Khái niệm về phòng vệ chính đáng Thể hiện nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và pháp Luật hình sự nói riêng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, bằng một loạt
Trang 1TRUGNG DAI HOC CAN THG
PHONG VE CHINH DANG TRONG
LUAT HINH SU VIET NAM HIEN HANH
TS Phạm Văn Beo Ngô Mỹ Yên
MSSV: 5075241 Lớp: Luật Thương mại 3 khóa 33
Trang 2DANH MUC TU VIET TAT
0 ooececccccssscsscscsssscscsecscssescesesseseesessaes Bộ luật hình sự
TAND - St tt Eeserssesesrssea Tòa án nhân dân
TANDTC 2 2 2e v3 + SvEesseeseea Tòa án nhân dân tối cao
HĐTTP - Sky reu Hội đồng thâm phán
Trang 4MUC LUC ccccccccccccsscscsssescssssscscscssevssssesssssvscsvsvsvsssvsvsvsssssasstsvsvsvsasasaseseessasssavenann 1 LỜI NÓI ĐẦU (L4 1111 E101 111 11T TT TT TT TT TT TT TH rkrki 7
1 Lí do chọn đề tài - s13 x13 TT TH TH TS TT Trưng ưệt 7
2 Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài eseessescsesesesvecsvsvessesesseees 7
3 Pham vi nghién CUU :::ccssssssssssnsssseeesssseeeesesseescnsesessssenseeseeeereeseesenesesteerseseess 8
4 Phuong phap nghién CU cccsseesesessseessssnssssseseceescessesseessteaesssasaeaseneeesesenes 8
1.2.2 Từ năm 1985 đến năm 1999, - tt v1 111x111 14
1.2.3 Từ năm 1999 đến nayy - TT 3E TT TT HT nga 16
1.3 Cơ sở lý luận của chế định phòng vệ chính đáng 5-55: 16
1.4 So sánh giữa phòng vệ chính đáng với tình thế cấp thiết . 17
CHƯƠNG 2
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1 Cơ sở trách nhiệm của phòng vệ chính đáng .-. -ccccccccs- 21
2.2 Dâu hiệu pháp lý của phòng vệ chính đáng - ¿2 5s ++s£z£scx 21
2.2.1 Mặt khách quan của phòng vệ chính đáng - 5S S1 vs 21 2.2.2 Mặt chủ quan của phòng vệ chính đẳng - sex 22
2.2.2.1 Dẫu hiệu của lỖi St té tre 22
2.2.2.2 Dâu hiệu động cơ, mục ổÍch - ¿c1 ng 23
2.3 Các điều kiện của phòng vệ chính đáng . - 2 + 5 cv scvezeesrrvea 24
2.4 Các loại phòng vệ chính đáng HH HH HH ng ngư 26 2.5 Người thực hiện - - LQ HT HH ng nh nh se 28 2.5.1 Về phía nạn nhân ¿-¿- ¿- ¿k + E31 *3E3EEES8 EEEEEEE SE TT ng rưu 28 2.5.2 Về phía người phòng VỆ ¿k1 31 3 3E SE SE kg rhryng 31 2.6 Vượt quá phòng vệ chính đắng TL n2 TH HH ng ngư 34 2.6.1 Hai trường hợp của vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 34
2.6.1.1 Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 34
2.6.1.2 Tội cỗ ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác
do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đẳng .- c1 v12 35 2.6.2 Phần biệt các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 36 2.6.3 Áp dụng tình tiết giảm nhẹ vào vượt quá phòng vệ chính dang 39
Trang 5NHUNG BAT CAP KHI AP DUNG CHE DINH PHONG VE CHINH DANG VA MOT SO GIAI PHAP KHAC PHUC
3.1.Tình hình thực tế trong việc áp dụng chế định phòng vệ chính đáng 41 3.2 Những bắt cập khi áp dụng chế định phòng vệ chính đáng trong Luật hình
sự Việt Nam hiện hành - G 0 111 H1 1n 11T H ng ty nen 42 3.2.1 Khi xét về hành vi chống trả của người phòng vệ chưa nêu được căn cứ để
xác định thế nào là cần thiẾt - ctnÉnnhnhnHhHH re 42
3.2.2 Quy định chế định phòng vệ chính đáng nằm trong phần “tội phạm” chưa đảm bảo đúng bản chất của một hành vi chính đáng được Nhà nước cho phép 43 3.2.3 Chưa quy định rõ hành vi xâm phạm trong trường hợp như thế nào thì hành
vi chống trả được coi là phòng vệ, trường hợp nào thì không được coi là phòng
3.2.4 Trách nhiệm hình sự đối với trường hợp “làm chết nhiều người” và cô ý gây thương tích tổng tỷ lệ thương tật trên 31% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chưa được quy định rõ ràng trong khoản 2 Điều 106 BLHS hiện hành
3.2.5 Chưa xác định rõ ràng nội dụng phòng vỆ - + seieieo 45 3,2,6 Chưa thể hiện được hết quyền phòng vệ của con người ‹-‹-: 46 3.2.7 Khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ với yếu tô giảm nhẹ “vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng” là không cần thiẾt - 6 2S 2333 éEvEkrxrsrkes 47
3.2.8 Trường hợp phòng vệ chính đáng có thể nhầm với phạm tội do tỉnh thần bị
3.3.1 Nên có thêm văn bản hướng dẫn đưới dạng Nghị định hay Thông tư nêu căn
cứ xác định hành vi chong trả của người phòng vệ được coi là cân thiết 49 3.3.2 Nên quy định chế định phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 15 BLHS hiện hành thành một phần riêng, tách biệt ra với phần quy định trong Chương tội
3.3.3 Nên có thêm văn bản quy định rõ hành vi xâm phạm trong trường hợp như thế nào thì hành vi chống trả được coi là phòng vệ, trường hợp nào thì không được coi là phòng VỆ - c9 1111911111111 1111815118111 KP Khh 52
3.3.4.Cần thêm quy định “làm chết nhiều người” vào khoản 2 Diéu 106 BLHS
Hien HANH 0 41 52 3.3.5 Nên quy định rõ ràng nội dung phòng V6 ce cceeceesssssttensssteeneeeesens 53 3.3.6 Nên có thêm hướng dẫn rõ ràng hơn về vẫn đề phương tiện và phương pháp của người phòng vệ và người xâm hại - S111 vo 53
3.3.7 Nên bỏ đi tình tiết giảm nhẹ quy định tai điểm c khoản 1 Điều 46 BLHS 54
3.3.8 Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể đưới đạng Nghị định hay Thông tư quy định các căn cứ để tránh trường hợp nhằm lẫn giữa phòng vệ chính đáng với phạm
tội do tinh thần bị kích động - + - 2 2s EESEESEEEEEEErkrkrskrserrerkrsred 54
Trang 6tiết giảm nhẹ cho trường hợp này ‹‹- - 6 tàn SE E1 ExExErhngreưệt 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71 Li do chon dé tai
Trong những năm gần đây tình hình xã hội càng phát triển về công nghệ khoa học kỹ thuật lẫn cả về nhận thức con người cũng tiến bộ, cuộc sống vật chất, mức sống con người ngày càng tăng cao hơn so với trước kia Giá trị con người được thể hiện ra, quyền con người được ghi nhận hơn, mỗi người đều có những quyền bất khả xâm phạm tính mạng, sức khỏe họ được phép bảo vệ họ chống lại sự tấn công của người khác, đôi khi hành động bảo vệ đó có thê là trái pháp luật, nhưng những hành vi đó
được pháp Luật hình sự thừa nhận và được loại trừ tính chất nguy hiểm Những hành
vi loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội phô biến hiện nay được pháp luật thừa nhận
và không xem là tội phạm trong đó có phòng vệ chính đáng Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì muốn bảo vệ những lợi ích hợp pháp có thể của mình hoặc của cá nhân, tô chức khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Và phòng vệ chính đang không phải là tội phạm Chính vì vậy để phòng và chống lại những hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm của con người nói chung, xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người được thê hiện qua hành vi phòng vệ chính đáng nói riêng là việc cấp bách luôn được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm, đề cao và chú trọng Xuất phát từ những vấn đề nói trên nên người viết quyết định chọn đề tài “Phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành” đề làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình nhằm đóng góp một phần công sức nhỏ của mình vào việc xây dựng pháp luật về mặt Luật hình sự nói chung va van dé xác định phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự nói riêng Và trong quá trình làm đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót rất mong được sự đóng góp của quý thầy cô sửa chữa để đề tài luận văn được hoàn thiện hơn
