1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương

59 680 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 861 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng thuốc điều trị ung thư phức tạp hơn so với nhiều thuốc khác do các vấn đề về an toàn và rủi ro. Sai sót về thuốc đối với các thuốc điều trị ung thư có thể đặc biệt nghiêm trọng do rất nhiều thuốc có chỉ số điều trị hẹp; độc tính cao dù ở liều điều trị. Tại Việt Nam, chưa có một hướng dẫn cụ thể về kê đơn, pha chế và thực hiện thuốc điều trị ung thư.

Trang 1

NGUYỄN THÙY GIANG

Trang 2

NGUYỄN THÙY GIANG

Trang 3

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thầy:ThS.Trịnh Trung Hiếu – Bộ môn Dược lâm sàng, Trường Đại học Dược Hà Nội,ThS.Thân Thị Hải Hà – Khoa Dược Bệnh viện Phụ sản Trung Ương và ThS.CaoThị Bích Thảo – Bộ môn Dược lâm sàng, Trường Đại học Dược Hà Nội đã trực tiếpđộng viên, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khoáluận tốt nghiệp này.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của bộ môn Dược lâm sàngTrường Đại học Dược Hà Nội – những người thầy luôn sẵn sàng chia sẻ những khókhăn, vướng mắc của tôi trong quá trình học tập cũng như quá trình làm khoá luận.Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến toàn thể các bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, cán

bộ công nhân viên đang công tác tại khoa Dược, khoa Phụ Ung thư, phòng Kếhoạch tổng hợp đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trìnhnghiên cứu

Cuối cùng, khoá luận tốt nghiệp của tôi sẽ không thể hoàn thành nếu thiếu sự độngviên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè Cảm ơn những người bạn luôn sát cánh, sẻchia với tôi trong mọi hoàn cảnh và đặc biệt cảm ơn bố mẹ đã luôn bên con trongsuốt cuộc đời

Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thùy Giang

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN 1 TỔNG QUAN 2

1.1 Một số khái niệm liên quan 2

1.1.1 Thuốc gây độc tế bào (Cytotoxic drugs) 2

1.1.2 Thuốc độc hại (Hazardous drugs) 2

1.2 Sai sót liên quan đến thuốc điều trị ung thư 3

1.2.1 Sai sót liên quan đến thuốc 3

1.2.2 Sai sót trong giai đoạn kê đơn 4

1.2.3 Sai sót trong pha chế và thực hiện thuốc 6

1.3 Nguy cơ phơi nhiễm với thuốc độc hại 7

1.3.1 Phơi nhiễm nghề nghiệp với thuốc độc hại 7

1.3.2 Ảnh hưởng của việc phơi nhiễm với các thuốc độc hại 9

1.3.3 Biện pháp phòng tránh phơi nhiễm với thuốc độc hại 10

1.4 Tiêu chuẩn thực hành trong pha chế và thực hiện thuốc điều trị ung thư 12

1.4.1 Tiêu chuẩn thực hành trong pha chế thuốc ung thư 12

1.4.2 Tiêu chuẩn thực hành trong thực hiện thuốc ung thư 13

PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Khảo sát chỉ định thuốc điều trị ung thư của bác sĩ 14

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 14

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 14

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 14

2.1.4 Chỉ tiêu nghiên cứu 14

2.2 Khảo sát quy trình pha chế và thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡng .15

2.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 15

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 15

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 15

Trang 5

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 17

PHẦN 3 KẾT QUẢ 18

3.1 Khảo sát chỉ định thuốc điều trị ung thư của bác sĩ 18

3.1.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 18

3.1.2 Đặc điểm chung về chỉ định đường dùng, dung môi, tốc độ 18

3.1.3 Đặc điểm lựa chọn thuốc điều trị ung thư trong bệnh án 20

3.1.4 Đặc điểm lựa chọn đường dùng thuốc 21

3.1.5 Đặc điểm lựa chọn dung môi hòa tan và dung môi pha loãng 22

3.1.6 Đặc điểm chỉ định tốc độ tiêm truyền 24

3.1.7 Nguy cơ gặp tương kị của các thuốc trong đơn 24

3.2 Khảo sát quy trình pha chế và thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng 26

3.2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 26

3.2.2 Sai lệch trong pha chế và thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡng 26

3.2.3 Sai lệch trong quá trình pha chế thuốc 27

3.2.4 Sai lệch trong thực hiện thuốc 29

3.2.5 Việc thực hiện kỹ thuật vô khuẩn trong pha chế và thực hiện thuốc 29

3.2.6 Vấn đề bảo hộ cá nhân trong thao tác với thuốc điều trị ung thư 30

PHẦN 4 BÀN LUẬN 32

4.1 Khảo sát chỉ định sử dụng thuốc điều trị ung thư của bác sĩ 32

4.2 Khảo sát quy trình pha chế và thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng 34

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 40

Trang 6

ASHP

(American Society of Health-System Pharmacists)

Hội Dược sĩ Mỹ

ASCO

(American Society of Clinical Oncology)

Hội Ung thư lâm sàng Mỹ

BCCA

(British Columbia Cancer Agency)

Cơ quan Ung thư British Columbia

BSC

(Biological safety cabinet)

Tủ an toàn sinh học

CAPhO

(Canadian Association of Pharmacy in Oncology)

Hội Ung thư Dược Canada

COSA

(Clinical Oncological Society of Australia)

Hội Ung thư lâm sàng Úc

ISOPP

(International Society of Oncology Pharmacy

Practicioners Standards Committee)

Hiệp hội Quốc tế của Ủy ban tiêu chuẩn thực hành Dược

SHPA

(Society of Hospital Pharmacists of Australia)

Hội Dược sĩ bệnh viện Úc

Trang 7

Bảng 2.1 Phân loại sai lệch trong sử dụng thuốc

Bảng 3.1 Đặc điểm về chẩn đoán của bệnh nhân trong nghiên cứu

Bảng 3.2 Tỉ lệ các thuốc điều trị ung thư được chỉ định trong bệnh án

Bảng 3.3 Đặc điểm chỉ định đường dùng các thuốc điều trị ung thư được chỉ địnhBảng 3.4 Đặc điểm lựa chọn dung môi pha loãng cho các thuốc điều trị ung thưtruyền tĩnh mạch

Bảng 3.5 Đặc điểm lựa chọn thể tích dung môi so với khuyến cáo

Bảng 3.6 Đặc điểm lựa chọn tốc độ truyền so với khuyến cáo

Bảng 3.7 Các trường hợp chỉ định có nguy cơ gây tương kị

Bảng 3.8 Đặc điểm quan sát pha chế và thực hiện thuốc của điều dưỡng

Bảng 3.9 Sai lệch trong pha chế và thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡng

Bảng 3.10 Tỉ lệ sai lệch trong giai đoạn pha chế thuốc ung thư của điều dưỡngBảng 3.11 Tỉ lệ sai lệch trong giai đoạn thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡngBảng 3.12 Kĩ thuật vô khuẩn trong pha chế và thực hiện thuốc của điều dưỡngBảng 3.13 Tỉ lệ thực hiện các biện pháp bảo hộ cá nhân trong thao tác với thuốcung thư của điều dưỡng

Trang 8

Hình 3.1 Tỉ lệ các chỉ định không phù hợp về đường dùng, lựa chọn dung môi vàthể tích dung môi và tốc độ truyền

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hóa trị liệu là một trong các phương pháp điều trị ung thư quan trọng Cũng nhưđối với các thuốc khác, mục đích của việc sử dụng thuốc trong điều trị ung thư là đểđảm bảo việc đưa được đúng thuốc tới đúng bệnh nhân với đúng liều và dạng thuốctại đúng thời điểm để đạt được mục tiêu cải thiện thời gian sống và chất lượng cuộcsống của bệnh nhân Sử dụng thuốc điều trị ung thư phức tạp hơn so với nhiềuthuốc khác do các vấn đề về an toàn và rủi ro Sai sót về thuốc đối với các thuốcđiều trị ung thư có thể đặc biệt nghiêm trọng do rất nhiều thuốc có chỉ số điều trịhẹp; độc tính cao dù ở liều điều trị; phác đồ hóa trị liều rất là phức tạp; và bệnhnhân ung thư là nhóm dễ bị ảnh hưởng do khả năng chịu đựng kém Trong mộtnghiên cứu, sai sót trong sử dụng các thuốc điều trị ung thư là nguyên nhân phổbiến đứng thứ hai trong các sai sót về thuốc dẫn đến tử vong (chiếm 15.4 % sốtrường hợp tử vong)

