên gia

Thông qua toạ đàm, hội thảo với chuyên gia và/hoặc các công chức có trách nhiệm về vấn đề này kể cả ở Nhật Bản và ở Việt Nam Cách làm này cho phép thu được những ý kiến phân tích, đánh giá mang tính thực tiễn, bởi những chuyên gia này hay những công chức hoạch định chính sách là những người hiểu biết sâu về lĩnh vực môi trường Vậy ý kiến của họ tại các toạ đàm, hội thảo nhỏ là những dữ liệu đáng tin cậy

để từ đó luận án rút ra những nhận xét, đánh giá có căn cứ khoa học và thực tiễn

Việc phỏng vấn chuyên gia tại Nhật Bản quá tốn kém và khó thực hiện song tác giả luận án sẽ kết hợp trong quãng thời gian nghiên cứu sinh làm việc, học tập tại các

đô thị Nhật Bản Cụ thể là phỏng vấn một số giáo sư của Đại học Kyoto, Đại học Tokyo, đại học Kansai v.v về vấn đề môi trường và QLMT ở Nhật Bản

Còn tại Việt Nam tác giả kết hợp phỏng vấn chuyên gia nhân dịp các giáo sư Nhật Bản tham dự tọa đàm hội thảo tổ chức tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội, Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Chẳng hạn, kết hợp phỏng vấn đoàn công tác của Đại học kinh tế và luật Osaka, nhân dịp đoàn công tác của đại học này sang Việt Nam nghiên cứu, để phỏng vấn và trao đổi ý kiến với họ về chủ đề của luận án Có thể nói

Trang 18

đây là phương pháp nghiên cứu khoa học để thu thập các dữ liệu thông tin sơ cấp kinh

tế nhất và khắc phục được những khó khăn về tài chính

4.2.5 Phương pháp thống kê chi tiết

Cùng với hai phương pháp nghiên cứu nêu trên, phương pháp thống kê chi tiết được vận dụng nhằm tập hợp các dữ liệu cần thiết về hiện trạng môi trường và QLMT

đô thị ở Việt Nam và Nhật Bản trong những năm vừa qua Đây là một phương pháp nghiên cứu khoa học phức tạp nhưng có độ tin cậy cao, được vận dụng trong nhiều ngành khoa học Phương pháp này cho phép nhận diện bản chất của sự vật thông qua hệ thống các số liệu thống kê theo thời gian hoặc theo sự tiến triển của vấn đề và sự vật trên cơ sở các mô hình toán - thống kê từ đơn giản đến phức tạp

Sử dụng phương pháp này cho phép tập hợp được những dữ liệu chi tiết, hệ thống và chính xác Các dữ liệu sau khi thu thập sẽ được mô hình hóa qua các bảng, biểu thống kê Hạn chế của phương pháp này là không lượng hóa được các nhân tố ảnh hưởng đến các quyết định QLMT

để tìm ra cái chung cái khái quát Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu mà cụ thể ở đây là ô nhiễm và các giải pháp QLMT ở Nhật Bản và Việt Nam

Như vậy, phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và

bổ sung cho nhau trong nghiên cứu Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy, có

ý nghĩa rất quan trọng

Trong quá trình phân tích so sánh các dữ liệu liên quan tới hiện trạng môi trường

và QLMT, trước hết cần mã hóa các dạng dữ liệu, sau đó liệt kê theo danh mục vấn đề gắn với logic nội dung được định sẵn và tiến hành phân tích so sánh, đánh giá

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa khoa học

- Góp phần hoàn thiện hệ giải pháp quản lý nhà nước về môi trường Việt Nam, trong đó

có QLMT đô thị

Trang 19

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của luận án sẽ góp phần nâng cao năng lực QLMT đô thị Việt Nam trong thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và làm tư liệu về đất nước học Nhật Bản

6 Luận điểm bảo vệ và những điểm mới của luận án

6.1 Luận điểm bảo vệ

- Biểu hiện rõ rệt, bức xúc, cấp bách nhất của ô nhiễm môi trường đô thị lớn ở Nhật Bản và Việt Nam, ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường nước, CTR v.v Chúng gây tác động mạnh mẽ đến đời sống, sức khỏe con người và môi trường sinh thái

- Từ kinh nghiệm QLMT đô thị ở Nhật Bản, QLMT đô thị ở Việt Nam cần thực hiện một giải pháp đồng bộ, tổng hợp bao gồm các giải pháp luật pháp, chính sách, giải pháp kinh tế và có sự tham gia của cộng đồng và các thành phần kinh tế xã hội nhằm đạt được hiệu quả cao trong công tác BVMT

6.2 Những điểm mới của luận án

- Từ kinh nghiệm QLMT đô thị ở Nhật Bản đã xác định được những điểm khác biệt và phù hợp để ứng dụng trong công tác QLMT đô thị ở Việt Nam

- Đã đề xuất được các giải pháp QLMT đô thị nói chung và ở Hà Nội nói riêng đạt được hiệu quả cao và bền vững

7 Cơ sở tài liệu của luận án và tình hình nghiên cứu

7.1 Cơ sở tài liệu của luận án

Luận án được thực hiện dựa trên khối lượng tài liệu phong phú về môi trường Nhật Bản và Việt Nam bao gồm sách, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các đề tài, các chương trình, các dự án v.v được nghiên cứu sinh thu thập được tại thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện Viện Địa lý Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam, thư viện Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội, thư viện Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á; thư viện Viện Hàn lâm anh ngữ Boston (Mỹ), thư viện Đại học Tokyo (Nhật Bản), thư viện Đại học Kyoto (Nhật Bản), thư viện Đại học Nam California (Mỹ), thư viện Viện Hàn Lâm Đài Loan, thư viện trường Đại học Vân Nam v.v Đồng thời, tác giả còn tham khảo các văn bản luật về môi trường, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Việt Nam và của thành phố Hà Nội Các tài liệu chính thức được công bố trên website của các cơ quan QLMT, chính quyền thành phố Tokyo, Kyoto, Hà Nội Các thông tin về môi trường đô thị Việt Nam và Nhật Bản, các trang thông tin điện tử có uy tín, các tạp chí chuyên ngành ở Nhật Bản và Việt Nam Đây là những tài liệu mà nghiên cứu sinh thu được trong quá trình công tác, nghiên cứu trao đổi và học tập tại Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam.v.v

Các tài liệu, số liệu thống kê chính thức về chất lượng môi trường đô thị cũng như các lĩnh vực khác của Nhật Bản được công bố trong cẩm nang thống kê hàng năm,

sổ tay thống kê, cẩm nang thống kê theo lịch sử do Cục Thống kê thuộc Bộ Ngoại giao

và Truyền thông ấn hành từ năm 1950 đến nay Số liệu thống kê của chính quyền thành

Trang 20

phố Tokyo Những tài liệu này được phát hành dưới dạng các ấn phẩm hoặc công bố rộng rãi trên internet

Các tài liệu số liệu thống kê chính thức về môi trường đô thị của Việt Nam được công bố hàng năm trong báo cáo môi trường quốc gia hàng năm từ năm 2009, 2010,

2011 do Cục Môi trường soạn thảo và Báo cáo môi trường hàng năm của thành phố Hà Nội

Các công trình nghiên cứu, bài báo mà chính tác giả luận án đã thực hiện trước

và trong quá trình học nghiên cứu sinh Bao gồm 19 bài tạp chí và báo cáo hội thảo được công bố trong và ngoài nước; báo cáo chuyên đề, báo cáo hội thảo đề tài cấp nhà nước về Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (2008-2009), xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Viêt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới (2013-2014) do PGS TS Ngô Xuân Bình làm chủ nhiệm

Các tài liệu, số liệu thu được từ khảo sát, phỏng vấn thực tế tại Tokyo năm 2008, Tokyo, Kyoto năm 2010, và tại Hà Nội là nơi NCS hiện đang công tác và làm việc.v.v Những tài liệu trên là cơ sở quan trọng cho tác giả thực hiện và hoàn thành luận án

7.2 Tình hình nghiên cứu

7.2.1 Ngoài nước

Nghiên cứu các giải pháp QLMT nói chung và QLMT đô thị nói riêng đã được các quốc gia trên thế giới quan tâm từ lâu và họ đạt được rất nhiều thành tựu Ở nhiều quốc gia, trong đó có Nhật Bản người ta đã chú ý chủ đề này Việc nghiên cứu các giải pháp QLMT đô thị được tiến hành gắn liền với đặc thù của từng quốc gia, với chiến lược pháp triển kinh tế xã hội cũng như chiến lược BVMT của họ

Ở Hoa Kỳ, Nhật Bản ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước người ta đã quan tâm tới vấn đề này, tuy nhiên, nó chưa có tính hệ thống Tại Nhật Bản từ đầu thời kỳ tăng trưởng nhanh (những năm 1960) Chính phủ Nhật Bản đã nhận thức được những sức ép từ ô nhiễm môi trường, cho nên cùng với việc hoạch định chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá họ đã hoạch định chính sách BVMT Tăng trưởng kinh tế nhưng không phá hoại môi trường được coi là một trong những mục đích quan trọng

mà người Nhật Bản muốn đạt tới trong thời kỳ tăng trưởng nhanh Tuy nhiên, để xây dựng được một hệ giải pháp QLMT mang tính hoàn thiện và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ tại Nhật Bản chỉ mới được đặt ra kể từ khi nước này tham gia ký Nghị định thư Kyoto năm 1997

Ở Nhật Bản có một số công trình đề cập tới hiện trạng môi trường và QLMT ở

quốc gia này Chẳng hạn, các công trình do Bộ Môi trường xuất bản hàng năm, từ năm

1989 đến nay [57], [60], [61], [63], [64], [65], [66], [67], [68], [71], tập trung trình bày một cách khái quát về hiện trạng môi trường và công tác QLMT của chính phủ ở Nhật Bản Tùy vào từng giai đoạn, yêu cầu phát triển kinh tế và BVMT mà người ta đưa thêm các nội dung liên quan như xây dựng đô thị sinh thái, các vấn đề môi trường quốc

tế, phát triển kinh tế và tác động tới môi trường, xây dựng xã hội có chu kỳ vật chất bền

Trang 21

vững.v.v ; Hoặc các tài liệu do The Ashahi Shimbun, Chính quyền Tp Tokyo Nhật Bản phát hành đề cập tới hiện trạng môi trường và một số sự cố môi trường diễn ra ở Nhật Bản một cách riêng lẻ cùng với những ứng phó của các cơ quan quản lý của quốc gia này [53], [73] v.v

Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản về môi trường, QLMT từ các góc độ tiếp cận của nhà nghiên cứu chính trị, nhà nghiên cứu chính sách,

nhà nghiên cứu công nghệ v.v Chẳng hạn, trong công trình của David Wallace, (1995) [55] đề cập khái quát tới các chính sách môi trường và chiến lược đổi mới công nghiệp