2 Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Mục tiêu của đề tài là tập trung nghiên cứu bản chất, tính chất và mức độ của phòng vệ chính đáng, hành v1 vượt quá giới hạn cho phép trong phòng vệ chính đáng,
từ đó xác định hành vi nào được luật cho phép và hành v1 nào vượt quả sự cho phép đó
và phải bi chỊu trách nhiệm hình sự
Việc nghiên cứu hành vi loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội nói chung, phòng vệ chính đáng nói riêng về mặt lý luận và thực tiễn có những ý nghĩa sau đây:
Về lý luận, nghiên cứu chế định phòng vệ chính đáng giúp chúng ta xác định cơ
sở pháp lý của hành vi phòng vệ thế nào là hợp pháp, tạo điều kiện nhằm nâng cao được quyên con người và bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người
Trang 8
Từ việc nghiên cứu chê định phòng vệ chính đảng phản ánh được nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự Việt Nam
Nghiên cứu vẫn đề phòng vệ chính đáng có ý nghĩa đặc biệt lớn trong công tác đấu tranh, phòng ngừa những hành vi xâm phạm những lợi ích hợp pháp bị pháp luật cám, bên cạnh đó còn giúp Tòa án xác định chính xác hơn những hành vi nào bị coi là tội phạm, hành vi nào được Luật hình sự cho phép, từ đó Tòa án có thể xét xử đúng người đúng tội và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm, đường lỗi chính sách của Dang và Nhà nước về đâu tranh phòng chống tội phạm Bên cạnh việc
sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật, đề tài còn sử dụng các phương pháp
so sánh, lôgic, phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh kết hợp lý luận với thực tiễn
và một số phương pháp khác mà người viết đã vận dụng đề hình thành bài luận này
5 Kết cầu của đề tài:
Xuất phát từ nội dung, yêu cầu của đề tài, ngoài lời nói đầu và kết luận, luận
văn được kết cầu bởi ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề về phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự Việt Nam
hiện hành
Chương 2: Trách nhiệm hình sự trong phòng vệ chính đảng theo Luật hình sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Những bất cập khi áp dụng chế định phòng vệ chính đáng và một số giải pháp khác phục
Mặc dù đã cố gắng vận dụng những kiến thức đã học ở trường, cộng với thời
gian tiếp cận thực tế, nhưng vẫn không tránh khỏi sự thiếu sót Vì vậy rất mong được
sự quan tâm và góp ý của thầy cô và các bạn Người viết xin chân thành cám ơn quý thầy cô đã tận tình giảng đạy trong suốt thời gian qua Đặc biệt là thầy Phạm Văn Beo
đã giúp đỡ hướng dẫn trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp Điều này đã giúp
Trang 9
đỡ cho sự nhận thức lập luận vẫn đề của người viết đi đúng hướng và hiểu rõ hơn về
vẫn đề phòng vệ chính đáng và đặc biệt là vẫn đề xác định trách nhiệm hình sự trong phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam
Trang 10
CHUONG 1
MOT SO VAN DE VE PHONG VE CHINH DANG TRONG LUAT HINH
SU VIET NAM HIEN HANH
1.1 Khái quát chung về phòng vệ chính đáng
1.1.1 Khái niệm về phòng vệ chính đáng
Thể hiện nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và pháp Luật hình sự nói riêng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, bằng một loạt các quy định trong phần chung BLHS hiện hành, các nhà làm luật nước ta đã điều chỉnh về mặt lập pháp ở các mức độ khác nhau một số trường hợp mà việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự trong các trường hợp đó không bị coi là tội phạm và trách nhiệm hình
sự của chủ thể của hành vi được loại trừ
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội và người thực hiện hành vi được
Luật hình sự quy định là tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trường hợp có hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự gọi là loại trừ trách nhiệm hình sự Loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp một người có hành
vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, nhưng theo pháp luật họ không bị
truy cứu trách nhiệm hình sự”
Như vậy, xuất phát từ khái niệm này, đồng thời nghiên cứu các quy định của BLHS Việt Nam hiện hành thì có hai trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành
vi, một trong hai trường hợp đó có trường hợp nếu một người có hành vi xâm hại đến lợi ích chính đáng của công dân, nhưng được coi là không có lỗi cô ý hoặc lỗi vô ý thì
họ không phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản ] Điều 15 BLHS “Phong
vệ chính đáng là hành vì của người vi bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo
vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm `
1.1.2 Đặc điểm của phòng vệ chính đáng
Đề cho tính chất tội phạm của hành vi trong phòng vệ chính đáng được loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội, thì phòng vệ chính đáng gồm có những đặc điểm sau đây:
- Hành vi phòng vệ để được coi là hợp pháp nhất thiết phải bao gồm các yếu tô
có tính chất bắt buộc như sau:
+ Gây thiệt hại trong phòng vệ chính đáng phải cho chính người nào đang có hành vi xâm hại (chứ không được và không thể gây nên cho người thứ ba)
1 Dinh Van Qué, Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb chính trị
quoc gia 1998, trang 6
Trang 11+ Việc gây thiệt hại trong phòng vệ chính đáng phải nhăm bảo vệ các lợi ích hợp pháp của người phòng vệ hoặc của người khác, cũng như của xã hội hay của Nhà nước tránh khỏi sự xâm hại, không được vượt quá giới hạn
- Hành vi xâm hại nhất thiết phải bao gồm các yếu tố có tính chất bắt buộc như
sau:
+ Nguy hiểm đáng kế cho xã hội và trái pháp luật
+ Đang diễn ra và gây nên thiệt hại (hoặc có khả năng gây thiệt hại ngay lập tức) cho các lợi ích được bảo vệ bằng pháp Luật hình sự
+ Phải có thật, đang tồn tại trong thực tế khách quan (chứ không phải do sự tưởng tượng của người phòng vệ)
1.2 Lịch sử của chế định phòng vệ chính đáng
Bộ luật hình sự các nước khác nhau trên thế giới có cách gọi không giống nhau
về chế định phòng vệ chính đáng Tuy nhiên, những chế định này đều nhằm để quy định những điều kiện nhất định để một nguoi vi muốn bảo vệ một lợi ích của xã hội
mà chống lại một hành vi đang xâm hại đến lợi ích đó, gây thiệt hại cho xã hội nhưng
được xem là không câu thành tội phạm và do đó không có trách nhiệm hình sự
Điều 36 Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định: “Một hành vì được thực hiện một cách cần thiết (không tránh khỏi việc thực hiện) để chống lại sự vi phạm pháp luật nguy hiểm, nhằm bảo vệ các quyên, lợi ích của mình hoặc của người khác thì không bị
xử phat” Khoan 1 Điều 38 Bộ luật hình sự Liên Bang Nga 1996 quy định: “Không
phải là tội phạm việc gáy thiệt hại cho người đang có hành vì xâm phạm thán thể và
các quyên của người phòng vệ hoặc của người khác, xâm phạm các lợi ích của xã hội hay của Nhà nước, nhằm bảo đảm các quyên và lợi ích nói trên, nếu trong khi gây thiệt hại không vượt quá giới hạn cần thiết BLHS Canada đã dành nhiều quy định về phòng vệ chính đáng (từ Điều 27 đến Điều 42) Không giống pháp luật hình sự của các
nước thuộc hệ thống luật Châu âu lục địa, Luật hình sự Canada quy định rõ ràng
những trường hợp nào được xem là phòng vệ chính đáng, như phòng vệ để tự bảo vệ tính mạng ,sức khỏe, để bảo vệ tài sản, để bảo vệ chỗ ở .v.v ˆ
Nhìn chung, tùy vào chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia;
