Làm rõ cơ chế hình thành Biển Đông trên cơ sở thuyết kiến tạo mảng; Sự ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo đối với sự hình thành và tích tụ dầu khí trong các bồn trầm tích trên thềm lụa địa miền Nam Việt Nam và cụ thể là trong hai bồn Cửu Long và Nam Côn Sơn
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI : THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG
CƠ CHẾ HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC BỒN DẦU KHÍ TRÊN THỀM LỤC ĐỊA
MIỀN NAM VIỆT NAM
LỜI CẢM ƠN
Đề tài tốt nghiệp này là kết quả của quá trình học tập lâu dài trong suốt bốn năm ở trường Đại học Quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này đã giúp em ôn lại những kiến thức cũ đã học đồng thời học được thêm nhiều kiến thức mới qua quá trình thu thập và phân tích tài liệu Để hoàn thành đề tài này, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè, em xin chân thành cảm ơn Thạc Sỹ Nguyễn Ngọc Thủy đã hướng dẫn tận tình giúp em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, các thầy cô trong Khoa và đặc biệt là Bộ Môn Địa Chất Dầu Khí đã tạo điều kiện thuận lợi cho em tham khảo tài liệu, và em cũng xin chân thành cảm ơn các bạn Khoá 2001 đã giúp đỡ, ủng hộ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Mặc dù đã cố gắng thực hiện đề tài này nhưng do hạn chế về tài liệu tham khảo, kiến thức còn chưa nhiều và thời gian thực hiện quá ngắn nên đề tài khoá luận này không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý nhiệt tình của bạn bè và thầy cô trong khoa.
TP Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2005
Trang 2Tác giả
MỤC LỤC
Lời nói đầu……….…4
PHẦN I: THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH LIÊN QUAN TRÊN THỀM LỤC ĐỊA NAM VIỆT NAM 6
CHƯƠNG 1 : THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG 7
I SỰ HÌNH THÀNH THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG 7
II CƠ CHẾ DỊCH CHUYỂN CỦA CÁC MẢNG 14
III LỊCH SỬ CỦA SỰ DI CHUYỂN CÁC MẢNG : 24
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH LIÊN QUAN TRÊN THỀM LỤC ĐỊA MIỀN NAM VIỆT NAM 28
I QUÁ TRÌNH TÁCH GIÃN HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG 28
II CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH ĐỆ TAM 32 III PHÂN CHIA CÁC BỒN TRẦM TÍCH Ở VIỆT NAM THEO
Trang 3PHẦN II: ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KIẾN TẠO ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ TÍCH TỤ DDẦU KHÍ TRONG CÁC BỒN TRẦM
TÍCH TRÊN THỀM LỤC ĐỊA MIỀN NAM VIỆT NAM 40
CHƯƠNG 3 : BỒN TRŨNG CỬU LONG 41
I VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 41
II LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CẤU TRÚC KHU VỰC 43
III QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HYDROCARBON 45
IV CÁC HOẠT ĐỘNG KIẾN TẠO CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH BẪY CHỨA 47
V ĐẶC TÍNH THẤM CHỨA CỦA ĐÁ MÓNG 52
VI ĐẶC ĐIỂM TẦNG CHẮN 54
VII MỎ BẠCH HỔ 55
VIII TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BỒN TRŨNG CỬU LONG 64
CHƯƠNG 4 : BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN 66
I VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 66
II CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT 67
III LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT 71
IV HỆ THỐNG DẦU KHÍ BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN.…… … 73
V MỎ ĐẠI HÙNG 80
VI TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN 87
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU Ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam chỉ mới được thành lập nhưng đã khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân và trong cộng đồng các nước sản xuất dầu khí trên thế giới Cho đến nay, Việt Nam đã khai thác hơn 130 triệu tấn dầu thô và 8.5 tỷ m 3 khí đồng hành.
Hiện nay, chúng ta đang đẩy nhanh quá trình tìm kiếm – thăm dò dầu khí trên khắp lãnh thổ Việt Nam Tiềm năng dầu khí của Việt Nam được tập trung nhiều nhất là trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam.
Để quá trình tìm kiếm – thăm dò dầu khí được thuận lợi hơn, chúng ta cần nghiên cứu kỹ về các bối cảnh kiến tạo hình thành nên các tích tụ dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn quá trình hình thành, di chuyển và tích tụ của hydrocarbon, từ đó đề ra những phương án khả thi để việc tìm kiếm – thăm dò đạt hiệu quả hơn.
Trên tinh thần nghiên cứu, tìm hiểu và tổng hợp các tài liệu về các vấn
Trang 5Tự Nhiên cùng sự hướng dẫn trực tiếp của Thạc Sỹ Nguyễn Ngọc Thủy, tôi đã
thực hiện khoá luận tốt nghiệp với đề tài : “THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG, CƠ
CHẾ HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC BỒN DẦU KHÍ TRÊN THỀM LỤC ĐỊA MIỀN NAM VIỆT NAM”.
Mục đích của đề tài này là :
Làm rõ cơ chế hình thành Biển Đông trên cơ sở thuyết kiến tạo mảng.
Sự ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo đối với sự hình thành và tích tụ dầu khí trong các bồn trầm tích trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam và cụ thể là trong hai bồn Cửu Long và Nam Côn Sơn.
Nội dung thực hiện :
mảng.
Biển Đông và các bồn trầm tích liên quan.
động kiến tạo đối với sự hình thành và tích tụ dầu khí trong bồn trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn :
Góp phần trong việc xem xét mối quan hệ giữa kiến tạo Biển Đông và các bồn dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam.
Kết quả của đề tài là cơ sở tài liệu cho những nghiên cứu tiếp theo về kiến tạo Biển Đông và các bồn dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam.
Trang 7PHẦN I
THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH LIÊN QUAN TRÊN THỀM LỤC ĐỊA NAM VIỆT NAM.
