Tính đều đặn này, ngoài khía cạnh không thực tế của nó, còn đặt ra một số vấn đề khác, vì mọi cú sốc dẫn đến việc tái phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành đều làm tăng mức thù lao
Trang 14.2 Giới thiệu mô hình vi mô-vĩ mô
Giới thiệu mô hình EGC
Ma trận hạch toán xã hội (MCS) được sử dụng trong mô hình này đã được xây dựng từ
ma trận hạch toán xã hội được CIEM xây dựng cho năm 2000 (Jensen, 2004) và từ các
dữ liệu của cuộc điều tra VHLSS 2004 Trong nghiên cứu này, mức độ phân tách của
ma trận là như sau21 :
- 31 hoạt động / 31 hàng hoá (Phụ lục B) ;
- 14 yếu tố sản xuất trong đó có 12 loại lao động (nông thôn/đô thị, nam giới/nữ giới, 3 mức tay nghề) ;
- 4 nhóm tài khoản (1 hộ gia đình, 1 doanh nghiệp, Nhà nước, phần còn lại của thế giới) ;
- một tài khoản Tiết kiệm-Đầu tư
Nghiên cứu ma trận hạch toán xã hội của CIEM cho thấy tiểu ma trận về thanh toán giá trị gia tăng cho các yếu tố sản xuất - đặc biệt là thanh toán cho các loại lao động - thể hiện tính đều đặn nhân tạo (cấu trúc tương tự của các dòng giá trị gia tăng đến từ 31 hoạt động và rót vào các loại lao động khác nhau), điều này giả thiết tất cả các dòng đều
đã được định cỡ từ một cấu trúc « trung bình » khi xây dựng ma trận hạch toán xã hội Tính đều đặn này, ngoài khía cạnh không thực tế của nó, còn đặt ra một số vấn đề khác, vì mọi cú sốc dẫn đến việc tái phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành đều làm tăng mức thù lao tương ứng của các yếu tố sản xuất, và từ đó dẫn đến việc đánh giá thấp những tác động của cú sốc đó đối với tình hình phân phối thu nhập
Vấn đề phân phối thu nhập là vấn đề trung tâm của nghiên cứu này Do vậy, cần phải
« điều chỉnh » ma trận hạch toán xã hội bằng cách xây dựng một tiểu ma trận (Yếu tố sản xuất-Hoạt động) có tính thực tế hơn Công việc này thực hiện được là nhờ việc sử dụng các dữ liệu của cuộc điều tra VHLSS 2004 về đặc điểm, ngành nghề hoạt động và tiền lương của từng cá nhân Từ những thông tin này, cấu trúc của các dòng của ma trận (Yếu tố sản xuất-Hoạt động) đã được định cỡ lại nhờ một số những điều chỉnh do việc phân tách các ngành của ma trận hạch toán xã hội không tương ứng với việc phân tách các mã hoạt động của VHLSS
Mô hình Mã của mô hình được sử dụng là do CIEM cung cấp và tương ứng với mô
hình chuẩn của IFPRI (Löfgren, 2001) Mô hình này là một mô-đun vĩ mô của mô hình vĩ mô-vi mô Trong phiên bản hiện nay, mô hình này là một mô hình đa ngành tĩnh cho phép lựa chọn các thị trường các yếu tố sản xuất trong một số lượng hạn chế các cơ sở kinh tế vĩ mô và các cơ sở chuẩn (mềm dẻo hoàn toàn hoặc cứng nhắc hoàn toàn)
Mô hình cũng đã có nhiều cải thiện Các nội dung được cải thiện gồm:
- mô hình hoá ngoại thương, đặc biệt là nhu cầu xuất khẩu;
- mô hình hoá thị trường lao động, đặc biệt là đưa vào các yếu tố cứng nhắc về tiền lương (đường cong Phillips)
21 Ma trận hạch toán xã hội do CIEM xây dựng bao gồm 112 ngành, nhưng xét những vấn đề về mặt đối chiếu, cả ở tầm vĩ mô (cú sốc do CEPII cung cấp) và vi mô (dữ liệu của VHLSS), mức độ phân tách này là quá cao, và do vậy, người ta đã sử dụng cách tích hợp kém chi tiết hơn cho MCS
