1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN 2 - CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA WTO - 3 docx

26 474 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 443,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nghị Bộ trưởng thực thi các chức năng của WTO, đưa ra những quyết định mang tính chiến lược và quan trọng nhất như những quyết định liên quan đến mọi vấn đề trong các hiệp định Thươn

Trang 1

Hộp 1.1 Hệ thống các hiệp định của WTO

Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (Hiệp định Marrakesh) Các hiệp định Thương mại đa phương

Phụ lục 1A Các hiệp định đa phương về thương mại hàng hóa

1 Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994)

2 Hiệp định Nông nghiệp

3 Hiệp định về việc Áp dụng các biện pháp vệ sinh và Kiểm dịch động thực vật

4 Hiệp định về Hàng dệt và May mặc

5 Hiệp định về các Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại

6 Hiệp định về các Biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

7 Hiệp định về việc Thực hiện Điều VI của Hiệp định Chung về Thuế quan

và Thương mại 1994 (Hiệp định Chống bán phá giá)

8 Hiệp định về việc Thực hiện Điều VII của Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (Hiệp định Xác định Trị giá Hải quan)

9 Hiệp định về Giám định trước khi gửi hàng

10 Hiệp định về Qui tắc Xuất xứ

Phụ lục 1C Hiệp định về các Khía cạnh liên quan đến Thương mại của

Quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS) Phụ lục 2: Thỏa thuận về các qui tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp Phụ lục 3: Cơ chế rà soát chính sách thương mại

Các hiệp định Thương mại nhiều bên

1 Hiệp định về Mua bán máy bay dân dụng

2 Hiệp định về Mua sắm chính phủ

3 Hiệp định quốc tế về sản phẩm từ sữa (đã chấm dứt hiệu lực năm 1997)

4 Hiệp định quốc tế về thịt bò (đã chấm dứt hiệu lực năm 1997)

Trang 2

1.2.1.3 Chức năng của WTO

Hiệp định Marrakesh đã nêu lên các chức năng sau của WTO:

- Quản lý, điều hành việc thực thi Hiệp định Marrakesh cũng như các hiệp định Thương mại đa phương, đồng thời tạo khuôn khổ pháp lý cho việc quản lý và thực thi các hiệp định Thương mại nhiều bên

- Tạo ra diễn đàn đàm phán giữa các Thành viên về các mối quan hệ thương mại đa phương, và tạo ra những khuôn khổ chung cho việc thực hiện các kết quả đàm phán đã đạt được

- Điều hành Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp

- Điều hành Cơ chế rà soát chính sách thương mại

- Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác đặc biệt là với Quĩ Tiền

tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) nhằm đạt tới sự phối hợp tốt hơn trong việc hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu

1.2.1.4 Cơ cấu tổ chức của WTO

Về cơ cấu tổ chức, WTO có ba cơ quan chủ yếu là Hội nghị Bộ trưởng, Đại Hội đồng và Ban thư ký, trong đó Hội nghị Bộ trưởng và Đại Hội đồng là các cơ quan có quyền ra quyết định (xem Hình 1.1)

- Hội nghị Bộ trưởng Hội nghị Bộ trưởng là cơ quan quyền lực

cao nhất của WTO, gồm đại diện của tất cả các Thành viên, họp ít nhất hai năm một lần Đây là cơ quan có quyền đưa ra quyết định cao nhất của WTO Hội nghị Bộ trưởng thực thi các chức năng của WTO, đưa ra những quyết định mang tính chiến lược và quan trọng nhất như những quyết định liên quan đến mọi vấn đề trong các hiệp định Thương mại đa phương, kết nạp Thành viên mới v.v… Hội nghị Bộ trưởng còn đứng ra thành lập các ủy ban chuyên trách của mình như Ủy ban về thương mại và phát triển,

Ủy ban về các hạn chế đối với cán cân thanh toán, Ủy ban về ngân sách, tài chính và quản trị v.v…

