Theo Baumol, nới lỏng việc thâm nhập hay rút khỏi thị trường không có bất kỳ rào cản chống cạnh tranh nào từ phía Chính phủ và tư nhân sẽ mang lại hiệu quả, thậm chí ngay cả khi chỉ có r
Trang 1Phần thứ Hai
NHỮNG PHÁT TRIỂN MỚI CỦA
HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐA PHƯƠNG
Trang 3Chương IX CÁC VẤN ĐỀ MỚI NỔI TRONG HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐA PHƯƠNG
PGS.TS Trần Đình Thiên Viện Kinh tế Việt Nam
9.1.THỊ TRƯỜNG CHẤP NHẬN CẠNH TRANH
(CONTESTABILITY OF MARKET)
Vòng đàm phán Uruguay kết thúc thành công vào năm 1994 và
việc hình thành WTO vào 01/01/1995 đánh dấu sự mở rộng chưa từng có
của thương mại quốc tế Điều này đặt WTO trước nhiều thách thức mới,
trong đó có việc định hình chính sách thương mại tương lai khi xét tới
khả năng chấp nhận cạnh tranh quốc tế của thị trường
9.1.1 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh
không hoàn hảo và thị trường chấp nhận cạnh tranh (hay thị trường
được kiểm định)
9.1.1.1 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là loại thị trường mang đặc tính:
(i) Nhiều hãng và nhiều người mua, mỗi hãng và người mua đều đủ nhỏ
và không thể chi phối giá cả giao dịch; (ii) Sản phẩm của các hãng là
đồng nhất; (iii) Các hãng được tự do gia nhập và thoát khỏi thị trường;
(iv) Người bán và người mua có ý thức hoàn toàn về thị trường
Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, người bán có thể không
kiểm soát giá bán, mà giá cả do các điều kiện cung và cầu của thị trường
quyết định Mỗi hãng sản xuất một khối lượng nhỏ trong tổng sản lượng,
nên việc tăng hay giảm sản lượng của mỗi hãng đơn lẻ không có ảnh
hưởng đến tổng cung và do đó, đến giá cả Hơn nữa, nếu xuất hiện cầu
đối với các sản phẩm đồng nhất của người bán cạnh tranh, thì không có
người bán nào có thể tăng giá của mình lên trên thời giá mà không bị mất
Trang 49.1.1.2 Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là một thị trường cạnh tranh có tính độc quyền, mang tính chất: (i) Nhiều hãng và người mua, nghĩa là, thị trường gồm có số lớn các hãng và người mua hoạt động độc lập; (ii) Các sản phẩm của các hãng là khác biệt; (iii) Các hãng được tự
do gia nhập và rút khỏi thị trường
Ngoài những khác biệt về sản phẩm ra, thì thị trường cạnh tranh không hoàn hảo rất giống với thị trường cạnh tranh hoàn hảo về mặt cấu trúc
9.1.1.3 Thị trường chấp nhận cạnh tranh
Lý thuyết về thị trường chấp nhận cạnh tranh được nhà kinh tế học William J Baumol đưa ra năm 1982 Ông cho rằng hình thức tổ chức ngành lý tưởng nhất là một thị trường chấp nhận cạnh tranh hoàn hảo (perfectly contestable market) Thị trường này có đặc điểm là không tốn chi phí gia nhập và chi phí rút khỏi thị trường Nhà sản xuất mới có thể gia nhập thị trường mà không gặp bất kỳ cản trở nào về kỹ thuật sản xuất hay về chất lượng sản phẩm Nhờ đó, họ chỉ chịu mức chi phí giống như các nhà sản xuất đã vào ngành trước đó phải chịu Theo Baumol, nới lỏng việc thâm nhập hay rút khỏi thị trường (không có bất kỳ rào cản chống cạnh tranh nào từ phía Chính phủ và tư nhân) sẽ mang lại hiệu quả, thậm chí ngay cả khi chỉ có rất ít hãng trong một ngành công nghiệp
