1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN 2 - TỰ VỆ NGOẠI LỆ TRONG WTO - TS. NÔNG QUỐC BÌNH - 7 doc

27 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 426,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là: - Nhóm các nước kém phát triển nhất Least-developed countries - LDCs - Nhóm các nước đang phát triển Developing countries - Nhóm các nước có nền kinh tế chuyển đổi Economies in tr

Trang 1

Chương XII HỘI NHẬP CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

VÀ CÁC NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI

GS.TS Nguyễn Thị Mơ Trường Đại học Ngoại thương

1 1.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC THÀNH VIÊN CỦA WTO

Tính đến ngày 11/01/2007, WTO có tổng số 150 Thành viên chính thức Có thể nói WTO là tổ chức quốc tế lớn nhất đưa ra các quy định điều tiết thương mại ở phạm vi toàn cầu Các Thành viên của WTO đến từ mọi châu lục với chế độ chính trị, kinh tế, xã hội không hoàn toàn giống nhau và với trình độ phát triển không đồng đều Vì vậy, để có cách nhìn toàn diện và khách quan, để có những quy định phù hợp, WTO đã phân các Thành viên ra thành bốn nhóm nước cơ bản Đó là:

- Nhóm các nước kém phát triển nhất (Least-developed countries

- LDCs)

- Nhóm các nước đang phát triển (Developing countries)

- Nhóm các nước có nền kinh tế chuyển đổi (Economies in transition)

- Nhóm các nước phát triển (Developed countries)

Ngoài ra, tại Hội nghị Bộ trưởng của WTO (họp ở Geneva) năm

1998, lần đầu tiên người ta cũng đã bàn đến “một số nền kinh tế nhỏ bé” trong khuôn khổ của nhóm các nước đang phát triển92

Tuy nhiên, WTO không đưa ra tiêu chí để phân biệt mỗi một trong bốn nhóm nước nói trên Việc phân loại các Thành viên nói trên được tiến hành như sau:

12.1.1 Các nước kém phát triển nhất

92 Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng WTO tại Geneva năm 1998

Trang 2

Căn cứ vào những tiêu chí do Liên hiệp quốc đưa ra để xếp hạng các nước kém phát triển nhất, WTO đưa ra quan điểm là những nước nào được Liên hiệp quốc xếp hạng là nước “kém phát triển nhất” cũng được WTO đối xử như các nước kém phát triển nhất trong hệ thống WTO

Theo quy định của Ủy ban kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc (ECOSOC), để xem xét một nước có phải là nước kém phát triển nhất hay không, có thể dựa vào các chỉ số sau:

- GNP bình quân đầu người;

- Tỷ lệ sống của trẻ sơ sinh;

- Tỷ lệ biết chữ của người lớn tuổi;

- Tỷ lệ nhập trường tiểu học và trung học;

- Tỷ lệ ngành kỹ thuật chế tạo trong GDP;

- Tỷ lệ tiêu thụ điện năng bình quân đầu người;

- Tỷ lệ tập trung xuất khẩu

Các chỉ số này và danh sách các nước LDCs được ECOSOC xem xét lại 3 năm một lần Vì vậy, sau mỗi lần xem xét, số các nước LDCs có thể giảm xuống Hiện nay, các nước thuộc nhóm này chủ yếu là ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ La tinh Đó là: Angola, Afganistan, Bangladesh, Cộng hòa Trung Phi, Gambia, Guinea, Haiti, Lào, Liberia, Madagascar, Myanmar, Nepal, Somalia, Togo, Tanzania, Zambia v.v…

Khi gia nhập WTO, những nước này được hưởng những biện pháp đối xử thuận lợi mà không đòi hỏi phải có đi có lại Quyết định có lợi cho các nước LDCs, được thông qua tại Marakesh vào năm 1994, cho phép các nước này được quyền cam kết và được hưởng các ưu đãi ở chừng mực phù hợp với nhu cầu phát triển và các điều kiện về tài chính

và thương mại của họ Một số Hiệp định đa phương của WTO cũng đưa

ra các quy định dành riêng cho các nước LDCs Ví dụ, Hiệp định TRIPs cho phép các nuớc LDCs không áp dụng các quy định của Hiệp định này trong vòng 10 năm Hiệp định GATS yêu cầu các nước tạo điều kiện để các Thành viên LDCs tham gia tích cực hơn nữa vào thương mại dịch vụ toàn cầu