Trên thế giới và trong khu vực, việc pha chế thuốc cho hóa trị liệu được thực hiệntập trung tại khoa Dược và đã cho kết quả rất tốt trên cả ba mặt an toàn, hiệu quả vàtiết kiệm Thực tế tại hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam, trong đó có bệnh viện Phụsản Trung Ương, việc tiến hành chuẩn bị thuốc cho hóa trị liệu được thực hiện tạicác khoa lâm sàng và người thực hiện là nhân viên điều dưỡng Tại thời điểm khảosát, bệnh viện cũng chưa có một hướng dẫn cụ thể về kê đơn, pha chế và thực hiệnthuốc điều trị ung thư

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát cách sửdụng thuốc chống ung thư tại khoa Phụ Ung thư Bệnh viện phụ sản Trung Ương”với mục tiêu

- Khảo sát việc thực hiện thuốc ung thư dựa trên bệnh án của bệnh nhân

- Khảo sát quy trình pha chế và thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡng

tiến tới đề ra một quy trình chuẩn pha chế và thực hiện thuốc điều trị ung thư, tăngcường hiệu quả, an toàn trong quá trình sử dụng thuốc

Trang 10

PHẦN 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Thuốc gây độc tế bào (Cytotoxic drugs)

Thuốc gây độc tế bào (thuốc hóa trị liệu-chemotherapy drugs, thuốc điều trị ungthư-antineoplastic drugs) là các hóa chất tác động đến sự lớn lên và sinh sôi của tếbào, hầu hết trong số đó hoặc liên quan trực tiếp đến vật liệu di truyền trong nhân tếbào, hoặc ảnh hưởng đến sự tổng hợp protein của tế bào Thông thường, thuốc gâyđộc tế bào không phân biệt giữa tế bào bình thường và tế bào ung thư

Thuốc gây độc tế bào thường được dùng cho bệnh nhân suy giảm miễn dịch, và

do hầu hết các loại thuốc này đều ức chế tủy, việc này có thể đặt bệnh nhân vàonguy cơ cao phát triển nhiễm khuẩn nặng Vì lý do này, khi pha chế thuốc gây độc

tế bào để tiêm, kĩ thuật vô trùng phải thực hiện tốt để ngăn ngừa nhiễm khuẩn.Ngoài ra, do hầu hết các hoạt chất đều có chỉ số điều trị hẹp, độ chính xác của việcchuẩn bị thuốc phải được đảm bảo

1.1.2 Thuốc độc hại (Hazardous drugs)

Theo AHSP, một chất độc hại tới sức khỏe được định nghĩa là một chất đã cóbằng chứng xác thực về mặt thống kê, dựa trên ít nhất một nghiên cứu tiến hànhtrên các nguyên tắc khoa học đã được định trước, có khả năng gây ra các tác độngcấp hoặc mãn tính lên sức khỏe người lao động tiếp xúc với nó, bao gồm các chấthóa học gây ung thư, các tác nhân có độc tính cao, các độc tố đối với sinh sản, cácchất gây kích thích, các chất ăn mòn, chất gây nhạy cảm (sensitizer), và tác nhân gây

ra tác động lên cơ quan đích

Theo ISOPP, trong vấn đề phơi nhiễm nghề nghiệp, thuốc độc hại được địnhnghĩa là một thuốc gây ra nguy hiểm cho nhân viên y tế do độc tính vốn có của nó.Những thuốc này được xác định dựa trên một hoặc hơn bốn đặc điểm sau đây: lànhững chất gây ung thư; gây độc lên gen; gây quái thai; hoặc độc hại ở liều thấptrên mô hình động vật hoặc trên những bệnh nhân được điều trị

Trang 11

Thuốc độc hại bao gồm các thuốc điều trị ung thư, thuốc gây độc tế bào và một

số tác nhân khác Mỗi bộ phận ở những nơi làm việc cung cấp dịch vụ pha chế vàthực hiện thuốc cần phải có một danh sách các loại thuốc độc hại có yêu cầu thaotác đặc biệt

1.2 Sai sót liên quan đến thuốc điều trị ung thư

1.2.1 Sai sót liên quan đến thuốc

Sai sót thuốc được định nghĩa là bất cứ sự kiện nào có thể ngăn chặn được mà cóthể dẫn đến sử dụng thuốc không thích hợp hoặc gây hại cho bệnh nhân trong khithuốc được sử dụng bởi của chuyên gia chăm sóc sức khỏe, bệnh nhân hoặc ngườitiêu dùng

Một báo cáo của Viện Y học Mỹ (Institue of Medicine) ước tính rằng khoảng từ

44000 đến 98000 ca bệnh nhân tử vong mỗi năm ở Mỹ do sai sót y khoa, nhiều hơn

do tai nạn giao thông, do ung thư vú hay do bệnh AIDS Dù một số trường hợp làkhông thể tránh được, nhiều trường hợp thì có thể ngăn chặn được, trong đó sai sót

về thuốc là một nguyên nhân chính dẫn đến những sự cố như thế Sai sót về thuốc

là một trong những loại sai sót nghiêm trọng nhất và gây ra những thiệt hại đáng

kể

Sai sót về thuốc đối với các thuốc điều trị ung thư có thể trở nên đặc biệt nghiêmtrọng do (1) rất nhiều thuốc có chỉ số điều trị hẹp; (2) độc tính cao dù ở liều điều trị;(3) phác đồ hóa trị liều rất là phức tạp; và (4) bệnh nhân ung thư là nhóm dễ bị ảnhhưởng bất lợi do họ có khả năng chịu đựng kém Trong một nghiên cứu, sai sót liênquan đến các thuốc điều trị ung thư là nguyên nhân phổ biến đứng thứ hai trong cácsai sót về thuốc dẫn đến tử vong (chiếm 15,4% số trường hợp tử vong) Gần đây,người ta ước tính rằng 500 trường hợp tử vong xảy ra mỗi năm do sai sót về thuốcliên quan đến hóa trị liệu ung thư và chỉ có 3% các sai sót đó được báo cáo

Bên cạnh vấn đề bệnh tật và tử vong, chi phí hàng năm dành cho điều trị cácphản ứng phụ do sai sót về thuốc có thể ngăn chặn được được ước tính khoảng 17-

29 tỉ đôla mỗi năm Sai sót về thuốc là tốn kém cho bệnh nhân, gia đình của họ, cho

Trang 12

bệnh viện, nhân viên chăm sóc sức khỏe, các công ty bảo hiểm, dù vẫn còn có rất ítcác ước tính tin cậy về các chi phí này Riêng đối với sai sót về thuốc lên quan đếnhóa trị liệu, một nghiên cứu đã ước tính rằng nếu các lỗi đã bị ngăn chặn khôngđược phát hiện ra, họ sẽ có kết quả là thời gian nằm viện kéo dài thêm 216 ngày vàchi phí ước tính hàng năm tiêu tốn tổng cộng 92907 euro, bao gồm 69248 euro(74%) cho chi phí nằm viện và 23658 euro (26%) cho các loại thuốc bổ sung Sai sót về thuốc có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình sử dụngthuốc, từ kê đơn cho đến pha chế, phân phối và thực hiện thuốc trên bệnh nhân Hơnthế nữa, quy trình sử dụng thuốc liên quan đến toàn bộ đội ngũ nhân viên y tế, bác

sĩ, dược sĩ, y tá Sai sót trong hóa trị liệu xảy ra do rất nhiều nguyên nhân, bao gồmtruyền đạt sai chỉ định thuốc bằng lời, thiếu thông tin về tình trạng sức khỏe bệnhnhân, sử dụng sai thông tin bệnh nhân hoặc sai kết quả xét nghiệm, đóng gói và ghinhãn không đạt chuẩn do nhà sản xuất, đơn viết tay không đọc được, tên thuốc nhìn,phát âm tương tự nhau, sử dụng tên thuốc viết tắt, lỗi sao chép và tính sai liều, lỗikhi thực hiện thuốc