vì khi đó các hãng sẽ buộc phải đặt giá sản phẩm của mình một cách cạnh tranh nhất, nếu không các đối thủ khác sẽ gia nhập thị trường ngay Baumol thừa nhận rằng, trên thực tế, không thể có chuyện gia nhập và rút khỏi thị trường mà không mất chi phí Do vậy, việc cải thiện khả năng chấp nhận cạnh tranh của thị trường nên được đặt là một mục tiêu quan trọng của chính sách thương mại
9.1.2 Thị trường chấp nhận cạnh tranh quốc tế:
Các lý thuyết thương mại hiện đang áp dụng khái niệm thị trường chấp nhận cạnh tranh vào khung cảnh quốc tế Các lý thuyết này coi khả
năng chấp nhận cạnh tranh quốc tế của thị trường là một mục tiêu trọng
Trang 5tâm trong đàm phán thương mại đa phương76 Đây là cách tiếp cận thị trường mới, đảm bảo tính liên kết kinh tế sâu rộng hơn những cách truyền thống “Một thị trường được gọi là chấp nhận cạnh tranh quốc tế
là thị trường, trong đó tiến trình cạnh tranh - quan hệ ganh đua giữa các hãng - không bị việc hạn chế cạnh tranh của Nhà nước và tư nhân cản trở”77 “Các hãng có thể cạnh tranh dựa trên cơ sở giá cả và khả năng cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mà thị trường có nhu cầu”78 Trên thị trường chấp nhận cạnh tranh quốc tế: (i) các điều kiện cạnh tranh cho phép tiếp cận không hạn chế đối với hàng hoá, dịch vụ, ý tưởng, vốn và doanh nhân nước ngoài; và (ii) mở cửa đầu tư và thương mại đều quan trọng như nhau Đây là hai nhân tố bổ sung cho nhau trên thị trường chấp nhận cạnh tranh
9.1.3 Các chỉ số mở cửa thị trường và công cụ của tính chấp nhận cạnh tranh quốc tế
Các chỉ số mở cửa thị trường là các chỉ số cơ bản đo lường phạm
vi mà thị trường có thể đủ chỗ cho những doanh nghiệp mới tham gia, đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động ở nước khác Có 3 phương pháp cơ bản để xây dựng các chỉ số này: (i) Đánh giá mức độ của các hàng rào thuế quan, hàng rào phi thuế quan và tương đương thuế quan; ii) Đánh giá kết quả của việc thay đổi chính sách tự do thông qua việc kiểm tra ảnh hưởng của những thay đổi đối với các dòng thương mại, mở rộng và tăng trưởng thương mại trong nội bộ ngành và (iii) Xem xét cơ cấu mở của các thành phần kinh tế trong nước cho cạnh tranh
Các yếu tố để xác định tính chấp nhận cạnh tranh quốc tế của thị trường bao gồm: thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, các điều kiện quy chế có ảnh hưởng đến nhập khẩu dịch vụ, những cản trở về cơ cấu như cản trở hệ thống phân phối, quy chế nội địa về đầu tư và cạnh tranh, các thông lệ về chống cạnh tranh tư nhân v.v…
76 Schoenbaum (1996)
77 Zampetti và Sauve (1995)
Trang 69.1.4 Hoạt động hạn chế kinh doanh (Restrictive business practices – RBP):
RBP là những hành động phản cạnh tranh của các công ty tư nhân
bị luật và chính sách cạnh tranh quốc gia cấm hoặc chỉ được phép trong trường hợp chúng chứng tỏ được là hoạt động vì lợi ích công cộng Dựa trên chuỗi cung cấp-sản xuất, người ta chia ra hai loại RBP ngang và dọc