Trang 8CHƯƠNG 1 THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG
Theo quan niệm của học thuyết kiến tạo mảng, lúc đầu địa cầu chỉ gồmcó một khối lục địa rộâng lớn Sau đó lục địa này vỡ thành từng nhiều mảnh, dichuyển đi và cuối cùng đạt đến vị trí hiện tại Thật ra theo thuyết này thì toànthể bề mặt địa cầu là những mảng thạch quyển cứng rắn Một số mảng hoàntoàn là vỏ đại dương, một số khác lại là vỏ lục địa hoặc vừa có vỏ đại dươngvừa có vỏ lục địa Những mảng đó có thể tách rời xa nhau, va chạm với nhauhay cắm xuống dưới mảng kia đã tạo ra nhiều kiến trúc rộng lớn, như sự thànhtạo các dải núi Thuyết kiến tạo mảng không phải được đa số mọi người tánđồng, nên các nhà địa cầu học luôn luôn tìm ra các bằng chứng mới mẻ đểchứng minh thuyết này là đúng Thuyết dựa trên hai khái niệm là lục địa trôivà đáy biển trương nở Mảng di chuyển ở mặt địa cầu là do lực lôi kéo củadòng đối lưu trong lớp manti
A Ý KIẾN BAN ĐẦU XUNG QUANH VẤN ĐỀ LỤC ĐỊA
TRÔI:
Ý kiến về lục địa trôi ra đời cách đây khoảng 100 năm Lúc đầu, người
ta giải thích hố đại dương, các dải núi và các lục địa được thành lập từ nhữngcuộc đại biến xảy ra trong một thời gian ngắn Ý nghĩ hai lục địa tách ra rồi dichuyển rất chậm, 100 triệu năm đi được 500 km, khi người ta ghi nhận được
Trang 9biệt là bờ biển Phi Châu và Nam Mỹ Các dấu vết địa chất như các nhóm đấtđá giống nhau, hoá thạch giống nhau của các lục địa là do trước đây chúngdính liền nhau, sau đó mới bị biển chia cắt.
Các vị trí có hoá thạch động thực vật trên các lục địa nằm tách xa nhau được
kết nối lại với nhau.
* Alfred Wegener và thuyết lục địa trôi :
Thuyết kiến tạo mảng được khởi xướng cách đây hơn 40 năm, nó kếthừa thuyết lục địa trôi, chính thuyết này là tiền đề của thuyết kiến tạo mảng.Thuyết lục địa trôi đã được Alfred Wegener công bố vào năm 1910 – 1930.Ông đưa vào đó nhiều bằng chứng khoa học rất đặc sắc, kể cả thiên văn học
Theo ông lúc đầu Trái Đất chỉ gồm một lục địa duy nhất, được gọi làSIÊU LỤC ĐỊA PANGEA Sau đó nó bắt đầu tách làm đôi, phần ở phía Nam
Trang 10được gọi là Gondwana gồm có Nam Mỹ, Phi Châu, Nam Cực, Úc Châu và ẤnĐộ và phần ở phía Bắc được gọi là Laurasia gồm có lục địa Bắc Mỹ, Châu Âuvà Châu Á Laurasia là lục địa nằm phía Bắc xích đạo, còn Gondwana thìnằm chếch về phía Nam Ngăn cách hai lục địa là biển Tethys Pangea bắtđầu di chuyển cách đây khoảng 150 triệu năm vào kỷ Jurassic Nam Cực vàÚc Châu, Ấn Độ và Phi Châu vỡ ra từ lục địa ban đầu Nam Mỹ bị vỡ ra từPhi Châu trong kỷ Cretaceous cách đây khoảng 100 triệu năm, và Greenlandtừ Bắc Âu cách đây một vài triệu năm (một ghi nhận sai lầm của Wegener).
Để bảo vệ thuyết lục địa trôi Wegener đưa ra nhiều bằng chứng như :
- Đường bờ biển phía Tây Châu Phi dường như khớp với đường bờ biểnphía Đông Nam Mỹ
- Về mặt hoá thạch, có nhiều sinh vật giống nhau đều được tìm thấy ởhai bờ lục địa hai bên Đại Tây Dương Ví dụ : một loài ốc sên sống ở Đức vàAnh được phát hiện ở Bắc Mỹ, mà chúng chỉ sống gần bờ Đại Tây Dương.Loài ốc sên này chỉ di chuyển được 5,4m/giờ nên chúng không thể nào vượtqua Đại Tây Dương để đến Bắc Mỹ được
- Ngoài ra, Wegener còn tìm được nhiều bằng chứng về mặt cấu trúc địachất, khoáng sản, cổ địa lý… để chứng minh rằng trước đây các lục địa chỉ làmột
Trang 11Sự khớp nhau giữa bờ biển và vùng nền cổ của Nam Mỹ và Châu Phi.
Điểm yếu của thuyết lục địa trôi của Wegener là trình bày cơ chế củasự di chuyển của các lục địa ở bề mặt địa cầu Ông đưa ra ý kiến sự di chuyểnlà do nguyên nhân của lực Pohiflucht và lực kéo của thuỷ triều Pohifluchtđược dịch từ tiếng Đức “sự di chuyển từ cực”, Wegener muốn trình bày rằnglục địa di chuyển từ cực đến xích đạo là do lực ly tâm và gia tốc trọng lực, ởxích đạo gia tốc trọng lực nhỏ hơn ở cực Sự di chuyển của Nam và Bắc Mỹ từhướng Đông sang Tây là do lực quay quanh trục của địa cầu và lực thuỷ triều.Lực thuỷ triều không đủ sức để mang các lục địa đi Ngoài ra, vật liệu trongmanti không chảy lỏng để lục địa nổi trên đó, như khối băng sơn nổi trongnước như ý của Wegener
B ĐÁY BIỂN TRƯƠNG NỞ :
Từ năm 1950, những nghiên cứu địa chất – địa vật lý các đại dươngphát triển mạnh Và những nhà khoa học đã phát hiện những hệ thống cácdãy sống núi giữa đại dương
Trang 12Vỏ đại dương đặc trưng bởi những dị thường từ dạng tuyến, chúng phânbố gần như đối xứng ở hai bên sống núi giữa đại dương, chúng là các dải songsong xen kẽ dị thường từ âm và dương Các dải ở càng xa sống núi thì tuổicàng già, ở ngay tại sống núi thì tuổi trẻ hơn cả
Sự phân bố tuổi của các dải từ ở sống núi giữa Đại Tây Dương.
Sự phân bố các dải dị thường từ như trên được F.J.Vine vàD.H.Matthews, 1963 giải thích bằng hiện tượng tách giãn của đáy đại dương.Vật chất của manti mà thành phần chủ yếu là basalt, theo đới tách giãn xuyênlên và tràn sang hai bên Chúng chịu ảnh hưởng của trường địa từ lúc bấy giờnên sẽ bị từ hoá theo hướng nhất định Số vật chất tràn lên sau sẽ đẩy số vậtchất có trước ra hai bên nên các dải dị thường ở càng xa trục tách giãn (trụcrift) càng có tuổi cổ hơn Do Trái Đất có những lần đổi hướng từ trường làmcho các dải xen kẽ thay đổi dấu Hiện tượng đổi hướng từ của Trái Đất là mộtthực tế đã được chứng minh : dự tính từ 76 triệu năm trở lại đây đã chuyển đổi
171 lần
Trang 13Căn cứ vào thời gian thành tạo mỗi dải dị thường từ, khoảng cách củanó đối với sống núi giữa đại dương người ta tính ra được tốc độ tách giãn Tốcđộ tách giãn của dãy Thái Bình Dương là 3 – 6 cm/năm, Đại Tây Dương vàẤn Độ Dương là 1 – 2 cm/năm.