Trang 3

Đến nay, tính đến ngày 01/08/2007, đã có tổng cộng sáu Hội nghị

Bộ trưởng Đó là Hội nghị Bộ trưởng Singapore (họp tại Singapore từ ngày 09-13/12/1996); Hội nghị Geneva (họp tại Geneva, Thụy Sĩ, từ ngày 18-20/5/1998); Hội nghị Seattle (họp tại Seattle, Hoa Kỳ, từ ngày 30/11 đến ngày 03/12/1999); Hội nghị Doha (họp tại Doha, Qatar, từ ngày 09-13/11/2001); Hội nghị Cancun (họp tại Cancun, Mêhicô, từ ngày 10-14/09/2003) và Hội nghị Hồng Kông (họp tại Hồng Kông, Trung Quốc, từ ngày 13-18/12/2005 Tại Hội nghị Doha năm 2001, WTO đã khởi xướng Vòng đàm phán mới - Vòng Doha

- Đại Hội đồng Đại Hội đồng là cơ quan chấp hành của WTO,

gồm đại diện của tất cả các Thành viên và được nhóm họp ở thời điểm cần thiết Đại Hội đồng thực hiện các chức năng của WTO giữa hai kỳ Hội nghị Bộ trưởng và thực hiện các chức năng khác được Hiệp định WTO giao phó Đại Hội đồng còn

có quyền hạn đưa ra và thông qua các qui tắc liên quan đến hoạt động của các ủy ban chuyên trách của WTO Đại Hội đồng cũng có thể kiêm chức năng là Cơ quan Giải quyết tranh chấp và Cơ quan rà soát chính sách thương mại Đại Hội đồng cũng có quyền quyết định kết nạp Thành viên mới như trường hợp cuộc họp của Đại Hội đồng quyết định kết nạp Việt Nam trở thành Thành viên của WTO vào ngày 07/11/2006

- Các Ủy ban, Hội đồng chuyên trách Cấp tiếp theo là các Hội

đồng thương mại hàng hóa, Hội đồng thương mại dịch vụ và Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Những Hội đồng này có trách nhiệm báo cáo lên Đại hội đồng Ngoài ra, còn có rất nhiều Ủy ban chuyên trách và các nhóm công tác khác nhau trực thuộc các Hội đồng như Ủy ban chống bán phá giá, Ủy ban trợ cấp và các biện pháp đối kháng, Ủy ban về môi trường, Nhóm công tác về mở cửa thị trường v.v… Sơ đồ tổ chức của WTO được trình bày chi tiết trong trang web của WTO Sơ đồ dưới đây được lấy từ nguồn của tác giả Norio Komuro

Trang 4

- Ban thư ký Mặc dù không phải là một cơ quan ra quyết định và

đơn thuần là một cơ quan hành chính nhưng Ban thư ký có vai trò rất quan trọng Nhiệm vụ chủ yếu của Ban thư ký là cung cấp các

hỗ trợ kỹ thuật và chuyên môn cho các hội đồng, các ủy ban; cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật cho các Thành viên đang phát triển; theo dõi và phân tích tình hình phát triển của thương mại thế giới; và là phát ngôn viên của WTO trước báo chí và công chúng và tổ chức các Hội nghị Bộ trưởng Đứng đầu Ban thư ký là Tổng giám đốc

do Đại Hội đồng chỉ định Ban thư ký có khoảng 600 nhân viên

Hình I.1 Sơ đồ tổ chức của WTO

Nguồn: Norio Komuro 2005 The WTO How are you? Worldbank seminar Russian Academy of State Services Moscow March/April 2005

Hội nghị Bộ trưởng

DSB (Cơ quan

Giải quyết tranh chấp)

Đại hội đồng Cơ quan rà soát

chính sách

Ủy ban Phát triển Môi trường Ngân sách v.v

Hội đồng Dịch vụ

Hội đồng TRIPs

Hội đồng Hàng hóa

Ủy ban Nông nghiệp,

BT, AD, ROO, SG v.v.

Ủy ban Tài chính v.v.