Hiện nay trên thế giới, công tác phòng chống sai sót liên quan đến thuốc điều trịung thư được coi là một ưu tiên trong các bệnh viện , với nhiều tài liệu khuyến cáo,hướng dẫn đã được xuất bản để giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót Các hướng dẫnnày bao gồm các khuyến nghị cho một hệ thống phương pháp tiếp cận đa ngành baogồm giám sát sử dụng thuốc, hướng dẫn kê đơn, phương pháp pha chế và phân phát,

và thực hiện thuốc

1.2.2 Sai sót trong giai đoạn kê đơn

Hóa trị liệu được đưa kê dựa trên phác đồ và sử dụng trên nhiều chu kỳ lặp đi lặplại Các thuốc được kê thường có hoạt tính mạnh và độc hại, và thường được dùng ởdạng dịch truyền Liều lượng thường được kê dựa trên diện tích bề mặt cơ thể bệnhnhân và/hoặc chức năng thận Do sự phức tạp của các phác đồ hiện có, nhiều sai sót

có thể xảy ra trong kê đơn, và các sai sót này có khả năng dẫn đến những hậu quảnghiêm trọng

Trang 13

Sai sót trong kê đơn được báo cáo là một trong những nguyên nhân phổ biến nhấttrong các sai sót trong hóa trị liệu Một nghiên cứu về sai sót trong sử dụng thuốcgây độc tế bào đường tiêm truyền cho thấy 42% số sai sót về thuốc xảy ra ở giaiđoạn kê đơn của bác sĩ Trong một nghiên cứu ở Tây Ban Nha, sai sót về thuốcđược phát hiện trên 17,2% số bệnh nhân hóa trị liệu, trong đó 75,7% là sai sót tronggiai đoạn kê đơn thuốc

Trong một nghiên cứu khác, sai sót trong kê đơn thuốc hóa trị liệu chiếm tỉ lệ caonhất (45,14%), trong đó phổ biến nhất là thiếu liều (32,32%), quá liều (16,16%) vàđảo liều (dose reversal) (11,11%) Nghiên cứu của Díaz-Carrasco 2007 cho kết quảcác sai sót trong kê đơn thuốc hóa trị liệu là: sai liều (38.5%), thiếu thuốc (21.5%),sai thuốc (11.1%), lỗi về tần suất và thời gian của đợt điều trị (9.6% mỗi loại), saibệnh nhân (7,4%), sai tốc độ dùng thuốc (1,5%) và sai đường dùng thuốc (0,7%).Tất cả lỗi này đều được phân vào mức độ nghiêm trọng B (có sai sót xảy ra nhưngsai sót này không tới được bệnh nhân) do chúng được phát hiện bởi khoa Dượctrước khi phân phối thuốc Ít nhất 66/135 lỗi có thể gây ra các phản ứng khôngmong muốn tiềm ẩn

Trong nghiên cứu về sai sót trong kê đơn hóa trị liệu và vai trò của công nghệthông tin trong kê đơn, sai sót kê đơn được định nghĩa gồm kê đơn không thích hợp(không có thông tin khuyến khích sử dụng chế độ điều trị được kê; đơn có khả nănggây ra các tương tác thuốc, dị ứng thuốc có hại), đơn không đầy đủ (thiếu liều, đơn

vị, đường dùng, loại và thể tích dung môi, thời gian truyền), kê đơn sai (sai thuốc,sai liều, sai đơn vị, đường dùng, loại và thể tích dung môi, thời gian truyền) Kếtquả của nghiên cứu này cho thấy đơn không đầy đủ (thiếu đường dùng, thể tíchdung môi, số lượng thuốc viên) chiếm tỉ lệ cao nhất, sau đó là kê đơn sai (chủ yếu làsai liều) và kê đơn không thích hợp Phần lớn các sai sót này đều được cho là ngănchặn được 72% sai sót được xét là ít gây nguy hại, 3% có khả năng gây thương tổnlớn hoặc nghiêm trọng

Nghiên cứu của Slama năm 2005 về sai sót trong kê đơn và sự phù hợp của cácphương pháp phân loại sai sót trong kê đơn thuốc gây độc tế bào phân loại sai sót

Trang 14

trong kê đơn thành các sai sót liên quan đến phác đồ (thuốc không hợp lý, thiếuthuốc, sai liều, sai thời gian đợt điều trị), sai sót liên quan đến tính chất lý hóa (nồng

độ thuốc của dung dịch cuối cùng, tương kị), sai sót liên quan đến thực hiện thuốc(sai đường dùng so với phác đồ, sai/thiếu thời gian sử dụng) và sai sót khác (đơnkhông đủ thông tin hoặc không đọc được) Kết quả cho thấy sai sót chủ yếu liênquan đến tính chất lý hóa của chế phẩm (73,9%) Việc sử dụng hệ thống kê đơnmáy tính có thể làm giảm thiểu các sai sót này

Có nhiều nguyên nhân gây ra sai sót trong kê đơn thuốc, như sự mất tập trungtrong lúc kê đơn, không áp dụng các quy định có liên quan, môi trường làm việc,khối lượng công việc áp lực cao, vấn đề thể chất và tinh thần, thiếu kiến thức, chưanhận thức rõ vai trò của kê đơn Các sai sót trong kê đơn nếu không được phát hiện

ra có thể gây ra các sai sót trong thực hành và ảnh hưởng đến bệnh nhân, tuy nhiêntheo dữ liệu trong cơ sở dữ liệu MEDMARX của Bắc Mĩ, chỉ có 17,7% lỗi tronggiai đoạn kê đơn thực sự tác động được tới bệnh nhân do các sai sót này có thể đượcphát hiện và ngăn chặn bởi đội ngũ dược sĩ và điều dưỡng trong quá trình xác nhận,phân phối và sử dụng thuốc sau đó

1.2.3 Sai sót trong pha chế và thực hiện thuốc

Giai đoạn pha chế và thực hiện thuốc ung thư gồm nhiều bước phức tạp và tiềm

ẩn nhiều nguy cơ sai sót, các sai sót trong giai đoạn này có thể tác động trực tiếp lênngười bệnh

Trong các nghiên cứu về sai sót liên quan đến pha chế và thực hiện thuốc, sai sótliên quan đến thuốc trong giai đoạn này được định nghĩa là những sai lệch trong quátrình pha chế, thực hiện thuốc so với chỉ định của bác sĩ, hướng dẫn của bệnh viện

và nhà sản xuất

Trong nghiên cứu của Serrano-Fabia về vai trò của hệ thống đa ngành trong pháthiện các sai sót liên quan đến thuốc ung thư, sai sót trong pha chế và thực hiệnthuốc chiếm tỉ lệ là 21,0% và 1,1% trong tổng số các sai sót 70% (41/58 trườnghợp) sai sót trong giai đoạn pha chế ảnh hưởng đến bệnh nhân (67,2% là sai sót

Trang 15

dung môi tương hợp không cần can thiệp, 3,4% sai sót có tác động thực sự lên hiệuquả điều trị do thiếu liều) trong giai đoạn thực hiện thuốc là 66,6% (2/3 trườnghợp) Trong các sai sót ảnh hưởng lên bệnh nhân, tỉ lệ lớn nhất (14,1%) thuộc về saisót trong pha chế thuốc dùng đường tĩnh mạch, cụ thể là pha chế thuốc với dungmôi khác với dung môi được quy định trong phác đồ