(i) Hoạt động kinh doanh hạn chế ngang: là sự cấu kết (cartel) của nhiều hãng cùng cung cấp một loại sản phẩm để ngăn chặn những hãng ngoài nhóm thâm nhập thị trường Các hành vi “cấu kết” bao gồm: cấu kết cố định giá (thống nhất giá bán hàng, thống nhất điều kiện bán hàng, thông đồng giá, v.v…); cấu kết phân bổ thị trường (phân bổ theo địa lý, phân bổ theo phân đoạn thị trường, lần lượt thay nhau thực hiện các dự
án v.v…); và xoá bỏ những kẻ ngoài nhóm cấu kết (lập các “quỹ chiến đấu” và ép giá bán hàng để loại đối thủ, v.v…)
(ii) Hoạt động kinh doanh hạn chế dọc: là việc một hãng độc quyền hay thống trị thị trường sử dụng để phát huy lợi thế không bình đẳng về quyền lực thị trường của mình đối với các nhà cung cấp và phân phối Các hành vi kinh doanh hạn chế dọc bao gồm: Duy trì giá bán lại (hãng sản xuất cố định mức giá tại đó hãng buộc các nhà phân phối phải bán); từ chối hợp tác; đặc quyền bán hàng; đặc quyền có đi có lại (nhà phân phối chỉ bán những hàng hoá được nhận đặc quyền từ một hãng sản xuất và không bán sản phẩm của hãng khác; phân biệt đối xử về giá (duy trì các mức giá khác nhau tại các thị trường khác nhau); bán hàng có điều kiện nghiêm ngặt; duy trì giá bán chịu lỗ hoặc ép giá, v.v…
Ngoài ra, việc sáp nhập, mua lại hay liên doanh của các hãng để trở thành hãng có quyền lực thống trị thị trường cũng có thể coi là một hoạt động kinh doanh hạn chế Việc hai hãng cạnh tranh sáp nhập với nhau cũng có thể gọi là một thoả thuận cấu kết
Trang 79.2.CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI
9.2.1 Xu hướng FDI trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ
a)Tổng quan về xu hướng tiếp nhận và đầu tư FDI toàn cầu
Tổng luồng tiếp nhận FDI toàn cầu (inflow FDI) sau khi lên đến đỉnh điểm vào năm 2000 (khoảng 1400 tỷ đô la Mỹ) đã liên tục sút giảm 41% vào năm 2001; 13% năm 2002 và 12% năm 2003 Năm 2004, luồng đầu tư bắt đầu nhích dần 2% lên mức 648 tỷ đô la Sang năm 2005, tổng luồng đầu tư tăng mạnh 29% so với năm 2004 lên mức 916 tỷ đô la Mỹ FDI vào các nước phát triển bắt đầu tăng từ năm 2004, sau 3 năm liên tục sút giảm (từ 2000 đến 2003) Có 5 nước phát triển tiếp nhận FDI nhiều nhất năm 2005 là Anh, Mỹ, Pháp, Hà Lan và Canađa - chiếm 75% tổng luồng FDI của các nước phát triển FDI vào các nước đang phát triển năm 2005 đạt 334 tỷ đô la, tăng 22% so với năm 2004 Brazil, Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Mexico và Singapore là 5 nền kinh tế đang phát triển tiếp nhận nhiều FDI nhất từ năm 1996 đến nay, chiếm 48% tổng luồng đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển
Năm 2005, tổng FDI chảy ra (outflow FDI) giảm 4% xuống mức
779 tỷ đô la Mỹ (sự khác nhau giữa luồng FDI chảy ra và luồng tiếp nhận FDI là do sự khác biệt trong việc thu thập thông tin ở từng nước) Các nước phát triển vẫn là nguồn đầu tư FDI chính trên thế giới và chiếm hơn 80% tổng FDI đầu tư ra nước ngoài Các nước đang phát triển tiếp tục gia tăng 4% đầu tư FDI ra nước ngoài so với năm 2004 lên mức 117 tỷ
đô la Mỹ
b) Sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ
Trung Quốc với dân số 1,3 tỷ người, GDP năm 2005 là 2.234 tỷ
đô la Mỹ, chiếm 5,02% GDP toàn cầu Ấn Độ với dân số 1,1 tỷ người, GDP năm 2005 là 772 tỷ đô la Mỹ, chiếm 1,74% GDP toàn cầu Đây là hai yếu tố nổi bật trên cả bản đồ FDI toàn cầu
