định quy định những phạm vi nhất định cho phép các nước đang và kém phát triển có thể vận dụng và tranh thủ trong quá trình điều chỉnh luật pháp trong nước như sau 37: Thứ nhất, trong kh
Trang 1định quy định những phạm vi nhất định cho phép các nước đang và kém phát triển có thể vận dụng và tranh thủ trong quá trình điều chỉnh luật
pháp trong nước như sau 37:
Thứ nhất, trong khi tất cả các Thành viên WTO là nước phát triển
phải thực hiện các nghĩa vụ bảo hộ, sở hữu trí tuệ ngay sau một năm kể
từ ngày Hiệp định thành lập WTO có hiệu lực (Điều 65.1) thì các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi được hưởng thời hạn chuyển tiếp là 5 năm, trừ các nghĩa vụ liên quan đến MFN và NT là phải
áp dụng sau thời hạn một năm nêu trên (Ðiều 65.2)
Hiệp định cho phép các nước đang phát triển kéo dài thêm thời hạn chuyển tiếp 5 năm nữa đối với văn bằng sáng chế cấp cho sản phẩm Tuy nhiên, thời hạn bổ sung này có lẽ chỉ mang tính hình thức chứ không
có ý nghĩa thực tế đối với các lĩnh vực quan trọng như dược phẩm và sản phẩm nông nghiệp, vì trên thực tế, TRIPs cho phép bảo hộ văn bằng sáng chế đối với sản phẩm và quy trình sản xuất kể từ ngày nhập hồ sơ đăng
ký văn bằng tức là ngay sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực
Thứ hai, các nước đang phát triển có thể xây dựng và áp dụng chế
độ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng có hiệu quả để bảo đảm mức độ cạnh tranh phù hợp và bảo đảm cung cấp dược phẩm và các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu cho dân Tuy nhiên, các nước này phải đáp ứng được một số điều kiện cụ thể mà chính vì lẽ đó có thể hạn chế phần nào biện pháp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế
Thứ ba, các nước đang phát triển có thể tranh thủ các điều khoản hết quyền trên phạm vi quốc tế ("international exhaustion of rights'') và
các trường hợp đặc quyền ngoại lệ để chống lại hiện tượng tập trung quyền lực thị trường trong tay một nhóm kinh doanh và thúc đẩy việc nghiên cứu và phát triển của nước mình
Thứ tư, trong một số lĩnh vực cụ thể, các nước đang phát triển có
thể đưa ra các giải pháp cụ thể hoặc biện pháp phù hợp Chẳng hạn,
37 Sở Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh, tài liệu đã dẫn
Trang 2không một điều khoản nào trong Hiệp định TRIPs loại bỏ quyền nghiên
cứu và học tập ("reverse engineering") một cách chính đáng các sản
phẩm bán dẫn và phần mềm, một phương tiện quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh và khuyến khích sáng tạo Các nước đang và kém phát
triển cũng có thể xây dựng chế độ bảo hộ Sui generis 38 thay vì chế độ bảo hộ văn bằng sáng chế đối với các giống cây trồng để bảo đảm quyền của nông dân tái sử dụng giống và bảo đảm có giống đã được bảo hộ để phục vụ mục đích nhân giống mới
Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện TRIPs Các công ty và người dân Việt Nam chưa có thói quen tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ Về phía nhà nước, tuy bị ràng buộc bởi những quy định của WTO nhưng kết cục của sự gia nhập này không phải là sự đánh đổi giữa
sự tự chủ trong chính sách và chiến lược phát triển để lấy sự tiếp cận thị trường xuất khẩu thế giới Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam vẫn có quyền hợp pháp và có sự tự chủ trong thi hành những công cụ chính sách phát triển kinh tế theo mô hình đã chọn
Hộp số 6 2 WTO: Đánh đổi sự tự chủ?