Cơ quan tố

tụng

Trang 5

1.2.2 Quá trình ra quyết định của WTO

Quá trình ra quyết định của WTO được dựa trên nguyên tắc đồng thuận Khi có một vấn đề được trình lên Hội nghị Bộ trưởng hoặc Đại Hội đồng để thông qua, nếu không một Thành viên nào có mặt có ý kiến phản đối thì có nghĩa là quyết định được thông qua trên cơ sở đồng thuận, còn gọi là nguyên tắc đồng thuận thuận

Trong trường hợp không đạt được sự đồng thuận, để quyết định một vấn đề cụ thể WTO sẽ tiến hành bỏ phiếu Tại các cuộc họp của Hội nghị Bộ trưởng và Đại hội đồng, mỗi Thành viên sẽ được bỏ một phiếu Trường hợp của Liên minh châu Âu (EU), hiện nay gồm 27 nước thành viên, số phiếu biểu quyết bằng số nước Thành viên EU cộng với bản thân

EU được coi là một Thành viên WTO thành 28 phiếu Quyết định của Hội nghị Bộ trưởng hoặc Đại Hội đồng lúc đó sẽ dựa trên đa số phiếu, trừ trường hợp quyết định của Đại Hội đồng với tư cách là Cơ quan Giải quyết tranh chấp sẽ tuân theo các điều khoản của Thỏa thuận về các qui tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp

WTO còn có những qui định cụ thể cho việc ra quyết định ở những trường hợp đặc biệt khác

1.2.3 Các nguyên tắc của hệ thống thương mại của WTO

Như đã trình bày ở phần trên, nền tảng cho sự tồn tại và vận hành của WTO là hệ thống các hiệp định Các hiệp định này có dung lượng rất lớn và bao trùm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ thương mại hàng hóa tới thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, các qui tắc giải quyết tranh chấp và rà soát chính sách thương mại Tuy nhiên, có những nguyên tắc chung xuyên suốt toàn bộ các hiệp định đó và những nguyên tắc này là các trụ cột của hệ thống thương mại đa phương Các nguyên tắc đó gồm:

1.2.3.1 Không phân biệt đối xử

Nguyên tắc không phân biệt đối xử được thực hiện thông qua hai chế độ Đó là chế độ đối xử tối huệ quốc và chế độ đối xử quốc gia

- Đối xử tối huệ quốc (MFN) Đối xử tối huệ quốc có nghĩa là

dành sự ưu đãi như nhau cho mọi đối tác Nói cách khác, nếu một

Trang 6

mức thuế thấp cho một sản phẩm nhập khẩu nào đó, hay dành cho một sự miễn trừ nào đó, thì ngay lập tức và không điều kiện các Thành viên khác cũng sẽ được hưởng sự ưu đãi đó Đây là nguyên tắc bao trùm mọi Hiệp định của WTO, đặc biệt nó được ghi thành điều khoản trong GATT, trong Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) và trong Hiệp định về các Khía cạnh Liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPs) Cụ thể:

“… bất kỳ một sự ưu đãi, ưu tiên, đặc quyền hay miễn trừ mà một bên ký kết dành cho bất kỳ sản phẩm nào có xuất xứ từ hoặc được giao đến bất kỳ nước nào khác thì ngay lập tức và không điều kiện phải được dành cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hoặc được giao đến lãnh thổ của tất cả các bên ký kết khác” (Điều I khoản 1 GATT 1947)

“Đối với bất kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi Thành viên phải ngay lập tức và không điều kiện dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác”

(Điều II khoản 1 GATS)

“Đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bất kỳ một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc miễn trừ nào được một Thành viên dành cho công dân của bất kỳ nước nào khác cũng phải được ngay lập tức và không điều kiện dành cho công dân của tất cả các Thành viên khác”

(Điều 4 khoản 1 TRIPs)

- Đối xử quốc gia (NT) Có nghĩa là phải có sự đối xử bình đẳng

giữa trong nước và nước ngoài Chẳng hạn giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu, giữa dịch vụ do các nhà cung ứng nội địa cung cấp và dịch vụ do các công ty nước ngoài cung cấp, giữa công dân hay công ty trong nước và công dân hay công

ty nước ngoài, giữa bản quyền tác phẩm của các tác giả trong nước và của các tác giả nước ngoài Tuy nhiên Chính phủ một nước chỉ có nghĩa vụ thực thi đối xử quốc gia khi một sản phẩm, dịch vụ hay một thực thể sở hữu trí tuệ của nước ngoài thực sự gia