Trang 2Việc đưa hàm nhu cầu xuất khẩu vào mô hình cho phép tính đến thực tế là tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam trong thương mại thế giới bị ảnh hưởng bởi nhiều loại hàng rào, đặc biệt là các hàng rào phi thuế quan (hạn ngạch) trong ngành dệt Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ giúp dỡ bỏ các hàng rào này và làm tăng nhu cầu xuất khẩu (xem Phần 2) Mô phỏng tác động này có thể thực hiện được nhờ việc vận dụng các thông số của hàm nhu cầu xuất khẩu Hàm cầu xuất khẩu được lập cho mỗi sản phẩm C :
C
C
C C
C
PED
pwe qed
QED
η
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
Trong đó QEDC cầu xuất khẩu sản phẩm C
0
C
qed là cầu xuất khẩu sản phẩm C vào năm cơ sở
C
pwe là giá thế giới của sản phẩm C tính bằng tiền địa phương
C
PED là giá trong nước của sản phẩm C khi xuất khẩu
C
η là hệ số co giãn của giá so với cầu xuất khẩu sản phẩm C (Hệ số co giãn Armington)
Liên quan đến sự vận hành của thị trường lao động, mô hình mô tả một thị trường bị phân đoạn khá nhiều, vì xem xét tới 12 loại lao động Trong phiên bản chuẩn của mô hình, tỷ lệ tiền lương được kết hợp với từng yếu tố sản xuất và thị trường lao động có thể được biểu diễn theo hai cách:
- tỷ lệ lương mềm dẻo và cho phép cân bằng cung và cầu đối với mỗi loại lao động phù hợp với giả thiết sử dụng hết tất cả các yếu tố sản xuất;
- tỷ lệ lương cố định và cân bằng cung-cầu được thực hiện nhờ điều chỉnh cầu lao động phù hợp với giả thiết không sử dụng hết các yếu tố sản xuất
Việc đưa vào đường cong lương (loại đường cong Philip) cho phép đưa ra một cách biểu diễn trung gian về thị trường lao động Nói một cách cụ thể hơn, cân bằng cung-cầu được thực hiện nhờ điều chỉnh cả mức lương và cung lao động Đường cong lương được viết như sau :
(WF F) A1F A2F log( )U F A3log(WG F)
Trong đóWF F là tỷ lệ lương của yếu tố F
F
A1 , A2F và A3F là các tham số của đường cong
F
U là mức thất nghiệp của yếu tố F
F
WG là tỷ lệ lương của yếu tố F trong hàm
Liên quan đến cơ sở kinh tế vĩ mô của mô hình, có thể có nhiều sự lựa chọn Cơ sở kinh tế vĩ mô của mô hình bao gồm tổng thể các quy tắc cho phép thực hiện sự cân bằng kinh tế vĩ mô của mô hình Trong mô hình được chúng tôi sử dụng, có 3 quy tắc loại này :
1 cân bằng ngân sách có thể được thực hiện nhờ điều chỉnh tiết kiệm của Chính phủ hoặc nhờ điều chính thu ngân sách của Chính phủ;
2 cân bằng cán cân vãng lai có thể được thực hiện nhờ điều chỉnh tỷ giá hối đoái thực tế hoặc điều chỉnh tỷ lệ tiết kiệm nước ngoài;
Trang 33 cân bằng tiết kiệm-đầu tư có thể được thực hiện nhờ điều chỉnh đầu tư hoặc điều chỉnh tiết kiệm của một trong các tác nhân của mô hình
Giới thiệu mô hình mô phỏng vi mô
Các dữ liệu Xét khía cạnh vi mô, đã thống nhất xây dựng mô hình mô phỏng vi mô
thuộc loại kế toán vi mô (không có hành vi ứng xử) từ các dữ liệu của cuộc điều tra VHLSS 2004 Cơ sở kinh tế vi mô chứa đựng các cấu trúc sau:
- cấu trúc thu nhập từ tiền lương theo loại lao động (12) ;
- cấu trúc thu nhập không từ tiền lương theo ngành (31) ;
- cấu trúc thu nhập ngoài hoạt động (6) ;
- cấu trúc tiêu dùng theo loại sản phẩm (31)
Nhóm mẫu đầy đủ của cuộc điều tra VHLSS 2004 chứa khoảng 45 000 hộ gia đình, nhưng những số liệu về chi tiêu cho tiêu dùng chỉ được thu thập cho 9 000 hộ Như vậy, chỉ có 9 000 hộ gia đình này được đưa vào mô hình