Bảo hộ sở hữu trí tuệ
WTO nhấn mạnh nguyên tắc bảo hộ các sáng chế độc quyền Cho đến nay, cũng như các nước đang phát triển, Việt Nam thường áp dụng những chính sách liên quan đến sở hữu trí tuệ sao cho các ý tưởng nước ngoài được thu hút và đưa vào sử dụng trong nước Chính sách liên quan đến sở hữu trí tuệ này đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa của các nước đi sau Do đó, các chính sách này thường hạn chế công nhận quyền sở hữu tư nhân của những người nắm giữ độc quyền sáng chế (thường là nước ngoài) và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nội địa tiếp cận sáng chế nước ngoài nhiều hơn
Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) của WTO đã hạn chế khá nhiều sự tự chủ của các nước trong chính sách liên quan đến sở hữu trí tuệ Theo đó, các nước phải cấp bằng độcc quyền quyền sáng chế cho hầu hết các lĩnh vực, với các quy định thống nhất về thời gian
38 Sử dụng hệ thống bảo hộ riêng (sui generis) nhằm tạo ra cơ chế bảo hộ thực sự phù hợp
và đầy đủ đối với giống cây trồng, dưới hình thức quy định riêng về nghĩa vụ bộc lộ, về việc nộp lưu mẫu, xin phép chủ thể nắm giữ quyền đối với giống cây trồng
Trang 3độc quyền, kiểm soát tiếp cận và sử dụng sáng chế Do đó, TRIPs là một trở ngại lớn trong việc khuyến khích chuyển giao công nghệ và phát triển công nghệ nội địa
Thế nhưng, TRIPs vẫn chừa lại một khoảng trống tự chủ lớn trong chính sách cho các nước đang phát triển Chẳng hạn, bằng việc áp đặt các luật định ràng buộc về công khai hóa và sau đó chỉ cấp bằng độc quyền sáng chế trong một lĩnh vực hạn hẹp hơn mức người chủ yêu cầu, hoặc bằng việc cho phép có các trường hợp “ngoại lệ” rộng khắp trong nghiên cứu, các nước có thể tạo điều kiện cho những đối tác nội địa “sáng chế” ra cái gần giống sáng chế đã có của nước ngoài
mà không vi phạm quy định bản quyền Ngay cả trong trường hợp bắt buộc phải cấp độc quyền sáng chế, Chính phủ vẫn có thể cho phép các chủ thể kinh tế nội địa sản xuất và phân phối hàng hóa theo độc quyền sáng chế mà không cần phải có sự đồng ý của người chủ
Nguồn: TS Phan Minh Ngọc, Khoa Kinh tế, Đại học Kyushu, Nhật Bản
đó có bảo hộ sáng chế được áp dụng cho tất cả các thành viên
Các cơ chế bảo hộ bằng sáng chế và các quyền sở hữu trí tuệ khác dành độc quyền pháp lý nhằm bảo đảm cho những nhà sáng chế thu được lợi ích do mình đầu tư vào kiến thức Mục đích là tạo ra một động lực kích thích những sáng chế trong tương lai Lợi ích được bù lại của xã hội
là làm nảy nở thêm nhiều phát sáng chế bổ ích Từ góc độ kinh tế, luôn
có sự xung đột tự nhiên giữa các độc quyền và cạnh tranh mang lại tính hiệu quả cho thị trường, diễn ra hiệu ứng tương tác giữa động lực sáng chế mà việc độc quyền tạo nên, và sự cạnh tranh tiếp cận công nghệ mới
là có lợi cho xã hội Tuy nhiên, đối với dược phẩm, sự tương tác đó lại xảy ra trong lĩnh vực y tế cộng đồng Do đó, các quyền sở hữu trí tuệ đối
Trang 4với dược phẩm có thể dẫn tới xung đột với các quyền khác, nhất là quyền được bảo vệ sức khoẻ Quyền này được thừa nhận như một quyền cơ bản của con người, và được ghi nhận trong một số hiệp ước, bao gồm Cương lĩnh của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Hiến chương của Liên hiệp quốc, Tuyên ngôn về quyền con người và Công ước về quyền của trẻ em