ở Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản; Hoặc công trình của MOE (2007) [63] đề cập tới các công nghệ có khả năng hỗ trợ cho xây việc xây dựng một xã hội có chu kỳ vật liệu bền vững

ở Nhật Bản đồng thời kiến nghị cách để phát triển công nghệ này; Công trình của Pradyumna P.Kan, (2004), [69], đề cập tới vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường của Nhật Bản những năm đầu thế kỷ 21.v.v

Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận của khoa học môi trường và nhu cầu cần thiết phải QLMT bao gồm công trình của tác giả Shuntaro and Yasuda, Y

(1995), [70] đề cập tới khủng hoảng về môi trường và tác động của chúng tới thiên nhiên và con người; Hoặc công trình của Lee Pil, R (2005), [62] đề cập một cách chung nhất về ô nhiễm môi trường trên thế giới và nhu cầu cần đẩy mạnh công tác quản

lý nhằm hạn chế tác động của các khủng hoảng về môi trường v.v

Các công trình nghiên cứu về công tác quản lý trên các lĩnh vực khác nhau trong

đó có QLMT của Nhật Bản và kinh nghiệm gợi ý cho các quốc gia khác bao gồm 1)

công trình của Wilfrido Cruz, Kazuhiko Takemoto, Jeremy Warford, (1998), [78] đề cập tới quản lý đô thị, quản lý KCN ở Nhật Bản cũng như các quốc gia đang phát triển

từ đó rút ra những kinh nghiệm quản lý đề xuất cho các quốc gia đang phát triển; 2) Công trình của Wilfrido Cruz, Kazuhiko Takemoto, Jeremy Warford (2002) [77] đề cập tới mối liên hệ giữa vấn đề môi trường và chính sách sách phát triển quốc gia, đưa sáng kiến của các doanh nghiệp ngành thép, năng lượng, lâm nghiệp Nhật Bản nhằm BVMT trong khi vẫn nâng cao được hiệu quả sản xuất làm bài học cho các doanh nghiệp trên thế giới 3) Công trình của Toshi H Arimura, Akira Hibiki, Hajime Katayama (2008) [74] đề cập tới việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 về BVMT ở các doanh nghiệp Nhật Bản, vai trò của chính quyền địa phương trong việc nâng cao tinh thần tự nguyện thực hiện ISO 14001 ở các doanh nghiệp v.v

7.2.2 Trong nước

Cho tới nay đã có một số công trình nghiên cứu trong nước liên quan tới một số khía cạnh nhất định của đề tài này

Các công trình đề cập tới QLMT, tài nguyên môi trường cho phát triển bền vững

bao gồm: 1) Công trình của tác giả Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh, (2001) [19] đề cập chủ yếu tới phương diện quản lý nhà nước về môi trường và những vấn đề lý luận liên quan và những kinh nghiệm về vấn đề này của một số quốc gia trên thế giới song

Trang 22

không đi sâu phân tích QLMT Nhật Bản; 2) Công trình của Lê Huy Bá, (cb), (2002), [15] đề cập đến các loại tài nguyên, hiện trạng quản lý và các chính sách, giải pháp nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững Như vậy công trình này cho chúng ta cái nhìn khái quát về tài nguyên thiên nhiên nói chung chưa

đề cập tới vấn đề môi trường và QLMT đô thị ở nước ta; 3) Công trình của Hà Huy Thành, Lê Cao Đoàn, (2011), [9] đề cập tới một số vấn đề lí luận cơ bản về mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và phát triển xã hội, quản lý xã hội, thực trạng biến đổi môi trường và những tác động đến xã hội Việt Nam thời gian qua, dự báo xu hướng biến đổi

và tác động tới xã hội trong thời gian tới.v.v

Các công trình đề cập tới cơ sở nhân văn và nhân tố con người trong quản lý TN&MT bao gồm: 1) Công trình của Lê Hương (2006), [14] đề cập tương đối toàn diện

về vai trò của con người - chủ thể gây ô nhiễm và là chủ nhân của QLMT - trong quản

lý nhà nước về môi trường Công trình tập trung phân tích những khía cạnh tích cực cũng như tiêu cực của con người đối với môi trường, những chính sách, giải pháp quản

lý của nhà nước nhằm khơi dậy tính chủ động của chủ nhân quan trọng này trong việc

sử dụng tiết kiệm, hợp lý nguồn tài nguyên, chống ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi sinh Một số kinh nghiệm của các nước trong đó có Nhật Bản về vấn đề này cũng được

phân tích trong công trình nêu trên 2) Công trình của Hà Huy Thành, Lê Cao Đoàn,

(2008), [8] đề cập tới quan hệ con người, xã hội và tự nhiên trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội; Kinh tế thị trường và nhà nước trong quản lý tài nguyên, môi trường;

Về cơ sở xã hội, văn hóa và nhân tố con người của quản lý nhà nước đối với tài nguyên

và môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Mô thức quản lý nhà nước đối với tài nguyên môi trường trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế nhưng chưa nêu cụ thể vấn đề môi trường đô thị ở Việt Nam cũng như kinh nghiệm QLMT đô thị từ các quốc gia trên thế giới

Các công trình đề cập tới QLMT đô thị bao gồm 1) Công trình nghiên cứu hợp tác của Việt Nam và JICA, (2001), [11] đề cập chủ yếu tới tổng quan về kinh tế xã hội,

tổng quan ngành cấp, thoát nước đô thị ở nước ta hiện nay 2) Công trình của Phạm Ngọc Đông, (2000) [45] giới thiệu về những vấn đề môi trường đô thị, luật pháp quản

lý và các tiêu chuẩn môi trường, các phương thức quản lý.v.v 3) Công trình của Cù Huy Đẩu &Trần Thị Hường, (2008) [6] chủ yếu đề cập tới vấn đề CTR và quản lý CTR trong đô thị ở nước ta.v.v

Ngoài ra, còn có một số bài báo của tác giả luận án đề cập tới vấn đề môi trường

và QLMT của Việt Nam và Nhật Bản đăng tải trên một số tạp chí chuyên ngành Các bài báo này chủ yếu đề cập tới một số khía cạnh nhất định, riêng lẻ của môi trường và chính sách QLMTtrong đó có QLMT đô thị ở Nhật Bản và Việt Nam

Chẳng hạn, các bài báo đề cập tới môi trường, QLMT ở Nhật Bản và Việt Nam

bao gồm: 1) Nguyễn Thị Ngọc, (2013) [31], đề cập tới vai trò của giáo dục truyền thông trong bảo vệ môi trường ở Nhật Bản 2) Nguyễn Thị Ngọc, (2013) [32] đề cập tới vấn đề rác thải đô thị và quản lý rác thải đô thị Nhật Bản những năm gần đây 3) Nguyễn Thị Ngọc, (2012), [33] đề cập tới chính sách QLMT ở Nhật Bản những năm 1990 và tác

Trang 23

động tới sản xuất của các doanh nghiệp 4) Nguyễn Thị Ngọc, (2004), [38] đề cập tới các vấn đề môi trường Nhật Bản; 5) Nguyễn Thị Ngọc, (2006), [40] đề cập tới việc sử

dụng năng lượng và hệ quả của nó đối với môi trường Nhật Bản; 6) Nguyễn Thị Ngọc, (2005), [39] đề cập tới vấn đề môi trường như một nhân tố chính trị trong thế kỷ 21

Các bài báo nghiên cứu so sánh vấn đề môi trường và QLMT ở Việt Nam với các nước bao gồm: 1) Nguyễn Thị Ngọc, (2012), [34] so sánh vấn đề ô nhiễm môi trường

đô thị ở Ấn Độ và Việt Nam 2) Nguyễn Thị Ngọc, (2009), [35] so sánh giáo dục môi

trường trong các trường trung học cơ sở ở Việt Nam và Nhật Bản v.v

Các bài báo đề cập tới một số giải pháp cho QLMT ở Việt Nam từ kinh nghiệm Nhật Bản bao gồm: 1) Nguyễn Thị Ngọc, (2008) [36] đề cập tới một số giải pháp

QLMT đô thị Việt Nam từ kinh nghiệm của Nhật Bản 2) Nguyễn Thị Ngọc, (2007) [37]

đề cập tới kinh nghiệm quản lý nhà nước về môi trường ở Nhật Bản và những gợi ý cho Việt Nam v.v

Như vậy các công trình trong nước và nước ngoài cung cấp một bức tranh khái quát về môi trường và QLMT trên thế giới và Nhật Bản, Việt Nam nói chung cũng như tại các đô thị nói riêng nhưng lại chưa có một công trình nào nghiên cứu mang tính chất

so sánh, phân tích, đánh giá các giải pháp QLMT đô thị ở Nhật Bản và gợi ý cho Việt Nam Bởi vậy, có thể nói rằng luận án tiến sĩ này là một đề tài nghiên cứu mới

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, thuật ngữ viết tắt, danh mục bảng, biểu, hình, tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương:

Chương I Cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý môi trường

Chương II Quản lý môi trường đô thị Nhật Bản

Chương III Vấn đề quản lý môi trường đô thị ở Việt Nam và những giải pháp đề xuất

từ kinh nghiệm của Nhật Bản

Trang 24

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

Chương này sẽ trình bày 2 nội dung cơ bản sau: 1) Cơ sở lý luận và khoa học 2)

Cơ sở pháp lý

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Khái niệm về quản lý môi trường

Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với hoạt động sống của con người như không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loại người.v.v [20, tr 6]

Cho đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về QLMT Theo từ điển bách khoa toàn thư mở, QLMT là hoạt động có mục đích nhằm duy trì và cải thiện trạng thái của nguồn tài nguyên môi trường không bị ảnh hưởng bởi hoạt động của con người Đây thực chất là sự điều tiết tác động xã hội của con người vào môi trường để đảm bảo rằng các hệ sinh thái được bảo vệ và duy trì sử dụng công bằng giữa các thế hệ Thông qua việc xem xét các khía cạnh liên quan bao gồm, khía cạnh đạo đức, khía cạnh kinh tế, khoa học v.v để tìm ra yếu tố cốt lõi của xung đột từ đó đưa ra biện pháp điều chỉnh phù hợp [99]