Trang 7

nhập thị trường nước đó Cũng giống như đối xử tối huệ quốc, đối

xử quốc gia là một nguyên tắc bao trùm các hiệp định của GATT

và WTO Nguyên tắc này cũng được ghi thành điều khoản ở Điều III của GATT, Điều XVII của GATS, và Điều 3 của TRIPs

Khác với nguyên tắc đối xử tối huệ quốc điều chỉnh các biện pháp hạn chế mở cửa thị trường, nguyên tắc đối xử quốc gia hướng tới tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước

và ngoài nước Bởi vậy, đối xử quốc gia liên quan trực tiếp tới các biện pháp, luật lệ và chính sách của Chính phủ như chính sách thuế, chính sách liên quan đến tiếp cận và sử dụng các nguồn lực trong nước, qui chế đấu thầu v.v… Đây là lĩnh vực thường bị các doanh nghiệp chỉ trích và phàn nàn nhiều nhất

Thực tế trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã có những nỗ lực vượt bậc trong sửa đổi chính sách và pháp luật của mình để đảm bảo thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO Đặc biệt, nguyên tắc cơ bản này của WTO được quán triệt trong Luật Đầu tư

Việt Nam năm 2005 Điều 4 khoản 2 của Luật khẳng định: “Nhà nước

đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài” Ở Điều 10,

Chính phủ Việt Nam cam kết áp dụng giá, phí, lệ phí thống nhất đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát Điều 14 về “Quyền tiếp cận,

sử dụng nguồn lực đầu tư”, các nhà đầu tư được “bình đẳng trong việc

tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quĩ hỗ trợ; sử dụng đất đai và tài nguyên theo qui định của pháp luật” Điều 19 xác nhận quyền của

nhà đầu tư “tiếp cận, sử dụng các dịch vụ công theo nguyên tắc không

phân biệt đối xử”

WTO có đưa ra một số ngoại lệ đối với nguyên tắc không phân biệt đối xử này Các trường hợp ngoại lệ điển hình về phân biệt đối xử được GATT và các hiệp định của WTO cho phép gồm:

- Điều XIV của GATT về “Các ngoại lệ đối với qui tắc không phân biệt đối xử” cho phép phân biệt đối xử trong một số trường hợp liên quan đến áp dụng các hạn chế định lượng nhập khẩu

Trang 8

- Dựa vào “điều khoản được phép” (Enabling Clause) các nước công nghiệp phát triển đã dành cho hầu hết các nước đang phát triển Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), một loại ưu đãi thông qua giảm thuế đơn phương của nước công nghiệp cho hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, không yêu cầu có đi có lại

- Trong thương mại dịch vụ, một Thành viên có thể áp dụng một số biện pháp phân biệt đối xử được qui định trong Điều II khoản 2 của Hiệp định GATS và phù hợp với các điều kiện của Phụ lục về các miễn trừ của Điều II

- Theo Hiệp định về các Biện pháp Tự vệ, Hiệp định về trợ cấp

và các biện pháp đối kháng, Hiệp định Chống bán phá giá, trong trường hợp diễn ra thương mại không lành mạnh từ phía nước xuất khẩu, một nước nhập khẩu có thể gia tăng các rào cản thương mại (như tăng thuế và áp dụng hạn ngạch) đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước xuất khẩu đó

- Ngoài ra còn một số ngoại lệ khác được qui định trong các hiệp định khác nhau như cho phép áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với nhập khẩu nông sản, phân biệt đối xử trong cấp hạn ngạch dệt may trong Hiệp định Dệt may, ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển và các nước kém phát triển v.v…

- Qui tắc của WTO về mua sắm của Chính phủ được xem là một ngoại lệ điển hình của nguyên tắc đối xử quốc gia