Mô hình Nghiên cứu tác động của cú sốc có liên quan đối với tình hình phân phối thu
nhập dựa trên sự so sánh giữa sự phân phối chỉ số hài lòng tại năm gốc (trước cú sốc)
và sự phân phối chính chỉ số này sau cú sốc Chỉ số hài lòng được sử dụng ở đây là thu nhập theo đầu người Mô hình mô phỏng vi mô xuất phát từ sự phân phối quan sát được trong các dữ liệu VHLSS 2004 và mô phỏng một sự phân phối mới xuất phát từ việc cập nhật các loại thu nhập của các hộ gia đình dựa trên cơ sở những biến động tạo
ra từ mô hình EGC Sự cập nhật này dựa trên mô hình thu nhập sau:
Hoặc hhincpc0 thu nhập theo đầu người tại năm gốc được xác định như là tổng của của
các loại thu nhập chia cho quy mô của hộ gia đình:
hhincpc0 = (hhwageinc0 + hhselfinc0 + hhnlabinc0)/hhsize
hoặc hhwageinc0 là thu nhập từ các hoạt động có lương tại năm gốc
hhselfinc0 là thu nhập từ các hoạt động độc lập tại năm gốc
hhnlabinc0 là những khoản thu nhập ngoài hoạt động tại năm gốc
hhsize là quy mô của hộ gia đình
Cụ thể hơn, ba loại thu nhập này được thể hiện như sau
hhwageinc0 = Σ f wt0(f) ở đó f = 1 đến 12
hhselfinc0 = Σ a revb0(a) ở đó a=1 đến 31
hhnlabinc0 = revdivid0 + revtrpub0 + revtrpri0 + revremit0 + revimmob0 + revterre0
ở đó wt0(f) là thu nhập từ lương thu được từ yếu tố f tại năm gốc
revb0(a) là thu nhập từ hoạt động độc lập a tại năm gốc
revdivid0 là thu nhập từ tài sản tài chính tại năm gốc
revtrpub0 là tổng các khoản chuyển giao công cộng tại năm gốc
revtrpri0 là tổng các khoản chuyển giao tư nhân nội địa tại năm gốc
revremit0 là tổng các khoản chuyển giao tư nhân nước ngoài tại năm gốc
revimmob0 là thu nhập từ tài sản là bất động sản (trừ đất đai) tại năm gốc
revterre0 là thu nhập từ cho thuê đất tại năm gốc
Trang 4Tình toán thu nhập theo đầu người được mô phỏng dựa trên việc mô phỏng các loại thu nhập khác nhau và mô phỏng chỉ số giá đặc thù cho phép tính đến sự khác nhau về cấu trúc tiêu dùng của các hộ gia đình Mô phỏng các yếu tố thu nhập khác nhau được thực hiện dựa trên các dữ liệu của năm gốc và những biến động về giá và chất lượng do mô hình EGC sinh ra (xem danh mục các biến liên hệ vĩ mô-vi mô trong Phụ lục D)
Như đã nêu trong phần giới thiệu mô hình EGC, có thể xây dựng nhiều cơ sở cho thị trường lao động Trong trường hợp điều chỉnh thị trường lao động theo giá và theo khối lượng, thì cần phải tìm được một quy tắc cho phép phân chia ở cấp độ hộ gia đình (cấp
độ vi mô) kết quả tăng trưởng giá trị gia tăng trả công cho 12 yếu tố lao động trong các ngành khác nhau (cấp độ vĩ mô) Sự tăng trưởng này có hai thành phần: tăng khối lượng lao động và tăng lương (giá) Giải pháp được đưa ra là tính đến tỷ lệ thiếu việc làm ở cấp độ mỗi hộ gia đình để phân bổ các biến động phát sinh từ sự thay đổi khối lượng lao động Quy tắc phân bổ mức tăng thời gian lao động được trình bày trong Phụ lục C
Mô hình EGC và mô hình mô phỏng vi mô được sử dụng kết tiếp nhau:
- trước tiên, cú sốc có liên quan được mô phỏng với mô hình EGC ;
- đối với mỗi mô phỏng, mô hình này sản sinh ra một véctơ biến động một số biến nhất định ;
- các véctơ này tạo thành các cú sốc được đưa vào các mô phỏng của mô hình