Theo một số nhà nghiên cứu của Việt Nam, QLMT là quản lý nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu dân cư về môi trường Mục tiêu chủ yếu của hoạt động QLMT suy cho cùng là tăng cường hiệu quả của hệ thống sản xuất và bảo vệ sức khoẻ của cư dân cư sống và làm việc [17, tr 311] Cách hiểu này cũng khá tương đồng với quan điểm của các nhà nghiên cứu môi trường Mỹ [97] Như vậy, xét trên quan điểm môi trường học, có thể nói QLMT là những hoạt động bảo vệ, duy trì các giá trị sẵn có như cảnh quan, đa dạng sinh học (mảng xanh) và kiểm soát ô nhiễm,

sự cố, quản lý chất thải (mảng nâu) hướng tới phát triển bền vững

Có thể hiểu một cách khái quát rằng, QLMT là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận

có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên hướng tới phát triển bền vững [19, tr 9-11]

Nói cách khác, QLMT là những hoạt động mang tính chế tài và tự nguyện của các chủ thể QLMT - cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các khách thể quản lý - các thể nhân tham gia hoạt động BVMT Đây là một hệ thống phức hợp các quan điểm, các chính sách và những giải pháp được thực thi nhằm BVMT hướng tới sự phát triển bền vững của một quốc gia QLMT được thực hiện bằng một loạt các biện pháp mang tính tổng hợp, bao gồm luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, xã hội, văn hoá, giáo dục v.v Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tuỳ theo điều kiện

cụ thể của vấn đề đặt ra Cơ sở triết học của hoạt động quản lý nhà nước về môi trường dựa trên nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, ở đó tự nhiên, con người, xã hội được gắn kết với nhau thành hệ thống rộng lớn và tuân theo chu trình sinh địa hóa

cơ bản [20], [27] Xuất phát từ tính thống nhất này đòi hỏi việc giải quyết các vấn đề môi trường và QLMT phải toàn diện, hệ thống và phù hợp với trình độ phát triển của khu vực, của quốc gia

Trang 25

Theo cách hiểu này, QLMT thực chất là các chính sách và biện pháp nhằm kiểm soát ô nhiễm và quản lý CTR theo những định hướng mục tiêu đã được hoạch định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quá trình công nghiệp hoá tạo ra những thay đổi lớn cho nền kinh tế nhưng cũng gây ra nhiều vấn đề môi trường nhất là ở các đô thị đòi hỏi phải giải quyết, đặc biệt là ô nhiễm đất, nước, không khí, tiếng ồn v.v Điều này có nghĩa là QLMT là một lĩnh vực rộng lớn đòi hỏi phải có sự quan tâm của toàn xã hội

Có thể nhấn mạnh rằng mục tiêu sâu xa của công tác QLMT là hướng tới sự phát triển bền vững mà thực chất là đảm bảo cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội và BVMT Mục tiêu QLMT có thể thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và những ưu tiên trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn của mỗi quốc gia

1.1.2 Các nguyên tắc trong quản lý môi trường

Ngày nay con người đã nhận thức được rằng, QLMT là yêu cầu cần thiết, sống còn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới nhằm đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự phát triển chung của nhân loại Vì vậy QLMT được thực hiện dựa trên một số nguyên tắc chung bao gồm [19, tr 190-192], [27], [28]

Thứ nhất là hướng tới sự phát triển bền vững

Thuật ngữ này được đề cập đầu tiên vào năm 1980 trong cuốn chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội Bảo tồn Tài nguyên và Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đưa ra Tuy nhiên, nội hàm của nó vẫn dừng lại ở mức đơn giản, chung chung, sự phát triển của nhân loại không chỉ chú trọng tới kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động tới môi trường sinh thái Từ năm 1987 đến nay thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi và nội hàm cũng được cụ thể hóa hơn đó là sự phát triển có thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai Các cuộc họp Thượng đỉnh về môi trường trên toàn thế giới được tổ chức trong thời gian qua như Hội nghị về môi trường phát triển của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janeiro năm 1992; Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tại Johannesburg năm 2002; hay gần đây là Hội nghị thượng đỉnh Rio + 20 về phát triển bền vũng là một minh chứng rõ nét cho xu hướng phát triển bền vững trên toàn thế giới thậm chí cả khi nhiều cường quốc kinh tế lớn đang rơi vào tình trạng khủng hoảng và nền kinh tế toàn cầu đang rơi vào “thời kỳ trì trệ”

QLMT ở Việt Nam và Nhật Bản cũng không nằm ngoài xu thế chung này Cả hai quốc gia đều coi phát triển bền vững vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc chung cho tất cả các ngành và nguyên tắc này được thể hiện trong quá trình xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, luật pháp và các chính sách của cả hai nhà nước suốt những năm qua cũng như tương lai sắp tới

Thứ hai là kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng

dân cư trong việc QLMT

Đây là nguyên tắc thể hiện rất rõ đặc điểm địa lý của công tác QLMT là không phụ thuộc vào biên giới hành chính quốc gia mà phụ thuộc vào không gian và thời gian của từng vùng địa lý Các sự cố môi trường xảy ra ở vùng lãnh thổ, quốc gia này có thể gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến vùng khác, quốc gia khác Chẳng hạn, thảm họa kép sóng thần và hạt nhân diễn ra ở Nhật Bản vào tháng 3 năm 2011 đã gây tác động lớn không chỉ ở các vùng của Nhật Bản mà còn tới cả một số nước khác ở khu vực Đông Bắc Á Hoặc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu gây ngập lụt, hạn hán ở Đồng

Trang 26

bằng Sông Cửu Long nước ta đòi hỏi phải có sự phối hợp và nỗ lực mang tính quốc tế

Do đó, việc hợp tác quản lý giữa các vùng, các quốc gia là vô cùng cần thiết thông qua việc ký kết và tham gia các công ước quốc tế

Thứ ba là QLMT xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được thực hiện

bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp

Thứ tư là phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc

phải xử lý hồi phục môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm

Và thứ năm là người gây ô nhiễm phải trả tiền Đây là nguyên tắc được nhiều

nước đưa ra làm cơ sở xây dựng các quy định về thuế, lệ phí môi trường và biện pháp

xử lý hành chính đối với các hành vi vi phạm Nguyên tắc trên được các nước OECD đưa ra những năm 1990 xuất phát từ quan điểm môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt mọi người đều có quyền sử dụng và khi khai thác, sử dụng thì phải trả tiền [98] Nhiều quốc gia phát triển trong đó có Nhật Bản đã thực hiện từ rất sớm nguyên tắc này

và Việt Nam trong thời gian gây đây cũng đã chú trọng áp dụng nguyên tắc kể trên trong chính sách và giải pháp QLMT Đây được coi là nguyên tắc “có tính hiệu quả cao” bởi nó đánh trực tiếp vào lợi ích vật chất của các tác nhân vi phạm

Có thể nói 5 nguyên tắc trên phản ánh khá đầy đủ tính khoa học, tính lý luận của QLMT, được các lãnh đạo, các nhà khoa học đồng tình song các nguyên tắc này cần linh hoạt hơn để tạo đà cho các nền kinh tế đang phát triển hoặc giúp các nước lâm vào cảnh khủng hoảng kinh tế dễ vượt qua Trong một chừng mực nào đó có thể bổ sung thêm nguyên tắc phát triển xanh nhằm giảm tiêu thụ năng lượng, tài nguyên, nhanh chóng sử dụng các nguồn năng lượng có khả năng tái tạo và làm chậm quá trình biến đổi khí hậu Phát triển xanh được đánh giá là mục tiêu cụ thể, có thể thực hiện cả trước mắt và tương lai sau này Nó giúp các nước dễ dàng hơn trong việc định hướng phát triển nền kinh tế, khoa học công nghệ theo hướng BVMT Một nền kinh tế xanh là sự kết hợp của 3 thành tố bao gồm kinh tế, xã hội và môi trường, việc tạo được 3 yếu tố này ở trạng thái cân bằng sẽ thỏa mãn điều kiện của một nền kinh tế bền vững

Bên cạnh đó, tuỳ thuộc vào các đặc điểm và chiến lược của mỗi quốc gia, các nguyên tắc mang tính đặc thù, cụ thể được các nước thực hiện không giống nhau Hoặc

là việc vận dụng các nguyên tắc chung trên đây cũng rất khác nhau ở mỗi nước, chẳng hạn, mức lệ phí, xử phạt, thuế ở Nhật Bản thường cao hơn ở các nước đang phát triển

và đương nhiên là cao hơn Việt Nam rất nhiều

Ở Việt Nam ngoài những nguyên tắc trên, QLMT còn được thực thi dựa trên quan điểm của Đảng Tùy vào từng giai đoạn phát triển khác nhau mà Đảng ta đưa ra những quan điểm chỉ đạo phù hợp trên tất cả các phương diện từ kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường v.v Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường dựa vào quan điểm này và các nguyên tắc trên để xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể

1.1.3 Các nội dung chính của quản lý môi trường

Nội dung chính của công tác QLMT bao gồm 3 phương diện cơ bản: Xây dựng

cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp cho việc thi hành công tác QLMT; Thiết lập các công

cụ QLMT; Tổ chức công tác bảo vệ và QLMT [19, tr 190-195] Thực tế cho thấy, BVMT là hoạt động quan trọng của con người nhằm duy trì và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên môi trường phục vụ cho phát triển Bởi vậy, nhà nước sử dụng sức mạnh

Trang 27

quyền lực của mình thông qua sử dụng các biện pháp quản lý thích hợp để tiến hành quản lý phù hợp với yêu cầu BVMT

Công tác QLMT có thể được phân loại dựa vào tiêu chí phạm vi quản lý gồm có,

QLMT khu vực (đô thị, nông thôn, biển v.v ), QLMT theo ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp v.v ), quản lý tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên nước, tài nguyên biển,

tài nguyên đất v.v ) Nếu dựa vào tính chất của công tác quản lý có thể chia thành

quản lý chất lượng môi trường (ban hành và kiểm tra các tiêu chuẩn về chất lượng không khí, nước thải v.v ), quản lý kỹ thuật môi trường (quản lý các hệ thống quan trắc, đánh giá chất lượng các thành phần môi trường v.v ), quản lý kế hoạch môi trường Trong quá trình thực hiện các nội dung quản lý trên sẽ tạo thành một hệ thống đan xen với nhau phục vụ công tác BVMT và hướng tới sự phát triển bền vững

Ở nước ta Luật BVMT số 52/QH11 năm 2005 chỉ rõ nội dung công tác QLMT trong đó nhấn mạnh tới việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy về BVMT, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường; Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách BVMT, kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái, ô nhiễm, sự cố môi trường; Xây dựng, quan lý các công trình BVMT; Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường; Thẩm định các báo cáo ĐTM; Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường; Giám sát, thanh tra việc chấp hành luật về BVMT, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tranh chấp về môi trường; Đào tạo cán bộ về BVMT; Tổ chức nghiên cứu khoa học, áp dụng tiến bộ trong khoa học kỹ thuật để BVMT; Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BVMT