1.2.3.2.Thương mại tự do hơn

Thương mại ngày càng tự do có thể nói là nguyên tắc mà GATT

và WTO theo đuổi suốt quá trình hoạt động của của mình Tự do hoá thương mại không chỉ được quán triệt trong GATT và trong các hiệp định của WTO mà còn cả trong thực tiễn hoạt động của chúng GATT và tiếp theo các hiệp định của WTO đã đưa ra các điều khoản và qui tắc nhằm ràng buộc và thúc đẩy các nước Thành viên mở cửa thị trường GATT là Hiệp định đầu tiên về cắt giảm thuế quan trong thương mại đa phương Với tám vòng đàm phán của GATT, thuế quan hàng công nghiệp đã giảm một cách căn bản Vào cuối thập niên 80 của thế kỷ 20,

Trang 9

thuế suất hàng công nghiệp ở các nước công nghiệp giảm xuống chỉ còn khoảng 6,3% Việc dỡ bỏ các rào cản phi thuế quan cũng từng bước được đưa vào đàm phán và thực thi Trước hết đó là hạn ngạch và một số hạn chế định lượng hạn chế nhập khẩu khác Tiếp theo, nhất là vào thập niên

80 của thế kỷ 20, các rào cản phi thuế quan khác đã được dỡ bỏ hoặc đưa vào điều chỉnh với các hiệp định về thương mại hàng hoá được ký kết ở Vòng đàm phán Uruguay

Vòng đàm phán Uruguay đã mở rộng tự do hoá thương mại sang các lĩnh vực mới là dịch vụ và sở hữu trí tuệ GATS đã qui định nghĩa vụ pháp lý của các Thành viên đối với các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ Bên cạnh đó TRIPs với các qui tắc về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã đưa ra một khuôn khổ pháp lý an toàn hơn cho tự do hoá thương mại

Tuy nhiên, các hiệp định của WTO không bắt buộc các Thành viên phải nhanh chóng tự do hoá thương mại Chúng không chỉ cho phép các Thành viên tiến hành cải cách và tự do hoá thương mại một cách từ

từ với các bước quá độ mà còn tạo ra một cơ chế an toàn cho cải cách Các cơ chế an toàn đó là rất nhiều điều khoản ngoại lệ cho các Thành viên đang và kém phát triển, là các ngoại lệ liên quan đến an ninh quốc gia, vệ sinh, an toàn và môi trường Ngoài ra, đó còn là các qui tắc về các biện pháp tự vệ, các biện pháp chống bán phá giá, các biện pháp đánh thuế đối kháng v.v…

1.2.3.3 Tính minh bạch: Báo cáo và giám sát

Để hướng tới tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định và có thể

dự đoán trong hệ thống thương mại đa phương, WTO yêu cầu các Thành viên phải thực thi các biện pháp để đảm bảo tính minh bạch trong hệ thống kinh tế cũng như thương mại của mình Môi trường kinh doanh như vậy giúp doanh ngHiệp định hướng một cách hiệu quả chiến lược kinh doanh trong tương lai, khích lệ họ đầu tư và nhờ đó tạo ra nhiều việc làm và góp phần nâng cao mức sống của dân cư Nguyên tắc tăng cường tính minh bạch được thể chế hóa ở Điều X của GATT và Điều III

Trang 10

của GATS Để thực hiện nguyên tắc này, WTO yêu cầu các Thành viên phải thực thi các biện pháp:

- Đưa ra các cam kết ràng buộc khi mở cửa thị trường Điều đó

có nghĩa là phải đưa ra mức trần của cam kết trong đàm phán mở cửa thị trường Ví dụ: trong thương mại hàng hoá, một nước trong đàm phán mở cửa thị trường thịt bò có thể đặt cam kết ràng buộc đối với thuế nhập khẩu thịt bò là 15% Khi cam kết mở cửa thị trường có hiệu lực, nước đó sẽ không được tăng thuế vượt mức

đó Trong thương mại dịch vụ, khi có cam kết mở cửa thị trường thì mức mở cửa thị trường không được thấp hơn mức hiện hành

và các Thành viên không được duy trì hoặc ban hành những biện pháp hạn chế được nêu trong Điều XVI của GATS

- Hạn chế áp dụng hạn ngạch, các biện pháp hạn chế định lượng

và những biện pháp khác có thể làm giảm tính minh bạch của môi trường kinh doanh Thực tế của Việt Nam cũng cho thấy áp dụng hạn ngạch với cơ chế xin - cho không minh bạch dễ dẫn đến tình trạng tiêu cực và cạnh tranh không công bằng