tùy vào chính sách hình sự, tình hình đấu tranh phòng và chống tội phạm ở mỗi nước
2 Phạm Văn Beo, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam- Phần chung- Tủ sách Đại học Cần Thơ- năm 2004
Trang 12của nó Ví dụ: Bản tông kết 452-HS2 ngày 10/6/1970 của Tòa án nhân dân Tôi cao về
việc thực hiện xét xử các tội giết người, Chỉ thị 07 ngày 22/12/1983 về xét xử các hành
vi xâm hại tính mạng, sức khỏe người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đảng hoặc khi thi hành công vụ
“Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm khi có đầy đủ các điều kiện sau:
- Hành vi xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tập thể, hoặc lợi ích chính đáng của công dân phải có tính nguy hiểm cho xã hội với mức độ đáng kể, mặc dù không
nhất thiết phải là một hành vi phạm tội
Ví dụ: Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, trong điều kiện bình
thường, dùng dao chém người khác; người không có năng lực chịu trách nhiệm hình
sự (người mắc bệnh tâm thần, trẻ em đưới 14 tuổi) có hành vi nguy hiểm dang ké cho
xã hội hay cho người khác như đốt nhà hoặc dùng dao chém người khác
+ Nếu hành vi xâm hại chỉ có tính chất nhỏ nhặt, tức là tính nguy hiểm cho xã
hội không đáng kẻ, không phải là tội phạm (như trộm cáp vặt, xô đây, đấm đá nhẹ )
thì việc phòng vệ bằng cách gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người xâm hại khong duoc coi là phòng vệ chính đáng, mà là hành vi phạm tội theo các tội danh khác nhau tùy vào từng trường hợp cụ thẻ
+ Việc người có hành vi nguy hiểm cho xã hội khi bị người khác bắt, giữ (tức là thực hiện hành vi có ích cho xã hội) đã chống trả lại, gây thiệt hại cho người bắt giữ
không được coI là phòng vệ chính đáng, mà phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định chung của pháp luật
Ví dụ: Hành vi của kẻ gây rối trật tự đánh lại nhân viên công an hoặc đội viện
thanh niện cờ đỏ đang dùng vũ lực để bắt giữ thì bị coi là tội chống người thi hành
công vụ
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là đã bắt đầu nếu nó đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người xâm hại thì không được coi là phòng vệ chính đáng
Ví dụ: B gặp A đang đi ngoài phố, B bảo A “Nếu đến giờ X, ngày Y mà A
không mang tiền hoặc đồ vật đến nộp ở đại điểm Z , thì sẽ giết, A bục mình rút
ngay súng bắn chết B C cãi nhau với D và bị D đánh; khi D bỏ đi, C lấy súng bắn đuôi
theo làm cho D chết Hành vi phòng vệ “quá sớm” của A và hành vi phòng vệ “quá muộn” của C không được coi là phòng vệ chính đáng, mà cấu thành tội giết người thông thường với tính tiết giảm nhẹ do nạn nhân có lỗi
- Hành vi phòng vệ chính đáng thực hiện không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe dọa, đây
Trang 13
lùi sự tân công, mà có thê bằng cách tích cực, chông lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho
chính người xâm hại và do đó chỉ có thể là cố ý Ví dụ: A cầm gậy đánh B, B tránh
được rồi đâm A ngã gục
Vì vậy, nếu một người đù có khả năng bỏ chạy hoặc kêu cứu mà vẫn gây thiệt
hại cho người xâm hại dé phòng vệ, thì hành động của họ vẫn được coi là phòng vệ
chính đáng
- Nếu trong khi phòng vệ mà gây thiệt hại, không phải cho người xâm hại, mà cho người thứ ba thì hành vi gây thiệt hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà tùy theo tình tiết của sự việc cầu thành tội giết người, tội cố ý gây thương tích nặng, gây tôn hại cho sức khỏe người khác , theo quy định chung của pháp luật và có thể
Ví dụ: Khi giằng co để không cho người say rượu đánh mình, người cầm súng
đã vô ý để súng nỗ làm chết người say rượu
- Hành vi phòng vệ bằng cách có ý gây thương tích, nhưng dẫn tới hậu quả chết người ngoài sự mong muốn của người gây thương tích cũng được coi là có tính chất phòng vệ
- Hành vi phòng vệ phải tương xứng với tính chất xâm hại, tức là không chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại
Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt do người xâm hại đe dọa gây hoặc đã gây
ra cho người phòng vệ Giữa hai thiệt hại đó có thể không có sự phù hợp về lượng hoặc về chất, chỉ miễn là không có sự chênh lệch quá đáng sau khi cân nhắc tính chất quan trọng của lợi ích được bảo vệ bằng phòng vệ chính đáng, sức mạnh của sự xâm hại, khả năng và hoàn cảnh thực tế của người phòng vệ
Ví dụ: Một nhóm người xông vào đánh B, B bất ngờ bị đánh đau và bỏ chạy; chạy được mẫy chục mét vẫn thấy có một số người đuổi theo, B đứng lại, mở dao nhíp
có sẵn trong người đề ra “đứa nào vào đây, tao đâm”, một trong số những người đuôi theo xông vào để tiếp tục đánh, B dùng dao nhíp đâm bừa một nháp vào ngực người
đó làm người đó chết Trong ví dụ này, B ở vào tình thế bị một nhóm người tấn công trước, bất ngờ nên bỏ chạy Sự tấn công tuy là bằng chân tay không, nhưng là do đông
Trang 14
đe trước, nhưng vẫn bị đối phương ý thế đông người tiếp tục tấn công Hành vi phòng
vệ của B bằng cách dùng dao đâm một trong số những người tấn công, dẫn đến chết người, được coI là tương xứng, là chính đáng, là hợp pháp
Nếu hành vi phòng vệ không tương xứng, không phù hợp, có chênh lệch quá
đáng so với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, nghĩa là người phòng
vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây thiệt hại quá đáng cho người xâm hại, mà tình chất mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó, thì người phòng vệ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay tội cố ý gây thương tích hoặc gây tốn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Ví dụ: H tổ viên bảo vệ nhà trường, nghe tin có bọn càn quấy đến trường gây sự đánh mình, đáng lẽ trong hoàn cảnh nhà trường có đông người, H có thể cùng mấy người ra đối phó nhưng đã một mình vác súng ra cổng trường, hoặc đáng lẽ trong
trường hợp có súng đề đối phó, H phải răn đe khi bị tắn công, nhưng H đã sử dụng bắn
chết ngay một người xông vào tân công mình”
1.2.2 Từ năm 1985 đến năm 1999
Ngày 27/6/1985 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
BLHS năm 1985, đây là BLHS Việt Nam đầu tiên của chúng ta được ban hành Trong
BLHS 1985 đã chính thức ghi nhận chế định phòng vệ chính đáng ở Điều 13
“1, Phòng vệ chính đảng là hành vì của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của chính mình hoặc của người khác, mà chỗng trả lại một cách tương xứng người đang có hành vì xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đảng không phải là tội phạm
2 Nếu hành vì chống trả rõ ràng là quá đáng, tức là vượt quá giới hạn phòng
vệ chính đảng, thì người có hành vi do phai chịu trách nhiệm hình sự ”
Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước Phần
chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản
về hình sự của Đảng và Nhà nước ta Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tô chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê - Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn
Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự nên đã ban hành ra Nghị quyết số 02/ HĐTP- TANDTC/
Trang 15
QÐ này 05/01/1986 Trong đó có hướng dẫn hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được coI là phòng vệ chính đáng
“Hành vi xâm hại tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coI là phòng
vệ chính đáng khi có đủ các điều kiện sau:
a) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành v1 phạm tội hoặc rõ
ràng là có tính chất nguy hiểm cho xã hội
b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ
c) Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đây lùi sự tấn công, mà còn
có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại
d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại
Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại đo người xâm hại đe dọa gây ra hoặc
đã gây ra cho người phòng vệ
Dé xem xét hành vi chống trả có tương xứng hay không, có rõ ràng là quá đáng hay không thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại
và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ (bảo vệ địa điểm thuộc bí mật quốc gia, bao vệ tính mạng), mức độ thiệt hại do hành v1 xâm hại có thê gây ra hoặc đã gây
ra và do hành vi phòng vệ gây ra, vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử
dụng, nhân thân của người xâm hại (nam, nữ, tuôi, người xâm hại là côn đồ, lưu
manh ); cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ, hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi văng người, nơi đông người, đêm khuya) v.v Đồng thời cũng cần phải chú
ý đến yếu tô tâm lý của người phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa
chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bắt ngờ
Sau khi đã xem xét một cách day du, khach quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức (gây thương tích nặng, làm chết người) đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng”
Trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985 đã được sửa đôi, bố sung 5 lần
vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 và 1999, với sự thay đôi đó đã ban hành ra BLHS
Trang 16
năm 1999 So với BLHS năm 1985, BLHS 1999 có những thay doi cơ bản Đặc biệt,
các thay đổi trong các quy định thuộc Phần chung, trong đó chế định phòng vệ chính
đáng được sửa đổi thành Điều 15 BLHS năm 1999 như sau:
Khoản 1 Điều 15 Bộ luật này quy định: “Phòng vệ chính đáng là hành vì của
người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, bảo vệ lợi ích chỉnh đáng của mình hoặc
của người khác, mà chống trả lại một cách cân thiết (bộ luật hình sự việt nam 1985 quy định "sự chống trả một cách tương ứng”) người đang có hành vì xâm phạm các lợi ích nói trên, Phòng vệ chính đảng không phải là tội phạm `
Chế định này được xây dựng nhằm khuyến khích mọi công dân đấu tranh
chống những hành vi xâm hại các quạn hệ xã hội, ngăn chặn hoặc hạn chế những thiệt
hại do sự xâm hại đó đe dọa gây ra
1.2.3 Từ năm 1999 đến nay
Dù Bộ luật hình sự sửa đổi bố sung năm 2009 nhưng chế định phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 15 trong Bộ luật hình sự không gì thay đổi
1.3 Cơ sở lý luận của chế định phòng vệ chính đáng
Thông thường, một hành vi khi có đầy đủ các yếu tố câu thành tội phạm thì hành vi đó bị coi là tội phạm và bị đe dọa áp dụng hình phạt Tuy nhiên, Luật hình sự
lại quy định một số hành vi trên thực tế có đầy đủ các điều kiện hình thức của một tội
phạm, nhưng không phải là tội phạm, trong đó có phòng vệ chính đáng Về mặt khách quan, phòng vệ chính đáng đã có hành vi gây thiệt hại cho các cơ quan xã hội được
Luật hình sự bảo vệ một cách cỗ ý, nhưng vẫn được Nhà nước khuyến khích thực hiện
Có một số quan điểm lý giải cho quy định này, chẳng hạn như, thuyết cưỡng bách tinh thần cho rằng, “rong trường hợp phòng vệ chỉnh đáng, hành vi phòng vệ vẫn là một
tội phạm nhưng người phòng vệ được miễn tội vì đã hành động trong điều kiện bị
cưỡng bách tỉnh thần Vì bị tấn công trải phép và bất ngờ nên bắt buộc phải chỗng tra”?
Quan diém thir hai xuat phat tir yéu t6 khach quan cho rang: “nguwdi phong vé mặc dù gây thiệt hại cho kẻ tấn công nhưng đã sử dụng một quyển, hơn nữa đã thi
hành một bổn phận đối với xã hội Trước một hành động tấn công xâm hại hay đe dọa
trực tiếp lợi ích của xã hội, người phòng vệ không nên và không thể chờ vào sự can thiệp của chính quyên ma can phải phản ứng kịp thời mới bảo vệ được trật tự của xã
hội, bảo vệ được tính mạng của bản thân mình hoặc của người khác Người phòng vệ,
nhân danh xã hội thi hành bồn phận, sử dụng một quyền, đó là phòng vệ cho nên học
3 Nguyễn Ngọc Hòa, Mô tả Luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb Công an nhân dân 1991, trang 8
Trang 17thuyết này còn gọi là học thuyết phòng vệ
Các luật gia xã hội chủ nghĩa tán đồng học thuyết quyển phòng vệ và mở rộng
nội dung của nó Trong một số điều kiện và giới hạn nhất định, xã hội xã hội chủ nghĩa
tán thành và khuyến khích mọi người tích cực bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội.` Người chống trả trong trường hợp của phòng vệ chính đáng thực hiện hành vi chống trả phù hợp với quy luật tự nhiên và xã hội Trong thế giới tự nhiên, theo quy định, bất
kì một sự, vật hiện tượng nào khi bị tác động theo hướng bị phá vỡ sự tồn tại của
chúng, chúng sẽ tác động ngược trở lại một lực bằng với lực mà chúng chịu tác động
Ví dụ, chúng ta đập tay vào tường, bức tường sẽ tác động trở lại tay chúng ta làm cho tay chúng ta đau đớn và gốc độ xã hội, trạng thái tồi tại Ôn định, bền vững của các quan hệ xã hội là ý chí của giai cấp thống trị- Nhà nước Bất kì một sự xâm hại nào đến sự tôn tại Ổn định đó đều bị phản ứng từ phía Nhà nước Trong những điều kiện nhất định, sự phản ứng của Nhà nước có thể có hiệu quả, riêng về trường hợp của phòng vệ chính đáng, sự phản ứng của Nhà nước không mang lại hiệu quả vì sự xâm hại đang diễn ra mà Nhà nước không có mặt kịp thời Do đó, Nhà nước mới nhượng quyên lại cho cá nhân, là chủ thể đang trong trường hợp cũng có ý chí phản ứng như vậy
Thực ra, hành vi chống trả, gây thiệt hại cho người đang có hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyên và lợi ích chính đáng của công dân là những việc
làm có ích, phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội, đạo đức xã hội chủ nghĩa Do
đó, Luật hình sự Việt Nam và một số nước khẳng định hành vi phòng vệ chính đáng không thê bị coi là tội phạm Phòng vệ chính đáng là quyền của mỗi công dân nhưng không phải là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc (trừ những người có chức vụ, trách nhiệm được Nhà nước giao cho nhiệm vụ trong những trường hợp cụ thể phát sinh trách nhiệm) Mỗi cá nhân có thể sử dụng quyền này của mình trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau Tuy nhiên, chế định này không có nghĩa là cho phép mọi công dân đều có quyền trừng trị tội phạm mà quyền xử lý tội phạm thuộc về cơ quan Nhà nước có thâm quyền nhân danh Nhà nước Do đó, hành vi phòng vệ chính đáng phải
tuân theo những quy định nhất định trong Luật hình sự
1.4 So sánh giữa phòng vệ chính đáng với tình thế cấp thiết
Trong các trường hợp loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, ngoài trường hợp phòng vệ chính đáng được quan tâm nhiều hiện nay, thì tình thế cấp thiết
quy định tại Điều 16 BLHS hiện hành vẫn được chú ý đến
4 Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam,Nxb Công an nhân dan 1992,trang 13
> Dang Van Doan, Vấn đề phòng vệ chính đáng, Nxb Pháp lý 1993, trang 15
Trang 18“1.Tinh thé cap thiét Ia tinh thé cua nguoi vi muon tranh mét nguy co dang thực tế de dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyên, lợi ich chinh dang của mình
hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn
thiệt hại cần ngăn ngừa Hành vi gây thiệt hại trong tình thể cấp thiết không phải là
tội phạm
2 Trong trường hợp gây thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quả yêu cầu của tình
thể cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự”
Điều kiện về nguồn gây nguy hiểm:
- Cơ sở pháp lý làm phát sinh quyền được thực hiện hành vi gây thiệt hại trong
tình thế cấp thiết là sự nguy hiểm đang đe dọa gây những thiệt hại nhất định về lợi ích
hợp pháp được bảo vệ Nguồn nguy hiểm đang đe dọa gây thiệt hại ở đây có thể xuất
phát từ nhiều nguyên nhân như: thiên nhiên, súc vật, sự bất cần của con người Ví dụ:
một con thuyền đang vận chuyên hàng trên biển thì được tin bão khẩn cấp, sẽ gây chìm tàu nếu nó vẫn còn chở khối lượng hàng nặng như hiện tại Vì vậy thuyền trưởng
đã quyết định hạ lệnh ném hàng xuống biển nhằm tránh chìm tàu Ở đây nguồn nguy hiểm do bão gây ra Thông thường, hành vi nguy hiểm không phải là hành vi của con người đang đe dọa xâm hại đến các lợi ích hợp pháp Tuy nhiên, không thể loại trừ khả năng nguồn nguy hiểm lại là hành vi của con người nhưng không phải đang diễn ra mà chỉ đe dọa diễn ra Ví dụ: một tên cướp ngân hàng đang uy hiếp một nữ nhân viên và
de đọa sẽ giết chết nhân viên đó nếu viên cảnh sát không mở đường cho hắn thoát thân
- Nguồn nguy hiểm phải thỏa mãn tính hiện tại, nghĩa là nguồn nguy hiểm đang tồn tại khách quan và có khả năng gây ra thiệt hại trên thực tế nếu không được ngăn
chặn Tính hiện tại của nguồn nguy hiểm được đánh giả tùy thuộc vào điều kiện cụ thẻ,
có thể là nó sẽ gây thiệt hại tức khắc hoặc sẽ gây thiệt hại trong một khoảng thời gian
nhất định nào đó Ví dụ: một con chó đang rược căn một người nào đó Đây là nguồn
nguy hiểm gây thiệt hại ngay tức khắc Tuy nhiên, có thể nguồn nguy hiểm không gây thiệt hại ngay mà chắc chắn nó sẽ gây thiệt hại và chúng ta không còn cách nào để ngăn chặn Ví dụ: một con thuyền đang vận chuyên hàng trên biển thì được tin bão khẩn cấp, sẽ gây chìm tàu nếu nó vẫn còn chở khối lượng hàng nặng như hiện tại,
nhưng có thể một vài phút sau bão mới tới, với điều kiện trên biển như vậy cũng có thể
nói nguồn nguy hiểm như vậy cũng được gọi là ngay tức khắc
- Nguồn nguy hiểm phải có thật Nguồn nguy hiểm chẳng những đang tồn tại
mà phải là nguồn nguy hiểm có khả năng gây thiệt hại đến các lợi ích nhất định nếu không được ngăn chặn Nếu nguồn nguy hiểm không chứa đựng khả năng gây thiệt hại
Trang 19
trong tình thế cấp thiết Ví dụ: một thuyền trưởng quan sat thay chim ưng biển bay nháo nhát, theo kinh nghiệm của mình, ông ta cho đây là loài chim báo bão, thuyền
trưởng ra lệnh ném hành hóa xuống biển để nhẹ tàu, tránh bị chìm, tuy nhiên thực tế
bão không đến Việc này không được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết
Điều kiện về hành vi ngăn ngừa nguồn nguy hiểm:
- Hành vi gây thiệt hại phải là sự lựa chọn cuối cùng và duy nhất: trong tình thế
cấp thiết, việc gây một thiệt hại nhỏ để bảo vệ một thiệt hại lớn khác mà pháp luật cho
phép, nếu có biện pháp khác mà không gây thiệt hại nhưng vẫn bảo vệ được lợi ích lớn
hơn thì việc gây thiệt hại đó chưa phải là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết Ở đây,
biện pháp lựa chọn gây thiệt hại nhỏ để bảo vệ thiệt hại lớn mà Nhà nước cho phép phải là biện pháp cuối cùng Như vậy đòi hỏi chủ thể rơi vào trường hợp này phải có
sở hữu tài sản, tính mạng, sức khỏe hoặc các thiệt hại khác Việc gây thiệt hại trong
tình thế cấp thiết không bị giới hạn đối với người đang có hành vi xâm hại, mà là có
thé gây thiệt hai cho xã hội hoặc cho một người nào đó không liên quan
Nhìn chung, hai trường hợp là phòng vệ chính đang và tình thế cấp thiết có những điểm tương đồng, cần phân biệt cơ bản như sau:
Giống nhau:
- Hành vi gây thiệt hại trong hai trường hợp này phải có thật
- Hành vi gây thiệt hại phải là sự lựa chọn cuối cùng và duy nhất
- Đối tượng cần bảo vệ là lợi ích của Nhà nước, của tô chức, quyền va loi ich
của mình hoặc của người khác được pháp Luật hình sự bảo vệ
- Cả hai trường hợp trên không bị xem là tội phạm
Khác nhau:
- Phòng vệ chính đáng:
+ Nguồn nguy hiểm: do con người
+ Sự nguy hiểm đang diễn ra
+ Xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người thì sự chống trả lại cần thiết mới được xem là phòng vệ chính đáng, và được loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Trang 20
+ Hành vi xâm hại phải có tính hiện tại và ngay tức khắc
+ Thiệt hại trong phòng vệ chính đáng do sự chống trả hành vi xâm hại gây ra
bị giới hạn
- Tình thế cấp thiết:
+ Nguồn nguy hiểm: có thể do con người, nhưng chủ yếu do nhiều nguyên nhân khác như: thiên tai, súc vật
+ Sự nguy hiểm chỉ cần đe dọa sẽ diễn ra là được
+ Xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, còn có cả vật chất
+ Nguồn nguy hiểm phài có tính chất hiện tại có thể ngay tức khắc hoặc trong một khoảng thời gian nhất định nào đó
+ Thiệt hại trong tình thế cấp thiết không bị giới hạn đối với người đang có
hành vi xâm hại mà có thể gây ra cho xã hội hoặc cho một người nào khác không liên quan, chỉ cần thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn là được (xét cả về tính chất lẫn mức độ)
Trang 21
CHƯƠNG 2
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG THEO LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1 Cơ sở trách nhiệm của phòng vệ chính đáng
Cơ sở của trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản l1 Điều 15 Bộ luật hình
sự hiện hành: “Phòng vệ chính đáng là hành vì của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, của tổ chức, bảo vệ quyên, lợi ích chỉnh đáng của mình hoặc của người khác,
mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vì xâm phạm các lợi ích nói
trên Phòng vệ chính đảng không phải là tội phạm” Đây là căn cứ chung mà dựa vào
đó Nhà nước, thông qua các cơ quan đại điện có thể xem xét hành vi của một người nào đó có phải là phòng vệ chính đáng hay là một hành vị phạm tội
2.2 Dâu hiệu pháp lý của phòng vệ chính đáng
2.2.1 Mặt khách quan của phòng vệ chính đáng
Một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc đưa đến kết luận một hành vi
có cầu thành tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự hay không đó là yếu tố mặt
khách quan của tội phạm Trong mặt khách quan thì hành vi khách quan với tư cách là một trong những biểu hiện quan trọng nhất của mặt khách quan của tội phạm 1a dau hiệu bắt buộc của cẫu thành tội phạm Hành vi khách quan của tội phạm có ba đặc điểm cơ bản:
- Hành vi khách quan của tội phạm phải có tính nguy hiểm đáng kê cho xã hội
- Hành vi khách quan của tội phạm là hoạt động có ý thức và ý chí
- Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ
Từ các đặc điểm trên ta có thể thấy được khi phân tích một hành vi của người
phòng vệ chống lại người có hành vi xâm hại các lợi ích hợp pháp ở khoản 1 Điều 15 BLHS hiện hành, thì người phòng vệ có thể biết được và mong muốn hành vi của mình là chống lại những nguy hiểm có thể xảy ra cho bản thân hoặc cho người khác Khi xét đặc điểm thứ ba của mặt khách quan của tội phạm, ta thấy trong khoản 1 Điều