1.1.4 Tổ chức công tác quản lý môi trường

Tổ chức QLMT là một nhiệm vụ quan trọng nhất của công tác BVMT Việc tổ chức bộ máy quản lý sẽ ảnh hưởng lớn tới sự thành công hay thất bại của hoạt động BVMT Cho dù tổ chức dưới bất kỳ hình thức nào công tác QLMT cũng phải giải quyết các mảng công việc quan trọng bao gồm: Bộ phận nghiên cứu đề xuất kế hoạch, chính sách, các quy định luật pháp dùng cho công tác BVMT; Bộ phận quan trắc, giám sát, đánh giá định kỳ chất lượng môi trường; Bộ phận thực hiện các công tác kỹ thuật, đào tạo các cán bộ môi trường; Các bộ phận nghiên cứu, giám sát kỹ thuật và đào tạo cho các địa phương và các ngành

Mỗi quốc gia sẽ có cách tổ chức nghiên cứu và QLMT khác nhau Theo phân loại cơ cấu tổ chức của dự án do Hiệp hội trang thiết bị tiêu dùng đặc biệt (SEMA) tiến hành năm 1998, cơ quan QLMT quốc gia chia làm 3 nhóm sau:

Nhóm 1 bao gồm các cơ quan BVMT là một bộ độc lập Nhóm này có 40 nước,

chiếm 30,7% số nước được thống kê Đây là nhóm tập trung chủ yếu các nước có nền kinh tế phát triển ở Châu Âu, Singapo, Brazil, Nhật Bản v.v và Việt Nam trong thời gian gần đây

Nhóm 2 bao gồm các nước có cơ quan BVMT là cơ quan ngang bộ hay trực

thuộc Văn phòng chính phủ, Nhóm này có 18 nước, chiếm 13,8% Đại diện cũng có sự góp mặt của nhiều nền kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Liên hiệp Anh, Thụy Sỹ v.v

Nhóm 3 bao gồm các nước có cơ quan BVMT trực thuộc Bộ kiêm nhiệm, với 72

nước chiếm 55,3% Những quốc gia thuộc nhóm này chủ yếu là các nước đang phát triển, kém phát triển, ngoại trừ Hà Lan, Australia, Liên Bang Nga v.v

Trang 28

Như vậy, cách phân loại trên chỉ mang tính chất sơ lược, phần nào chỉ ra được thái độ tích cực đối với vấn đề BVMT gắn với trình độ phát triển kinh tế ở một số nước Tuy nhiên, một số quốc gia có nền kinh tế phát triển, tích cực trong các vấn đề BVMT nhưng Bộ Môi trường vẫn không nằm độc lập Ngược lại một số quốc gia có Bộ Môi trường độc lập song chưa phát huy hết vai trò quản lý, đề xuất của mình

Nguồn: Bộ TN&MT Việt Nam

Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức công tác quản lý nhà nước về môi trường của Việt Nam

Nguồn: Bộ Môi trường Nhật Bản

Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức công tác quản lý nhà nước về môi trường của Nhật Bản

Theo tiến trình lịch sử, cơ quan QLMT từng bước được hoàn thiện ở từng quốc gia Điều này chứng tỏ vấn đề BVMT ngày càng được quan tâm Việt Nam là một thí

dụ điển hình Trước thời kỳ đổi mới, chúng ta không có cơ quan QLMT Sau đổi mới,

cơ quan này được thành lập song lại đặt tại bộ Khoa học công nghệ và môi trường Hiện nay, công tác QLMT được đặt trong một bộ kiêm nhiệm khác là Bộ TN&MT (Chi tiết xem Hình 1, phụ lục A)

Còn ở Nhật Bản, Bộ Môi trường được thành lập dựa trên tiền thân là Cơ quan Môi trường Nhật Bản Tuy nhiên, bước chuyển đổi thành Bộ Môi trường độc lập diễn ra khá nhanh khi nước này gặp phải những vấn đề môi trường bức xúc trong thời kỳ đầu của “thần kỳ Nhật Bản" (Chi tiết xem Hình 1, phụ lục B)

Cần lưu ý rằng, sự phân nhóm trên đây chỉ mang tính chất tương đối, bởi bên cạnh các cơ quan BVMT độc lập còn rất nhiều cơ quan BVMT thuộc quyền kiểm soát

Ủy ban Nhân dân

Cục, vụ MT Các cục, vụ

khác

Phòng môi trường Các phòng chức

năng Chi cục BVMT

Cục MT toàn cầu

Các phòng chức năng Các phòng

chức năng

Các phòng chức năng

Các cục,

vụ khác

Các phòng chức năng Các phòng

chức năng

Trang 29

và phối hợp của nhiều bộ ngành khác nhau Điều này biểu hiện tính liên ngành của nhiệm vụ BVMT, nó vừa là điều kiện thuận lợi vừa là khó khăn cho cơ quan QLMT ở mỗi quốc gia Để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành kinh tế, các bộ, nhiều quốc gia đã hình thành Uỷ ban BVMT Quốc gia

1.1.5 Các công cụ quản lý môi trường

Công cụ QLMT chính là các biện pháp (giải pháp) hành động nhằm thực hiện

công tác QLMT của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi công cụ có một

chức năng và một phạm vi tác động nhất định Tuy vậy chúng vẫn liên kết và hỗ trợ lẫn nhau nhằm BVMT và phát triển bền vững kinh tế - xã hội [19, tr 140] Bản thân một loại công cụ QLMT phải mang tính hệ thống và được tiếp cận liên ngành từ nhiều chiều, nhiều cơ quan phối hợp thực hiện Vì vậy không thể tách rời chúng khỏi nhau hoặc đưa chúng đứng độc lập hơn Có 3 loại công cụ chính thường được sử dụng trong QLMT, đó là các công cụ pháp lý, các công cụ kinh tế và các công cụ thuyết phục, tuyên truyền vận động

Có thể nói, công cụ QLMT là biện pháp quan trọng của nhà nước trong việc thực hiện công tác QLMT Chúng tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, không có một công cụ nào

có giá trị tuyệt đối Tuỳ vào từng hoạt động môi trường cụ thể mà lựa chọn biện pháp quản lý thích hợp Ví dụ, biện pháp kinh tế có thể được dùng trong việc quản lý các hoạt động sản xuất Biện pháp hành chính được dùng trong QLMT đối với hoạt động xã hội

Các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, cần tiến hành nghiên cứu và hoàn thiện các công cụ quản lý một cách thường xuyên để nâng cao hiệu quả của QLMT Theo một số nhà khoa học môi trường của Đại học quốc gia Hà Nội, người ta có thể phân loại công cụ QLMT như sau: [19, tr 234-247]

Thứ nhất, phân loại theo chức năng, bao gồm 1) Công cụ điều chỉnh vĩ mô: luật pháp, chính sách 2) Công cụ hành động: bao gồm các công cụ hành chính, công cụ kinh

tế, có tác động trực tiếp tiếp đến lợi ích kinh tế - xã hội của cơ sở sản xuất kinh doanh

3) Công cụ phụ trợ là công cụ không có tác động điều chỉnh hoặc không tác động trực

tiếp tới hoạt động Các công cụ này dùng để quan sát, giám sát các hoạt động gây ô nhiễm, giáo dục con người trong xã hội

Thứ hai, phân loại theo bản chất công cụ bao gồm 1) Công cụ luật pháp, chính sách: gồm các quy định pháp lý và chính sách môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên

nhiên như luật môi trường, luật bảo vệ và phát triển rừng, luật đất đai.v.v Các chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực Bên cạnh đó có các văn bản dưới

luật do các bộ, ban, ngành đưa ra; 2) Công cụ kinh tế: công cụ này nhằm vào thu nhập

bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh Có nhiều dạng khác nhau như thuế môi trường, nhãn sinh thái, phí môi trường, côta ô nhiễm, quỹ môi trường Để phát huy hiệu quả công cụ kinh tế trong QLMT người ta chú trọng tới việc, cần nhanh chóng hoàn

thiện quy định thực hiện theo thời gian; 3) Công cụ kỹ thuật quản lý: công cụ này có tác

động trực tiếp vào hoạt động tạo ra ô nhiễm hoặc quản lý chất ô nhiễm trong quá trình hình thành và vận hành hoạt động sản xuất Công cụ kỹ thuật gồm các công cụ đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quy hoạch môi trường, công nghệ xử lý các chất thải, tái chế và tái sử dụng.v.v Với các công cụ trên có thể thực hiện trong bất kỳ một

Trang 30

nền kinh tế nào; 4) Các công cụ phụ trợ: các công cụ phụ trợ không tác động trực tiếp

vào quá trình sản xuất sinh ra chất ô nhiễm hoặc điều chỉnh vĩ mô quá trình sản xuất này Bao gồm: GIS, mô hình hoá môi trường, giáo dục truyền thông môi trường

Theo tác giả luận án phân loại dựa vào bản chất công cụ giúp công tác quản lý tiến hành được dễ ràng hơn bởi các công cụ này được chia cụ thể, chi tiết đến từng hạng mục.Trong nghiên cứu việc chia theo công cụ cũng chỉ rõ được bản chất của sự vật hiện tượng, giúp nhà nghiên cứu tìm ra được ưu nhược điểm của từng công cụ để có cách thực hiện phù hợp

1.1.5.1 Luật pháp và chính sách trong QLMT

1.1.5.1.1 Luật môi trường

Trên phương diện quốc tế Luật môi trường thể hiện khá đa dạng bao gồm hiệp ước, quy ước, quy chế, quy định điều chỉnh sự tương tác của con người và môi trường

tự nhiên Trong đó tập trung vào hai đối tượng chính: 1) Kiểm soát ô nhiễm và khắc phục hậu quả, 2) Bảo tồn và quản lý tài nguyên Trong quan hệ giữa các nước việc hình thành các nguyên tắc, quy phạm pháp lý quốc tế nhằm ngăn chặn, loại trừ mọi thiệt hại

do các nguồn khác nhau gây ra nằm ngoài tài phán quốc gia là vô cùng cần thiết bởi các vấn đề môi trường thường không chỉ bó hẹp trong một khu vực, một đất nước mà nó đòi hỏi phải có sự chung tay của tất cả các nước trên thế giới Thế giới đã có nhiều công ước hiệp ước được các nước ký kết trong thời gian gần đây như Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (1982), Công ước Bảo vệ tầng ô zon (1985), Công ước khung

về biến đổi khí hậu (1992), Nghị định Thư Kyoto (1997) v.v Và Việt Nam đã tham gia rất tích cực vào các công ước này và được thế giới đánh giá cao