- Chính phủ các Thành viên phải công bố công khai và phải đảm bảo công chúng cũng như các doanh nghiệp trong và ngoài nước có thể tiếp cận dễ dàng các chính sách, các qui định, luật lệ

và thông tin liên quan đến ngoại thương

- Thành lập các cơ quan có thẩm quyền để rà soát các quyết định hành chính có ảnh hưởng đến thương mại; xem xét các yêu cầu và kiến nghị của các Thành viên khác

- Các Thành viên phải đảm bảo sự phù hợp giữa luật lệ và chính sách của mình với các hiệp định của WTO Đây là một nghĩa vụ

pháp lý của các Thành viên “Mỗi Thành viên phải bảo đảm sự

phủ hợp của các luật, các chính sách và thủ tục hành chính của mình với các nghĩa vụ được quy định tại các hiệp định ở phần phụ lục” (Điều XVI khoản 4 Hiệp định Marrakesh về thành lập Tổ

chức Thương mại Thế giới)

Trang 11

Để đảm bảo tính minh bạch, WTO có cơ chế giám sát được đưa vào Hiệp định về Cơ chế rà soát chính sách thương mại Theo cơ chế này, WTO yêu cầu các Thành viên phải thông báo cho WTO và các Thành viên khác những biện pháp, các chính sách hoặc luật lệ mà Chính phủ áp dụng để điều chỉnh thương mại (theo nghĩa rộng) Ngoài ra, WTO còn tiến hành rà soát theo định kỳ chính sách thương mại của các Thành viên Bốn thực thể thương mại lớn nhất của thế giới gồm EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Canada bị rà soát hai năm một lần 16 thực thể thương mại lớn tiếp theo sẽ bị rà soát bốn năm một lần Các Thành viên còn lại bị rà soát sáu năm một lần, trừ trường hợp có thể áp dụng một thời kỳ dài hơn đối với các Thành viên kém phát triển WTO lập ra Cơ quan Rà soát Chính sách Thương mại (TPRB) để thực thi công việc này

Nguyên tắc minh bạch là rất cần thiết cho việc thực thi các cam kết, cho việc trao đổi thông tin trong WTO Ngoài ra nó còn giúp nâng cao quyền lực của WTO đối với các Thành viên Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam cam kết đảm bảo tính minh bạch của những biện pháp, chính sách và luật lệ của mình liên quan đến thương mại

1.2.3.4 Hỗ trợ các nước đang phát triển và kém phát triển

WTO đã sớm đề ra nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) nhằm hỗ trợ các Thành viên kém phát triển, đang phát triển và cả các nền kinh tế đang chuyển đổi Trong hầu hết các hiệp định của WTO đều đưa vào các điều khoản này với các qui định cụ thể về ưu đãi cho các Thành viên kém và đang phát triển Nội dung các điều khoản đặc biệt này gồm:

- Có một thời kỳ quá độ dài hơn khi thực thi các hiệp định và cam kết của WTO;

- Có các biện pháp để gia tăng cơ hội thương mại cho các Thành viên đang phát triển;

- Mức độ cam kết thấp hơn;

- Được hỗ trợ về mặt kỹ thuật hoặc được hưởng một số ưu đãi khác như hỗ trợ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trong giải quyết tranh chấp, trong thực hiện các tiêu chuẩn kỹ thuật;

Trang 12

- Yêu cầu các Thành viên phải bảo vệ lợi ích của các Thành viên đang phát triển;

- Ngoài ra còn có các điều khoản yêu cầu các nước công nghiệp dành những ưu đãi khác cho các nước kém phát triển như đơn phương miễn thuế hoặc xóa bỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu

từ các nước kém phát triển

Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư họp tại Doha đã uỷ quyền cho Uỷ ban Thương mại và phát triển giám sát việc thực thi các điều khoản về đối xử đặc biệt và khác biệt này