Quyền về y tế là quyền được hưởng thụ một số những phương tiện, hàng hóa, dịch vụ và những điều kiện cần thiết để đạt được tiêu chuẩn cao nhất có thể được về sức khỏe, bao gồm một hệ thống chăm sóc
y tế khẩn cấp trong những trường hợp tai nạn, dịch bệnh và những sự cố tương tự về sức khoẻ, cũng như việc cung cấp những dược phẩm cần thiết khi có dịch phát tán Các nước phát triển đang sở hữu nhiều sáng chế về dược phẩm cần hỗ trợ tối đa các nước thuộc thế giới thứ ba sử dụng những biện pháp linh hoạt được chế định trong TRIPs/WTO, như cấp phép bắt buộc, nhằm duy trì và mở rộng một cách bền vững các chương trình chống AIDS đã sử dụng thành công các dược liệu thế phẩm
Trường hợp HIV/AIDS ở Thái Lan 39 cho thấy việc bảo hộ sở hữu trí tuệ ngặt nghèo có thể cản trở như thế nào việc tiếp cận các dược phẩm cứu sinh và phù hợp với điều kiện kinh tế của người bệnh Nhưng vấn đề không chỉ khoanh lại trong dịch bệnh này Thái Lan cần các loại thuốc khác để chữa những bệnh như tim mạch, tiểu đường, ung thư Sự gia tăng hiện tượng kháng thuốc lây nhiễm và các bệnh kinh niên cũng đòi hỏi những thuốc mới, công hiệu, và giá cả phải chăng Nhiều thứ thuốc trong
số đó có hoặc sẽ có bằng sáng chế, do đó quá đắt cho những ai cần đến
Chính phủ các nước đang và kém phát triển cần vận dụng tối đa công cụ cấp phép bắt buộc và các công cụ bảo đảm an toàn y tế công khác nhằm cho phép người nghèo tiếp cận được các thuốc thế phẩm có thể trang trải được
39 Y tế cộng đồng lâm nguy: Hiệp định Thương mại Tự do Thái Lan - Hoa Kỳ có thể đe dọa
việc tiếp cận thuốc chữa bệnh ở Thái Lan
Trang 5Hộp 6.3 Y tế công lâm nguy Hiệp định Thương mại Tự do Thái Lan - Hoa Kỳ có thể đe dọa việc tiếp cận thuốc chữa bệnh ở Thái Lan
Thái Lan là điển hình của một nước đang phát triển có những chương trình hiệu quả để chống lại đại dịch HIV/AIDS; nước này đã đầu tư vào công cuộc phòng chống và chữa trị ngay từ đầu Hơn một triệu nam, nữ và trẻ em bị nhiễm HIV ở Thái Lan và hơn 500.000 người đã chết vì AIDS kể từ khi đại dịch bùng phát Những nỗ lực của Thái Lan trong công cuộc phòng chống dịch bệnh này đã giúp ngăn ngừa được 5 triệu người nhiễm bệnh mới, và được thừa nhận là một thành công đáng kể trong số các nước đang phát triển Thế nhưng ở Thái Lan, hàng năm vẫn có thêm 20.000 người nhiễm HIV, một nửa trong số này là những phụ nữ đã trưởng thành
Phòng tránh đại dịch HIV/AIDS lan rộng cũng có nghĩa là Thái Lan tránh được những khoản chi phí lớn hơn Cứ mỗi bath (đơn vị tiền Thái, tương đương 1/38 USD) đầu tư vào phòng bệnh trong những năm 1990, Thái Lan giảm được 43 bath trong chi phí chữa bệnh Năm 2000, Bộ Y tế Thái Lan thiết lập Chương trình quốc gia tiếp cận thuốc kháng vi rút dành cho người nhiễm HIV/AIDS (NAPHA), cung cấp rộng rãi ba loại thuốc kết hợp chống vi rút (ARV) theo một phác đồ điều trị mới Hai năm sau, các công ty dược quốc doanh (GPO) bắt đầu sản xuất loại thuốc hỗn hợp đó và có tên gọi là GPO-vir Việc sử dụng GPO-vir, bệnh nhân chỉ mất 1.200 bath (31 USD) mỗi tháng so với 18.620 baht (490 USD) nếu sử dụng hàng “hiệu” nhập từ nước ngoài