Trên phương diện quốc gia, để BVMT mỗi nước xây dựng cho mình một hệ thống các quy định pháp lý riêng dưới dạng các bộ luật để BVMT Thậm chí ở một số nước luật còn dành riêng cho các thành phần môi trường như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.v.v Các nước này ban hành các đạo luật kiểm soát cụ thể từng thành tố môi trường, chẳng hạn, luật kiểm soát ô nhiễm nước, không khí, luật nước sạch, không khí sạch, nước uống an toàn v.v Chính vì vậy, cơ quan quản lý và người dân rất “dễ” tìm hiểu và thực thi các luật này Còn tại các nước đang phát triển bước đầu họ đã xây dựng

bộ luật chung đó là luật môi trường Luật này tạo ra khung pháp lý cho các quy định chi tiết dưới luật do các ngành chức năng ban hành Luật môi trường của Việt Nam được ban hành từ năm 1993 và được sửa đổi vào năm 2005 Kể từ đó đến nay nước ta cũng

có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện các chế tài dưới luật phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước đồng thời xây dựng luật riêng cho các thành phần Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường mới đòi hỏi luật phải liên tục được sửa đổi, bổ sung để phát huy được vai trò quản lý nhà nước của mình Do thời gian ban hành khác nhau, quan điểm khác nhau nên luật môi trường giữa các quốc gia, giữa quốc gia và quốc tế có nhiều điểm không tương ứng với nhau Vì vậy, sự phối hợp

và đàm phán giữa các quốc gia để tìm đến sự tương đồng, chia sẻ và học hỏi các kinh nghiệm là điều hết sức cần thiết Có thể nói đây cũng là một trong những cơ sở quan trọng nhất đặt nền tảng cho sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này

1.1.5.1.2 Chính sách QLMT

Trang 31

Chính sách QLMT là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các biện pháp, các thủ thuật mà Nhà nước sử dụng nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược của đất nước trong lĩnh vực môi trường [19, tr 240] Chính sách môi trường ra đời phát huy tác dụng theo những yêu cầu nhất định và trong một giới hạn nhất định Giai đoạn đầu chính sách phát huy tác dụng chưa đầy đủ do nó chi phối, san sẻ lợi ích của nhiều đối tượng khác nhau Sau một thời gian chính sách dần trở nên quen thuộc với người thực thi, hiệu quả đạt được không còn như mong đợi Do vậy, cần có sự điều chỉnh, thay đổi để tránh sự lạc hậu Ở Nhật Bản năm 1994, Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch Môi trường

cơ bản trong đó đề cập tới những chính sách dài hạn đối với vấn đề môi trường Kế hoạch này bao gồm 4 nội dung đó là xây dựng xã hội có chu kỳ vật chất bền vững; sống hài hòa với tự nhiên; khuyến khích mọi đối tượng, thành phần cùng tham gia; thúc đẩy hợp tác quốc tế Điều đáng lưu ý là dù đã được xây dựng cách đây gần 20 năm nhưng

kế hoạch môi trường cơ bản vẫn được người Nhật quán triệt và thực hiện từ đó đến nay, chưa thấy có bất cứ sự sửa đổi, bổ sung lớn nào Đến năm 1999 chính phủ nước này cũng ban hành “chính sách tập trung cho môi trường” với khoản đầu tư lên tới 86 tỉ yên nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội có liên quan tới vấn đề môi trường toàn cầu; ngăn chặn ô nhiễm hóa chất; giảm ô nhiễm trong đô thị; xây dựng hệ thống tái chế và tái sử dụng nguồn nước tự nhiên; khuyến khích các hoạt động thân thiện với môi trường; Ngăn chặn, giải quyết các tác động xấu của ô nhiễm tới sức khỏe con người Đây thực chất là chính sách giúp thực thi các khoản trợ cấp và khuyến khích người dân, các bộ, ngành tham gia vào hoạt động QLMT

Ở Việt Nam các chính sách môi trường quốc gia được trình bày trong “Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam 1991-2000” được chính phủ phê duyệt lần đầu tiên năm 1991 Đến năm 1995, chính phủ tiếp tục phê duyệt chính sách bảo vệ đa dạng sinh học theo nghị định 845/TTg ngày 22/12/1995 Tiếp đến là chiến lược BVMT giai đoạn 2000-2010 và định hướng đến năm 2020 và hiện nay chính phủ đang tiến hành soạn thảo chiến lược BVMT giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030 Ngày 5/12/2011, Thủ tướng chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu theo quyết định 2139 QĐ-TTg Như vậy các chiến lược BVMT của nước ta có tính liên tục, tiếp nối vừa tính đến yêu cầu trước mắt, vừa tính đến tương lai xa Tuy nhiên,

là một nước đang phát triển nên kinh phí đầu tư dành cho chiến lược này còn hạn chế cộng thêm với trình độ cán bộ quản lý, người thực hiện chưa cao dẫn đến việc sử dụng còn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn

1.1.5.1.3.Tiêu chuẩn môi trường và sức khoẻ

Tiêu chuẩn môi trường là các giá trị được ghi nhận của nhà đương cục trong quy định chính thức, xác định nồng độ tối đa cho phép của các chất trong thức ăn, nước uống, không khí hay giới hạn chịu đựng của con người và sinh vật đối với các yếu tố môi trường [19] Theo Luật BVMT của Việt Nam tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để QLMT Vì vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình khoa học liên ngành, nó phản ánh trình

độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế - xã hội có tính đến dự báo phát triển Hiện nay, Việt Nam đã ban hành hệ thống quy chuẩn môi trường thay cho

Trang 32

tiêu chuẩn môi trường trước đây nhằm nâng cao tính bắt buộc của các quy định đồng thời sửa đổi bổ sung những định mức không còn phù hợp để bắt kịp yêu cầu của thế giới Còn ở Nhật Bản người ta vẫn sử dụng thuật ngữ tiêu chuẩn chất lượng môi trường

kể từ lúc được xây dựng cho tới nay mà chưa có sửa đổi, bổ sung Tiêu chuẩn này được quy định cụ thể cho từng thành phần môi trường bao gồm, tiêu chuẩn đối với nước, không khí, đất, tiếng ồn

Nhìn chung, tiêu chuẩn hay quy chuẩn đều được phân loại một cách tương đối Theo cách phân loại của Jorgensen S.E 1989, có 4 loại: tiêu chuẩn chất lượng các thành phần môi trường; tiêu chuẩn khống chế kỹ thuật đối với máy móc thiết bị; tiêu chuẩn cảnh báo ô nhiễm và suy thoái môi trường Cách phân loại này được chấp nhận ở cả Việt Nam và Nhật Bản cũng như nhiều nước khác trên thế giới Tuy nhiên, tuỳ vào điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội của từng quốc gia mà tiêu chuẩn môi trường cũng khác nhau Không thể áp dụng hoàn toàn tiêu chuẩn môi trường của một nước công nghiệp phát triển cho một nước đang phát triển cũng như không thể áp dụng hoàn toàn tiêu chuẩn nồng độ một chất khí bất kỳ ở các nước ôn đới cho các nước vùng nhiệt đới Bởi vậy, việc học hỏi phương pháp xây dựng tiêu chuẩn luôn phải đặt lên hàng đầu đối với các quốc gia

1.1.5.2 Công cụ kinh tế

Môi trường và nền kinh tế là những yếu tố cơ bản không thể tách rời Môi trường

là nơi cư trú, sinh sống và hỗ trợ hoạt động của con người Những hoạt động này liên quan đến việc tạo ra và cung cấp các nguồn lực cần thiết cho nền kinh tế đồng thời tạo

ra một lượng lớn chất thải, trong khi đó khả năng chịu tải của môi trường chỉ có hạn Khi hoạt động kinh tế vượt ra ngoài những giới kể trên thì môi trường không còn bền vững Đó cũng có thể là nguyên nhân dẫn tới một cuộc khủng hoảng kinh tế cho thế giới trong tương lai Bài toán đặt ra là làm sao để bảo vệ được môi trường, duy trì hoạt động kinh tế, cải thiện cuộc sống của người dân hay nói cách khác, tìm biện pháp để tích hợp yếu tố môi trường và nền kinh tế Để tiến hành việc này, vấn đề cơ bản là phải xác định được loại chính sách nào mà chính phủ cần thực hiện để đạt được hiệu quả lâu dài

Đánh thuế hoặc phí môi trường đều có mục đích giảm sản xuất và tiêu thụ các loại hàng hóa có tác động tiêu cực trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường cũng như giảm chất thải gây ô nhiễm do chúng gây ra được gọi chung là thuế môi trường Hệ thống thuế môi trường ở các nước khác nhau bao gồm thuế carbon để điều chỉnh phát thải CO2, thuế lưu huỳnh điều chỉnh phát thải của các SO2 gây ra mưa axit, thuế đánh vào những vật dụng đựng đồ uống dùng một lần nhằm khuyến khích nhà sản xuất thiết lập hệ thống tái chế

Theo đánh giá của nhiều nhà khoa học và của tác giả luận án, giải pháp kinh tế là một trong số các giải pháp quan trọng của QLMT, sử dụng sức mạnh của thị trường để bảo vệ tài nguyên, đảm bảo cân bằng sinh thái Chúng có thể được sử dụng thay thế hoặc bổ sung cho các giải pháp khác Các giải pháp kinh tế nói chung đều có tính hiệu quả, mềm dẻo, hiệu lực, dễ khuyến khích cho việc đổi mới công nghệ, dễ tiếp cận và dễ

xử lý thông tin đối với người gây ô nhiễm [18, tr 159]

1.1.5.2.1 Nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng các công cụ kinh tế trong QLMT

Trang 33

Các tài liệu công bố trong một số năm gần đây đã khẳng định nguyên tắc QLMT

cơ bản đã được quốc tế thừa nhận: “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “người hưởng thụ phải trả tiền” Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền bắt nguồn từ các sáng kiến do OECD đề xuất vào các năm 1972 và 1974, từ luận điểm của Pigow về nền kinh

tế phúc lợi Theo đó, môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó mang tính cộng đồng, ai cũng sử dụng Khi khai thác, sử dụng môi trường thì phải trả tiền (tiền bỏ ra để mua quyền khai thác, sử dụng, quyền tác động đến môi trường) Nhà nước đứng ra để bán quyền tác động đó Người được hưởng lợi từ việc trả giá này là toàn thể cộng đồng

và nhà nước là người đại diện đứng ra thu tiền và sử dụng tiền để tiếp tục đảm bảo việc BVMT Như vậy, nội dung quan trọng nhất đối với một nền kinh tế lý tưởng là giá cả các loại hàng hoá và dịch vụ có thể phản ánh đầy đủ các chi phí xã hội, kể cả các chi phí môi trường, bao gồm các chi phí chống ô nhiễm, khai thác tài nguyên cũng như những dạng ảnh hưởng khác tới môi trường