Về tình hình tiếp nhận FDI, Trung Quốc là nước tiếp nhận FDI thứ ba thế giới, sau Mỹ và Anh Trong những năm gần đây, khi FDI đổ vào các nước Đông Á như Hàn Quốc và Đài Loan đều bị sụt giảm, thì FDI đổ vào Trung Quốc vẫn liên tục tăng Năm 2002, Trung Quốc chỉ
Trang 8tiếp nhận 52 tỷ đô la Mỹ, năm 2004 tiếp nhận 60 tỷ, còn năm 2005 tăng 13% so với năm 2004, đạt 72 tỷ đô la, chiếm 7,9% tổng dòng FDI vào toàn cầu Ấn Độ tuy có giá trị FDI vào tuyệt đối ít hơn Trung Quốc (6,4
tỷ đô la) nhưng bù lại, có tốc độ tăng trưởng FDI cao (năm 2005 tăng 21% so với năm 2004)
Về tình hình đầu tư FDI ra nước ngoài, trong khi thế giới chứng kiến sự sụt giảm luồng đầu tư ra nước ngoài năm 2005 thì người khổng
lồ Trung Quốc lại nổi lên là nhân tố mới với tổng đầu tư FDI ra ngoài tăng 6 lần so với năm 2004, đạt 11 tỷ đô la Mỹ Luồng FDI ra nước ngoài của Ấn Độ tuy sụt giảm chút ít nhưng cũng đã tăng hơn 2 lần trong năm
2004 và hứa hẹn trở thành nhà đầu tư tiềm năng tương lai79
9.2.2 Phân công lao động mới (theo hình thái chuỗi giá trị gia tăng) và xu hướng phân bổ FDI toàn cầu
Hiện tại, thế giới phân công lao động theo hình thái chuỗi giá trị gia tăng Theo đó, những lao động có trình độ thấp thường được phân bổ
ở "đáy" của chuỗi (những ngành có trị giá gia tăng thấp như khai mỏ, khai thác dầu khí, nông nghiệp v.v…); còn lao động có trình độ, kỹ năng được phân bổ ở "đỉnh" chuỗi (những ngành có trị giá gia tăng cao như các ngành công nghệ cao và dịch vụ)
Sự phân bổ FDI toàn cầu cho thấy thời gian qua dòng FDI trên thế giới đã chuyển biến rõ rệt sang khu vực dịch vụ có hàm lượng trị giá gia tăng cao trong chuỗi giá trị Hiện nay, khu vực dịch vụ chiếm khoảng 60% của tổng lượng FDI toàn cầu (tương đương 4,4 ngàn tỷ USD) so với chưa tới 50% cách đây một thập niên Lĩnh vực tiếp theo thu hút FDI là các ngành chế tạo, chiếm khoảng 34% tổng số Vốn đầu tư đang hướng sang các ngành cần nhiều vốn và lao động có kỹ năng Có hai lý do cho
sự chuyển hướng này: (i) các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động suy giảm đáng kể do sự thay đổi mạnh về công nghệ; và (ii) nhiều nước đang phát triển tìm cách thu hút các nguồn đầu tư hàm lượng công nghệ
và vốn cao Các ngành kinh tế truyền thống (ví dụ các ngành trồng trọt, chăn nuôi, các ngành công nghiệp được coi là “hoàng hôn” như xi măng,
Trang 9
luyện kim, cơ khí, v.v dựa trên công nghệ cũ) ngày càng thu hút ít FDI, giảm từ 9% tổng luồng FDI toàn cầu năm 1990 xuống 6% năm 2002
9.2.3 Hiệp định về Các biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (Hiệp định TRIMs)
a) Khái niệm TRIMs
Để khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào những mục tiêu ưu tiên nào đó trong nước, các quốc gia thường xuyên áp dụng các điều kiện đầu tư Các điều kiện này có thể tác động đến thương mại được gọi là các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) Các TRIMs bị ngăn cấm bao gồm các biện pháp được minh họa tại phụ lục của của Hiệp định