Nhờ những nỗ lực đó, Chính phủ Thái đã có khả năng cung cấp thuốc ARV cho nhu cầu ngày càng tăng của bệnh nhân Điều quan trọng nhất trong thành công này là chính phủ đã có khả năng cung cấp được thuốc thế phẩm với giá thành thấp Với việc đưa được thuốc hỗn hợp GPO-vir đến người bệnh, trong thời gian từ 2001 đến 2003, chương trình chữa trị HIV/AIDS đã tăng hơn tám lần trong lúc ngân sách chỉ tăng 40 phần trăm Nhờ có sẵn các thuốc thế phẩm (generic), Chính phủ đã có khả năng cứu chữa cho khoảng 80.000 người bị nhiễm HIV/AIDS và có kế hoạch mở rộng chương trình này trong thời gian tới
Tuy nhiên, triển vọng duy trì và mở rộng việc chữa trị cho nhiều bệnh nhân HIV/AIDS hơn nữa lại đang bị đe doạ Cùng với thời gian, ngày càng có nhiều người bệnh Thái Lan cần đến loại thuốc ARV “thế hệ thứ hai” bởi vi rút có khả năng phát triển kháng thể sau một thời gian và ARV “thế hệ thứ nhất” mất dần tác dụng (do bị nhờn thuốc) Việc sản xuất GPO-vir trong nước là hợp pháp
Trang 6bởi loại thuốc thế hệ thứ nhất này đã được phát minh trước khi Thái Lan thực thi việc bảo vệ bằng sáng chế năm 1992, và do đó, nó không chịu sự điều chỉnh về bằng sáng chế trong nước Tuy nhiên, các loại thuốc thế hệ thứ hai được phát triển mới đây của nước ngoài và được cấp bằng sáng chế tại Thái Lan có giá bình quân đắt hơn 14 lần so với thuốc thế hệ thứ nhất (!)
Như vậy, tương lai của chương trình điều trị thuốc giá rẻ ở Thái Lan sẽ
bị đe doạ nếu Hoa Kỳ thành công trong việc ép chính phủ Thái buộc phải chấp nhận những quy định ngặt nghèo hơn về bằng sáng chế và tiếp thị thuốc chữa bệnh trong các cuộc đàm phán về FTA
Theo quy định của TRIPS, luật bằng sáng chế hiện hành của Thái Lan có thể linh hoạt hạ giá dược phẩm, như cấp phép bắt buộc, có nghĩa là chính phủ có thể bỏ qua những quy định của một bằng sáng chế nào đó để đáp ứng nhu cầu sức khoẻ của người dân Theo một báo cáo gần đây của Ngân hàng thế giới, “…bằng cách cấp phép bắt buộc để hạ thấp 90 phần trăm chi phí cho phác đồ điều trị thế
hệ thứ hai, Chính phủ Hoàng gia Thái Lan có thể giảm chi tiêu ngân sách 3,2 tỷ
đô la (tương đương 127 tỷ bath) khi đến hạn thanh toán vào năm 2025”
Tuy nhiên, dường như các điều khoản trong FTA Hoa Kỳ-Thái Lan sẽ giới hạn khả năng cấp giấy phép bắt buộc của Chính phủ Thái, và do đó tạo ra một số trở ngại khác cho việc sản xuất và tiếp thị các thuốc thế phẩm Những quy định mới về quyền sở hữu trí tuệ vượt quá những nghĩa vụ của Thái Lan theo Hiệp định TRIPS và có thể ảnh hưởng tới khả năng của nước này trong việc cung cấp thuốc ARV và các dược phẩm khác với giá rẻ cho người dân