Các nhà khoa học tin tưởng vào nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” tự

nó sẽ còn phát triển tiếp tục Gần đây, nó đã được củng cố bởi 4 nguyên tắc cơ bản khác: “nguyên tắc phòng ngừa”, “nguyên tắc hiệu quả kinh tế, tiết kiệm chi phí”,

“nguyên tắc cấp dưới” và “nguyên tắc hiệu quả về luật pháp”

Xét về mặt hiệu quả kinh tế, nguyên tắc PPP là nguyên tắc có tính phù hợp cao,

vì hiệu quả kinh tế chỉ có thể đạt được, nếu các nguồn lợi được sử dụng ở mức độ tối

ưu Do vậy, hiệu quả kinh tế có thể đạt được, nếu việc xác định mức phí, lệ phí môi trường đưa ra ở mức tối ưu và khoản phí, lệ phí thu được chủ yếu phục vụ cho các biện pháp cụ thể có liên quan đến BVMT

Nếu xét theo tính công bằng kinh tế, thì nguyên tắc PPP không đáp ứng được, bởi lẽ tính công bằng kinh tế đòi hỏi mọi người phải trả đầy đủ chi phí cho hàng hoá và dịch vụ mà họ sử dụng Chủ thể khai thác, sử dụng tài nguyên theo và những chủ thể gây ô nhiễm đều phải trả tiền Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng gây ô nhiễm đều phải trả tiền Điều này phụ thuộc vào luật pháp và quy định của từng nước Thông thường việc khai thác phục vụ nhu cầu tất yếu, tự nhiên của con người thì không phải trả tiền Chẳng hạn, ở Việt Nam việc khai thác tài nguyên nước phục vụ gia đình hoặc khai thác không nhằm mục đích kinh doanh thì không phải trả tiền Tuy nhiên, nếu sử dụng nước máy thì người sử dụng sẽ phải đóng khoản phí này Các nhà máy, hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất thì đương nhiên phải trả tiền khi tiến hành khai thác và sử dụng nước dưới mọi hình thức Số tiền trên sẽ được thu thông qua phí BVMT đối với nước thải Như vậy, cũng là hành vi gây tác động tới môi trường song sự đóng góp vào việc làm cho môi trường xấu đi là khác nhau do đó việc tính và thu phí nước thải cũng khác nhau Việc thu phí môi trường không phải lúc nào cũng tiến hành một cách dễ dàng, số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương ứng với mức độ ảnh hưởng và phải đủ sức tác động tới chi phí và hành vi của chủ thể Chẳng hạn, để giảm thiểu ô nhiễm không khí trong nội thành, nội thị người ta tiến hành thu phí xả thải đối với các phương tiện giao thông bằng cách tính qua giá xăng dầu (100 đ/l) Con số này là không đáng kể nên người tiêu dùng vẫn chấp nhận nộp một cách dễ dàng vì thế mà tác dụng giảm thiểu

ô nhiễm không cao hay thu như vậy chỉ là tượng trưng Việc thu phí các dịch vụ môi trường như phí vệ sinh, phí thu gom chất thải cũng có tác động nhất định đến môi

Trang 34

trường và nền kinh tế theo hướng tích cực Vì vậy việc nghiên cứu thu bao nhiêu, thu như thế nào cho hợp lý là điều cần thiết không chỉ ở nước ta mà còn là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm

1.1.5.2.2 Một số công cụ kinh tế được áp dụng trong QLMT

- Quỹ môi trường

GEF được thành lập từ năm 1991, với mục đích giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu Hiện nay, Quỹ có 182 thành viên hoạt động thông qua các quan hệ đối tác với các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân Nguồn vốn của quỹ môi trường quốc gia là từ ngân sách nhà nước, các khoản thu từ phí, lệ phí môi trường, đóng góp của nhân dân, các tổ chức quốc gia, tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ Nguồn vốn của GEF do các tổ chức quốc tế của liên hợp quốc như: UNDP, UNEP tài trợ v.v

Mục đích chính của quỹ môi trường là tài trợ kinh phí cho các hoạt động BVMT

Ở các nước đạt nhiều thành tựu trong BVMT, chính phủ phải điều chỉnh chi tiêu ngân sách, đặc biệt giảm chi phí quân sự, huy động vốn trong nước và các khoản quyên góp ủng hộ tự nguyện, các khoản vốn viện trợ, vốn vay Ngân hàng thế giới dành cho công tác BVMT Ngoài ra, ở từng quốc gia cũng có quỹ môi trường riêng chẳng hạn, ở Việt Nam đó là quỹ BVMT được thành lập từ năm 2002, ở Nhật Bản có khá nhiều quỹ BVMT như Quỹ Môi trường Sompo, Quỹ Môi trường tự nhiên Nagao, Quỹ Môi trường AEON v.v Các quỹ này có phạm vi hoạt động trên toàn quốc hoặc từng tỉnh, từng khu vực Ở Việt Nam các quy định về Quỹ môi trường được thể hiện rõ trong Luật BVMT

2005

- Thuế tài nguyên

Đây là một biện pháp can thiệp kinh tế của chính phủ nhằm tăng doanh thu cho Nhà nước và cải thiện công bằng xã hội.Mục đích thuế tài nguyên là nhằm xác lập mức hợp lý tối đa về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích những hành vi đảm bảo cuộc sống bền vững Thuế tài nguyên có nguồn gốc từ tô kinh tế trong mô hình kinh tế tài nguyên song quá trình phát triển đã có nhiều thay đổi và được các nước ứng dụng linh hoạt Đây cũng là một biện pháp đặc biệt có nhiều ý nghĩa trong điều kiện kinh tế hiện nay của nước ta - một quốc gia có một nền kinh tế đang phát triển gặp nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội

Như vậy, thuế tài nguyên phải có tính linh hoạt tránh làm mất cân bằng kinh tế, phải hợp lý và dễ điều chỉnh có lợi cho kinh tế xã hội Khi môi trường, tài nguyên bị cạn kiệt và suy thoái nghiêm trọng, chính phủ sẽ điều tiết bằng cách tăng thuế đánh vào lĩnh vực khai thác và sử dụng đó lên cao nhiều lần Khi nền kinh tế bị khủng hoảng, doanh nghiệp đứng trước nguy cơ thua lỗ, phá sản, tỉ lệ thất nghiệp tăng mạnh thì nhà nước điều tiết bằng cách giảm thuế xuống nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động Bên cạnh đó, thuế tài nguyên có sự phân biệt giữa các sản phẩm cùng loại với mức độ tác động khác nhau lên môi trường theo hướng càng gây tác hại tới môi trường mức thuế phải nộp càng cao

Ở Nhật Bản và một số nước phát triển trên thế giới, thuế tài nguyên được cụ thể hóa thành các luật riêng biệt, bao gồm thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế dầu mỏ và than đá, thuế xăng, v.v Còn ở Việt Nam,

Trang 35

chúng ta mới xây dựng được luật thuế tài nguyên chung năm 2009 Luật này có phạm vi điều chỉnh khá rộng bao gồm nhiều nguồn tài nguyên khác nhau do vậy sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót cần bổ sung hàng năm

- Thuế môi trường

Thuế môi trường dùng để khuyến khích, bảo vệ và nâng cao hiệu suất sử dụng các yếu tố môi trường, hạn chế các tác nhân gây ra ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn quy định Nguyên tắc đánh thuế phải lớn hơn chi phí để giải quyết phế thải và khắc phục ô nhiễm Biện pháp đánh thuế sẽ gây sức ép, buộc nhà sản xuất phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu suất sử dụng nguyên, nhiên liệu hoặc thay thế nguyên, nhiên liệu ít gây ô nhiễm hơn, áp dụng kỹ thuật chống ô nhiễm

Trong quá trình thi hành, Chính phủ các nước còn áp dụng các biện pháp miễn giảm thuế nhằm khuyến khích các hoạt động có lợi cho môi trường như giảm thuế cho các ngành sản xuất phân bón vi sinh thay cho phân bón hóa học, các ngành công nghiệp

xử lý nước thải, CTR, sản xuất “sản phẩm xanh” Ở Việt Nam, luật thuế môi trường mới có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2012 song sự đón nhận từ phía doanh nghiệp và người dân còn hạn chế do chưa có quy định hướng dẫn thực hiện cụ thể nhất là trong ngành nhựa Ở Nhật Bản thuế môi trường được người ta nhắc đến từ những năm 1990 song chỉ sau khi nước này ký Nghị định thư Kyoto thì chính phủ mới tiến hành các biện pháp thu thuế môi trường So với các nước EU thì thuế môi trường ở Nhật Bản được thu ở mức thấp hơn và tập trung vào lĩnh vực chính là thuế carbon và một số lĩnh vực khác

- Các loại phí và lệ phí

Có thể nói rằng, phí và lệ phí môi trường là biểu hiện rõ nhất của nguyên tắc

“người sử dụng phải trả tiền” Nhiều nước qui định thu phí và lệ phí tuỳ theo mục đích

sử dụng và hoàn cảnh như: phí vệ sinh thành phố, phí nuôi và giết mổ gia súc trong các

đô thị, phí nước thải, phí cung cấp nước cho sinh hoạt và tưới tiêu trên đồng ruộng, lệ phí đường phố, lệ phí sử dụng bờ biển, danh lam, thắng cảnh v.v Rõ ràng phí và lệ phí

có thể coi là “cái giá” phải trả cho việc gây ô nhiễm Những người gây ô nhiễm phải trả giá cho xử lý ô nhiễm, phục hồi môi trường Như vậy, phí môi trường phải cơ bản thay đổi được hành vi của người gây ô nhiễm và tăng nguồn thu để chi trả cho các hoạt động BVMT Trong đó một phần được sử dụng để chi cho các hoạt động nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm Ở nước ta, phí môi trường đang được áp dụng bao gồm 1) phí vệ sinh môi trường trả cho việc thu gom và xử lý CTR đô thị, mức phí đóng do hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định nên có sự khác nhau giữa các khu vực; 2) phí BVMT đối với nước thải 3) phí BVMT đối với CTR 4) phí BVMT đối với khai thác khoáng sản Lệ phí môi trường còn được áp dụng trong các trường hợp như: lệ phí thẩm định báo cáo ĐTM, lệ phí cấp giấy phép môi trường v.v Những loại lệ phí này được thu khi cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường giải quyết quản lý hành chính Nhà nước về BVMT đã được Luật BVMT quy định Tất cả các loại phí này đều được thể hiện qua các thông tư, nghị định của chính phủ, tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong quá trình thực thi Ở Nhật Bản không

sử dụng lệ phí môi trường mà chúng được cụ thể hóa trong luật thuế pháp vì thế tính

“thực dụng” sẽ cao hơn Còn tại các quốc gia OECD thì phí được đánh vào sản phẩm và