mô phỏng vi mô
Tất cả các biến này cũng như sự đối chiếu giữa các biến vĩ mô và vi mô được trình bày trong Phụ lục D
4.3 Phân tích các mô phỏng
Trong phần nhỏ thứ ba, chúng tôi trình bày các kịch bản mô phỏng dựa trên mô hình mô phỏng vi mô (Bảng 15) và các kết quả chính của mô phỏng, cả trên quan điểm kinh tế vi
mô cũng như kinh tế vĩ mô (Bảng 16 đến 21)
Các kịch bản mô phỏng dựa trên mô hình
Trong khuôn khổ mô hình được sử dụng cho nghiên cứu, chúng tôi phân tích ba loại cú sốc kinh tế được coi là những cú sốc chính có thể xay ra sau khi gia nhập WTO:
- giảm thuế nhập khẩu; việc giảm thuế tương ứng với những cam kết của Việt Nam về cắt giảm bảo hộ hải quan (thuế quan hoặc phi thuế quan) ;
- tăng nhu cầu xuất khẩu sản phẩm của Việt Nam ; do các thành viên WTO cắt giảm bảo hộ tương ứng với mức độ cam kết tự do hoá của Việt Nam (đặc biệt là việc Mỹ xoá bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may) ;
- tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ; sự gia tăng này (đã quan sát được, xem Phần 1) gắn với việc cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam đối với các tập đoàn đa quốc gia sau khi Việt Nam gia nhập WTO (ít ràng buộc và hạn chế hơn đối với đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp xuất khẩu tiếp cận thị trường nước ngoài dễ dàng hơn )
Trang 5Các kịch bản 1 và 2 được định cỡ dựa trên các cú sốc ngoại sinh được mô hình hoá bởi CEPII (kết hợp các cú sốc về thuế quan và cầu xuất khẩu), tương ứng với hai loại cú sốc đầu ở trên
Bên cạnh các cú sốc đồng thời này, chúng tôi bổ sung thêm cú sốc tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp (Kịch bản 3 và 4) Sự gia tăng đầu tư nước ngoài sẽ góp phần tăng lượng vốn sẵn có trong các lĩnh vực có đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, mô hình của chúng tôi là một mô hình tĩnh, nên không có mô hình hoá trực tiếp các dòng đầu tư vốn bổ sung Các dòng đầu tư này chỉ đơn thuần là một hình thức khác của cầu trên thị trường hàng hoá Các dữ liệu về cơ cấu vốn công nghiệp ở Việt Nam cho thấy người nước ngoài nắm giữ khoảng 35% vốn trong các ngành công nghiệp Sự gia tăng gấp đôi nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sắp tới sẽ làm tăng thêm khoảng 35% lượng vốn trong các ngành công nghiệp Chúng tôi mô hình hóa cú sốc vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên cơ sở đưa vào sự gia tăng này22
Về cơ sở kinh tế vĩ mô, các quy tắc được sử dụng trong tất cả các kịch bản là các quy tắc sau :
- cân bằng tiết kiệm-đầu tư được thực hiện thông qua điều chỉnh đầu tư;
- cân bằng ngân sách được thực hiện thông qua điều chỉnh tiết kiệm của Chính phủ;
- cân bằng cán cân vãng lai được thực hiện thông qua điều chỉnh tỷ giá thực tế Mỗi mô phỏng được xem xét dưới hai giả thiết cơ sở của thị trường lao động: đủ việc làm (điều chỉnh thông qua lương) ; thiếu việc làm với tính cứng nhắc của tiền lương (điều chỉnh thông qua lương và cung lao động), phản ánh rõ hơn phương thực vận hành của thị trường lao động ở Việt Nam
Tất cả các mô phỏng đều được thực hiện cho thời hạn 5 năm kể từ năm 2004, được coi
là năm cơ sở Tất cả các kịch bản mô phỏng được giới thiệu trong Bảng 15 và các tham
số của các kịch bản này được trình bày tại Phụ lục E