Những đề nghị của Hoa Kỳ về quyền sở hữu trí tuệ đối với thuốc chữa bệnh trong Hiệp định Thương mại tự do Hoa Kỳ - Thái Lan bao gồm các điều khoản tương tự như những điều khoản trong các hiệp định Thương mại tự do mà Hoa Kỳ kí với các nước khác Trong một số trường hợp, các điều khoản đó còn nghiêm ngặt hơn phần lớn các hiệp định trước đó , ví dụ, mở rộng phạm vi của các điều kiện về bằng sáng chế, bảo hộ các thông tin liên quan đến dữ liệu thử nghiệm, và mối quan hệ giữa việc chấp thuận tiếp thị với quy chế của bằng sáng chế Các điều khoản được thêm vào trong một số FTA của Hoa Kỳ trước đây, như những hạn chế về lý do cấp phép bắt buộc, mở rộng phạm vi của bằng sáng chế, và những giới hạn trong việc thử thách các bằng sáng chế có tiềm năng không còn hiệu lực, tất cả những điều đó sẽ hạn chế hơn nữa việc sử dụng những
sự linh hoạt quan trọng hiện hữu trong các quy định về cấp bằng sáng chế và tiếp thị dược phẩm Việc đưa thêm vào cái gọi là “TRIPS-cộng” vào FTA này gây các
Trang 7tác dộng tiêu cực tới các chương trình điều trị HIV/AIDS của Thái Lan, và hậu quả là làm cho hàng ngàn người mất cơ hội chữa bệnh một cách rẻ tiền và hiệu quả
Quy định pháp luật trước đây của Việt Nam về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đã phù hợp với yêu cầu của các điều ước quốc tế (Công ước Paris) Tuy nhiên, ngoài các quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh trong Luật Cạnh tranh, trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp còn thiếu quy định cụ thể để tăng tính khả thi nhằm bảo
hộ các nhà đầu tư sáng tạo chống cạnh tranh không lành mạnh trên các thành quả sáng tạo Đồng thời, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh không được định nghĩa một cách cụ thể trong pháp luật về sở hữu công nghiệp, mà chỉ được định nghĩa một cách khái quát, cho nên khó tiên lượng được khả năng vận dụng
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cơ bản kế thừa các quy định trước đây về quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, đồng thời bổ sung một điều khoản nhằm xác định rõ những hành vi bị coi là hành vi cạnh tranh
Trang 8không lành mạnh (Điều 130) và biện pháp hành chính để xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Điều 211.3)
6.3.6 Thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Không thể có môi trường cạnh tranh lành mạnh, khi doanh nghiệp đầu tư tiền của cho phát minh, sáng chế, cải tiến mẫu mã, kiểu dáng, xây dựng thương hiệu sản phẩm, v.v lại bị doanh nghiệp khác sử dụng trái phép Nghĩa vụ bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ được quy định rõ ràng trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) Yêu cầu của TRIPs đối với hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ là:
- Luật pháp của các nước Thành viên phải có các thủ tục thực thi quyền bao gồm các biện pháp và các chế tài dân sự và hành chính, hình
sự, các biện pháp kiểm soát biên giới và biện pháp khẩn cấp tạm thời; thủ tục thực thi phải đúng đắn công bằng, không quá phức tạp, tốn kém, chậm trễ các quyết định chỉ dựa vào chứng cứ và có khả năng được xem xét lại; các quyết định hành chính theo thủ tục tư pháp
- Các thủ tục dân sự và hành chính phải đúng đắn, công bằng (quyền tham gia vụ kiện), các bên có quyền và nghĩa vụ đưa ra chứng cứ, tòa án có quyền ra lệnh chấm dứt hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ và bên thiệt hại phải được bồi thường; có các quy định về các biện pháp khác xử
lý hàng xâm phạm và nghĩa vụ bồi thường khi lạm dụng quyền kiện