về TRIMs của WTO, bao gồm: yêu cầu về tỉ lệ nội địa, yêu cầu về cán cân thương mại, các hạn chế nhập khẩu, yêu cầu về sử dụng ngoại hối và yêu cầu về tiêu thụ nội địa kéo theo các hạn chế đối với xuất khẩu
b) Hiệp định về TRIMs của WTO
Hiệp định về TRIMs của WTO có nội dung khá ngắn gọn gồm 9 Điều Và 1 phụ lục tập trung làm rõ các quy định về nghĩa vụ đối xử quốc gia tại Khoản 4, Điều III của GATT 1994 và nghĩa vụ loại bỏ chung các biện pháp hạn chế về số lượng quy định tại Khoản 1, Điều XI của GATT
1994 Đáng chú ý nhất trong phần thân của Hiệp định là các Điều 5, Điều
6 và Điều 8 quy định nghĩa vụ của các nước Thành viên phải làm gì đối với các TRIMs vi phạm Điều III.4 và X.I trên, theo đó:
- Điều 5 (Thông báo và các thỏa thuận về thời kỳ quá độ) quy định: Các nước thành viên, trong vòng 90 ngày kể từ ngày Hiệp định
WTO có hiệu lực phải thông báo cho Hội đồng thương mại hàng hóa tất
cả các TRIMs đang áp dụng không phù hợp với quy định của Hiệp định này Sau đó, kể từ khi Hiệp định WTO có hiệu lực, các nước Thành viên
phải xóa bỏ các thỏa thuận về TRIMs đã thông báo trong vòng 02 năm
đối với các nước phát triển, 05 năm đối với các nước đang phát triển và
07 năm đối với các nước kém phát triển Thời hạn 02, 05 hay 07 năm
như trên gọi là thời kỳ quá độ
- Điều 6 (Minh bạch hóa) quy định: Các Thành viên phải cam kết thực hiện nghĩa vụ về minh bạch hóa và thông báo tại Điều X của GATT
1944 về việc thực thi "Thông báo" Mỗi Thành viên phải thông báo cho
Trang 10Ban thư ký về các ấn phẩm trong đó có thể tìm thấy các biện pháp TRIMs, bao gồm cả các biện pháp được chính quyền khu vực hoặc chính quyền địa phương áp dụng tại địa phương mình Việc công bố thông tin khi có yêu cầu cũng phải được đáp một cách thiện chí
- Điều 8 (Tham vấn và giải quyết tranh chấp) quy định: các tranh chấp phát sinh từ Hiệp định này sẽ được thực hiện theo Điều XXII và Điều XXIII Hiệp định GATT 1994 và Bản Diễn giải về giải quyết tranh chấp
Như vậy, Hiệp định TRIMs của WTO có phạm vi khá hẹp quy định 2 nghĩa vụ chủ yếu là thông báo và xóa bỏ TRIMs Tuy vậy, do đây
là một Hiệp định đa phương nên nó cho phép các vấn đề đầu tư được đưa
ra đàm phán tại một diễn đàn toàn cầu
Để xem xét việc thực hiện Hiệp định TRIMs, cần làm rõ 3 khía cạnh: (i) tình hình thực thi thông báo về TRIMs của các nước thành viên; (ii) các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện Hiệp định; và (iii) các đề nghị về thời gian quá độ
(i) Tình hình thực thi thông báo về TRIMs
Theo báo cáo của Ủy ban WTO về TRIMs năm 2006, trong thời gian quy định là 90 ngày theo quy định tại Điều 5.1 của Hiệp định TRIMs, đã có 26 nước80 thông báo cho WTO về các TRIMs không phù hợp với Hiệp định Biện pháp chính sách chung nhất mà các nước này áp dụng là nội địa hóa và cân bằng ngoại hối Thống kê cho thấy nông nghiệp và công nghiệp ô tô là 2 ngành áp dụng nhiều biện pháp này nhất Cũng theo báo cáo này, tính đến nay đã có 23 nước81 đã thông báo cho WTO rằng họ không có TRIMs không phù hợp với quy định của Hiệp định Như vậy, đến nay đã hơn 10 năm (hết hạn phải xóa bỏ các TRIMs) Trong số 26 nước, chỉ có 03 nước là Bolivia, Costa Rica và El Salvado