22 Trên thực tế, sự gia tăng đầu tư nước ngoài không chỉ tập trung trong lĩnh vực công nghiệp và có cả dịch
vụ (văn phòng, khách sạn, du lịch ) Tuy nhiên, do không có các số liệu về tỷ lệ góp vốn nước ngoài trong các ngành này, cho nên khó đánh giá được mức gia tăng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ; do đó, chúng tôi tạm thời chỉ tính đến tác động của sự gia tăng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành công nghiệp
Trang 6Bảng 15 : Miêu tả các kịch bản mô phỏng
Cơ sở của thị trưởng lao động
Cú sốc bên ngoài Mềm dẻo
(đủ việc làm)
Cứng nhắc (thiếu việc làm với tính cứng nhắc về lương) Giảm thuế nhập khẩu và tăng nhu cầu
xuất khẩu hàng dệt may
Kịch bản 1 :
COMEXflex
Kịch bản 2 :
COMEXrig
Giảm thuế nhập khẩu và tăng nhu cầu
xuất khẩu hàng dệt may
+ Tăng 35% nguồn vốn trong các
ngành công nghiệp
Kịch bản 3 :
COMEX+flex
Kịch bản 4 :
COMEX+rig
Các kết quả mô phỏng gộp chính
Xét trên bình diện các tập hợp kinh tế vĩ mô, hai kịch bản đầu, kết hợp giữa giảm thuế hải quan và tăng nhu cầu xuất khẩu, chỉ có tác động hạn chế đối với GDP thực tế, tác động là bằng 0 trong kịch bản theo giả thiết sử dụng hết các yếu tố (trong kịch bản 1, chỉ quan sát được tác động tái phân bổ các yếu tố sản xuất) và tác động là tích cực trong kịch bản theo giả thiết không sử dụng hết các yếu tố sản xuất (Bảng 16)
Tuy nhiên, các dòng trao đổi thương mại tăng rất mạnh cùng với việc tăng kim ngạch nhập khẩu khoảng 3,6 % (tương ứng là 3,8%) và tăng kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,5% (tương ứng là 1,9%) đối với kịch bản 1 (tương ứng là 2) Sự gia tăng các dòng trao đổi thương mại này diễn ra cùng với xu hướng tăng giá của tiền đồng Việt Nam gắn với tăng nhu cầu xuất khẩu
Tác động kinh tế vĩ mô bổ sung gắn với tăng lượng vốn trong các ngành công nghiệp (kịch bản 3 và 4) dẫn đến những hệ quả tương đối rõ nét hơn: GDP thực tế tăng 2,2% (tương ứng 3,3%), trong khi kim ngạch nhập khẩu tăng 6,3% (tương ứng 7,1%) và kim ngạch xuất khẩu tăng 5,8% (tương ứng 7,0%) trong kịch bản 3 (tương ứng kịch bản 4)
Bảng 16 : Các kết quả mô phỏng – Các tập hợp kinh tế vĩ mô
Cơ sở Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
Ghi chú : Những giá trị của năm gốc được trình bày trong cột 1 Trong các cột tiếp theo, trừ trường hợp có chỉ dẫn khác, các kết quả mô phỏng được trình bày theo tỷ lệ % biến động Tỷ giá : Giảm tỷ giá tương ứng với sự tăng giá của tiền đồng
Hiện tượng tác động kinh tế vĩ mô đạt mức cao trong tất cả các kịch bản thực hiện theo giả thiết không sử dụng hết các yếu tố lao động (kịch bản 2 và 4) không có gì đáng ngạc nhiên : trong bối cảnh của cú sốc về cầu, tác động bổ sung đối với GDP thu được là do tăng tỷ lệ việc làm Cơ chế cũng diễn ra tương tự trong trường hợp tăng lượng vốn
Trang 7trong các ngành công nghiệp (kịch bản 3 và 4) : sự gia tăng này có tác động trực tiếp đến năng lực sản xuất của nền kinh tế
Liên quan đến thu nhập từ thuế (Bảng 17), việc cắt giảm thuế hải quan sẽ làm giảm
nguồn thu nhập từ thuế Xét trong giai đoạn tương lai (Ex ante), việc cắt giảm thuế hải
quan sẽ làm giảm 5,6% nguồn thu từ thuế hải quan (chiếm 0,8% ngân sách Nhà nước)