Trang 36

sử dụng khá rộng rãi nhất là đối với các sản phẩm có nguy cơ gây ô nhiễm cao như phân bón, thuốc trừ sâu, xăng, dầu v.v Phí đánh vào sản phẩm bao gồm nguyên liệu đầu vào, sản phẩm trung gian, hay thành phẩm có thể sử dụng thay thế cho phí gây ô nhiễm trong trường hợp người ta không thể tính phí trực tiếp đối với chất gây ô nhiễm Phí này được sử dụng một cách linh hoạt nhằm tăng nguồn thu ngân sách cho chính phủ

Tuy còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết, song dù sao phí và lệ phí ô nhiễm nói riêng và phí môi trường nói chung vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nước

Ngoài ra, một số công cụ kinh tế khác cũng được sử dụng để ngăn ngừa ô nhiễm môi trường như trợ cấp tài chính, giấy phép môi trường (cota ô nhiễm) Đây là loại giấy phép có thể chuyển nhượng được các quốc gia Châu Âu ưu tiên sử dụng Bên cạnh đó người ta còn sử dụng hệ thống đặt cọc hoàn trả - ký cược, bảo hiểm, uỷ thác, thưởng phạt về môi trường, nhãn sinh thái v.v Tùy vào từng quốc gia, từng lĩnh vực, từng loại hàng hóa cụ thể mà người ta sử dụng các công cụ kinh tế một cách linh hoạt để vừa đảm bảo lợi ích kinh tế vừa đạt được hiệu quả BVMT

1.1.5.3 Công cụ công nghệ, kỹ thuật

Xuất phát từ tính phức tạp của vấn đề môi trường nên chúng ta không thể giải quyết bằng một giải pháp riêng biệt trong một lĩnh vực khoa học mà nó đòi hỏi phải có

sự phối hợp giữa các giải pháp và hợp tác liên ngành QLMT với tư cách là một lĩnh vực khoa học, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để giải quyết các vấn đề môi trường, nó cho phép con người có thể đánh giá, dự báo, kiểm soát được các tác động tiêu cực của sự phát triển đến môi trường

Công nghệ môi trường theo PGS TS Phùng Chí Sỹ là các sản phẩm hoặc quá trình có thể hạn chế, phòng ngừa, giảm thiểu hoặc xử lý các tác động có hại gây ra do hoạt động của con người lên môi trường Công nghệ môi trường còn bao gồm các quá trình sản xuất hiệu quả hơn, ít chất thải hơn hoặc tiêu thụ ít nguyên liệu hơn Công nghệ môi trường còn bao gồm các phương pháp làm sạch môi trường ô nhiễm đang tồn tại hoặc tiêu huỷ an toàn hoặc tái chế chất thải

Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) cho rằng công nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lý, hoá học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất độc hại phát sinh từ quá trình sản xuất và hoạt động của con người Công nghệ môi trường bao gồm các dạng tri thức dưới dạng nguyên lý, quy trình và các thiết bị kỹ thuật thực hiện nguyên lý và quy trình đó

Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát, công nghệ môi trường thực chất là công nghệ sản xuất sạch hơn, xanh hơn, ít tiêu hao nguyên vật liệu, tiết kiệm năng lượng, hạn chế tối đa xả thải ra môi trường và công nghệ xử lý cuối đường ống Công nghệ sản xuất sạch hơn sẽ giúp con người phòng ngừa, hạn chế được tác động của quá trình sản xuất đối với môi trường và ngược lại bởi đó là công nghệ sản xuất sử dụng nguyên liệu, nhiêu liệu và các biện pháp kỹ thuật trong dây chuyền sản xuất nhằm đạt được mục đích thải ít chất thải nhất và chất thải ít chứa thành phần gây ô nhiễm Song song với công nghệ sạch người ta còn nhắc đến công nghệ xanh Đây là giải pháp áp dụng công nghệ xử lý chất thải, đảm bảo không thải ra môi trường các chất gây ô nhiễm

Trang 37

với nồng độ vượt quá TCCP Công nghệ xanh được cho là công nghệ khá “khả thi” trong điều kiện hiện nay khi mà các nước vừa muốn giữ vững tốc độ phát triển kinh tế, vừa BVMT Bên cạnh đó còn có công nghệ xử lý cuối đường ống Đó là công nghệ xử

lý khí thải, nước thải, CTR trước khi thải ra môi trường [13] Như vậy, công nghệ này

có thể bao gồm công nghệ tái sinh, tái chế, tái sử dụng các loại phế phẩm, phụ phẩm vào quá trình sản xuất và đời sống Công nghệ xử lý cuối đường ống được coi là cứu cánh cho các dây chuyền sản xuất chưa được công nhận là sản xuất xanh, sản xuất sạch bởi nó giúp cho doanh nghiệp thực hiện BVMT thông qua việc xây dựng thêm dây chuyền xử lý chất thải, tái sử dụng phế phẩm hoặc sử dụng kinh phí để hỗ trợ cho các

cơ sở xử lý riêng lẻ v.v

Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Canada.v.v và một số quốc gia đang phát triển khác, công nghệ môi trường phát triển trở thành một ngành kinh tế quan trọng Một số công nghệ đã được nhiều nước trên thế giới biết đến; chẳng hạn, công nghệ xử lý nước thải bằng các phương pháp sinh học, hoá học, cơ học, hoá sinh; công nghệ xử lý khí thải bằng phương pháp khô, ướt.v.v ; công nghệ xử lý CTR bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh, đóng rắn, hoá học, sinh học, tái sử dụng.v.v [12]

Công nghệ xử lý chất thải áp dụng ở các nước phát triển có hiệu quả tốt song có chi phí rất cao, điều này gây khó khăn rất lớn cho các nước đang phát triển muốn sử dụng công nghệ để BVMT.Để công nghệ môi trường được sử dụng rộng rãi, cả những nước phát triển và đang phát triển cần có nỗ lực và thiện chí hơn nữa trong việc chuyển giao những công nghệ này

1.1.5.5 Giáo dục môi trường

Xét về phương diện lịch sử, giáo dục môi trường có lịch sử khá dài, tuy nhiên, nó trở thành biện pháp BVMT đáng quan tâm từ 10 năm trở lại đây Giáo dục môi trường cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Năm 1971, IUCN đưa ra định nghĩa giáo dục môi trường là quá trình nhận thức các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm để phát triển kỹ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết sâu sắc mối liên quan lẫn nhau giữa con người với nền văn hoá nhân loại và môi trường sinh học xung quanh Giáo dục môi trường cũng đòi hỏi thực hành trong việc đưa ra các quyết định và tự tạo lập một chuẩn mực cho hành vi về các vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” Đây là một khái niệm còn khá chung chung chưa nêu được bản chất, mục tiêu của giáo dục môi trường Đến năm 1975, UNESCO lại đưa ra khái niệm mục tiêu của giáo dục môi trường là phát triển một thế giới mà mọi người nhận thức và quan tâm về môi trường cũng như các vấn đề liên quan và có kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm và cam kết hành động cá nhân hay tập thể hướng đến các giải pháp cho các vấn đề hiện tại và ngăn chặn các vấn

đề mới phát sinh Khái niệm này bước đầu đã đề cập được mục tiêu cụ thể, nội dung cần thiết của giáo dục môi trường song lại chưa nêu được bản chất và cũng như trách nhiệm của từng cá nhân trong việc thực hiện

Trong giới hạn của luận án tác giả xin đề cập đến một định nghĩa đã được chấp nhận phổ biến nhất do hội nghị quốc tế về giáo dục môi trường của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi năm 1977 đưa ra: giáo dục môi trường có mục đích làm cho cá nhân và cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo

Trang 38

là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hoá; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường [17, tr 277] Có thể nói, đây là một khái niệm khá toàn diện phản ánh được các góc cạnh cần thiết của giáo dục môi trường cũng như nêu bật được trách nhiệm của cá nhân tham gia Dựa trên khái niệm chung này, mỗi quốc gia sẽ tự đưa ra khái niệm phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước mình Như vậy, giáo dục môi trường không phân biệt đối tượng được giáo dục, bậc giáo dục, không phân biệt giàu nghèo, nước lớn nước nhỏ Mục tiêu chủ yếu nhằm giúp các đối tượng hiểu được bản chất các vấn đề môi trường, tính phức tạp, nhiều chiều, khả năng chịu tải, quan hệ giữa môi trường và phát triển v.v Nhận thức được tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như nền tảng của sự sống và phát triển từ đó có cách ứng xử đúng đắn để dần biến chúng thành giá trị nhân cách, thẩm mỹ của mỗi con người Đây

là tri thức vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn cách sống khôn ngoan, tiết kiệm tài nguyên, có kỹ năng ứng phó hiệu quả nhất trước các vấn đề môi trường xảy ra như là một nhà môi trường thực thụ Có lẽ mục đích cuối cùng của giáo dục môi trường là xã hội hoá các vấn đề môi trường hướng đến sự phát triển bền vững, tạo ra các công dân có nhận thức, trách nhiệm về môi trường và biết sống vì môi trường

Các mục tiêu được áp dụng đối với từng đối tượng cụ thể, chẳng hạn, cho cộng đồng, cho các nhà quản lý, các cán bộ ra quyết định, giáo dục môi trường theo hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo nhân lực có chuyên môn về môi trường Tùy từng đối tượng

mà người ta đưa ra cách thức thực hiện cho phù hợp Đối với học sinh giáo dục môi trường có thể được lồng ghép vào các môn học, đối với cộng đồng có thể qua các phương tiện thông tin đại chúng, các đợt tập huấn ngắn hạn, các hoạt động văn hóa, đối với cán bộ có thể thông qua các đợt phổ biến kiến thức ngắn hạn, các hoạt động hội thảo.v.v Với cách làm đồng bộ sẽ đảm bảo được giáo dục môi trường được thực hiện một cách liên tục, từ lúc ấu thơ cho đến khi trưởng thành Điều này cũng phù hợp với triết lý “học, học nữa học mãi” được Lê nin đưa ra từ thế kỷ trước

Giáo dục môi trường phải đưa ra các nội dung giáo dục một cách rộng rãi, toàn diện, liên ngành bởi đây là một hợp phần tổng thể bao gồm nhiều thành phần từ hệ sinh thái đến kinh tế, dân số, xã hội Trong đó cần đề cập sâu tới nội dung đạo đức, nhân cách, thái độ ứng xử trước các vấn đề môi trường Mang tới cho người học các kiến thức cụ thể, kỹ năng ứng phó, phân tích các vấn đề môi trường để cộng đồng có thể phòng ngừa và xử lý vấn đề này một cách hiệu quả Đề cập tới vấn đề môi trường trong mối tương quan thời gian giữa thế hệ hiện tại và mai sau, mối tương quan không gian giữa các địa phương, vùng, miền, quốc gia, khu vực Các nội dung trên được truyền đạt đến cho người nghe thông qua các nhà chuyên gia nhờ kinh nghiệm của bản thân họ hoặc những kinh nghiệm đúc rút từ bản thân của người học Nói cách khác cách truyền đạt nội dung giáo dục môi trường đến cho người học cần đảm bảo tính tương tác khách quan giữa người dạy và người học