15 BLHS quy định: “Phòng vệ chính đáng là hành vì của người vì bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyên, lợi ích chỉnh đáng của mình hoặc của người
khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người dang có hành vì xâm hại các lợi ích
nói trên”, như vậy có thê nói hành vi của người phòng vệ được được pháp luật thừa nhận và được xem là hành vi hợp pháp, trừ trường hợp di quá giới hạn quy định thì chuyên hướng xét ở khía cạnh khác Còn về tính nguy hiểm của hành vi, người phòng
vệ họ có thê biết hoặc có thể không biết được hành vi của mình có thể mang tính nguy
Trang 22
hiểm cho xã hội hay không, vì phải đôi điện với những nguy hiểm trước mặt, họ chưa
đủ khả năng nhận biết một cách chính xác được hành vi của mình, chính vì vậy những
hành vi của người phòng vệ chống lại hành vi của người xâm hại được pháp luật cho phép và được xem là những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Do đó, hành vi của người phòng vệ chưa đủ để cấu thành tội phạm và “Phòng vệ chính đảng không phải là tội phạm ””
2.2.2 Mặt chủ quan của phòng vệ chính đáng
Tội phạm được biểu hiện bởi hành vi do đó nó cũng là sự thống nhất giữa hai
mặt khách quan và chủ quan Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn gắn
liền với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được
coi là tội phạm nếu hành vi được thực hiện trong một thái độ tâm lý của con người đối với hành vi đó và hậu quả do hành vi đó gây ra hay đối với khả năng phát sinh hậu quả
từ hành vi đó Vì vậy nếu thiếu mặt chủ quan, hành vi sẽ không câu thành tội phạm
Còn về phía phòng vệ chính đáng, hành vi phòng vệ chính đáng có thể gây một thiệt hại nào đó cho kẻ tấn công để ngăn chặn sự xâm hại những lợi ích hợp pháp, bảo vệ
các lợi ích đó, xét về mặt hình thức có những biểu hiện bề ngoài giống với một tội
phạm, nhưng được thừa nhận và được loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi Mặc dù được thừa nhận là hợp pháp, nhưng tùy mức độ để có thể xem xet, nếu vượt quá giới hạn của hành vi thì bị xem là tội phạm do vượt quả giới hạn phòng vệ chính
đáng Do đó, cần phải xét các biểu hiện như:
2.2.2.1 Dâu hiệu của lỗi
“Lỗi là thái độ tâm li của con người đối với hành vì nguy hiểm cho xã hội của
mình đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức là cổ ý hoặc
vô ý”
Trong chế định phòng vệ chính đáng Điều 15 BLHS hiện hành quy định, hành
vi của người mà bảo vệ lợi ích hợp pháp được pháp luật cho phép thì hành vi đó được xem không phải là tội phạm, nói như vậy không có nghĩa là mọi hành vi của người
đang muốn chống lại hành vi xâm hại lợi ích cần được bảo vệ đều được pháp luật thừa
nhận và không xem là tội phạm Tùy theo mức độ lỗi của từng hành vi cụ thể mới được xem xét là hành vi đó có tội hay không Yếu tô lỗi để câu thành tội phạm nói chung và yếu tổ lỗi trong trường hợp phòng vệ chính đáng nói riêng cung cần xét các
điểm như:
- Về ý chí:
+ Trong nhận thức của người thực hiện hành vi chống lại người xâm hại đến
những lợi ích cần được bảo vệ, người thực hiện hành vi đó có thể biết hoặc không thể
Trang 23
biết hành vi của mình có thê gây nguy hiểm cho xã hội và bị xem là tội phạm, nhưng
vì những lợi ích cần được bảo vệ và những nguy hiểm nhất thời của bản thân họ không
hoặc chưa đủ thời gian suy nghĩ và lựa chọn những cách có thể bảo vệ mình mà không gây hại cho người xâm hại đó và có thể có những người khác, họ chỉ biết và nghĩ tới là chống lại những nguy hiểm đó bằng cách dùng bản năng Như vậy, trong những trường hợp người thực hiện hành vi trong phòng vệ chính đáng nếu hành vi đó được xem xét và xác định là hành vi cần thiết với hành vi xâm hại gây ra, cần thiết là sự thể hiện tính không thể không chống trả, không thể bỏ qua trước một hành vi xâm phạm đến các lợi ích của xã hội, thì những hành vi đó được pháp luật thừa nhận và được xem
là tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội không bị coi là có lỗi và không phải là tội phạm
+ Ở đây, hành vi được xem là cần thiết không có nghĩa là ngang bằng theo cách xác định của toán học, bên xâm hại gây thiệt hại bao nhiêu thì bên phòng vệ phải gây
thiệt hại lại bẫy nhiêu, tùy trường hợp cụ thê mới có thê xác được một cách chính xác
Còn ngược lại với mức độ cần thiết với hành vi mà người phòng vệ gây ra cho người xâm hại thì bị xem là rõ ràng quá mức cần thiết, nên hành vi đó là vượt quá giới hạn cho phép của phòng vệ chính đáng và là tội phạm Nhưng nếu trong trường hợp người phòng vệ không thể biết được hành vi của mình đã vượt quá giới hạn cho phép của phòng vệ chính đáng thì vẫn bị xem là tội phạm vượt quá phòng vệ chính đáng, nhưng được xem xét tình tiết giảm nhẹ tại điểm c khoản 1 Điều 46 BLHS về các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- Về lí trí: Trong suy nghĩ của người chỗng lại người xâm hại những lợi ích cần
bảo vệ đó họ vẫn biết và có thể biết được hành vi của mình có thể được xem là nguy
hiểm cho xã hội và phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng trong suy nghĩ tức khắc khi nguy hiểm đe dọa trước mắt họ chỉ biết là bảo vệ bản thân, bảo vệ lợi ích cần được bảo
vệ đó
2.2.2.2 Dấu hiệu động cơ, mục dich
Mỗi tội phạm nói chung, phòng vệ chính đáng nói riêng có thể là tội phạm đều
là hành vi nguy hiểm cho xã hội Do đó khi xem xét hành vi của người phòng vệ có phải là hành vi nằm trong giới hạn phòng vệ được pháp luật thừa nhận và được xem là tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội hay là hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ
và bị xem là tội phạm hay không, ngoài việc xét các yếu tô lỗi trong mặt chủ quan ta còn phải xét thêm về mặt động cơ, mục đích của người phòng vệ có phải là thật sự muốn bảo vệ lợi ích cần bảo vệ và ngăn chặn hành vi nguy hiểm trước mắt để chong lại hành vi xâm hại gây ra, từ đó có thê thêm phần chính xác trong quá trình đi đến kết
Trang 24
luận có phải là tội phạm hay không
- Động cơ phạm tội là động lục thúc day người phạm tội thục hiện hành vị
phạm lội
- Mục đích phạm tội là kết quả cuối cùng mà người phạm tội muốn đạt được khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
2.3 Các điều kiện của phòng vệ chính đáng
Theo Chỉ thị 07 phù hợp với một số điểm trong quy định tại Điều 15 BLHS hiện hành và Nghị quyết số 02 của Hội đồng thâm phán Tòa án nhân dân tối cao với
nội dung: hành vi xâm hại tính mạng sức khỏe của người khác được coI là phòng vệ
chính đáng khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm đáng kế cho xã hội Bất kì một công dân nào nhìn thấy
sự xâm hại đang diễn ra trước mắt, không phụ thuộc hành vi ấy chống lại lợi ích của
mình hay của một người ruột thịt, quen biết, lợi ích của Nhà nước, của xã hội, lợi ích
của người khác đều có quyền phòng vệ chính đáng Đặt vấn đề như vậy vì trong chủ nghĩa xã hội mỗi công dân đều có quyền đồng thời có nghĩa vụ đạo đức hành động tích cực hành động để bảo vệ các lợi ích hợp pháp khỏi sự xâm hại có tính nguy hiểm cho
xã hội °
+ BLHS không quy định cụ thể sự xâm hại nào thì được thực hiện hành vi
chống trả bằng cách gây thiệt hại cho chính người thực hiện hành vi xâm hại (hành vi
tấn công) đó
+ Thông thường, phòng vệ chính đáng xuất hiện các tội phạm mang tính chất
bạo lực, những hành vi tấn công, phá hoại tức là khi mà sự xâm hại có thê gây thiệt hai