Trang 3

12.1.2 Các nước đang phát triển

Nhóm các nước đang phát triển (Developing countries) cũng không được xếp loại theo các tiêu chí cụ thể Để xem xét một nước có phải là một nước đang phát triển hay không, WTO dựa trên nguyên tắc

“tự nhận” Điều này có nghĩa là nếu một nước Thành viên của WTO cho rằng mình không phải là nước nằm trong nhóm các nước LDCs thì có thể

tự nhận mình là nước đang phát triển Việt Nam nằm trong nhóm các nước này

12.1.3 Các nước có nền kinh tế chuyển đổi

Các nước có nền kinh tế chuyển đổi (Economies in transition) là tên gọi được dùng để chỉ các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung nay đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Những nước này còn được các nước phát triển như Mỹ… gọi là những nền kinh tế phi thị trường Đó là các nước Xã hội chủ nghĩa ở Trung và Đông Âu hoặc Liên

Xô (cũ) trước đây Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác có xuất phát điểm từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (centrally-planned economies – CPE) cũng thuộc nhóm nước này

12.1.4 Các nước phát triển

Nhóm nước phát triển là các Thành viên của WTO còn lại ngoài

ba nhóm nước nêu trên Các nước phát triển hầu hết là Thành viên của

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) OECD được thành lập năm 1961 như tổ chức kế nhiệm của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Âu (OEEC) Tổ chức OECD còn được gọi là “câu lạc bộ của những nước giàu” Mục tiêu của OECD nói riêng và của các nước phát triển nói chung là:

- Đạt được sự tăng trưởng kinh tế và việc làm ổn định cao nhất, đồng thời tăng mức sống của các nước Thành viên trong đó vẫn phải duy trì sự ổn định về tài chính nhằm góp phần đóng góp vào sự phát triển kinh tế thế giới;

Trang 4

- Đóng góp vào sự mở rộng kinh tế vững chắc ở các nước Thành viên cũng như các nước không phải là Thành viên trong tiến trình phát triển kinh tế;

- Đóng góp vào sự mở rộng kinh tế thế giới trên cơ sở đa phương, không phân biệt đối xử phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế

Số lượng các nước phát triển (cũng đồng thời là Thành viên của OECD) hiện nay gồm: Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Bỉ, Canada, Australia, Đan Mạch, Phần Lan, Hy Lạp, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Luxembourg, New Zealand, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Bồ Đào Nha, Ailen, Iceland, Hungary, Cộng hòa Séc, Ba Lan Trong số các nước này, Ba Lan, Cộng hòa Séc và Hungary là những nước có nền kinh tế chuyển đổi mới gia nhập vào OECD: Cộng hòa Séc gia nhập tháng 12/1995 và Hungary gia nhập tháng 03/1995

Mặc dù các Thành viên của WTO được phân loại thành bốn nhóm nước nói trên, nhưng, trong thực tế, dựa vào các quy định của WTO, có thể chia bốn loại Thành viên nêu trên chủ yếu thành hai loại Thứ nhất là nhóm các Thành viên phát triển Thứ hai là nhóm các Thành viên đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi Phần trình bày dưới đây sẽ phân tích sự hội nhập của các Thành viên đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi vào WTO

1 2.ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ,VAI TRÒ CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT

TRIỂN VÀ CÁC NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI TRONG WTO

Trang 5

- Bộ máy quản lý không hiệu quả Thủ tục hành chính cồng kềnh, tiêu cực, tham nhũng

- Nguồn nhân lực chưa được đào tạo đầy đủ và chuyên nghiệp

Ở một số nước châu Phi, châu Á, sự thiếu ổn định về chính trị cũng là một đặc điểm của những nước này

Riêng đối với các nền kinh tế chuyển đổi, cơ chế quản lý kinh tế lạc hậu, quan liêu, không thích ứng với tiến trình toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại cũng có những tác động không tốt đến năng lực cạnh tranh quốc gia khi những nước này gia nhập WTO Nguyên tắc tự do hóa thương mại trên cơ sở không phân biệt đối xử khi vào “sân chơi chung WTO” cũng đang làm cho các nền kinh tế chuyển đổi đã, đang và sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức

Những đặc điểm nêu trên đã khiến cho các nước đang phát triển

và các nền kinh tế chuyển đổi ở vào các vị trí không cân bằng với các nước phát triển Vì vậy, họ phải xem xét cơ chế của WTO một cách cụ

thể hơn để đưa ra những yêu cầu của mình

12.2.2 Vị trí, vai trò

WTO được thành lập ngày 01/01/1995 trên cơ sở kế thừa và mở rộng phạm vi điều chỉnh thương mại quốc tế của Hiệp định GATT Vì vậy khi nói đến vị trí, vai trò của các Thành viên đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi trong WTO không thể không nhắc đến sự tham gia của những Thành viên này trong GATT

GATT được ký kết tại Geneva vào ngày 30/10/1947 và có hiệu lực từ tháng 01/1948 Cho đến khi WTO ra đời để thay thế GATT, GATT đã tồn tại 47 năm (1948 -1995) GATT hoạt động theo hai cơ chế Theo cơ chế thứ nhất, các nước Thành viên sẽ tiến hành, trên cơ sở hàng ngày, các hoạt động thi hành pháp luật, qui định của GATT về thương mại, thảo luận các vấn đề chung và giải quyết tranh chấp Với cơ chế thứ hai, các nước Thành viên có nghĩa vụ tham gia các vòng đàm phán để xây dựng các quy tắc, nguyên tắc, các thỏa thuận nhằm mục tiêu thúc đẩy

Trang 6

nhanh hơn quá trình tự do hóa thương mại Trong 47 năm tồn tại, GATT

đã tổ chức được 8 vòng đàm phán và càng ở những vòng đàm phán về sau, sự tham gia của các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi càng đông hơn (xem bảng 12.1)

Bảng 12.1 Các Vòng đàm phán của GATT và sự tham gia

của các nước đang phát triển

STT Tên Vòng

Số nước tham gia

1 Geneva 1947 Thuế quan 23

2 Annecy 1949 Thuế quan 13

3 Torquay 1951 Thuế quan 38

4 Geneva 1956 Thuế quan 26

93 23 nước này là: Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Bỉ, Canada, Hà Lan, Luxembourg, Na Uy, New Zealand, Tiệp Khắc, Brazil, Chilê, Ceylon (Sri Lanka), Cuba, Ấn Độ, Libăng, Pakistan, Nam Rhodesia (Zimbabwe), Syria, Nam Phi, Myanma, Trung Quốc

Trang 7

đóng vai trò, vị trí thứ yếu trong các cuộc đàm phán của GATT Điều này được giải thích ở tiếng nói của họ chưa được chú ý Trong khoảng thời gian từ năm 1948 đến trước năm 1963, các phiên đàm phán của GATT chỉ tập trung chủ yếu vào vấn đề thuế quan mà không quan tâm đến vấn

đề thể chế, quy tắc và hệ thống Các nước đang phát triển và các nền kinh

tế chuyển đổi ở thời gian này chưa quan tâm lắm đến vấn đề thuế quan vì hoạt động xuất khẩu của họ còn yếu kém Hàng hóa của họ chưa phải đối mặt với rào cản khi thâm nhập vào thị trường các nước phát triển vì thị phần còn rất nhỏ bé

Vòng đàm phán Kennedy, bắt đầu năm 1963, là bước đột phá lớn đối với các nước đang phát triển và đang chuyển đổi Với sự tham gia của 62 nước trong đó gần 2/3 là các nước đang phát triển, lần đầu tiên GATT dành hẳn nội dung đàm phán của mình là bàn về các nước đang phát triển Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng đưa ra trong Vòng đàm phán này là phải “thông qua các biện pháp nhằm mở rộng thương mại của các nước đang phát triển và coi đó là phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế của các nước này”

Vòng đàm phán Tokyo với số lượng các nước Thành viên là 102, trong đó 2/3 là các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi

Sự tham gia ngày càng đông hơn về số lượng của các nước đang phát triển trong vòng đàm phán này đã đưa đến kết quả là các Thành viên của GATT đã thông qua một quyết định liên quan đến các nước đang phát triển Đó là những quy định của GATT về đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển, các nước kém phát triển nhất và các nền kinh tế chuyển đổi

Đây là thành công của các nước đang phát triển Điều này cho thấy

vị trí của các nước đang phát triển ngày càng được chú ý và các nước phát triển đã không thể bỏ qua các yêu cầu của các nước đang phát triển

Vòng Uruguay với sự tham gia của 123 nước, chủ yếu là các nước đang phát triển Sự tham gia đông đảo của các nước đang phát triển trong Vòng Uruguay đã có những tác động nhất định khi Vòng này kết thúc sau 8 năm đàm phán, với sự ra đời của WTO Với sự ra đời của WTO, đến nay, Thành viên của WTO đã là 150, trong đó 3/4 Thành viên là các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi ở mọi châu lục Điều

Trang 8

này cho thấy vị trí, vai trò của các nước đang phát triển trong WTO ngày càng lớn mạnh Tiếng nói của các nước này cũng như sự ảnh hưởng của

họ trong các cuộc đàm phán của WTO ngày càng được khẳng định

Vị trí, vai trò của các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi thể hiện ở sự tham gia ngày càng đông của những nước này trong WTO: trong tổng số 150 Thành viên thì các Thành viên đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi là 111, chiếm 75,33% (xem bảng 12.2) Trong số đó, các nước đang phát triển ở khu vực tiểu vùng Sahara (châu Phi) là 37 nước, ở Mỹ Latinh và Caribê là 32 nước, ở châu Âu và Trung Á là 17 nước, ở Đông Á và Thái Bình Dương là 12 nước, ở Trung Đông và Bắc Phi là 6 nước và ở Nam Á là 6 nước94 Sự tham gia ngày càng đông của các nước này từ mọi châu lục trong WTO đã làm thay đổi

mục tiêu của WTO so với GATT Đó là mục tiêu WTO phải “nỗ lực tích

cực để bảo đảm rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của các quốc gia đó”95

Bảng 12.2 Các Thành viên của WTO và ngày kết nạp

(Đã trở thành Thành viên chính thức của WTO tính đến ngày

30/08/2007, xếp theo thứ tự ABC tiếng Việt)

Ngày kết nạp

95 Lời nói đầu của Hiệp định Marakesh thành lập WTO Bộ Thương mại, Kết quả

Vòng đàm phán Uruguay về hệ thống thương mại đa biên, NXB Thống kê, Hà Nội

2000, tr.5

Trang 10

Trung Quốc 01/01/2002 122 Rwanda 22/05/1996

48 Đan Mạch 01/01/1995 123 Saint Kitts và

Nevis 21/02/1996

49 Djibouti 31/05/1995 124 Saint Lucia 01/01/1995

50 Dominica 01/01/1995 125 Saint Vincent

Trang 11

58 Georgia 14/06/2000 133 Swaziland 01/01/1995

59 Ghana 01/01/1995 134 Tanzania 01/01/1995

60 Grenada 22/02/1996 135 Tây Ban Nha 01/01/1995

61 Guatemala 21/07/1995 136 Thái Lan 01/01/1995

cụ thể là WTO đã phải đưa ra quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt dành riêng cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi Đối xử đặc biệt và khác biệt này thường mang tính giảm nhẹ so với những nghĩa vụ, cam kết chung mà WTO quy định Ví dụ như được miễn không phải thực hiện nghĩa vụ; mức độ cam kết thấp hơn; thời gian thực

Trang 12

hiện dài hơn v.v…Dưới đây sẽ phân tích cụ thể các quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt mà WTO đã dành cho các nước LCDs và các nền

kinh tế chuyển đổi

1 3.CÁC QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT VÀ KHÁC

BIỆT DÀNH CHO CÁC THÀNH VIÊN ĐANG PHÁT TRIỂN

VÀ CÁC NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI

Các quy định của WTO về đối xử đặc biệt và khác biệt (Special and Differential Treatment – S&D) dành cho các Thành viên đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi được chia thành ba nhóm chính Nhóm thứ nhất là những quy định, theo đó các Thành viên của WTO, đặc

biệt là các Thành viên phát triển phải áp dụng các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại của các Thành viên đang phát triển và các

nền kinh tế chuyển đổi Nhóm thứ hai là các quy định cho phép các

Thành viên đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi được hưởng sự linh hoạt trong việc chấp nhận các nghĩa vụ do WTO và các hiệp định

của WTO quy định Nhóm thứ ba là những quy định yêu cầu các Thành

viên của WTO phải có sự hỗ trợ kỹ thuật để giúp các Thành viên đang

phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi nâng cao năng lực cạnh tranh