Những dữ kiện từ ghi nhận được ở đáy đại dương đã làm vững chắcthêm cho thuyết đáy biển trương nở Ngoài ra, những lỗ khoan của tàu GlomarChallenger thực hiện cũng đóng góp thêm bằng chứng tốt khi phát hiện đátrầm tích có tuổi càng già khi càng ra xa sống núi giữa đại dương
Thuyết đáy biển trương nở.
Trang 14C MẢNG THẠCH QUYỂN :
Về số lượng các mảng, còn có những ý kiến chưa thống nhất Đa số chorằng có bảy mảng chính : mảng Bắc Mỹ, mảng Nam Mỹ, mảng Thái BìnhDương, mảng Ấn Độ, mảng Châu Phi, mảng Nam Cực, mảng Âu Á
Các nhà kiến tạo học cho rằng 7 mảng vẫn chưa đủ, người ta chia cácmảng lớn ra thành các mảng phụ
V.E.Khain có nêu ra 13 mảng nhỏ hơn : Ả Rập, Philippin, Cocos,Caribê, Nazca, Scottia, Đông Dương, Egci, Anatoli, Joan de Fuca, Rivera,Trung Quốc, Okhot
Trang 15Các mảng kiến tạo chính trên thế giới.
II CƠ CHẾ DỊCH CHUYỂN CỦA CÁC MẢNG.
Nguyên nhân của sự dịch chuyển giữa các mảng là quá trình đối lưu ởmanti trên Nơi hai dòng đối lưu gặp nhau và chuyển động đi lên thì xảy raquá trình tách giãn và ngược lại, nơi hai dòng đối lưu gặp nhau và đi xuống thìxảy ra quá trình hút chìm và va mảng
Nguyên nhân sự dịch chuyển giữa các mảng.
1 Kiến tạo ở ranh giới mảng phân kỳ của các mảng thạch quyển:
Ranh giới phân kỳ xuất hiện dọc theo trung tâm tách giãn – nơi haimảng dịch chuyển tách xa nhau, phần vỏ Trái Đất mới được hình thành bởi
Trang 16magma đi lên từ manti Nơi tách giãn là ranh giới giữa hai mảng Có hai kiểutách giãn :
- Tách giãn vỏ đại dương
- Tách giãn vỏ lục địa
a) Tách giãn vỏ đại dương : (rift đại dương)
Tách giãn vỏ đại dương được thể hiện bằng dãy núi giữa đại dươngvà thường kèm theo thung lũng rift ở giữa Rift đại dương gắn liền với quátrình mở rộng đáy đại dương
Các đới rift đại dương nằm ở phạm vi căng giãn của đại dương, dọctheo nó có các dung nham nóng chảy phun ra ngoài, tạo ra lớp vỏ đạidương Các đới căng giãn hiện tại trùng với sống núi giữa đại dương
Dọc theo các đới rift đại dương thường xuất hiện các chấn tâm độngđất nằm ở độ sâu 20 – 30 km
b) Tách giãn vỏ lục địa : (rift lục địa)
Rift lục địa là những kiến trúc căng giãn có quy mô lớn trong phạm vilục địa Về mặt hình thái, rift lục địa có thể xem như những địa hào lớn vàphức tạp Dọc theo rift lục địa thường có động đất, núi lửa và dòng địa nhiệtcao
Rift phát triển ở lục địa trải qua các giai đoạn sau :
- Lục địa được nâng lên tạo vòm và sau đó tách ra
- Sau đó, lục địa tiếp tục tách ra thành tạo các cấu trúc sụt địa hào và ở
Trang 17- Sau khi các mảng lục địa tách ra, chúng bắt đầu trôi về hai phía củatrung tâm tách giãn Quá trình tách giãn tạo rift thường đi kèm với hoạt độngphun trào, đặc biệt là phun trào basalt.
Rift lục địa và rift đại dương có chung một bản chất : Chúng là nhữngđới tách giãn Có những rift lục địa phát triển dần, mở rộng ra và trở thành riftđại dương
Mảng vỏ lục địa là nơi bắt đầu xảy ra sự tách giãn để hình thành mộtranh giới mảng tách giãn
Khi sự tách giãn xuất hiện trong lục địa, nó hình thành rift lục địa.Magma từ lớp manti đẩy lớp vỏ lục địa và gây ra áp lực làm cho vỏ lục địa bịnứt nẻ và tách ra Trong giai đoạn này xảy ra các hiện tượng magma phuntrào và động đất
Rift lục địa tiếp tục phát triển hình thành nên lớp vỏ đại dương mới vàtrở thành rift đại dương
Trang 18Đại Tây Dương là một ví dụ điển hình Đại Tây Dương được hình thànhkhi hai mảng Bắc Mỹ và mảng Âu Á di chuyển theo hai hướng nghịch nhau.
Do hai mảng di chuyển phân kỳ dẫn đến là đáy biển trương nở và đại dươngngày càng lớn hơn Tốc độ trương nở trung bình khoảng 2,5cm/năm hoặc25km/triệu năm Sống núi giữa Đại Tây Dương được hình thành bởi sự đi lêncủa magma, cao khoảng 2000m Ở hai bên sống núi giữa Đại Tây Dương tồntại những vùng núi lửa xuất hiện dọc theo những phần chìm dưới nước củađỉnh tách giãn
Sự phân kỳ giữa hai mảng Bắc Mỹ và mảng Âu Á.
2 Kiến tạo ở ranh giới mảng hội tụ của các mảng thạch quyển:
Khi vỏ đại dương mới được hình thành thì ở nơi khác vỏ đất sẽ bị pháhuỷ để đảm bảo rằng diện tích của trái đất không bị thay đổi Sự phá huỷ vỏđất này xảy ra dọc theo ranh giới hội tụ nơi các mảng di chuyển nghịch nhau
Trang 19và đôi khi một mảng sẽ chìm xuống dưới mảng kia Những ranh giới mảng hộitụ có thể tạo ra đới cuốn hút hoặc đới va chạm lục địa Những ranh giới mảngcuốn hút được đặc trưng bởi các rãnh sâu, dòng hạ nhiệt, các đới Benioff, núilửa andesite và những cung đảo hoặc những vành đai núi lửa trẻ Các ranhgiới va chạm lục địa có những trận động đất tâm nông và tạo thành nhữngvành đai núi trẻ ở phía trong lục địa.