1.2.4 Đàm phán gia nhập

Về nguyên tắc, tất cả các quốc gia và lãnh thổ hải quan có đầy đủ chủ quyền kinh tế trong hoạch định và thực thi các chính sách thương mại của mình đều có thể gia nhập WTO Tuy nhiên, muốn trở thành Thành viên của WTO, quốc gia hay lãnh thổ hải quan đó phải được sự đồng thuận của tất cả các Thành viên Muốn đạt được sự đồng thuận này quốc gia xin gia nhập phải tiến hành đàm phán Quá trình đàm phán xin gia nhập gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Nước xin gia nhập nộp đơn xin gia nhập

- Đại Hội đồng thành lập Ban Công tác Về nguyên tắc tất cả các Thành viên của WTO có yêu cầu đàm phán với đối tác gia nhập đều có thể là Thành viên của Ban Công tác

- Minh bạch hóa chính sách Ở giai đoạn này nước xin gia nhập phải gửi văn kiện thuyết minh toàn bộ các chính sách kinh tế và thương mại của mình có liên quan đến các hiệp định của WTO Văn kiện sẽ được Ban Công tác của WTO xem xét Ngoài ra nước xin gia nhập còn phải trả lời tất cả các câu hỏi do các Thành viên của Ban Công tác nêu ra

- Đàm phán gia nhập, bao gồm đàm phán song phương và đàm phán đa phương Đàm phán song phương là đàm phán giữa nước xin gia nhập và các Thành viên khác Sở dĩ có đàm phán song phương là do mỗi Thành viên với những đặc thù về kinh tế và

Trang 13

thương mại của mình có những yêu cầu đàm phán khác nhau Nội dung đàm phán có thể bao trùm toàn bộ các hiệp định của WTO

từ thuế quan và các rào cản phi thuế quan đối với thương mại hàng hóa đến mở cửa thị trường dịch vụ, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Do nguyên tắc không phân biệt đối xử, cam kết của nước xin gia nhập với bất kỳ một Thành viên nào cũng sẽ được áp dụng cho tất cả các Thành viên khác của WTO, kể cả những nước không tham gia đàm phán Đàm phán đa phương là đàm phán với WTO nói chung thông qua đại diện là Ban Công tác Trọng tâm của nó là đàm phán về các điều khoản gia nhập liên quan tới các quy tắc và nghĩa vụ được quy định trong các hiệp định của WTO trên 3 lĩnh vực chính là: (i) thương mại hàng hóa; (ii) quyền sở hữu trí tuệ và (iii) các vấn đề mang tính hệ thống liên quan tới thương mại dịch vụ Nội dung đàm phán đa phương tập trung vào việc xem xét các luật và thể chế chính sách của nước xin gia nhập Nếu luật lệ và thể chế chính sách của nước xin gia nhập chưa phù hợp với các hiệp định của WTO, WTO yêu cầu nước xin gia nhập phải tiến hành những sửa đổi phù hợp

- Ban Công tác soạn thảo văn kiện gia nhập Sau khi hoàn tất việc đàm phán song phương và đa phương, Ban Công tác sẽ hoàn tất bộ văn kiện trọn gói cuối cùng về các điều khoản gia nhập Bộ văn kiện này gồm: Báo cáo của Ban Công tác, Nghị định thư gia nhập, các Biểu cam kết của nước xin gia nhập và Quyết định gia nhập do Đại Hội đồng phê chuẩn

- Xem xét ra quyết định và các thủ tục pháp lý khác Bộ văn kiện trọn gói cuối cùng sẽ được trình cho Đại Hội đồng hoặc Hội nghị Bộ trưởng xem xét Nếu hai phần ba số Thành viên của WTO biểu quyết tán thành, thì WTO sẽ phê chuẩn Quyết định gia nhập Đồng thời nước xin gia nhập sẽ ký Nghị định thư gia nhập Đối với một số nước, văn kiện xin gia nhập còn phải được Quốc hội hoặc Nghị viện của nước đó thông qua Nước gia nhập sẽ chính thức trở thành Thành viên của WTO sau 30 ngày kể từ khi

Ngày đăng: 13/08/2014, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình I.1. Sơ đồ tổ chức của WTO - HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN 2 - CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA WTO - 3 docx
nh I.1. Sơ đồ tổ chức của WTO (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w