Trong nghiên cứu về sai sót liên quan đến thuốc trong hóa trị liệu ở trẻ em trong

cơ sở dữ liệu quốc gia của Mỹ, sai sót trong giai đoạn thực hiện thuốc chiếm tỉ lệcao nhất (48,1%), sau đó là phân phối (30,3%) và kê đơn (10,3%) Tỉ lệ lỗi tronggiai đoạn thực hiện thuốc cũng là lớn nhất ở hai nghiên cứu khác ở các đơn vị điềutrị ung thư (43% và 41%) Một nghiên cứu khác về sai sót liên quan đến thuốc gâyđộc tế bào đường toàn thân cho thấy 42% sai sót xảy ra trong giai đoạn pha chếthuốc ở khoa dược, 16% là do sai sót xảy ra trong quá trình pha chế thuốc của điềudưỡng và sử dụng thuốc cho bệnh nhân

Nguyên nhân dẫn đến các sai sót này có thể do thiếu trang bị, thiếu nhận thức vềnguy cơ, thiếu kiến thức, thông tin về thuốc, căng thẳng, áp lực công việc

1.3 Nguy cơ phơi nhiễm với thuốc độc hại

Đối với bệnh nhân ung thư, lợi ích của việc điều trị vượt xa so với nguy cơ độctính của các thuốc ung thư Tuy nhiên, đối với những người khỏe mạnh, nguy cơphơi nhiễm với những thuốc này gây nên nguy cơ tiềm tàng đối với sức khỏe vàsinh sản trong tương lai

1.3.1 Phơi nhiễm nghề nghiệp với thuốc độc hại

Người lao động có thể bị phơi nhiễm với các thuốc độc hại ở bất kì điểm nàotrong quá trình sản xuất, vận chuyển, phân phối, giao nhận, lưu trữ, pha chế và sửdụng, cũng như trong xử lý chất thải, bảo trì và sửa chữa thiết bị Thuốc có thể vào

cơ thể do hít phải, tiếp xúc với da, hấp thu qua da, tiêu hóa phải thực phẩm bị nhiễmhoặc chạm tay có dính thuốc lên miệng, hoặc do ngẫu nhiên tiêm phải Tiếp xúc vàhấp thu qua da có thể là con đường phơi nhiễm chính

Trang 16

Nhân viên thao tác với các thuốc độc hải có thể hít phải những giọt nhỏ, bụi vàhơi của thuốc Nhiều thao tác trong quy trình pha chế và sử dụng thuốc có thể sinh

ra các hạt khí dung như rút tiêm ra khỏi lọ, sử dụng bơm và kim tiên hoặc ống lọc

để luân chuyển thuốc, bẻ ống tiêm , tiêm thuốc vào dây truyền tĩnh mạch, loại khíkhỏi bơm tiêm hoặc đường truyền, và rò rỉ ở ống, bơm tiêm, hoặc ở điểm nối vớikhóa vặn, khi cắt kim tiêm và nghiền ống tiêm đã qua sử dụng Các tiểu phân thuốc

có thể bay vào không khí sau khi làm khô khu vực bị nhiễm Một số thuốc điều trịung thư có thể bay hơi đã được ghi nhận là cyclophosphamid, carmustin,ifosfamide, thiotepa

Phơi nhiễm với thuốc qua da có thể phát sinh do thuốc gây độc tế bào có ở phíangoài của lọ thuốc Do đó, môi trường làm việc có thể bị nhiễm thuốc ngay cả trướckhi bắt đầu pha chế thuốc Các nghiên cứu đã chứng minh rằng hầu hết các bề mặtlàm việc với thuốc gây độc tế bào đều bị nhiễm các loại thuốc này Bề mặt làm việctrong tủ an toàn sinh học (BSC), mặt trên của kệ, sàn nhà, các thiết bị và các bề mặtkhác đã được chỉ ra có bị nhiễm thuốc trong những nghiên cứu từ các nước trên thếgiới Nguy cơ lớn nhất là tiếp xúc trực tiếp với thuốc qua da trong trường hợp có sự

cố tràn hoặc rò rỉ thuốc xảy ra

Nhân viên y tế có thể phơi nhiễm với thuốc độc hại do vô ý nuốt phải Khi thựcphẩm và đồ uống được chế biến, lưu trữ hoặc tiêu thụ trong khu vực làm việc,chúng có thể dễ dàng bị nhiễm các tiểu phân thuốc gây độc tế bào có trong khôngkhí Tương tự như vậy, hút thuốc lá, dùng mỹ phẩm và nhai kẹo cao su cũng có thểdẫn đến phơi nhiễm thuốc gây độc tế bào qua đường tiêu hóa

Các thao tác nghề nghiệp có thể dẫn đến phơi nhiễm với thuốc gây độc tế bàođược liệt kê trong phụ lục 1

Trang 17

1.3.2 Ảnh hưởng của việc phơi nhiễm với các thuốc độc hại

Nghiên cứu được tiến hành bởi Falcket và cộng sự trong những năm 1970 chỉ rarằng y tá làm việc trong khu vực pha chế và sử dụng thuốc độc hại không được bảo

hộ có nồng độ các chất gây đột biến trong nước tiểu cao hơn so với những ngườikhông phơi nhiễm Nghiên cứu này cho rằng nhân viên điều dưỡng đã bị phơinhiễm nghề nghiệp với các thuốc gây độc tế bào, nhiều chất trong đó gây đột biến.Giả thuyết này đã được xác thực bằng nhiều nghiên cứu khác kiểm tra đột biếntrong nước tiểu, sai lệch nhiễm sắc thể, trao đổi các nhiễm sắc thể chị em và các tiêuchí khác trên dược sĩ và y tá thao tác với các thuốc gây độc tế bào

Phơi nhiễm với các thuốc độc hại tại nơi làm việc dẫn đến các phản ứng cấp tính

và ngắn hạn, cũng như các tác động lâu dài Tổng quan của Harrison về nguy cơ khithao tác với thuốc gây độc tế bào năm 2001 cho thấy những nhân viên y tế tiếp xúcvới các thuốc độc hại thường gặp phải các triệu chứng cấp tính như kích ứng da,đau họng, ho, chóng mặt, nhức đầu, phản ứng dị ứng, tiêu chảy, buồn nôn và nôn Ngoài ra tổn thương gan và các triệu chứng thần kinh cũng đã được báo cáo trên các

y tá làm việc với hóa trị liệu trong nhiều năm

Tổng quan của Harrison xem xét 14 nghiên cứu đánh giá các tác dụng bất lợitrên sinh sản đối với nhân viên y tế tiếp xúc với các thuốc độc hại, 9 trong số cácnghiên cứu này cho thấy kết quả dương tính Các ảnh hưởng chính lên sinh sảnđược tìm thấy trong các nghiên cứu này là làm tăng sẩy thai, dị tật bẩm sinh, thiếucân, bệnh bẩm sinh bất thường, và vô sinh

Một nghiên cứu về nguy hại trên sức khỏe của Elshamy và cộng sự trên các y tátiếp xúc với thuốc hóa trị liệu đã báo cáo một số tác động nguy hại đến sức khỏegiữa các y tá nhóm thử (y tá khoa ung thư) và nhóm chứng (y tá không thuộc khoaung thư) như sau: sảy thai (31,4% so với 10,3%), vô sinh và khó có thai (14,3% sovới 3,4%), sinh non (14,3% so với 17,2%), tổn thương mô mềm do sự cố tràn vàbắn hóa chất (14,3% so với 0,0%), và bất thường trong sự phát triển và hành vi củacon cái của các y tá (8,6% so với 3,4%) Mẫu nước tiểu của y tá trong nhóm thử chothấy có nhiều chất đột biến hơn so với nhóm chứng (40 % so với 10,3%)

Trang 18

Dựa trên sự bài tiết cyclophosphamide qua nước tiểu ở dược sĩ và y tá, Bob vàSessink đã tính toán sự hấp thu toàn thân của thuốc Với mức độ phơi nhiễm 3.6-18mg/ngày, nhóm tác giả đã đề xuất sự gia tăng nguy cơ ung thư từ 1.4 đến 10 ca ungthư trên 1 triệu nhân viên mỗi năm Theo một nghiên cứu khác, phơi nhiễm vớicyclophosphamid 16-80 mg/ngày có thể dẫn đến gia tăng nguy cơ ung thư ước tínhkhoảng thêm 7-50 ca ung thư trên 1 triệu người