Các đới Benioff :
Biểu hiện rõ nhất của đới hút chìm hiện nay là đới Benioff
Độ sâu của các đới Benioff phụ thuộc chủ yếu vào độ trưởng thành củamảng thạch quyển đại dương Những nơi đới hút chìm Benioff sâu 600 –700km là những nơi vỏ đại dương bị hút chìm có tuổi 120 – 150 triệu năm(vành Tây Thái Bình Dương); ngược lại, những nơi vỏ đại dương có tuổi trẻhơn Cretaceous, Palaeogen thì đới Benioff chỉ sâu 200 – 300 km, thậm chí cònnông hơn nữa (vành Đông Thái Bình Dương)
Tốc độ hút chìm cũng ảnh hưởng tới độ sâu của đới Benioff Nếu tốcđộ hút chìm 9 – 10.5 cm/năm, vỏ đại dương có tuổi 80 – 40 triệu năm thì độsâu đới Benioff vẫn đạt tới 600 km Ngược lại, nếu tốc độ hút chìm 2 -3.5 cm/năm thì dẫu vỏ đại dương có tuổi cổ 150 – 120 triệu năm thì độ sâu đớiBenioff chỉ đạt 250 – 300 km
Hầu như tất cả đới Benioff cắm về phía lục địa, hoặc cắm vào mảngđại dương có tuổi trẻ hơn
Sự hội tụ có thể xảy ra giữa mảng đại dương và mảng lục địa, hoặcgiữa hai mảng đại dương, hoặc giữa hai mảng lục địa
Trang 20a) Mảng đại dương – lục địa.
Mảng lục địa tạo nên vùng va chạm với mảng đại dương và chờm lênđó, trong khi đó do mảng vỏ đại dương có tỷ trọng lớn hơn mảng vỏ lục địanên vỏ đại dương có khuynh hướng chìm xuống dưới mảng vỏ lục địa, tạo nênđới hút chìm Benioff Đá granite nhẹ của lục địa bị vỡ vụn tạo nên dải núiuốn nếp và đứt gãy Một phần bị nóng chảy ở dọc theo đới hút chìm tạo ramagma trồi lên trên mặt đất tạo nên núi lửa, thành lập các dải núi và cung núilửa
Sự hội tụ giữa hai mảng vỏ đại dương và mảng vỏ lục địa.
Bờ biển Nam Mỹ dọc theo hố Peru – Chile, mảng đại dương Nazcađang đẩy vào và đang bị hút chìm dưới một phần mảng lục địa Nam Mỹ.Mảng Nam Mỹ đang được nâng lên tạo thành dãy Andes
Trang 21Sự hội tụ giữa hai mảng Nazca và mảng Nam Mỹ.
b) Mảng đại dương – đại dương.
Khi hai mảng đại dương hội tụ, thường thì một trong hai mảng sẽ bị hútchìm xuống bên dưới mảng còn lại Và hố đại dương sẽ được hình thành trongquá trình này Hố đại dương có độ sâu từ 7000 – 11000m, đây là những thunglũng hẹp, chạy dài theo cung núi lửa Ở đây thường xảy ra hiện tượng độngđất Sự hội tụ của hai mảng vỏ đại dương cũng sẽ tạo nên cung đảo núi lửavới magma có thành phần là basalt
Trang 22Sự hội tụ giữa hai mảng vỏ đại dương.
c) Mảng lục địa – lục địa.
Khi hai mảng lục địa hội tụ, do có cùng tỷ trọng nên giữa hai mảngkhông xảy ra hiện tượng hút chìm, thì vỏ Trái Đất có khuynh hướng bị nhàunát và bị đẩy lên trên hoặc bị đẩy về một phía Quá trình nén ép mạnh mẽsinh ra kiến trúc biến dạng vô cùng phức tạp kèm theo tạo núi, xâm nhập,phun trào đồng tạo núi và động đất
Trang 23Sự hội tụ giữa hai mảng vỏ lục địa.
Dãy Himalayan là một minh chứng tuyệt vời về sự hội tụ của hai mảnglục địa Cách đây 50 triệu năm, do sự va chạm giữa mảng Ấn Độ và mảng Âu
Á làm cho mảng Âu Á bị ép thành nhiều nếp và gối lên mảng Ấn Độ Hậuquả là hình thành dãy Himalayan và cao nguyên Tibetan Himalayan cao8854m so với mực nước biển, là ngọn núi cao nhất thế giới Còn cao nguyênTibetan có độ cao trung bình khoảng 4600m
Trang 24Vị trí dãy Himalayan và cao nguyên Tibetan.
3 Mảng xê dịch trượt bằng : (transforming slide plate)
Khi hai mảng nằm cạnh nhau không va chạm vào nhau mà trượt dọcvới nhau, vỏ đất ở vùng cạnh nhau không có sự phá huỷ Sự biến dạng đã tạo
ra những đứt gãy biến dạng nằm giữa hai mảng
Đứt gãy San Andreas (California) là loại đứt gãy này Đứt gãy SanAndreas xuất hiện do hai mảng Thái Bình Dương và mảng Bắc Mỹ di chuyểntrượt dọc với nhau Đới đứt gãy San Andreas dài khoảng 1,300 km Hai mảnglục địa ở hai bên đứt gãy đều di chuyển về Tây Bắc, nhưng sườn Tây Nam dichuyển nhanh hơn Như vậy, trong vài triệu năm nữa thành phố Los Angeles
Trang 25thuộc mảng Thái Bình Dương sẽ đến vị trí của thành phố San Francisco hiệnnay và sau đó sẽ đến vùng Alaska
Hai mảng Thái Bình Dương và Bắc Mỹ di chuyển, đứt gãy San Andreas.