- Các biện pháp khẩn cấp tạm thời: các cơ quan có thẩm quyền có quyền ban hành các lệnh cấm tạm thời; tòa án có quyền yêu cầu nguyên đơn cung cấp chứng cứ và nộp khoản tiền bảo đảm, ngăn chặn sự lạm dụng; thủ tục thông báo, ra lệnh, xem xét lại theo yêu cầu bị đơn;
- Các biện pháp kiểm soát biên giới bao gồm quyền đình chỉ thông quan hải quan; thủ tục nộp đơn và cung cấp chứng cứ; khoản bảo đảm, bảo chứng hợp lý; thủ tục xử lý hàng hóa thông quan; biện pháp bồi thường; quyền kiểm tra hàng hóa bị nghi xâm phạm; quyền chủ động thực thi của cơ quan hải quan; biện pháp đối với hàng xâm phạm nhãn hiệu
Trang 9- Các thủ tục hình sự: các Thành viên phải có đủ quy định pháp luật về thủ tục, hình phạt hình sự
Theo một số đánh giá hiện hành, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng pháp luật về sở hữu trí tuệ, nhưng vấn đề thực thi vẫn được coi là một điểm yếu cần phải khắc phục 40 trong thời kỳ hậu gia nhập WTO
Điều 61 Hiệp định TRIPs đã ghi nhận: Các Thành viên phải quy
định những thủ tục tố tụng hình sự và hình phạt cần được áp dụng ít nhất trong các trường hợp cố ý làm hàng giả nhãn hiệu hàng hoá hoặc vi phạm bản quyền với mục đích thương mại Những chế tài có thể áp dụng phải bao gồm tù giam và/ hoặc phạt tiền đủ để răn đe xâm phạm, phù hợp với mức hình phạt áp dụng đối với tội phạm có mức độ nặng nhẹ tương ứng Trong những trường hợp thích hợp, những biện pháp chế tài
có thể áp dụng cũng phải bao gồm cả việc thu giữ, tịch thu và tiêu huỷ hàng hoá vi phạm và bất kỳ nguyên liệu và phương tiện nào sử dụng chủ yếu để thực hiện tội hạm Các Thành viên có thể quy định những thủ tục hình sự và các hình phạt áp dụng cho những trường hợp khác vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trường hợp cố ý vi phạm và vi phạm với mục đích thương mại
Chính phủ cần có các biện pháp hữu hiệu trong việc chống sản xuất kinh doanh hàng giả, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của mọi chủ thể, nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý các hành vi giả mạo, đánh cắp, chiếm đoạt kết quả đầu tư sáng tạo
6.3.7 Những mối quan ngại và thách thức trong quá trình thực hiện TRIPs
- Đối với các chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ và người tiêu
Trang 10trạng hàng giả, hàng nhái Doanh nghiệp thêm thường xuyên phải lo đối phó với nạn làm hàng giả đang được toàn cầu hóa
Nạn làm giả và nhái tác động tới mọi khía cạnh kinh doanh Việc gian lận này không chỉ giới hạn trong các sản phẩm xa xỉ mà còn mở
rộng sang nhiều dòng sản phẩm tiêu dùng khác Việc làm giả và làm nhái
ngày càng hiện hữu trong đồ chơi cho trẻ em, dược phẩm, thực phẩm và
đồ uống, điều này tạo thành một mối nguy hiểm thực sự đối với khách hàng 41 Khối lượng thực phẩm giả bị thu giữ tại biên giới của EU đã tăng 200% từ 1,5 triệu trong năm 2003 lên 4,5 triệu đơn vị năm 2004 Các hàng hóa bị thu giữ bao gồm: kẹo, bánh kem xốp, kẹo cao su và thậm chí