Từ những nguy cơ trên, nhiều tổ chức, cơ quan đã đưa ra các tài liệu khuyếncáo, hướng dẫn về thao tác an toàn với các thuốc độc hại/thuốc ung thư cho mọinhân viên y tế có liên quan đến quá trình phân phối, sử dụng các thuốc này

1.3.3 Biện pháp phòng tránh phơi nhiễm với thuốc độc hại

Việc pha chế, thực hiện, hủy bỏ thuốc độc hại cần được tiến hành bởi các nhânviên được đào tạo bài bản để bảo vệ chính họ, bảo vệ thuốc và bảo vệ môi trường.Nhân viên y tế cần thực hiện đúng các hướng dẫn bảo hộ, sử dụng các trang thiết bịbảo hộ và mặc trang phục bảo hộ để giảm thiểu việc giải phóng các phần tử thuốcđộc hại vào môi trường pha chế, dính vào sản phẩm pha chế và để giảm khả năngphơi nhiễm của bản thân với nhóm thuốc này Nhân viên không được ăn uống, nhaikẹo cao su, dùng mỹ phẩm hoặc trữ đồ ăn gần khu vực pha chế Nhân viên đang cóthai, dự định có thai hoặc đang cho con bú nên được chuyển sang làm các công việckhác không phải tiếp xúc với các thuốc độc hại Người đang mắc các bệnh nhiễmkhuẩn, điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch nên ngừng việc pha chế thuốc nếu cóthể Nhân viên nên có các khoảng giải lao trong thời gian pha chế thuốc để duy trìkhả năng tập trung

Các trang phục bảo hộ được khuyến cáo sử dụng bao gồm:

Găng tay: nên đeo hai găng trong bất cứ quá trình nào thao tác với thuốc độc hại

như tiếp xúc với vỏ hộp và lọ thuốc độc hại, pha chế và thực hiện thuốc độc hại, xử

lý rác thải từ thuốc độc hại và rác thải từ bệnh nhân điều trị với thuốc này, lau dọn

khi làm tràn thuốc Sử dụng loại găng chất lượng cao, không có bột, làm từ latex,

nitrile, polurethan, neoprene, hoặc các chất liệu khác đáp ứng tiêu chuẩn cho găng

Trang 19

sử dụng cho hóa trị liệu Do tất cả các loại găng đều có thểthấm một số chất nhấtđịnh và khẳ năng thấm tăng dần theo thời gian sử dụng nên cần phải thay găngthường xuyên (mỗi 30 phút hoặc mỗi giờ) trong pha chế/sử dụng thuốc hoặc ngaykhi găng bị rách, thủng, nhiễm hóa chất

Áo bảo hộ: Nên mặc áo trùm bảo hộ trong pha chế, thực hiện thuốc, xử lý chất

thải từ bệnh nhân điều trị với thuốc độc hại, khi lau dọn do tràn thuốc Áo trùm cầnphải làm từ chất liệu không có xơ và hủy bỏ được, thấm nước kém/ không thấmnước, kín hoàn toàn đằng trước và cổ, tay dài có chun co giãn hoặc cổ tay ôm vừakhít Áo trùm chỉ mặc trong ngày, không được mặc ra khỏi phòng pha chế và phảithay ngay khi có hư hại hoặc nhiễm bẩn

Khẩu trang: Khẩu trang nên được dùng khi pha chế, thực hiện thuốc, lau dọn chỗ

thuốc bị tràn, lau dọn khu vực pha chế hoặc bất cứ khi nào có khả năng phơi nhiễmvới thuốc Tuy nhiên khẩu trang phẫu thuật thông thường không bảo vệ được nhânviên y tế khỏi việc hít phải các hạt khí dung Thông thường việc pha chế thuốc độchại được thực hiện trong tủ BSC để đảm bảo an toàn cho người pha chế, tuy nhiêntrong trường hợp không có tủ BSC, OSHA khuyến cáo sử dụng mặt nạ có màng lọchiệu suất cao để giảm bớt phơi nhiễm do hít phải

Kính bảo hộ: Kính được khuyến cáo sử dụng khi bất kỳ nguy cơ văng, bắn thuốc

độc hại nào có thể xảy ra Trong hầu hết các trường hợp, màn chắn bằng kính củaBSC nên cung cấp đầy đủ sự bảo vệ khỏi khả năng dung dịch thuốc độc hại bắn,phun ra khi pha thuốc Nhân viên y tế cần phải đeo kính khi lau vết tràn thuốc

Các trang phụcbảo hộ khác: mũ trùm tóc và giày bảo hộ nên được dùng trong

quá trình pha chế vô khuẩn để tránh nhiễm khuẩn khu vực pha chế hoặc trongtrường hợp có thể xảy ra bất kì sự nhiễm thuốc độc hại nào

Trang 20

1.4 Tiêu chuẩn thực hành trong pha chế và thực hiện thuốc điều trị ung thư

1.4.1 Tiêu chuẩn thực hành trong pha chế thuốc ung thư

Việc pha chế phải được tiến hành trong tủ an toàn sinh học để giảm thiểu việc phơinhiễm với thuốc cho nhân viên Trong trường hợp không có tủ an toàn OSHAkhuyến cáo sử dụng mặt nạ có màng lọc hiệu suất cao để giảm bớt phơi nhiễm dohít phải Dưới đây là các hướng dẫn thao tác an toàn trong pha chế thuốc ung thưdựa trên tiêu chuẩn của Hội Ung thư Dược Canada (CAPhO) :

o Rửa tay với xà phòng và nước, đeo găng theo hướng dẫn

o Lau lọ thuốc bằng cồn 70% để loại bỏ nhiễm bẩn thuốc độc hại

o Sử dụng kim tiêm có thể tích phù hợp, tránh hút đầy hơn 75% chiều dài ống tiêm

o Mỗi kim không dùng chọc quá 3 lần

o Kiểm tra dung dịch sau hoàn nguyên để đảm bảo thuốc được hòa tan hoàn toàntrước khi rút khỏi lọ/ống

o Điều chỉnh thể tích dung dịch và/hoặc loại khí trong kim trước khi rút kim rakhỏi lọ

o Đậy nắp bơm chưa thuốc không dùng cả hai tay, pittong nên được kéo xuống đểloại thuốc ở lõi kim tiêm và gắn với một kim tiêm mới trước khi tiêm thuốc vàotúi truyền hoặc trước khi đưa sang khu vực sử dụng

o Cắm bộ dây truyền vào túi truyền chứa thuốc độc hại hoặc xả dây truyền bằngdung dịch thuốc độc hại trong môi trường không được kiểm soát cần phải tránh.Nên cắm bộ dây truyền vào túi truyền trước khi thêm thuốc vào dung dịch truyền

o Hoàn nguyên thuốc trong lọ:

 Sát khuẩn mạc cao su với gạc tẩm cồn tiệt trùng, để khô hoàn toàn ít nhất 10giây để diệt khuẩn Bề mặt lọ phải khô để tránh đưa cồn vào trong lọ

 Sử dụng kĩ thuật rút thuốc áp lực âm để hạn chế việc thuốc thoát khỏi lọ do

áp lực trong lọ quá cao

 Nên sử dụng gạc tiệt trùng tẩm cồn bọc quanh kim và nắp lọ trong khi rútthuốc khỏi lọ