Trang 26III LỊCH SỬ CỦA SỰ DI CHUYỂN CÁC MẢNG :
Lịch sử của mảng di chuyển biểu hiện rõ ràng đã có từ cách đây 200triệu năm Tuy nhiên, cách đây nửa tỉ năm hay thời gian trước đó nữa, sự dichuyển của mảng không được xác định Các dữ kiện thu lượm được rất mơ hồ.Hiện tượng biến chất và sự chôn vùi của đá dưới vật liệu trầm tích đã làmphức tạp hơn và xoá mờ các dấu vết địa chất
Sự hiểu biết về chu kỳ di chuyển của mảng chỉ mới được bắt đầu từ khisiêu lục địa Pangea bắt đầu vỡ ra cách đây 200 triệu năm, còn từ đó trở vềtrước thì rất mù mờ Các nhà khoa học dựa vào những dữ kiện địa vật lý, sựtiến hoá của lớp manti và nhân của địa cầu đã gợi ra ý kiến dòng đối lưu hoạtđộng mạnh trong manti Đó là nguyên nhân để mảng dịch chuyển, nhưng nókhông có trong giai đoạn đầu của địa cầu Nó bắt đầu hiện ra nhưng rất ít vàothời kỳ cách đây 1,5 tỉ năm Vậy kiến tạo mảng cũng được hình thành từ đây.Mảng di chuyển gần 1 tỉ năm cách đây có thể được xác định rõ ràng , nhữngranh giới giữa hai lục địa va chạm nhau như nền cổ Canada và nền cổ ChâuPhi Một loại ranh giới khác như hố đại dương nơi vỏ đại dương cắm xuốngmảng lục địa cũng thấy xuất hiện trong khoảng thời gian này Nhưng những sựkiến tạo núi sau đó đã phá hủy hay làm mờ đi những ranh giới này
Nghiên cứu đá có tuổi cách đây 600 – 500 triệu năm ở lục địa Bắc Mỹvà Châu Âu cho thấy trước đây chúng bị ngăn cách bởi một biển hẹp cạn.Khoảng 500 triệu năm cách đây, biển bị thu hẹp hơn nữa và hai lục địa dínhvào nhau Hoạt động này kết thúc sau 100 triệu năm Kết quả sự va chạm đãtạo nên dãy núi mà bây giờ nằm ở phía Bắc vùng Appalachian (Mỹ), cũngnhư ở Anh và Na Uy
Trang 27Cách đây 250 – 300 triệu năm siêu lục địa Pangea mới hợp lại, phầnTây Bắc Gondwana gồm có : bây giờ là Phi Châu, Trung Mỹ và phần ĐôngNam nước Mỹ va chạm với khối lục địa đã được thành tạo do sự dính vàonhau của Bắc Mỹ cổ và lục địa Âu Châu cổ Kết quả là hình thành dãy núiphía Nam Appalachian và Ouachita, kéo dài từ phía Nam Arkansas vàOklahoma đến tận trung tâm Texas Trong khi đó khối cổ Siberia va chạmvào khối cổ Châu Âu tạo ra lục địa Laurasia, với sự xuất hiện của dãy Ural ởvùng va chạm.
Trừ một số chi tiết Pangea vỡ ra các mảnh tương tự như Wegener đãphác họa trước đây Cuối Permian, Pangea là một siêu lục địa nằm ở Nambán cầu Nó bắt đầu vỡ ra trong thời Triassic (cách nay khoảng 200 triệunăm) Nam Mỹ và Phi Châu tách rời nhau sau khi tách khỏi khối Nam Cực.Nam Mỹ di chuyển về hướng Tây của Phi Châu và Nam Đại Tây Dương bắtđầu được thành lập Phi Châu di chuyển về phía Bắc và lúc bấy giờ nằm giữaxích đạo Ấn Độ và Úc Châu tách khỏi Nam Cực và di chuyển về hướng Bắc,hướng về vị trí hiện nay Ấn Độ là một mảng lục địa rộng lớn bao phủ cả ẤnĐộ Dương, thời bấy giờ có biển Tethys cắt qua Nó va chạm với lục địa ÁChâu Sự va chạm này xảy ra chậm chạp và hiện vẫn còn tồn tại Cuối cùnglên đến đỉnh cao trong sự nhàu nát và gãy đổ, dồn ép tạo nên dãy núiHimalayan Á Châu xoay chậm quanh trục, Châu Phi thì di chuyển hướng vềkhối Trung Á Kết quả là nó ép vào Địa Trung Hải Như vậy Đông Thổ NhĩKỳ trở thành bản lề, vị trí bất ổn, nên hoạt động địa chấn xảy ra thườngxuyên
Nam Mỹ tách rời khỏi Phi Châu, nước biển tràn vào tạo ra Nam ĐạiTây Dương Như vậy rift rộng lớn mở rộng dần phía Bắc của biển này Trong
Trang 28thời Cretaceous, dòng đối lưu hoạt động rất mạnh ở dưới thạch quyển, nguyênnhân đã tạo ra sống núi giữa Đại Tây Dương nổi cao lên Sự nổi lên và mởrộng của dãy núi này đã chiếm một thể tích to lớn của đáy biển, nên dời đimột khối lượng nước biển khổng lồ lấn chiếm các vùng đất thấp, tạo ra cácbiển cạn Ví dụ biển cạn từ vịnh Mexico và Texas đến miền Tây Canada.Trầm tích tuổi Cretaceous cũng được tìm thấy ở nhiều vùng thuộc Bắc Mỹ.Như vậy vào Mesozoic thì Bắc Đại Tây Dương được thành lập và liên tụcđược mở rộng Bắc Mỹ trôi về hướng Tây Bắc xa dần Châu Âu và miền TâyBắc Châu Phi, mà trước đó New York nằm cạnh bờ biển Maroc (Châu Phi).
Lục địa cổ là phần còn sót lại sau khi ấn vào lớp manti, cũng như phầnnâng lên cao do phần chìm bên dưới nó Trái với lục địa có tuổi cổ, các vỏ đạidương có tuổi trẻ hơn nhiều Đáy Đại Tây Dương và đáy của các đại dươngkhác, tất cả được sinh ra trước khi siêu lục địa bắt đầu vỡ ra từng phần Đáybiển xung quanh siêu lục địa Pangea cắm vào trong manti ở đới cắm Khảosát các hoạt động của mảng hiện tại, Đại Tây Dương có thể mở rộng2cm/năm, Thái Bình Dương thì khép lại Miền Tây Nam California có thểtrượt lên trên lục địa, Đông Phi Châu có thể tách ra và di chuyển về phíaĐông Bắc và Địa Trung Hải sẽ bị thu hẹp lại Hồng Hải và rift Châu Phi sẽtrở thành đại dương như Đại Tây Dương trong thời quá khứ
Chúng ta chưa biết chắc lực nào đã làm vỡ siêu lục địa Pangea Dòngđối lưu trong lớp manti có lẽ là cơ chế di chuyển, nhưng có một điểm khó giảithích là yếu tố nào đã khởi động dòng đối lưu Theo ý kiến của một số nhàkhoa học, sự di chuyển của mảng có liên hệ ít nhiều với nguyên nhân đi lêncủa dòng nóng tỏa tia (plume) Nếu có sự cô đọng của nguyên tố phóng xạ ởnơi nào đó trong manti, sẽ cung cấp nhiệt, vật liệu nóng di chuyển lên tạo
Trang 29thành dòng đá nóng đi lên Vật liệu nguội sẽ chìm xuống thay thế chỗ vật liệunóng đi lên Như vậy dòng đối lưu được hình thành Tuy nhiên, hiện tại thìchúng ta cũng chưa hiểu rõ ràng về dòng đá nóng đi lên này cũng như sự tồntại của nó và dòng đối lưu
Trang 30Theo thuyết trôi dạt lục địa, siêu lục địa Pangea tách vỡ ra cách nay từ 200 đến 250 triệu năm thành những mảnh lục địa như ta biết hiện nay.