Dominica, Ecuador, Ai Cập, Ấn Độ, Inđônêxia, Malaysia, Mexico, Nigeria, Pakistan, Peru, Philippines, Ba Lan, Rumani, Nam Phi, Thái Lan, Uganda, Uruguay và Venezuela
Honduras-1995, Israel-1996, Jamaica-1998, Jordan-2000, Maldives-1999, Mali-1997, Mauritius-1995, New Zealand-1999, Nicaragua-1996, Oman-2000, Saint Lucia-1996, Saudi Arabia-2006, Singapore-1996, Slovenia-1995, Sri Lanka-2000, Thụy Sỹ-1995, Đài Loan-
2002, Trinidad & Tobago-1996 và Zambia-1995
Trang 11có thông báo ban đầu cho WTO về các TRIMs đang áp dụng đã có sự điều chỉnh xóa bỏ các quy định nội địa về TRIMs để phù hợp với Hiệp định Báo cáo cũng chỉ rằng, để thực hiện quy định Minh bạch hóa quy định tại Điều 6 của Hiệp định, đã có 96 nước82 thông báo cho WTO các thông tin và tài liệu để có thể tìm hiểu về TRIMs tại nước họ
ii) Các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện Hiệp định
Đến nay có trường hợp Indonexia phải bảo vệ chính sách của mình trước các nước Nhật Bản, EU và Mỹ khi các nước này chỉ ra cùng một chính sách mà Indonexia áp dụng Nhật Bản, EU đệ trình thông báo chống lại Canađa Trong các yêu cầu tham vấn, ngoài việc liệt kê các biện pháp mâu thuẫn với Hiệp định TRIMs mà các nước bị đơn áp dụng, các nước nguyên đơn còn liệt kê cả các lĩnh vực khác mâu thuẫn với các điều khoản của GATT, của Hiệp định về Trợ cấp và Biện pháp trả đũa (SCM) hay Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ (TRIPs)
(iii) Các đề nghị về thời gian quá độ
Giai đoạn qúa độ để các nước phát triển xóa bỏ các TRIMs không phù hợp là ngày 31/12/1996, các nước đang phát triển là 31/12/1999 và các nước kém phát triển là 31/12/2001 Như vậy, đến nay thời hạn này đã hết nhưng vẫn còn nhiều nước (khoảng 1/3 trong số 26 nước) chưa xóa
bỏ hết các TRIMs như đã thông báo Vì vậy, một số nước đã gửi đề nghị đến WTO yêu cầu gia hạn thời gian quá độ
Các vấn đề phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiện Hiệp định TRIMs
Darussalam, Bolivia, Bulgaria, Burundi, Cameroon, Canada, Chad, Chile, China, Colombia, Costa Rica, Croatia, Cuba, Czech Republic, Dominica, Ecuador, El Salvador, Estonia, EC (bao gồm các nước thành viên), Fiji Islands, Cộng hòa Gabon, Georgia, Ghana, Haiti, Hong Kong (TQ), Iceland, Ấn Độ, Indonesia, Israel, Jamaica, Nhật Bản, Jordan, Hàn Quốc, Cộng hòa Kyrgyz, Latvia, Liechtenstein, Lithuania, Macau (TQ), Madagascar, Maldives, Mali, Malta, Mauritius, Mexico, Moldova, Mông Cổ, Namibia, New Zealand, Nicaragua, Norway, Panama, Paraguay, Peru, Philippines, Ba Lan, Qatar, Romania, Singapore, Slovak Republic, Slovenia, Nam Phi, Sri Lanka, Suriname, Thụy Sỹ, Đài Loan, Thái Lan, Trinidad and Tobago, Tunisia, Uganda và Hoa Kỳ, Uruguay, Venezuela, Zambia
Trang 12Trong quá trình thiết kế và thực thi Hiệp định TRIMs, có thể cho rằng có 06 vấn đề chính sau đã nảy sinh:
(i) Tính độc lập của Hiệp định: Hiệp định về TRIMs của WTO không có các điều khoản mang tính bắt buộc riêng mà chỉ chỉ dẫn đến các điều khoản III.4 và X.1 của GATT 1994 Điều này dẫn đến câu hỏi là liệu Hiệp định TRIMs có đủ điều kiện để đứng một mình như một Hiệp định riêng rẽ hay không?