Trang 21

o Sau khi rút dung dịch khỏi lọ, lau nắp lọ bằng gạc tẩm cồn để loại các giọt nhỏthuốc thoát ra khỏi lọ

o Thao tác với ống thuốc

 Gõ vào ống để loại bỏ dung dịch thuốc ở phần trên cổ ống thuốc

 Lau cổ ống thuốc bằng gạc tẩm cồn

 Sử dụng thiết bị bẻ ống hoặc bọc gạc xung quanh cổ ống để bẻ ống thuốc,không sử dụng kẹp Koucher để bẻ ống

o Kiểm tra và ghi nhãn cho sản phẩm đúng quy định

o Rửa tay ngay sau khi tháo bỏ găng

1.4.2 Tiêu chuẩn thực hành trong thực hiện thuốc ung thư

(Nguồn: ASHP-Guidelines on Handling Hazadous Drugs )

o Mặc trang phục bảo hộ: Rửa tay, đeo đôi găng thứ nhất, mặc áo choàng rồi đeokhẩu trang, sau đeo đôi găng thứ hai

o Luôn làm việc dưới tầm mắt

o Kiểm tra trực quan thuốc trước khi tiêm truyền

o Đặt một miếng thấm hút có mặt sau làm bằng plastic dưới vị trí tiêm truyền đểthấm thuốc rò ra và ngăn ngừa thuốc tiếp xúc với da bệnh nhân

o Nếu việc xả dây truyền được tiến hành ở khu vực thực hiện thuốc, xả dây truyềnbằng dung dịch tiêm truyền không chứa thuốc độc hại

o Khi loại khí khỏi bơm tiêm hoặc ống truyền, nên chặn đầu kim tiêm, bơm tiêm,hoặc ống truyền bằng bông vô trùng tẩm cồn để thu hồi bất cứ lượng thuốc điềutrị ung thư nào có thể tình cờ thoát ra

o Luôn tráng dây truyền hoặc ống thông/dây truyền trước và sau mỗi lần thực hiệnthuốc, giữa hai thuốc, bằng dung môi tiêm truyền thích hợp như NaCl 0.9% hoặcglucose 5%

o Loại bỏ bơm tiêm, chai truyền (vẫn gắn với bộ dây truyền) đã sử dụng vàotúi/hộp chứa rác thải độc hại theo quy định xử lý chất thải y tế

Trang 22

o Tháo và loại bỏ găng cẩn thận, rửa tay sau khi tháo găng

Trang 23

PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Khảo sát chỉ định thuốc điều trị ung thư của bác sĩ

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát tình trạng sử dụng thuốc ung thư trên chỉ định của bác sĩ tại khoa PhụUng thư bệnh viện Phụ sản Trung Ương

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân được chỉ định điều trịbằng thuốc ung thư tại khoa Phụ Ung thư bệnh viện phụ sản Trung Ương ra viện từ20/7/2013 đến tháng 20/2/2014 Tiêu chuẩn lựa chọn là các bệnh án tại khoa PhụUng thư được chỉ định điều trị bằng ít nhất 1 thuốc chống ung thư Tiêu chuẩn loạitrừ là các bệnh án tử vong

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu

- Phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu thuận tiện, thông tin trên bệnh án được ghivào phiếu thu thập thông tin bệnh án (Phụ lục 2)

2.1.4 Chỉ tiêu nghiên cứu

- Tỉ lệ các thuốc điều trị ung thư trong bệnh án

- Tỉ lệ lựa chọn đường dùng thuốc và tỉ lệ đường dùng không phù hợp vớihướng dẫn

- Tỉ lệ dung môi không phù hợp với hướng dẫn

- Tỉ lệ lựa chọn tốc độ tiêm truyền không phù hợp với hướng dẫn

- Tỉ lệ các chỉ định có thể gây tương kị

Việc đánh giá chỉ định thuốc phù hợp/không phù hợp được dựa trên thông tintrong tài liệu chính là Australian Injectable drugs handbook 4th ed và một số tài liệukhác: AHFS Drug Information , BCCA chemotherapy preparation and stabilitychart , Martindale , tờ hướng dẫn sử dụng thuốc Các thông tin này được tổng kếttrong Phụ lục 4

Trang 24

2.2 Khảo sát quy trình pha chế và thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡng

2.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Khảo sát các sai lệch xảy ra trong quy trình pha chế và thực hiện thuốc ungthư của điều dưỡng

- Khảo sát việc thực hiện kỹ thuật vô khuẩn trong pha chế và thực hiện thuốccủa điều dưỡng

- Khảo sát việc áp dụng các biện pháp an toàn trong thao tác với thuốc ung thưcủa điều dưỡng

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các điều dưỡng tại khoa Phụ Ung thư bệnh viện phụ sảnTrung Ương làm nhiệm vụ pha chế và thực hiện thuốc ung thư

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, quan sát đơn thuần, thời gian quan sát

từ ngày 10/3/2014 đến ngày 28/03/2014

- Phương pháp quan sát:

Quan sát viên ghi nhận thông tin về điều dưỡng trực, các chỉ định thuốc điều trịung thư của bác sĩ trong bệnh án và trong sổ nhặt thuốc của điều dưỡng buổi chiềutrước ngày quan sát vào “Bảng kiểm pha chế và thực hiện thuốc của điều dưỡng”,được thiết kế dựa trên các chỉ tiêu nghiên cứu (Phụ lục 3)

Quan sát viên quan sát trực tiếp 2 điều dưỡng trực làm nhiệm vụ pha chế thuốctrong ngày; sau đó theo dõi các điều dưỡng trong khi thực hiện thuốc ung thư chobệnh nhân Thông tin được ghi nhận và đánh giá vào bảng kiểm được chuẩn bịtrước Tốc độ tiêm truyền được xác định bằng cách bấm thời gian từ lúc bắt đầu đếnlúc kết thúc tiêm truyền thuốc

Một nghiên cứu thử nghiệm trước được tiến hành từ ngày 3/3/2014 đến7/3/2014 Trong nghiên cứu thử nghiệm này, quy trình quan sát, phương pháp thuthập và xử lý số liệu được kiểm tra thử Kinh nghiệm thu được từ nghiên cứu nàyđược áp dụng để hoàn thiện quy trình trong nghiên cứu chính thức

Trang 25

2.2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu

o Tỉ lệ các sai lệch xảy ra trong giai đoạn pha chế và thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi không đánh giá các sai sót trong sử dụng thuốc(medication errors) tại khoa Nguyên nhân là vì việc đánh giá này cần có một công

cụ chuẩn đã được đồng thuận của cơ sở thực hành và có đội ngũ chuyên gia để đánhgiá mức độ nghiêm trọng của các sai sót Vì nguồn lực có hạn, chúng tôi chỉ đánh giá các sai lệch trong sử dụng thuốc so với hướng dẫn thực hiện thuốc và các y văn Sai lệch trong sử dụng thuốc được định nghĩa là những sai lệch trong quá trình pha chế, thực hiện thuốc so với chỉ định của bác sĩ, hướng dẫn của bệnh viện và nhà sản xuất Các sai lệch quan sát được được phân loại theo bảng 2.1 (chủ yếu dựa trên cách phân loại của Allan và Baker về sai lệch trong sử dụng thuốc)

Bảng 2.1 Phân loại sai lệch trong sử dụng thuốc

Phân loại Giải thích

Sai lệch trong pha chế

Sai thuốc Sử dụng thuốc không có trong chỉ định

Bỏ thuốc Thuốc được chỉ định nhưng không được pha chế

Liều không

đúng

Lượng thuốc đem ra pha chế khác với liều thuốc được chỉ định

Sai liều do lỗi

Kĩ thuật pha chế

không chính xác

Thuốc được pha chế không đúng cách (ví dụ: sai dung môi hoànnguyên, dung môi pha loãng, thể tích dung môi, sai kỹ thuật lắc)

Sai lệch trong thực hiện thuốc

Bỏ thuốc Liều thuốc không được dùng cho bệnh nhân

Trang 26

mỗi lần dùng thuốc)Tốc độ thực

hiện sai

Tốc độ thực hiện sai khác hơn 10% so với chỉ định của bác sĩ Đường dùng sai Đường dùng khác với chỉ định của bác sĩ

o Tỉ lệ thực hiện không đúng kỹ thuật vô khuẩn trong pha chế và sử dụng thuốc:

- Không sát khuẩn nắp lọ/ống thuốc trước pha chế

- Cầm nắm, chạm vào pít tông, đầu ăm bu, thân kim tiêm trong quá trìnhchuẩn bị thuốc tiêm thuốc, để kim chạm vào các bề mặt nhiễm bẩn

- Sử dụng một bơm kim tiêm pha thuốc duy nhất để pha cho nhiều lọ thuốc

- Tái sử dụng bơm kim tiêm cho pha chế lượt thuốc mới

- Không sát khuẩn vị trí tiêm

- Không sát khuẩn cổng nối kim luồn, chai truyền

o Tỉ lệ áp dụng các biện pháp bảo hộ cá nhân (găng, áo choàng, khẩu trang, kính,rửa tay sau pha chế) trong thao tác với thuốc ung thư của điều dưỡng