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG
VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH LIÊN QUAN
TRÊN THỀM LỤC ĐỊA MIỀN NAM VIỆT NAM.
Mảng Đông Nam Á là phần đuôi của mảng Âu Á về phía Đông Nam,bao quanh bởi các đới hút chìm Myanmar, Indonesia và Philippine ở ranh giớihội tụ của mảng Ấn – Úùc với mảng Đông Nam A,Ù và mảng Đông Nam Á vớimảng vỏ đại dương Thái Bình Dương
Mảng Ấn – Úùc dịch chuyển thẳng đứng lên cắm vào mảng Đông Nam
Á dịch chuyển xuống tạo nên đứt gãy chờm nghịch và đồng thời là đứt gãybình
Phía Đông Philippine là mảng vỏ đại dương Philippine tách khỏi mảngThái Bình Dương Ranh giới giữa mảng Đông Nam Á và mảng vỏ đại dươngPhilippine là một đới hút chìm
Trong khối Đông Nam Á xuất hiện nhiều đứt gãy chia chúng thànhnhiều vi mảng :
- Đới đứt gãy Sông Hồng gắn kết giữa lục địa Indochina và Nam TrungHoa Đây là một đứt gãy trượt bằng
Trang 31- Đứt gãy bình Three Pagoda xuất phát từ Thái Lan, chạy dọc theo biểnVịnh Thái Lan.
- Đứt gãy dọc theo con sông lớn nhất Myanmar nối với đứt gãy Sumatradịch chuyển về phía Bắc
Những đới đứt gãy này chia lục địa Đông Nam Á thành những vi lụcđịa: Nam Trung Hoa, Indochina và Bắc Borneo dịch chuyển về phía Nam, cònlại là những vi lục địa chưa được gắn kết rõ ràng, trong nó có những vùng cóvỏ đại dương như biển nội địa Biển Đông
Biển Đông, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Nam giáp Kalimantan,phía Đông giáp Philippine, phía Tây giáp Việt Nam Đây là một trong nhữngbiển rìa lớn nhất nằm ở bờ Tây Thái Bình Dương chứa đựng nhiều tiềm năngvề tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu khí
Quá trình tách giãn hình thành Biển Đông :
Biến cố đặc trưng ảnh hưởng đến khu vực là sự hội tụ của các mảng lụcđịa vào cuối Mesozoic muộn – đầu Cenozoic sau khi biến mất đại dươngTethys Biển Đông được xem như một biển mở rộng do sự xô đẩy và xoay kéocủa khối Đông Dương tách khỏi mảng Âu Á dọc theo đứt gãy Sông Hồng khixảy ra va chạm của mảng Ấn Độ đối với lục địa Âu Á, do đới hút chìmPalawan gây nên căng giãn làm bộc lộ vỏ đại dương Đó là nguyên nhân tạolực tách giãn để hình thành và mở rộng Biển Đông trong Eocene, Oligocene,và Miocene sớm
Palaeogen
Trang 32Rìa lục địa Âu Á dịch chuyển về phía Đông của Borneo ngày nay vàcuốn hút vỏ đại dương của mảng Thái Bình Dương xuống bên dưới nó, tạomột biển sau của cung đảo, gọi là Biển Đông cổ vào Palaeocene
Vào Eocene, khối Đông Nam Á bị đẩy tụt về phía Đông Nam từ mảngÂu Á dọc theo hệ thống đứt gãy cổ và bị xoay theo chiều kim đồng hồ do sự
va chạm của mảng Ấn Độ với mảng Âu Á (cách đây 50 triệu năm)
Trong thời kỳ Oligocene, đới hút chìm phía Nam bể Biển Đông cổ tiếptục hoạt động Ứng suất căng giãn ở phía trước đới hút chìm làm đáy biển ởbể Biển Đông cổ tách giãn theo hướng Bắc – Nam và tạo nên Biển Đông(cách đây 32 triệu năm) Trục tách giãn đáy biển phát triển lấn dần về phíaTây Nam và thay đổi hướng từ Đông – Tây sang Tây Nam – Đông Bắc KhốiĐông Dương tiếp tục bị đẩy trôi xuống phía Đông Nam và tiếp tục xoay theochiều kim đồng hồ
Neogen
o Miocene sớm : tốc độ đẩy trồi xuống Đông Nam cùng với tốc độxoay phải của khối Đông Dương chậm lại Quá trình tách giãn đáy biển tiếptục tạo nên lớp vỏ mới ở Biển Đông Trong khi đó phần vỏ Biển Đông cổ ởphía Nam lại bị hút chìm dưới cung đảo Kalimantan Quá trình tách giãn đáybiển theo phương Tây Bắc – Đông Nam đã nhanh chóng mở rộng xuống TâyNam và chấm dứt vào cuối Miocene sớm (cách đây 17 triệu năm) do bể BiểnĐông cổ ngừng hoạt động
o Miocene giữa : lún chìm khu vực tiếp tục và biển đã ảnh hưởngrộng lớn đến các vùng Biển Đông
o Miocene muộn : được đánh dấu bằng sự lún chìm mạnh ở Biển
Trang 33o Pliocence : là thời gian biển tiến rộng lớn và có lẽ đây là lần đầutiên toàn bộ vùng Biển Đông hiện tại nằm dưới mực nước biển.
Đệ Tứ
o Pleistocene (cách đây 5 triệu năm) : sự tách giãn càng lớn, trụctách giãn càng về phía Nam hơn Do ảnh hưởng tách giãn đã hình thành cácbồn trầm tích lún đáy nhanh, gọi là bồn nội mảng, chứa dầu khí như bồn CửuLong, Nam Côn Sơn, các bồn ở Vịnh Thái Lan Năng lượng thoát ra từ sự táchgiãn đã thúc đẩy sự chuyển hoá dầu khí nhanh hơn
Các hoạt động kiến tạo do quá trình tách giãn ảnh hưởng lớn đến quátrình hình thành thềm lục địa Việt Nam cũng như các bồn trầm tích Đệ Tamtrên thềm lục địa và đặc biệt là các bồn chứa dầu khí Các quá trình kiến tạonày đã tác động trực tiếp vào các quá trình hình thành, di chuyển và tích tụdầu khí ở các bồn trầm tích Đệ Tam
Trang 34II. CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH ĐỆ TAM.