Xét trong giai đoạn quá khứ (Ex post), sự thâm hụt nguồn thu từ thuế do các biện pháp
tự do hoá được bù đắp một phần bởi xu hướng tăng khối lượng nhập khẩu (mức giảm
nguồn thu từ thuế hải quan trong giai đoạn quá khứ (ex post) chỉ là 4,0% trong kịch bản
1) và bởi việc tăng các nguồn thu từ thuế khác (với thuế suất không đổi)
Nguồn thu thuế của Việt Nam chủ yếu dựa trên các loại thuế thu nhập của các thiết chế (doanh nghiệp, hộ gia đình), hoặc ở cấp độ các ngành, lĩnh vực hoạt động (thuế giá trị gia tăng, thuế đánh vào sản xuất), hoặc thuế đối với hàng hoá tiêu dùng (thuế tiêu thụ đặc biệt) Trong khi đó, hiện tượng phân bổ lại các yếu tố gây ra bởi cú sốc giảm thuế hải quan và tăng nhu cầu xuất khẩu chỉ xảy ra trong các ngành, lĩnh vực có tỷ lệ đánh thuế tương đối cao Ngoài ra, các cú sốc này có tác động tích cực đối với thu nhập của các thiết chế, góp phần làm tăng nhẹ nguồn thu từ thuế trực thu
Bảng 17 : Các kết quả mô phỏng – Thu nhập của Nhà nước
Cơ sở Cấu trúc Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
Những chuyển giao của phần
còn lại của thế giới 202,8 2,2%
Ghi chú : Những giá trị của năm gốc được trình bày trong cột 1 Trong các cột tiếp theo, trừ trường hợp có chỉ dẫn khác, các kết quả mô phỏng được trình bày theo tỷ lệ % biến động
Phân bổ lại việc làm giữa các ngành
Ở cấp độ ngành, tác động kết hợp của việc giảm thuế hải quan và tăng nhu cầu xuất khẩu (kịch bản 1 và 2) dẫn đến việc phân bổ lại các yếu tố, tập trung vào ngành dệt (Bảng 18) Ngành dệt là ngành có nhu cầu xuất khẩu cao nhất: Việc gia nhập WTO sẽ làm tăng gần 40% nhu cầu các sản phẩm dệt của Việt Nam 23 Cú sốc về nhu cầu xuất khẩu này sẽ làm tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong ngành dệt từ 10% lên hơn 25%
23 Mô hình không phân biệt các vùng trên thế giới : các luồng trao đổi ngoại thương chỉ tập trung vào một vùng duy nhất là « Phần còn lại của Thế giới »
Trang 8tuỳ theo các kịch bản Mức tăng mạnh nhất thu được từ các kịch bản có đưa vào cú sốc
về lượng vốn (kịch bản 3 và 4), nhất là dưới giả thiết không sử dụng hết các yếu tố (kịch
bản 4)
Trong kịch bản thứ nhất, lượng lao động (và lượng vốn) là cố định trong nền kinh tế, nhưng thay đổi tuỳ theo từng lĩnh vực Cú sốc về cầu ở cấp độ ngành dẫn đến việc phân bổ lại yếu tố lao động từ các ngành khác tập trung vào ngành dệt, và do đó các ngành khác kia có hàm lượng giá trị gia tăng giảm đi (biết rằng lượng vốn là cố định trong từng ngành cũng như trên bình diện tổng thể) Xét giá trị tương đối, các ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất là ngành luyện kim và ngành sản xuất phân bón Xét giá trị tuyệt đối, các ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất là ngành dầu khí, các ngành dịch vụ khác, ngành bất động sản, ngân hàng và viễn thông Các kết quả này cũng còn nguyên giá trị dưới giả thiết không sử dụng hết yếu tố lao động (kịch bản 2) mặc dù là với tỷ lệ thấp hơn
Trang 9Bảng 18 : Kết quả mô phỏng – Giá trị gia tăng theo từng ngành
Ngành, lĩnh vực Cơ sở Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
Nhóm ngành 1 10 749 -1,4 -0,7 -1,0 0,3
Trong đó
Nhóm ngành 2 15 375 0,9 2,1 8,0 10,2
Trong đó
Nhóm ngành 3 14 592 -1,3 -0,1 1,0 2,9
Trong đó
Xây dựng
Thương mại