tức khắc cho khách thể được Luật hình sự bảo vệ Thực tiễn cho thấy sự chống trả nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp thường xảy ra đối với các hành vi giết người chưa đạt, hành vi xâm hại quyền bất khả xâm phạm về thân thể con người, hiếp dâm, cướp, Cướp giật, chống người thi hành công vụ, vi phạm công khai trắng trợt trật tự xã hội Hành vi phòng vệ chính đáng không xuất hiện đối với sự thực hiện những hành vi phạm tội vô ý hoặc ít gặp trường hợp phạm tội được thực hiện dưới hình thức không hành động phạm tội Như vậy, có sự thực hiện hành vi xâm hại các khách thê được
BLHS bảo vệ là một điều kiện làm xuất hiện quyền phòng vệ chính đáng
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
Š Vũ Mạnh Thông - Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận và tìm hiểu phần chung Bộ luật hình sự 1999, Nxb Đại học
quốc Thành Phố Hồ Chí Minh, trang 53
Trang 25
thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ
+ Sự xuất hiện quyền phòng vệ phải có thật nghĩa là sự nguy hiểm đối với lợi
ích được bảo vệ phải tồn tại khách quan chớ không phải tưởng tượng ra Thực tế điều tra xét xử gặp những trường hợp người ta đã thực hiện những hành vi chống trả do họ tưởng tượng ra có sự xâm hại đang xảy ra, nhưng thực tế không có sự xâm hại nào đang tồn tại Những trường hợp như vậy khoa học Luật hình sự và thực tiễn xét xử gọi
là phòng vệ tưởng tượng đã gây thiệt hại cho khách thể được Luật hình sự bảo vệ,
không thỏa mãn điều kiện của phòng vệ chính đáng, trách nhiệm hình sự trong trường hợp này được xác định như hành vi thực hiện trong tình trang sai lầm thực tế
+ Nếu tình huống cụ thể của sự việc đưa đến cho người gây ra thiệt hại có đầy
đủ cơ sở làm cho họ tưởng tượng rằng ở vào tình thế bị tấn công thực tế, và trong trường hợp ấy họ không nhận thức được và không thê nhận thức được tính chất sai lâm trong sự đánh giá của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự
+ Nếu người gây thiệt hại do phòng vệ tưởng tượng tuy không nhận thức được
sự xâm hại không có trên thực tế nhưng với tất cả các tình tiết của vụ án họ cần phải biết và có thê biết được điều này thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cỗ ý
+ Su chong trả (hay bảo vệ) chỉ có thể được thừa nhận là hợp pháp nếu được thực hiện trong khoảng thời gian được phép phòng vệ Khoảng thời gian được phép
phòng vệ chính đáng được giới hạn bởi thời điểm bắt đầu và kết thúc sự xâm hại (hay
sự tấn công) Khi sự xâm hại đang thực tế diễn ra mà thực hiện hành vi chống trả thì
đó là kịp thời, đúng lúc Hành vi xâm hại phải có tính hiện tại, tức là hành v1 đó đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra ngay tức khắc mà chưa kết thúc mới trở thành cơ sở phát sinh quyền phòng vệ Thực tế xảy ra nhiều trường hợp hành vi chống trả diễn ra khi hành vi gây thiệt hại đã chấm dứt, thậm chí có khi chống trả sai đối tượng, như nghe tin người thân mình bị đã thương đã tìm người đã thương để trả thù nhưng lầm người.Trong trường hợp này khoa học Luật hình sự gọi là phòng vệ quá muộn và người phòng vệ trong trường hợp này phải chịu trách nhiệm
- Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đây lùi sự tấn công, mà còn
có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại, hành vi
chống trả không được gây thiệt hại cho người khác (ví dụ: con cái của người tấn công), ngay cả trong trường hợp bằng cách đó ngăn chặn hành vi tấn công, bảo vệ các lợi ích hợp pháp có thể đạt được hiệu quả cao, thiệt hại có thể về nhân thân có thê về tài sản
+ Nếu gây thiệt hại cho người không thực hiện hành vi xâm hại để bảo vệ lợi
ích hợp pháp trước sự đe dọa của nguồn nguy hiểm thực tế sẽ được đánh giá là hợp pháp, nếu thỏa mãn các điều kiện của tình thế cấp thiết quy định tại Điều 16 BLHS
Trang 26
đang thực tế diễn ra, để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, đã thực hiện hành vi gây hại
cho người không tham gia vào việc thực hiện hành vi tấn công thì vẫn đề trách nhiệm hình sự với họ được xác định:
++ Nếu người thực hiện hành vi gây thiệt hại đã nhầm người nào đó là người
tham gia tấn công thì trách nhiệm hình sự được giải quyết giống như phòng vệ tưởng
tượng (có lỗi vô ý hoặc không có lỗi)
++ Nếu gây thiệt hại cho người ngoài cuộc trong khi biết được điều này thì phải chịu trách nhiệm vẻ tội cô ý nếu không có những lý do của tình thé cấp thiết (Điều 16)
- Hành vi phòng vệ phải cần thiết so với hành vi xâm hại, tức là không phải ngang bằng, người có hành vi xâm hại bao nhiêu thì người phòng vệ chống trả lại bấy
nhiêu, cần thiết là sự thể hiện tính không thể không chống trả, không thể bỏ qua hành
vi xâm phạm các lợi ích cần bảo vệ Trong hoàn cảnh cụ thể, người có hành vi xâm phạm có thể chỉ mới đe dọa gây thiệt hại ngay tức khắc cho người phòng vệ hoặc cho người khác, nhưng người phòng vệ có thê gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe cho
người xâm hại cũng được coi là cần thiết
Ví dụ: Tâm đang dùng súng uy hiếp những người trên xe khách để cướp tài
sản, thì bị một chiến sĩ cùng trên chuyến xe có trang bị súng bên mình, chiến sĩ nỗ
súng bắn chết Tâm, hành vi của chiến sĩ đó được xem là cần thiết
Cho nên khi đã xác định hành vi chống trả là cần thiết thì thiệt hại gây ra cho người có hành vi xâm phạm dù có lớn hơn thiệt hại mà người có hành vi xâm phạm gây ra cho người phòng vệ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng có sự Thông qua đó,
để đánh giá được hành vi chống trả có cần thiết hay không phải xét tới các yếu tố như: khách thê cần bảo vệ, mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra
và do hành vi phòng vệ gây ra, vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên sử dụng Đồng thời cũng phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh đưa ra được cách chống trả hợp lý phù hợp với quyền phòng vệ của họ
2.4 Các loại phòng vệ chính đáng
Hành vi xâm hại phải có tính hiện tại, tức là hành vị đó đang xảy ra hoặc xảy ra ngay tức khắc mà chưa kết thúc mới trở thành là cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ
Nhưng hành vi chống trả đã diễn ra khi hành vi gây thiệt hại đã chấm dứt, thậm chí có
khi chống trả sai đối tượng, như nghe tin người thân mình bị đã thương đã tìm người
đả thương để trả thù nhưng lầm người Trường hợp phòng vệ này, khoa học Luật hình
sự gọi là phòng vệ quá muộn
Trang 27
Ví dụ: Cường và Thái là hai người bạn học cùng lớp, cùng yêu một người tên Lan, nhưng do Thái dẻo miệng hơn đã cưa được Lan, Cường ôm hận trong lòng, trong
khi Thái không biết không đề phòng được và không có vũ khí gì trên tay, Cường đón
Thái trên đường về nhà đã dùng gậy đánh Thái, làm Thái bị thương, sau khi bỏ chạy được Thái tức giận chạy về nhà lẫy một con dao đi tìm Cường trả thù Hành vi của Thái là hành vi bị xem là phòng vệ quá muộn, vì hành vi chống trả của Thái chống lại
hành vi gây thiệt hại đã chấm đứt
Hành vi phòng vệ được tiến hành khi hành vi gây thiệt hại chưa thật sự xảy ra, không có cơ sở chứng tỏ hành vi gây thiệt hại sẽ xảy ra tức khắc Trường hợp này gọi
là phòng vệ quá sớm Ví dụ: A và B cãi nhau, thấy A hung hồ, B nghĩ rằng mình phải
ra tay trước Nghỉ thế B đã xông vào đánh A gây thương tích cho A Trường hợp này, hành vi của B bị xem là phòng vệ quá sớm
Hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến các lợi ích cần bảo vệ phải
là hành vi xảy ra trên thực tế, và hành vi chống trả là nhằm ngăn chặn hành vi tấn công, bảo vệ lợi ích bị xâm hại Hành vi phòng vệ xem là hợp pháp khi hành vi tấn công là có thật Nếu hành vi chống trả một hành vi tấn công không có thật, khoa học Luật hình sự gọi là phòng vệ tưởng tượng Tuy nhiên, ngay cả khi sự tấn công là
không có thật, sự chống trả vẫn được thực tiễn xem là phòng vệ chính đáng nếu căn cứ
vào các tình tiết khách quan của vụ việc mà nhận thay rang trong những điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể đó, người có hành vi phòng vệ không nhận thức được hoặc không thé
nhận thức được rằng không có hành vi tấn công xảy ra
Ví dụ: Hoàng và Thanh đang yêu nhau, Hoàng dẫn Thanh vào công viên chơi, Hoàng thấy một người đang nhìn mình, bỗng dưng Hoàng thấy người đó đi về phía mình, Hoàng đứng đậy đánh liên tiếp vào người đó, sau sự việc xảy ra Hoàng cho rằng
là người đó có ý định đánh mình, hành vi của Hoàng trong trường hợp thực tế này không được coI là phòng vệ và không phải là phòng vệ tưởng tượng, nên Hoàng phải chịu trách nhiệm về tội cô y gay thương tích của mình
Ví dụ: Phương và Tuấn là người yêu của nhau, cũng như thường lệ Phương đi học về Tuấn sẽ rước Phương, nhưng hôm đó Phương đứng đợi mãi mà không thấy Tuấn đến, trời tối nên Phương rat so, bồng dưng xuất hiện một người lạ đến dở trò xàm xở và cướp nữ trang của Phương, Phương vội hốt hoảng chạy về, trên đường về thì gặp Tuấn, Phương kể Tuấn nghe nên Tuấn nói “lần sau không đến trễ nữa” Tối
hôm sau, Tuấn đưa Phương đi học, đến lúc rước Phương vẻ, hai người đang đi trên
đường thì có một thanh niên đi vội về phía Phương, Phương rất sợ, Phương nói “là hắn hôm qua”, nghe Phương nói vậy Tuấn giận lên vì nó đã xàm xở người yêu mình, khi
Trang 28
thanh niên đó vừa bước tới Tuân đã dùng tay đánh liên tiếp vào mặt thanh niên đó, làm
thanh niên đó bị thương gãy hết vài chiếc răng và những vết thương ngoài da Sau sự việc xảy ra, thì thanh niên đó bảo mình là bạn từng học chung với Phương định tới
chào hỏi Phương, mà Phương không nhận ra Trong trường hợp này, hành động đi về
phía Phương của thanh niên kia, trong hoàn cảnh trời rất tối Phương không nhìn rõ và thêm lý do hôm trước cũng trên đường đó cũng có một thanh niên tới đã dở trò xàm xở
và cướp nữ trang của Phương, chính vì vậy làm cho Phương và Tuấn tin rằng anh thanh niên (từng học chung với Phương mà Phương không nhận ra) là tên cướp hôm qua Bất cứ ai trong hoàn cảnh cụ thể như vậy cũng đều tin như vậy, do đó hành vi gây thương tích của Tuần được xem là phòng vệ tưởng tượng và có cở sở nên không bị truy cứu trách nhiệm
Tóm lại, phòng vệ quá sớm, phòng vệ quá muộn và phòng vệ tưởng tượng mà không có cơ sở thực tế đều không được xem là phòng vệ chính đáng Do đó, cả ba trường hợp này không có yếu tô gì để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo cách viện
dẫn của tình tiết vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Và cả ba trường hợp này đều
phải chịu trách nhiệm hình sự
2.5 Người thực hiện
2.5.1 Về phía nạn nhân
Về phía nạn nhân: (người bị chết hoặc bị thương tích) phải là người đang có
hành vi xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, của tập thê, của cá nhân người phòng
vệ hoặc của người khác
Đang có hành vi xâm hại, được hiểu là hành vi xâm hại đã bắt đầu và chưa kết thúc Ví dụ: Huấn kề đao vào cô của Thúy kêu Thúy cởi áo ra để hắn có ý đồ xấu với Thúy Nếu hành vi chưa bắt đầu, thì mọi hành vi chống trả không được coi là hành vi phòng vệ Ví dụ: Nguyễn Văn Tân thấy Trần Nhất Văn đi cùng đám bạn, Tân mới nói
“bạn gái mày là của chung”, nghe Tân nói vậy Văn tức quá mới nói lại “mày coi chừng tao đánh mày đó con”, sau khi Tân nghe Văn nói thế, Tân lấy thanh gỗ gần đó
đập vào đầu Văn làm Văn chết tại chỗ Trường hợp hành vi xâm phạm đã kết thúc thì
mọi hành vi chỗng trả cũng không được coi là hành vi phòng vệ Ví dụ: Trong lúc giành khách, Trang giành không bằng Thủy, Trang tức Thủy đã cướp mối của mình, Thủy tức quá rút cây trâm cài trên tóc xuống rạch mạch Thủy, Thủy hoảng hốt bỏ chạy
về nhà, 4 giờ sau đó Thủy ra mua axit và đón đường Trang tạt vào mặt Trang Tuy
nhiên, trong trường hợp hành vi xâm phạm này đã kết thúc, nhưng lại có tiếp hành vi
khác của chính người đó xâm phạm đến lợi ích chính đáng cần bảo vệ thì cũng không
Trang 29
coi là hành vi xâm phạm đã kết thúc và người có hành vi chông trả vẫn được coi là
phòng vệ
Ví dụ: Tâm đánh Dũng, Dũng tức quá chạy về nhà lẫy dao, quay trở lại nhà
Tâm, chém Tâm, nhưng Tâm đỡ được, Dũng thấy vậy, vừa đánh không được Tâm,
vừa bị Tâm xô té, Dũng tức quá, Dũng liền xông tới đánh mẹ của Tâm đang nằm bệnh trên giường, nên Tâm đã dùng khúc cây ở gần đó vụt mạnh vào đầu Dũng làm Dũng ngat xiu, Tam kêu xe đưa Dũng vào bệnh viện vài hôm thì Dũng chết Trong trường hợp này, dù hành vi xâm phạm của Dũng đối với Tâm đã kết thúc khi Tâm xô Dũng té, nhưng lại tiếp theo đó là hành vi xâm phạm của Dũng đối với mẹ Tâm, vì Dũng đã xâm hại đến mẹ Tâm đang năm bệnh trên giường, để bảo vệ mẹ mình nên Tâm đã chống trả gây thiệt hại cho Tâm, cho nên hành vi của Tâm vẫn được xem là phòng vệ
chính đáng Trường hợp phòng vệ này thường bị nhầm với trường hợp phạm tội do
tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiệm trọng của nạn nhân quy định tại Điều 95 BLHS, vì người bị tấn công không phải là người bị chống trả (người
có hành vi phòng vệ) mà là người khác (người thứ ba)
Tuy nhiên, người thứ ba trong trường hợp phòng vệ có thể là người thân của mình, nhưng cũng có thê chỉ là một người không quen biết, còn trường hợp phạm tội
bị kích động về tỉnh thần, người bị xâm phạm chỉ có thể là người thân của người phạm tội Trường hợp phòng vệ này càng dễ nhằm với trường hợp phạm tội bị kích động về
tinh thần đo hành vi trái pháp luật của người khác gây ra là một tình tiết giảm nhẹ quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 46, vì người thứ ba trong trường hợp là tình tiết giảm nhẹ
có thê là người thân, nhưng cũng có thể là người không quen biết Hành vi phòng vệ
và hành vi được coi là bị kích động về tinh thần chỉ khác nhau ở tính chất và mức độ
nghiệm trọng của hành vi xâm phạm Vì vậy, về phía nạn nhân trong trường hợp phòng vệ phải là người có hành vi xâm phạm có tính chất nguy hiểm đáng kê
Mức độ đáng kể ở đây tùy thuộc vào tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm (quan hệ xã hội cần bảo vệ) Nếu quan hệ xã hội cần bảo vệ càng quan trọng bao nhiêu thì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm của nạn nhân càng nghiêm trọng bấy nhiêu Ví dụ: một người trèo tường vào nơi cất giữ tài liệu tối mật về an ninh quốc phòng được canh phòng cần thận, thì tính chất nghiêm trọng hơn
so với người trèo tường vào gia đình nông dân để trộm cắp tài sản
Mức độ đáng kế của hành vi xâm phạm còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ
nguy hiểm của hành vi tấn công của nạn nhân (người có hành vi xâm phạm) Ví dụ: hành vi dùng súng để uy hiếp hành khách trên tàu hỏa của một tên cướp nguy hiểm hơn nhiều hành vi lén lút thò tay vào túi người khác đề lẫy trộm tiền