Thềm lục địa Việt Nam là phần rộng lớn nhất của rìa Tây Biển ĐôngViệt Nam Thềm lục địa Việt Nam bao gồm các cấu trúc địa chất phức tạptrong đó chủ yếu là các bể trầm tích Đệ Tam với hệ thống dầu khí hấp dẫn và
đa dạng trên rìa Tây Biển Đông Việt Nam Sự tiến hoá địa chất của thềmliên quan tới sự hình thành và phát triển Biển Đông, đặc biệt từ cuốiMesozoic và trong suốt Cenozoic
1 Mở rộng lục địa vào Mesozoic và cố kết móng của các bể Đệ Tam.
Các thành hệ cấu trúc trong móng của thềm lục địa là các phần kéo dàicủa các đới cấu trúc từ đất liền và bị biến đổi do các quá trình địa động lựcthời Cenozoic Sự hội tụ của các lục địa Âu Á và Gondwana sau khi kết thúcđại dương Mesozoic – Tethys vào Jurassic – Cretaceous đã làm cố kết móngcủa các bể Đệ Tam Các hoạt động kiến tạo cuối Mesozoic đã liên kết cácmảng lục địa trong đó có các đới biến chất trước Cambrian, các cấu trúcPalaeozoic và Mesozoic
Trang 35Trong móng thềm lục địa Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ chủ yếu làcác phức hệ xâm nhập nông và phun trào núi lửa từ trung tính đến acid vàacid kiềm kiểu cung hội tụ Mesozoic muộn Các cung xâm nhập nông và phuntrào núi lửa trung tính acid và acid kiềm đã được tạo ra do sự va chạm của cáclục địa cuối Mesozoic (58 – 178 triệu năm).
Quá trình tạo núi muộn dọc theo rìa Tây Biển Đông Việt Nam còn tiếptục tới đầu Cenozoic với sự hình thành các dãy núi và cung núi lửa á kiềmcạnh các trũng trước núi Cretaceous – Palaeocene – Eocene
Trầm tích Palaeocene hầu như không phát hiện thấy ở thềm lục địaViệt Nam Đây là thời kỳ san bằng kiến tạo mang tính khu vực, đó là kết quảcủa hoạt động nâng lên và bị bóc mòn
Các thành tạo carbonat Palaeozoic và các phức hệ cung xâm nhập sâuhầu như bị biến dạng và tạo nên những khối móng nhô cao vào cuối Đệ Tamvà có thể đầu Cenozoic, và đã trở thành những tầng chứa nứt nẻ và tạo nêncác mỏ có tiềm năng dầu khí rất lớn của các bể Đệ Tam
2 Tách giãn Oligocene và sự hình thành các bể trầm tích Đệ Tam.
Khi hai mảng lục địa Ấn Độ và Âu Á va chạm nhau, khối Đông Dươngtách khỏi mảng Âu Á dọc theo đới đứt gãy Sông Hồng, và hệ quả của sự mởrộng đó là sự hình thành Biển Đông Từ trung tâm tách giãn Biển Đông đãhình thành hàng loạt các địa hào và bán địa hào hẹp nhưng rất sâu được lấpđầy bởi những trầm tích vụn, thô có bề dày lớn Sự mở rộng đáy biển đã bắtđầu từ Đông Bắc Biển Đông Việt Nam vào giữa Oligocene (khoảng 32 triệunăm) và xuống phía Nam vào Oligocene muộn, kết thúc muộn nhất vào cuốiMiocene sớm (17 triệu năm) (Taylor và Hayes, 1983, Brias và nnk, 1993)
Trang 36Trên rìa Tây, hàng loạt các địa hào, bán địa hào cũng được hình thành chủyếu trong Oligocene, đó là các trũng sâu của các bể Đệ Tam.
Các hoạt động tách giãn của Biển Đông đã mở ra các bồn trũng củathềm lục địa và được ngăn cách bằng các đới nâng khu vực Trầm tíchOligocene đã được thành tạo đồng thời với quá trình tách giãn và sụt lún
Trên thềm lục địa Đông Nam Bộ, các địa hào trong bể Cửu Long chịusự khống chế chủ yếu của hệ thống đứt gãy Đông Bắc – Tây Nam và ít khi làhướng Đông Tây Còn ở bể Nam Côn Sơn, hệ thống đứt gãy quan trọng làĐông Bắc – Tây Nam Hầu hết các địa hào Oligocene trên thềm lục địa ViệtNam được lấp đầy bởi các trầm tích đầm hồ Quá trình biển tiến Oligocene đãhình thành các trầm tích mịn, đó là các tầng giàu vật chất hữu cơ, nhiều nơi làđá sinh tốt của các bể Đệ Tam
Đây là thời kỳ quan trọng của địa chất dầu khí, vào thời kỳ này, cáctầng sinh, chứa, chắn đã được hình thành ở hàng loạt các bể trầm tích Ở khuvực mỏ Bạch Hổ, Rồng, Sư Tử các tập sét phủ trực tiếp lên đá móng chứa dầunên chúng còn đóng vai trò là tầng chắn
3 Sụt lún sau tách giãn và các bể Đệ Tam mở rộng trưởng thành.
Mặt bất chỉnh hợp gần đỉnh Oligocene có nơi gần đáy Miocene có thểtương ứng với sự thay đổi chế độ kiến tạo từ tách giãn sang sụt lún và oằnvõng trên rìa Tây Biển Đông Quá trình này dẫn đến sự hình thành lớp phủmở rộng và kê gối lên các tập đồng tách giãn trong các địa hào tạo thành bểĐệ Tam
Sự sụt lún sau tách giãn kèm theo sự mở rộng các địa hào về phía cácgờ nâng và liên kết các địa hào hình thành các bể Đệ Tam mở rộng Trong
Trang 37trùm lên toàn bộ diện phân bố của mỗi bể và đạt tới mức độ cân bằng trongquá trình trưởng thành của bể Các trầm tích Miocene và các trầm tíchOligocene có độ rỗng thường từ trung bình khá đến tốt Trong các pha oằnvõng hoạt động đứt gãy chỉ giới hạn ở các rìa bể, còn sự sụt lún nhiệt và sứcnặng trầm tích oằn lõm đóng vai trò chính trong sự hình thành các bể Đệ Tam.Vào Miocene giữa, sự sụt lún cùng với sự mở rộng đã tạo điều kiện cho biểntiến sâu vào các bể Đệ Tam Trong bể Nam Côn Sơn, các trầm tích biển nôngchiếm ưu thế Còn trong bể Cửu Long, các trầm tích từ châu thổ ngập biểnđến trầm tích biển nông, ưu thế là trầm tích châu thổ hủy hoại hay thiếu hụt.Một số nơi các trầm tích sét châu thổ ngập biển và sét – vôi có hàm lượngtổng carbon hữu cơ cao đã được chôn vùi trong đới thành đá trong giai đoạntrưởng thành của các vật chất hữu cơ và trở thành tầng sinh có giá trị.