2.2.5 Xử trí khi phát hiện những sai lệch nghiêm trọng

Nếu trong quá trình quan sát phát hiện được các sai lệch có thể gây nguy hại đếnbệnh nhân, người quan sát sẽ nhắc nhở điều dưỡng một cách tế nhị, đảm bảo sailệch đấy không xảy ra cho bệnh nhân

2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm Microsoft Access 2010.Sau đóđược đưa vào phần mềm thống kê Stata 12 để thực hiện các phương pháp thống kê

mô tả

Trang 27

PHẦN 3 KẾT QUẢ 3.1 Khảo sát chỉ định thuốc điều trị ung thư của bác sĩ

3.1.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn được 392 bệnh án của những bệnhnhân ra viện từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 2 năm 2014 lưu trữ trên kho hồ sơ ở hai

mã bệnh Chorio và Ung thư của bệnh viện Phụ sản Trung ương để sàng lọc Trong

số đó 201 bệnh án được chọn, 191 bệnh án bị loại khỏi nghiên cứu do không thuộckhoa Phụ ung thư (40 bệnh án) và thuộc khoa Phụ ung thư nhưng không có thuốcung thư được chỉ định (151 bệnh án)

Trung vị tuổi của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là 36 tuổi (khoảng tứ phânvị: 25-50 tuổi) 100% số bệnh nhân trong nghiên cứu là nữ Bệnh nhân thuộc nhómbệnh nguyên bào nuôi chiếm tỉ lệ cao nhất, gần 60%, sau đó là bệnh ung thư buồngtrứng (33,3%) Đặc điểm về chẩn đoán của bệnh nhân được trình bày cụ thể trongbảng 3.1

Bảng 3.1 Đặc điểm về chẩn đoán của bệnh nhân trong nghiên cứu

3.1.2 Đặc điểm chung về chỉ định đường dùng, dung môi, tốc độ

Hình 3.1 đưa ra một cái nhìn khái quát về tỉ lệ các chỉ định thuốc điều trị ung thưkhông phù hợp của bác sĩ Chỉ định tốc độ truyền không phù hợp chiếm tỉ lệ caonhất (63,4%), sau đó là chỉ định thể tích dung môi không phù hợp (31,5%), thấp

Trang 28

nhất là chỉ định đường dùng thuốc không phù hợp (3,5%) Thông tin chi tiết củatừng vấn đề này được trình bày ở các phần sau.

Hình 3.1 Tỉ lệ các chỉ định không phù hợp về đường dùng, lựa chọn dung môi

và thể tích dung môi và tốc độ truyền

Trang 29

3.1.3 Đặc điểm lựa chọn thuốc điều trị ung thư trong bệnh án

Trong tổng số 201 đơn được đưa vào nghiên cứu, mỗi đơn có từ 1-4 thuốc điềutrị ung thư được kê, trung bình là 1,8 thuốc trên mỗi đơn

Có tất cả là 11 hoạt chất chống ung thư trên tổng số 369 lượt thuốc ung thư đượcchỉ định trong bệnh án Trong đó, thuốc có tỉ lệ sử dụng cao nhất là methotrexat(38,5%), sau đó là etoposid (11,4%) và carboplatin (10,0%) Tỷ lệ từng hoạt chấtđược trình bày ở bảng 3.2