1.1.5.5.1 Cách tiếp cận

Giáo dục môi trường được tiếp cận theo 3 cách Cách dễ nhận thấy nhất là coi môi trường như là một môn khoa học từ đó truyền đạt các kiến thức về môn học cho

Trang 39

người học Cách này được áp dụng chủ yếu ở các bậc học trên phổ thông trung học Thứ hai coi môi trường như là một địa bàn, phương tiện giảng dạy, người học sẽ được thí nghiệm thực tế thông qua các hoạt động khảo sát, nghiên cứu Thứ ba coi thái độ, cách ứng xử, trách nhiệm với môi trường của mỗi người như là phạm trù của giá trị đạo đức, lối sống từ đó giúp người ta có cách ứng xử đúng đắn

1.1.5.5.2 Các phương pháp giáo dục môi trường

Từ cách tiếp cận trên có thể thấy rằng, để giáo dục môi trường tiến hành thành công cần lựa chọn phương pháp phù hợp, dựa trên nguyên tắc giảm bớt giảng diễn, tăng cường thảo luận; giảm học thuộc lòng, tăng khảo sát, nghiên cứu; giảm trả lời theo sách, độc lập khi nghiên cứu; vận dụng nguyên lý, tránh tiếp nhận xuôi chiều lý thuyết sẵn có; tập trung xem xét tính hệ thống của vấn đề tránh sa vào hiện tượng vụn vặt; chú

ý kinh nghiệm thực tế và khả năng vận dụng; tăng cường làm việc tập thể; chú ý khoá luận, dự án và đề tài khảo sát nghiên cứu

Thực tế cho thấy, các phương pháp giáo dục môi trường thường được áp dụng bao gồm, giáo dục qua kinh nghiệm thực tế, người học được tiếp xúc trực tiếp với môi trường thông qua một công việc cụ thể, vừa được tiếp nhận phương pháp thu thập, phân tích vừa tự đúc rút kinh nghiệm cho bản thân; Tham quan, khảo sát thực địa được thực hiện song song với việc học lý thuyết trong lớp học từ đó giúp người học có thể liên hệ tốt giữa lý thuyết và thực hành; Phương pháp giải quyết vấn đề đây là phương pháp được áp dụng với các đối tượng đã có kiến thức về môi trường, họ sử dụng vốn kiến thức này để lựa chọn, phân tích, đề xuất giải pháp thích hợp; Phương pháp nghiên cứu những vấn đề môi trường cụ thể, trong đó người học thường được tự lựa chọn địa bàn

để phân tích, tìm hiểu các vấn đề môi trường Phương pháp này cũng ưu tiên cho những người đã có kiến thức về môi trường; Học tập theo thực tiễn của dự án Đây là cách làm tương đối phổ biến bởi nó kết hợp được kinh nghiệm của các chuyên gia, có địa bàn hoạt động cụ thể và có kinh phí để thực hiện; Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm; Đề cao thái độ ứng xử có đạo đức đối với các vấn đề môi trường thông qua việc lồng ghép vấn đề này vào nội dung các môn học, bài giảng trong nhà trường Như vậy, để tiến hành giáo dục thành công chúng ta cần xác định phương pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng; kết hợp một cách khoa học các phương pháp với nhau để tạo hiệu quả tốt nhất

1.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ

1.2.1 Trên thế giới

Xét ở phương diện tổng thể, cơ sở pháp lý của QLMT đó là Luật Quốc tế về môi trường Cho đến nay, luật quốc tế về môi trường vẫn đang trong quá trình hình thành nên chưa có một định nghĩa cụ thể nào được nêu ra song có thể tạm hiểu luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa các tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ các thiệt hại do các nguồn khác nhau gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường thiên nhiên ngoài phạm vi tài phán quốc gia [19, tr 227]

Như vậy, Luật quốc tế về môi trường còn là một lĩnh vực tương đối mới, phát triển trong một số năm gần đây Các quốc gia trên thế giới đang có nhiều cố gắng để xây dựng những luật chung song những hiệp ước, điều ước được đưa ra vẫn còn tình

Trang 40

trạng tản mạn, trùng lặp Bên cạnh đó, quy định pháp lý về môi trường mang tính chất giải pháp tình huống, đối phó là chính chưa có quy định mang tính định hướng, lâu dài Cho đến nay, chưa có một tài liệu nào chỉ rõ các quy phạm, nguyên tắc ràng buộc trong lĩnh vực BVMT trên phạm vi toàn cầu mà chỉ dừng lại ở các quy định mang tính khu vực, hợp tác song phương Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, các khía cạnh pháp lý quốc tế về môi trường ngày càng có xu hướng hoà nhập vào luật kinh tế và thương mại Điều này mở ra cơ hội thuận lợi cho việc xây dựng luật môi trường chung song cũng gây khó khăn nhất định, đòi hỏi các quốc gia phải nhạy bén để đưa ra các quyết định hợp lý về môi trường

Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi song đối tượng điều chỉnh của luật môi trường quốc tế chủ yếu tập trung vào các mối quan hệ giữa các quốc gia về môi trường, các mối quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác về môi trường, giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế [19, tr 228] Những mối quan hệ này thực chất là việc tìm ra tiếng nói chung trong việc sử dụng môi trường, BVMT giữa các quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, các tổ chức liên chính phủ kể cả Liên Hợp Quốc

Phạm vi điều chỉnh của luật quốc tế về môi trường khá rộng lớn bao gồm các các vấn đề liên quan đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên Như đã nói ở trên hiện nay, luật quốc tế về môi trường tồn tại dưới các hình thức chẳng hạn, như các hiệp định, nghị định, công ước, ghi nhớ v.v về môi trường Các văn bản này có thể là các văn bản do 2 hoặc nhiều nước ký kết với nhau song cùng hướng đến mục tiêu là duy trì BVMT và tài nguyên thiên nhiên trên phạm vi lãnh thổ hoặc khu vực mà nó điều chỉnh

(Chi tiết xem Bảng 1, phần phụ lục A)

1.2.2 Ở Việt Nam

Ở nước ta, mục tiêu cơ bản của công tác QLMT là ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các KCN, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [19,

tr 195-210]

Văn kiện của Bộ chính trị ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Việt Nam khẳng định quan điểm cơ bản của Đảng ta đối với vấn đề BVMT [19, tr 195-210]: 1) BVMT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân 2) BVMT phải được tiến hành trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở mọi cấp, là cơ sở cho phát triển bền vững 3) Phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo, kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường sống và bảo tồn thiên nhiên, kết hợp với hợp tác quốc tế trong BVMT

Có 5 nhiệm vụ chủ yếu cần phải thực hiện để BVMT: 1) Phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường 2) Bảo vệ và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên 3) Khắc phục các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái 4) Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tôn tạo cảnh quan môi trường 5) Đáp ứng yêu cầu về môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế

Như vậy ở Việt Nam, vấn đề BVMT đã và đang được quan tâm một cách đúng đắn, điều này được thể hiện cụ thể trong hệ thống các văn bản pháp lý về BVMT đã được quốc hội và các cơ quan quản lý khác ban hành Hiện nay, hệ thống văn bản này

Ngày đăng: 13/08/2014, 18:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức công tác quản lý nhà nước về môi trường của Nhật Bản - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức công tác quản lý nhà nước về môi trường của Nhật Bản (Trang 28)
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức công tác quản lý nhà nước về môi trường của Việt Nam - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức công tác quản lý nhà nước về môi trường của Việt Nam (Trang 28)
Bảng 2.3: Khí thải CO 2  ở Tokyo và Nhật Bản từ 1990 đến 2009 tại Nhật Bản - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Bảng 2.3 Khí thải CO 2 ở Tokyo và Nhật Bản từ 1990 đến 2009 tại Nhật Bản (Trang 51)
Bảng 2.5: Diễn biến BOD, COD, DO, SS tại các sông ở Tokyo giai đoạn 1980- - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Bảng 2.5 Diễn biến BOD, COD, DO, SS tại các sông ở Tokyo giai đoạn 1980- (Trang 55)
Bảng 2.6: Lún sụt đất ở Tokyo từ 1970 -2010 - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Bảng 2.6 Lún sụt đất ở Tokyo từ 1970 -2010 (Trang 57)
Bảng 3.4: Chất thải rắn công nghiệp tại một số tỉnh thành phố năm 2010 - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Bảng 3.4 Chất thải rắn công nghiệp tại một số tỉnh thành phố năm 2010 (Trang 101)
Bảng 8. CTR đô thị phát sinh các năm 2007-2010 - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Bảng 8. CTR đô thị phát sinh các năm 2007-2010 (Trang 177)
Bảng 10. Số ca mắc bệnh truyền nhiễm liên quan tới ô nhiễm nước - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Bảng 10. Số ca mắc bệnh truyền nhiễm liên quan tới ô nhiễm nước (Trang 178)
Hình 1. Sơ đồ tổ chức cơ quan QLMT của Việt Nam - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Hình 1. Sơ đồ tổ chức cơ quan QLMT của Việt Nam (Trang 181)
Bảng 3. Số lượng các trạm đo chất lượng môi trường không khí ở Nhật Bản giai - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Bảng 3. Số lượng các trạm đo chất lượng môi trường không khí ở Nhật Bản giai (Trang 189)
Bảng 6. Những loại CTR được kiểm soát đặc biệt - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Bảng 6. Những loại CTR được kiểm soát đặc biệt (Trang 191)
Bảng 12. Sức chứa và số lượng khu vực đổ thải ở Nhật Bản - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Bảng 12. Sức chứa và số lượng khu vực đổ thải ở Nhật Bản (Trang 196)
Bảng 13. Mức biến đổi Ph trong nước mưa theo không gia và thời gian ở Nhật Bản - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Bảng 13. Mức biến đổi Ph trong nước mưa theo không gia và thời gian ở Nhật Bản (Trang 197)
Hình 1. Sơ đồ tổ chức cơ quan QLMT của Nhật Bản - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Hình 1. Sơ đồ tổ chức cơ quan QLMT của Nhật Bản (Trang 199)
Sơ đồ 1. Phân bố mưa acid ở các thành phố Nhật Bản giai đoạn 1993-1995 - luận án: Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Sơ đồ 1. Phân bố mưa acid ở các thành phố Nhật Bản giai đoạn 1993-1995 (Trang 200)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w