Các trầm tích vụn Miocene thường có độ rỗng tốt trừ một số nơi có độrỗng trung bình do bị xi măng carbonat hoá Do đá carbonat có độ rỗng caonên trở thành các đối tượng chứa lớn Trong giai đoạn này thành tạo chủ yếulà các tầng chứa
4 Chuyển động nghịch đảo vào Miocene hình thành các bẫy cấu tạo.
Do sự hút chìm của vi đại dương Biển Đông xuống dưới cung Luson –Đài Loan theo máng sâu Manila đã đẩy cung Luson dịch chuyển về phía Tâytạo các áp lực nén ép từ Miocene giữa và mạnh mẽ trong Miocene muộn.Cuối Miocene muộn, sự nén ép diễn ra phổ biến và mạnh mẽ trong các bể ĐệTam và đã dẫn tới sự hình thành các hệ đứt gãy nghịch và hàng loạt các cấutạo vòm có kích cỡ khác nhau từ rất lớn đến trung bình và nhỏ
Các pha nghịch đảo kiến tạo Miocene xảy ra không đồng đều trong cácbể Đệ Tam, ở bể Cửu Long là vào Miocene giữa và Nam Côn Sơn là Miocene
Trang 38muộn Tuy nhiên, mặt bất chỉnh hợp cuối Miocene (5.5 triệu năm) đã đánhdấu sự kết thúc pha nghịch đảo kiến tạo trên thềm lục địa Việt Nam vào cuốiMiocene Sự thay đổi trường áp lực đã dẫn đến sự hình thành một số cấu trúcriêng biệt như các vòm nâng địa phương, các uốn nếp và đứt gãy nở hoa.
Ở bể Cửu Long, giai đoạn giữa Miocene giữa đánh dấu pha nghịch đảokiến tạo sau khi tích tụ tập sét Rotalit và đã hình thành các bẫy cấu tạo trướcthời điểm đá mẹ bước vào cửa sổ tạo dầu Vì thế các bẫy cấu trúc đã đónđược dầu sinh ra từ các tầng đá mẹ Oligocene
Trong khi đó, nhiều nơi trong bể Nam Côn Sơn, do các chuyển độngnghịch đảo xảy ra muộn hơn vào cuối Miocene muộn nên chỉ nhận được sựnạp hydrocarbon trong pha di chuyển muộn hoặc các phần dầu tàn dư
5 San bằng cấu trúc và sự hình thành thềm lục địa.
Vào thời kỳ Pliocence, hoạt động biển tiến bắt đầu ảnh hưởng và pháttriển rộng khắp khu vực Biển Đông
Các tập trầm tích Pliocence và Đệ Tứ phủ trên mặt bất chỉnh hợp gầnđỉnh Miocene khá bình ổn, hầu như không có biểu hiện của các hoạt độngbiến dạng, uốn nếp và đứt gãy
Sự sụt lún rõ ràng và tăng nhanh chiều dày trầm tích Pliocence và ĐệTứ chủ yếu từ đới bờ đến sườn lục địa hiện tại Các trầm tích Pliocence – ĐệTứ được đặc trưng chủ yếu bởi các trầm tích vụn mịn với ít các lớp cát nằmtrên mặt gián đoạn với chiều dày tăng dần về phía trung tâm Phần lớn cáctập trầm tích này có độ phân giải song song Tuy vậy phần sườn ngoài củathềm thường là các cấu trúc nêm lấn có sự tiến triển về phía biển của các
Trang 39châu thổ Các basalt Pliocence – Đệ Tứ lộ ra trên một số đảo nổi và khánhiều đảo ngầm trên thềm lục địa Việt Nam.
THEO QUAN NIỆM KIẾN TẠO MẢNG.
Dưới tác động mạnh mẽ của kiến tạo, các bồn trầm tích Việt Nam đượchình thành trong những bối cảnh kiến tạo không giống nhau, từ những thời kỳđịa chất khác nhau Dưới quan điểm kiến tạo mảng có thể phân chia các nhómbồn trầm tích ở Việt Nam như sau :
1 Bồn trầm tích nơi rift hoá :
Biển Đông, nằm ngoài khơi bờ biển Trung Bộ nước ta, đã có hai giaiđoạn tách dãn Trong thời Cretaceous, Đông Dương – Borneo – Philippine,Hải Nam nối liền với nhau tạo thành một lục địa duy nhất, gọi là IndosiniaTrung Một đới tách dãn đầu tiên xảy ra từ thời Palaeogen, nay Borneo đi vềphía Nam, khiến cho có một đáy đại dương ở phía Đông đảo Hải Nam Vàothời kỳ Miocene một đới tách giãn thứ hai đã mở rộng Biển Đông thành mộtđại dương nhỏ, tạo ra một đới cuốn hút nữa về phía Bắc Borneo (Kalimantan).Hiện nay, đới tách giãn này vẫn còn hoạt động với vận tốc chậm
Trang 40Bồn trầm tích Biển Đông ở phần lãnh hải Việt Nam có thể chia thànhhai vùng:
- Vùng Tây Biển Đông: nguồn cung cấp vật liệu từ những con sông lớn,vật liệu lục nguyên là cơ bản
- Vùng Đông Biển Đông: vật liệu lục nguyên không lớn lắm, nhưng trầmtích carbonat phong phú
2 Bồn trầm tích nơi cung magma :
Trường Sơn Việt Nam, đới uốn nếp Tây Bắc, đới uốn nếp Nam Bộ cónhững trầm tích nằm vào đới cung đảo, là nơi vỏ đất va chạm mãnh liệt, pháhuỷ sâu đậm
3 Bồn trầm tích nơi phay đổi dạng :
a Bồn Sông Hồng:
Trũng Sông Hồng – Vịnh Bắc Bộ đã từng là một đới cuốn hút, rồi mộtphay đổi dạng và cuối cùng là một bồn trầm tích quan trọng có xâm nhập biểnvào thời cận sinh
Bồn Sông Hồng gồm có các lô: 103, 105, đến 110, 112, 113, 114, và
116 Bồn Sông Hồng, từ kết quả tìm kiếm thăm dò dầu khí, có thể xem như làmột địa hào trầm tích Cenozoic với chiều dày đạt tới 12 - 14 km và tiềm năngdầu khí rất khả quan
b Bồn Phú Khánh:
Bồn Phú Khánh hình thành từ phay đổi dạng Quy Nhơn (do tách dãnBiển Đông) và hiện tại là một bồn trầm tích biển sâu Ở phía Tây là triền lụcđịa, ở phía Đông Nam ngăn cách với bồn Cửu Long bởi khối nâng Tuy Hoà