Bảng 3.2 Tỉ lệ các thuốc điều trị ung thư được chỉ định trong bệnh án

Ngày đăng: 13/08/2014, 16:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Carrington Christine, Stone Leanne, Koczwara Bogda, Searle Christina, Siderov Jim, Stevenson Ben, Michael Michael, Hyde Susan, Booth Angela, Rushton Shelley (2010), "The Clinical Oncological Society of Australia (COSA) guidelines for the safe prescribing, dispensing and administration of cancer chemotherapy", Asia-Pacific Journal of Clinical Oncology, 6(3), pp. 220-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Clinical Oncological Society of Australia (COSA) guidelinesfor the safe prescribing, dispensing and administration of cancer chemotherapy
Tác giả: Carrington Christine, Stone Leanne, Koczwara Bogda, Searle Christina, Siderov Jim, Stevenson Ben, Michael Michael, Hyde Susan, Booth Angela, Rushton Shelley
Năm: 2010
19. Chaudhary Ramanand, Karn Basant Kumar (2012), "Chemotherapy-Knowledge and Handling Practice of Nurses Working in a Medical University of Nepal", Journal of Cancer Therapy, 3(1), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chemotherapy-Knowledge and Handling Practice of Nurses Working in a Medical University of Nepal
Tác giả: Chaudhary Ramanand, Karn Basant Kumar
Nhà XB: Journal of Cancer Therapy
Năm: 2012
21. Connor T.H. , Anderson R. W. , Sessink P. J. , Broadfield L. , Power L. A. (1999),"Surface contamination with antineoplastic agents in six cancer treatment centers in Canada and the United States", American journal of health-system pharmacy, 56(14), pp. 1427-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surface contamination with antineoplastic agents in six cancer treatment centers inCanada and the United States
Tác giả: Connor T.H. , Anderson R. W. , Sessink P. J. , Broadfield L. , Power L. A
Năm: 1999
22. Cousins DH, Sabatier B, Begue D, Schmitt C, Hoppe-Tichy T (2005), "Medication errors in intravenous drug preparation and administration: a multicentre audit in the UK, Germany and France", Quality and Safety in Health Care, 14(3), pp. 190-195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medicationerrors in intravenous drug preparation and administration: a multicentre audit in theUK, Germany and France
Tác giả: Cousins DH, Sabatier B, Begue D, Schmitt C, Hoppe-Tichy T
Năm: 2005
23. Dean B., Schachter M., Vincent C., Barber N. (2002), "Causes of prescribing errors in hospital inpatients: a prospective study", The Lancet, 359(9315), pp. 1373-1378 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Causes of prescribing errors in hospital inpatients: a prospective study
Tác giả: Dean B., Schachter M., Vincent C., Barber N
Nhà XB: The Lancet
Năm: 2002
24. Dhamija Mayank, Kapoor Gauri, Juneja Atul (2013), "Infusional Chemotherapy and Medication Errors in a Tertiary Care Pediatric Cancer Unit in a Resource- limited Setting", Journal of pediatric hematology/oncology, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infusional Chemotherapy and Medication Errors in a Tertiary Care Pediatric Cancer Unit in a Resource- limited Setting
Tác giả: Dhamija Mayank, Kapoor Gauri, Juneja Atul
Nhà XB: Journal of pediatric hematology/oncology
Năm: 2013
25. Diaz-Carrasco M. S., Pareja A., Yachachi A., Cortes F., Espuny A. (2007),"Prescription errors in chemotherapy", Farmacia Hospitalaria, 31(3), pp. 161-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prescription errors in chemotherapy
Tác giả: Diaz-Carrasco M. S., Pareja A., Yachachi A., Cortes F., Espuny A
Nhà XB: Farmacia Hospitalaria
Năm: 2007
26. Elshamy Karima, El-Hadidi Mona, El-Roby Mohamed, Fouda Mona (2010),"Health hazards among oncology nurses exposed to chemotherapy drugs", African Journal Of Haematology And Oncology, 1(3), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health hazards among oncology nurses exposed to chemotherapy drugs
Tác giả: Elshamy Karima, El-Hadidi Mona, El-Roby Mohamed, Fouda Mona
Nhà XB: African Journal Of Haematology And Oncology
Năm: 2010
27. Falck K, Grửhn P., Sorsa M., Vainio H., Heinonen E., Holsti L. R. (1979),"Mutagenicity in urine of nurses handling cytostatic drugs", The Lancet, 1(8128), pp. 1250-1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mutagenicity in urine of nurses handling cytostatic drugs
Tác giả: Falck K, Grửhn P., Sorsa M., Vainio H., Heinonen E., Holsti L. R
Năm: 1979
28. Ford Clyde D., Killebrew Julie, Fugitt Penelope, Jacobsen Janet, Prystas Elizabeth M. (2006), "Study of Medication Errors on a Community Hospital Oncology Ward", Journal of Oncology Practice, 2(4), pp. 149-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Study of Medication Errors on a Community Hospital OncologyWard
Tác giả: Ford Clyde D., Killebrew Julie, Fugitt Penelope, Jacobsen Janet, Prystas Elizabeth M
Năm: 2006
29. Fyhr A., Akselsson R. (2012), "Characteristics of medication errors with parenteral cytotoxic drugs", European Journal of Cancer Care, 21(5), pp. 606-613 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Characteristics of medication errors with parenteralcytotoxic drugs
Tác giả: Fyhr A., Akselsson R
Năm: 2012
30. Garcia-Alonso A. (2011), "Improving the chemotherapy process and service to cancer patients", Risk management and healthcare policy, 4, pp. 41-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improving the chemotherapy process and service tocancer patients
Tác giả: Garcia-Alonso A
Năm: 2011
31. Hamza Nouran Ameen, Sallam Sunny Abdou, El-Nimr Nessrin Ahmed (2013),"Rates and Types of Prescribing Errors and Related Interventions in Oncology", International Journal of Current Microbiology and Applied Sciences, 2(12), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rates and Types of Prescribing Errors and Related Interventions in Oncology
Tác giả: Hamza Nouran Ameen, Sallam Sunny Abdou, El-Nimr Nessrin Ahmed
Nhà XB: International Journal of Current Microbiology and Applied Sciences
Năm: 2013
33. Hicks R. W., Cousins D. D., Williams R. L. (2004), "Selected medication-error data from USP's MEDMARX program for 2002", American Journal of Health- System Pharmacy, 61(10), pp. 993-1000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selected medication-errordata from USP's MEDMARX program for 2002
Tác giả: Hicks R. W., Cousins D. D., Williams R. L
Năm: 2004
34. International Society of oncology Pharmacy Practicioners Standards Committee (2007), "ISOPP standards of practice. Safe handling of cytotoxics", Journal of oncology pharmacy practice: official publication of the International Society of Oncology Pharmacy Practitioners, 13, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ISOPP standards of practice. Safe handling of cytotoxics
Tác giả: International Society of oncology Pharmacy Practicioners Standards Committee
Nhà XB: Journal of oncology pharmacy practice: official publication of the International Society of Oncology Pharmacy Practitioners
Năm: 2007
35. Jacobson Joseph O, Polovich Martha, McNiff Kristen K, LeFebvre Kristine B, Cummings Charmaine, Galioto Michele, Bonelli Katherine R, McCorkle Michele R (2009), American society of clinical oncology/oncology nursing society chemotherapy administration safety standards, Oncology nursing forum, Oncology nursing society,pp. 651-658 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American society of clinical oncology/oncology nursing society chemotherapy administration safety standards
Tác giả: Jacobson Joseph O, Polovich Martha, McNiff Kristen K, LeFebvre Kristine B, Cummings Charmaine, Galioto Michele, Bonelli Katherine R, McCorkle Michele R
Nhà XB: Oncology nursing society
Năm: 2009
36. Khalili H., Sheikhbabayi M., Samadi N., Jamalifar H., Dalili D., Samadi N. (2013),"Bacterial contamination of single- and multiple-dose vials after multiple use and intravenous admixtures in three different hospitals in iran", Iranian journal of pharmaceutical research, 12(1), pp. 205-209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bacterial contamination of single- and multiple-dose vials after multiple use and intravenous admixtures in three different hospitals in iran
Tác giả: Khalili H., Sheikhbabayi M., Samadi N., Jamalifar H., Dalili D., Samadi N
Nhà XB: Iranian journal of pharmaceutical research
Năm: 2013
37. Kim George R, Chen Allen R, Arceci Robert J, Mitchell Sandra H, Kokoszka K Michelle, Daniel Denise, Lehmann Christoph U (2006), "Error reduction in pediatric chemotherapy: computerized order entry and failure modes and effects analysis", Archives of pediatrics & adolescent medicine, 160(5), pp. 495-498 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Error reduction in pediatric chemotherapy: computerized order entry and failure modes and effects analysis
Tác giả: Kim George R, Chen Allen R, Arceci Robert J, Mitchell Sandra H, Kokoszka K Michelle, Daniel Denise, Lehmann Christoph U
Nhà XB: Archives of pediatrics & adolescent medicine
Năm: 2006
38. Kloth Dwight D. (2010), Guide to the prevention of chemotherapy medication errors, McMahon Publishing, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guide to the prevention of chemotherapy medication"errors
Tác giả: Kloth Dwight D
Năm: 2010
39. Kloth Dwight D. (2002), "Prevention of Chemotherapy Medication Errors", Journal of Pharmacy Practice, 15(1), pp. 17-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevention of Chemotherapy Medication Errors
Tác giả: Kloth Dwight D
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Đặc điểm về chẩn đoán của bệnh nhân trong nghiên cứu - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.1. Đặc điểm về chẩn đoán của bệnh nhân trong nghiên cứu (Trang 27)
Hình 3.1. Tỉ lệ các chỉ định không phù hợp về đường dùng, lựa chọn dung môi - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Hình 3.1. Tỉ lệ các chỉ định không phù hợp về đường dùng, lựa chọn dung môi (Trang 28)
Bảng 3.2. Tỉ lệ các thuốc điều trị ung thư được chỉ định trong bệnh án - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.2. Tỉ lệ các thuốc điều trị ung thư được chỉ định trong bệnh án (Trang 29)
Bảng 3.4. Đặc điểm lựa chọn dung môi pha loãng cho các thuốc điều trị ung thư truyền tĩnh mạch - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.4. Đặc điểm lựa chọn dung môi pha loãng cho các thuốc điều trị ung thư truyền tĩnh mạch (Trang 31)
Bảng 3.5. Đặc điểm lựa chọn thể tích dung môi pha loãng so với khuyến cáo - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.5. Đặc điểm lựa chọn thể tích dung môi pha loãng so với khuyến cáo (Trang 32)
Bảng 3.6. Đặc điểm lựa chọn tốc độ truyền so với khuyến cáo - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.6. Đặc điểm lựa chọn tốc độ truyền so với khuyến cáo (Trang 33)
Bảng 3.7. Các trường hợp chỉ định có nguy cơ gây tương kị - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.7. Các trường hợp chỉ định có nguy cơ gây tương kị (Trang 34)
Bảng 3.9. Sai lệch  trong pha chế và thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡng - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.9. Sai lệch trong pha chế và thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡng (Trang 35)
Bảng 3.8. Đặc điểm quan sát pha chế và thực hiện thuốc của điều dưỡng - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.8. Đặc điểm quan sát pha chế và thực hiện thuốc của điều dưỡng (Trang 35)
Bảng 3.10. Tỉ lệ sai lệch trong giai đoạn pha chế thuốc ung thư của điều dưỡng - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.10. Tỉ lệ sai lệch trong giai đoạn pha chế thuốc ung thư của điều dưỡng (Trang 37)
Bảng 3.11. Tỉ lệ sai lệch trong giai đoạn thực hiện thuốc của điều dưỡng - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.11. Tỉ lệ sai lệch trong giai đoạn thực hiện thuốc của điều dưỡng (Trang 38)
Bảng 3.12. Kĩ thuật vô khuẩn trong pha chế và thực hiện thuốc của điều dưỡng - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.12. Kĩ thuật vô khuẩn trong pha chế và thực hiện thuốc của điều dưỡng (Trang 39)
Bảng 3.13 . Tỉ lệ thực hiện các biện pháp bảo hộ cá nhân trong thao tác với thuốc ung thư của điều dưỡng - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.13 Tỉ lệ thực hiện các biện pháp bảo hộ cá nhân trong thao tác với thuốc ung thư của điều dưỡng (Trang 40)
Phụ lục 4. Bảng khuyến cáo  sử dụng thuốc điều trị ung thư - Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương
h ụ lục 4. Bảng khuyến cáo sử dụng thuốc điều trị ung thư (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w