2287
4 124
1,8 2,2
2,4 3,4
1,7 10,6
3,6 12,9
Ghi chú : Các giá trị của năm gốc được giới thiệu trong cột 1 Trong các cột tiếp theo,
trừ trường hợp có chỉ dẫn khác, các kết quả mô phỏng được trình bày dưới dạng tỷ lệ %
biến động
Trong các ngành mở cửa mạnh nhất, trừ ngành dệt may (có nhu cầu xuất khẩu tăng rất
cao), tác động của việc giảm thuế hải quan và các cú sốc về cầu xuất khẩu (Kịch bản 1
và 2) là âm Lý do là vì đồng Việt Nam lên giá làm tăng giá của các sản phẩm không
trao đổi so với mức giá của sản phẩm trao đổi Các cơ chế này là lý do giải thích cho sự
suy giảm về giá trị gia tăng trong các ngành nông nghiệp trong 2 kịch bản đầu Ngược
lại, các sản phẩm không trao đổi, đặc biệt là thương mại và xây dựng lại được hưởng
lợi từ sự lên giá của Đồng Việt Nam
Trong 2 kịch bản cuối (3 và 4), sự gia tăng lượng vốn trong các ngành sản xuất bù đắp
lại một phần tác động tiêu cực của việc Đồng Việt Nam lên giá trong hầu hết các ngành
khác Sự gia tăng lượng vốn trong các ngành sản xuất có tác động tích cực đối với tất
cả các ngành khác, đặc biệt là các ngành cung cấp sản phẩm trung gian cho các ngành
sản xuất (xi măng, hóa chất ) Trong tất cả các kịch bản, nhóm ngành 2 (công nghiệp)
là nhóm được hưởng lợi chính từ việc gia nhập WTO, sau đó đến nhóm ngành thứ 3
(dịch vụ), với mức hưởng lợi không đáng kể
Những sự tái phân bổ lại giữa các ngành này diễn ra cùng với sự biến động về giá của
các yếu tố, đặc biệt là tỷ lệ tiền lương của các loại lao động Các số liệu trong Bảng 19
cho thấy các cú sốc được mô phỏng tạo một sức ép rất lớn đến việc tăng lương, kế cả
dưới giả thiết không sử dụng hết yếu tố lao động Trong trường hợp này, sức ép lên thị
trường lao động được giải quyết bằng việc tăng tỷ lệ tiền lương và tăng lượng lao động
Trang 10Bảng 19 : Các kết quả mô phỏng – Tỷ lệ tiền lương và nhu cầu đối với từng loại lao động
Tỷ lệ biến động (%)
Tỷ lệ tiền lương Cơ sở
Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
Nam giới
Nông thôn
Nữ giới
Nam giới
Đô thị
Nữ giới
Nhu cầu lao động Cơ sở Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
Nam giới
Nông thôn
Nữ giới
Nam giới
Đô thị
Nữ giới
Ghi chú : : Các giá trị của năm gốc được giới thiệu trong cột 1 Trong các cột tiếp theo,
trừ trường hợp có chỉ dẫn khác, các kết quả mô phỏng được trình bày dưới dạng tỷ lệ %
biến động
Sức ép đối với thị trường lao động do các cú sốc được mô phỏng gây ra có mức độ
mạnh hay yếu tùy theo từng loại lao động Lao động nữ không có tay nghề hoặc hoăc
có tay nghề một phần ở đô thị là những người được hưởng lợi nhiều nhất từ xu hướng
tăng lương, do nhu cầu về loại lao động này trong ngành dệt là rất cao : Trong các kịch
bản 1 và 3 (sử dụng hết các yếu tố), mức độ tăng lương cao hơn trong các kịch bản 2
về 4 (sử dụng không hết các yếu tố) ở đó mức tăng lương thấp hơn nhưng lại kèm theo
tăng nhu cầu lao động đối với các yếu tố này Trong tất cả các kịch bản, lương của nữ
giới đều tăng ở mức cao hơn nam giới (độ chênh lệch là 5 điểm trong kịch bản 3), đặc
biệt là đối với lao động giản đơn hoặc có tay nghề một phần, là lực lượng lao động
chiếm số lượng rất đông trong ngành dệt may Việc gia nhập WTO sẽ góp phần giảm sự
cách biệt về tiền lương giữa hai giới