(ii) Tính tự nguyện và sự tái phạm: Có một số ý kiến cho rằng Hiệp định TRIMs cần được sửa đổi để mang tính tự nguyện hơn là bắt buộc;
(iii) Sử dụng điều chỉnh cơ cấu như một biện pháp phòng vệ: Trong số các nước là bị đơn trong các vụ tranh chấp, nhiều nước lập luận rằng họ vi phạm TRIMs vì trong nước đang áp dụng các biện pháp điều chỉnh cơ cấu (Colombia và Indonesia) Họ yêu cầu được gia hạn để thực hiện xong các chương trình điều chỉnh cơ cấu đó Các nước nguyên đơn phát biểu lại cho rằng không nên coi điều chỉnh cơ cấu là biện pháp phòng vệ chính đáng vì nó là một phần của nghĩa vụ tự do hóa;
(iv) Thời điểm và trình tự thực hiện chính sách: Dù giai đoạn quá
độ đã hết nhưng dường như không một nước đã thông báo nào xây dựng
kế hoạch thực hiện hay các chính sách thực tế sẽ sử dụng để thực hiện việc xóa bỏ các TRIMs đã thông báo Một vấn đề khác là trình tự cải cách Khi xây dựng nghĩa vụ xóa bỏ TRIMs, Hiệp định không tính đến việc các TRIMs có ảnh hưởng như thế nào với các vấn đề khác (như chương trình nội địa hóa) trong trình tự cải cách của quốc gia;
(v) Điểm chung giữa các hiệp định Thương mại ưu đãi (PTA) và các quy tắc thương mại đa phương: Ở khía cạnh thương mại hàng hóa và dịch vụ, các cam kết trong PTA thường cao hơn các cam kết đa phương Nhưng với đầu tư, trong một số trường hợp, các điều khoản trong PTA tụt hậu hơn và mâu thuẫn với Hiệp định TRIMs
(vi) Thiếu tiêu chí cho việc gia hạn: Hiệp định TRIMs thiếu tiêu chí cho gia hạn khiến cho việc xử lý các nghĩa vụ khi thời gian quá độ đã hết hạn trở nên khó khăn
Trang 13Các cách tiếp cận để cải tiến Hiệp định TRIMs
Để đảm bảo Hiệp định TRIMs hoặc một Hiệp định khác về đầu tư
có thể thực hiện tốt trong tương lai, các vấn đề sau cần được xem xét trong quá trình cải tiến Hiệp định TRIMs:
(i) Đàm phán Hiệp định mới: đến nay chỉ có các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại được điều chỉnh tại WTO thông qua Hiệp định TRIMs Vì vậy, các cuộc đàm phán về đầu tư cần được đưa trở về vòng đàm phán chính thức (khi Doha được khởi động lại) Theo đó, có thể đàm phán một Hiệp định Đầu tư mới trên cơ sở Hiệp định TRIMs hiện tại nhưng xem xét các vấn đề đầu tư một cách toàn diện bao gồm cả các vấn đề như tiếp cận thị trường hay khái niệm FDI v.v…
(ii) Đổi mới Hiệp định TRIMs: một cách tiếp cận khác là đổi mới Hiệp định TRIMs hiện tại bằng cách bổ sung gia hạn hay giảm các nghĩa
vụ Lựa chọn này được nhiều nước ưa thích hơn việc đàm phán một Hiệp định mới vì nó tự động loại bỏ bất kỳ cuộc thảo luận nào về các vấn đề tiếp cận thị trường
(iii) Không thay đổi hiện trạng: cách tiếp cận thứ ba có thể là để nguyên Hiệp định TRIMs đến khi tất cả các Thành viên WTO thực thi đầy đủ các nghĩa vụ của họ Cách tiếp cận này có thể nhận được sự ủng
hộ của một số nước nhỏ có yêu cầu gia hạn chứ không thể được các nước phát triển đồng tình và có thể cả một số nước đang phát triển đã thực thi nghĩa vụ một cách tích cực
9.3.CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH
9.3.1 Thương mại và cạnh tranh
Ngày nay, hầu hết các nước đều nhận thấy quá trình tự do hóa thương mại quốc tế khó có thể đem lại lợi ích đáng kể nếu các nước tiếp tục áp dụng các biện pháp bảo hộ không công bằng trong nước như các hành vi chống cạnh tranh của khu vực tư nhân, sự độc quyền của các công ty lớn, đặc biệt là trong môi trường thiếu sự điều tiết của một hệ thống luật pháp chặt chẽ và công bằng Tác động tiêu cực của các hành vi