là táo Hàng điện tử và máy tính giả thu được cũng tăng rất lớn tới 700% trong cùng thời kỳ Lợi nhuận cao, khả năng bị xử phạt thấp cộng với sự sẵn có các trang thiết bị sản xuất hiện đại tạo ra một môi trường thuận lợi cho ngành công nghiệp hàng giả quy mô lớn Nạn làm hàng giả gây tổn thất lớn cho doanh thu về thuế của Chính phủ bởi vì chúng hoạt động hoàn toàn trong thị trường ngầm Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2003
dự tính giá trị hàng giả và nhái hằng năm tới 450 tỉ Euro hay 5-7% thương mại thế giới Tại biên giới của EU, việc tịch biên 130 triệu đơn vị hàng giả, hàng nhái trong năm 2004 tăng hơn 12% so với 2003 và gần 1000% so với 1998
- Đối với các nhà sản xuất, về cạnh tranh bất bình đẳng
Điều 3 Hiệp định TRIPs (nguyên tắc đãi ngộ quốc gia) quy định
mỗi Thành viên phải dành cho các công dân của các Thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử của Thành viên đó đối với công dân của mình trong bảo hộ sở hữu trí tuệ Cạnh tranh công bằng (fair competition) thể hiện nguyên tắc "tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau” Mục tiêu chính của nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là tạo ra những điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá nội địa cùng loại
41 Markus Cornaro, Thông cáo báo chí Phái đoàn châu Âu tại Hà Nội ngày 20/3/2006
Trang 11Hiện nay ở Việt Nam do chưa có tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ, cơ quan thực thi vẫn chưa thực sự vào cuộc để áp dụng biện pháp và các chế tài đối với các hành vi vi phạm quyền cạnh tranh công bằng Tuy Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng pháp luật về sở hữu trí tuệ, nhưng vấn đề thực thi, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và vi phạm quyền cạnh tranh công bằng vẫn còn là mối lo ngại cho các chủ sở hữu của các tài sản trí tuệ khi đầu tư hoặc tiến hành các giao dịch thương mại với các đối tác tại Việt Nam
- Thực thi Hiệp định TRIPs và vấn đề đảm bảo lợi ích của các nước thành viên
Thực thi Hiệp định TRIPs là vấn đề quan trọng, thường có sự bất đồng về lợi ích giữa các nước đang phát triển và phát triển Về lâu dài, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ khuyến khích sự sáng tạo ngay tại các nước đang phát triển và có lợi đối với các nước đang phát triển Nhưng hiện nay TRIPs đang có xu hướng bất lợi cho các nước đang phát triển và kém phát triển, bởi vì các sáng chế hiện nay chủ yếu là của các nước phát triển, TRIPs bảo vệ quyền của người tạo ra sáng chế và qui định người sử dụng sáng chế phải trả tiền Trong khi đó, các nước đang phát triển lại hầu như có rất ít sáng chế, và nhu cầu của họ sử dụng thành tựu về sở hữu trí tuệ của các nước phát triển ngày càng cao
6.4 CÁC CUỘC ĐÀM PHÁN TRONG VÒNG DOHA LIÊN QUAN ĐẾN TRIPs
Tiếp tục các nhiệm vụ đàm phán được định sẵn của Vòng Uruguay và xuất phát từ sức ép đàm phán của các nước phát triển trong từng thời kỳ, Vòng Doha đang xem xét mở rộng đàm phán sang các lĩnh vực đàm phán khác Theo bản Tuyên bố Doha, hiện nay WTO đang đàm phán trên các lĩnh vực: vấn đề phát triển, nông nghiệp, dịch vụ, tiếp cận thị trường hàng phi nông sản (NAMA)42, vấn đề TRIPs, các vấn đề
42 NAMA - Non Agriculture Market Access - mở cửa thị trường hàng hóa phi nông sản, là một trong những chương trình hành động của DDA