Phần phân tích cụ thể dưới đây sẽ giúp làm rõ ba nhóm quy định nói trên của WTO về S&D dành cho các Thành viên đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi

12.3.1 Nhóm các biện pháp S&D để tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại của các Thành viên đang phát triển và các nền kinh

tế chuyển đổi

WTO quy định rằng các Thành viên (gồm các Thành viên là những nước phát triển và cả các nước đang phát triển) phải thực thi các biện pháp S&D để tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại của các Thành viên đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi có thể có được những lợi ích khi tham gia vào WTO

Các biện pháp này được chia thành:

Trang 13

12.3.1.1 Các biện pháp đơn phương của các nước phát triển cho phép nhập khẩu hàng hóa từ các nước đang phát triển trên cơ sở

ưu đãi

Các biện pháp đơn phương mà các nước phát triển dành cho hàng hóa của các nước đang phát triển được nhập khẩu trên cơ sở ưu đãi và các nước phát triển gồm Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (Hệ thống GSP), những đối xử ưu đãi hơn đối với các nước kém phát triển và những thỏa thuận tạo điều kiện tiếp cận thị trường ưu đãi cho một số nước đang phát triển nhất định

- Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)

Hệ thống GSP là biện pháp đơn phương do các nước phát triển đưa ra để áp dụng dành riêng cho các nước đang phát triển Hệ thống GSP quy định rằng, hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển sẽ được hưởng chế độ miễn thuế nhập khẩu (thuế suất thuế nhập khẩu bằng 0) hoặc hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi Hệ thống GSP sẽ được

áp dụng khi các nước phát triển nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp và một số sản phẩm nông nghiệp từ các nước đang và kém phát triển Nếu được hưởng Hệ thống GSP, hàng công nghiệp của các nước này sẽ có khả năng cạnh tranh khi thâm nhập vào thị trường các nước phát triển

Tuy nhiên, vì Hệ thống GSP là các biện pháp có tính chất đơn phương do các nước phát triển đưa ra nên cũng chính vì vậy, Hệ thống GSP lại bị chính các nước phát triển đặt ra một số điều kiện hạn chế Ví

dụ, các nước phát triển thường quy định rằng hàng nhập khẩu theo một

số lượng nhất định trong hạn ngạch mới được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi của Hệ thống GSP; Số lượng hàng nhập khẩu vượt quá ngạch có thể

sẽ bị tính thuế trên cơ sở MFN; Những nước đang phát triển đã trở nên

có khả năng cạnh tranh hoặc những nước đang phát triển đã chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn sẽ không được hưởng các ưu đãi này nữa

Bên cạnh đó, một số nước phát triển cũng đã sử dụng Hệ thống GSP như một vũ khí chính trị để đối phó lại các nước có chế độ chính trị

- xã hội đối lập với mình Ví dụ, Hoa Kỳ quy định rằng Hệ thống GSP chỉ dành cho những nước đang và kém phát triển có nền kinh tế thị trường Như vậy, quy định này đã loại bỏ các nước đang và kém phát

Ngày đăng: 13/08/2014, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 12.1. Các Vòng đàm phán của GATT và sự tham gia - HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN 2 - TỰ VỆ NGOẠI LỆ TRONG WTO - TS. NÔNG QUỐC BÌNH - 7 doc
Bảng 12.1. Các Vòng đàm phán của GATT và sự tham gia (Trang 6)
Bảng 12.2. Các Thành viên của WTO và ngày kết nạp - HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN 2 - TỰ VỆ NGOẠI LỆ TRONG WTO - TS. NÔNG QUỐC BÌNH - 7 doc
Bảng 12.2. Các Thành viên của WTO và ngày kết nạp (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w