1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới

29 3,5K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 45,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trởthành thành viên chính thức của WTO, cũng như các ngành khác, ngành nôngnghiệp Việt Nam sẽ được hưởng quy chế đối xử bình đẳng của các Hiệp định,từ đó mở ra nhiều cơ hội về mở cửa thị

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang bao trùm cả thế giới Khi toàn cầu hóa vềnền kinh tế đang trở thành một xu hướng khách quan thì yêu cầu hội nhập nềnkinh tế quốc tế càng trở nên cấp bách Toàn cầu hóa đòi hỏi mỗi nước phải liênkết với các quốc gia khác để cùng phát triển Đó là sự phát triển vượt bậc củanền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế có nhiều

sự thay đổi Sự ra đời của các tổ chức kinh tế thế giới như WTO, EU,AFTA và nhiều tam giác phát triển khác cũng là do toàn cầu hoá đem lại

Trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hoá đang là một xu thế tất yếu củathơì đại Cho dù đâu đó trên trái đất này vẫn diễn ra những cuộc biểu tình chốngtoàn cầu hoá, nhưng chúng ta không thể phủ nhận vai trò tích cực của nó trongquá trình phát triển Để tham gia vào quá trình toàn cầu hoá các nước phải tíchcực hội nhập vào nền kinh tế thế giới Trong quá trình này các nước có nềnkinh tế phát triển vững mạnh sẽ chiếm ưu thế hơn , nhưng đây cũng chính là conđường nhanh nhất , thuận lợi nhất để đưa các nước kém phát triển từng bước bắtkịp với nền kinh tế thế giới Một đất nước muốn phát triển kinh tế , thoát khỏitình trạng đói nghèo , tụt hậu so với thế giới thì không còn con đường nào khác

là phải chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới

Ở Việt Nam từ những bài học qua những thành công cũng như nhữngthất bại của những nước xã hội chủ nghĩa đi trước và của chính mình , Đảng vànhà nước ta cũng đã sáng suốt lựa chọn con đường mở cửa hội nhập cùng thếgiới , hợp tác và cùng phát triển Chúng ta đang dần từng bước hội nhập vàonền kinh tế thế giới để nhằm đưa đất nước thoát khỏi sự đói nghèo và tụt hậuvới thế giới , nâng cao thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế

Trang 2

Việt Nam là một nước xuất phát từ nông nghiệp, đi lên từ nông nghiệp vàcũng từ nông nghiệp mà trưởng thành Việt Nam đã tích cực chủ động tham giacác tổ chức khu vực như ASEAN, AFTA, ASEM và mục tiêu gia nhập WTOcủa chúng ta cuối cùng cũng đã được hoàn thành sau 11 năm phấn đấu Trởthành thành viên chính thức của WTO, cũng như các ngành khác, ngành nôngnghiệp Việt Nam sẽ được hưởng quy chế đối xử bình đẳng của các Hiệp định,

từ đó mở ra nhiều cơ hội về mở cửa thị trường và đầu tư nước ngoài nhưngđồng thời chúng ta cũng phải chịu áp lực trên cả thị trường trong lẫn ngoài nước

do phải thực hiện lộ trình cắt giảm thuế khi tính cạnh tranh của hàng nông sảnnước nhà còn rất thấp… Các cơ hội và thách thức này đã được chúng ta nghiêncứu, thảo luận trong suốt 11 năm qua nên không còn mới mẻ

T khi có Lu t Doanh nghi p, s lừ khi có Luật Doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp mới thành ật Doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp mới thành ệp, số lượng các doanh nghiệp mới thành ố lượng các doanh nghiệp mới thành ượng các doanh nghiệp mới thànhng các doanh nghi p m i thànhệp, số lượng các doanh nghiệp mới thành ới thành

l p tăng kháật Doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp mới thành nhanh N u nh năm 2001 nếu như năm 2001 nước ta có 51.680 doanh nghiệp ư ưới thànhc ta có 51.680 doanh nghi pệp, số lượng các doanh nghiệp mới thành(trong đó doanh nghi p nông nghi pệp, số lượng các doanh nghiệp mới thành ệp, số lượng các doanh nghiệp mới thành là 875) thì đến năm 2004 con số này đãlên tới 91.755 doanh nghiệp (trong đó có 1015 doanh nghiệp trong nôngnghiệp) Các doanh nghiệp đã thu hút khoảng 5-6 triệu người lao động trênphạm vi toàn quốc trong số đó gần 5% làm việc trong ngành nông nghiệp tứchơn 22 vạn lao động (theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kế 2003-2005).Theo số liệu thống kê trong giai đoạn 1996-2004, dân số nông thôn giảmkhoảng 5% nhưng số lượng lao động nông nghiệp chỉ giảm ở mức 2% Nhưvậy, việc phát triển các ngành kinh tế khác như công nghiệp, dịch vụ cũng chưađáp ứng nhu cầu thu hút lực lượng lao động dư thừa trong nông thôn Mặc khác

sự tăng trưởng sản xuất nông nghiệp có chiều hướng ngày càng hạn chế, khôngchỉ do điều kiện sản xuất mà cả những yếu tố mang tính kinh tế xã hội như chiphí cơ hội, lợi nhuận thấp, v.v Do vậy để đảm bảo cho việc tăng trưởng cao vàbền vững thì việc phát triển các doanh nghiệp trong nông nghiệp là một chiếnlược hết sức quan trọng Điều này giải quyết không những các vấn đề của nông

Trang 3

thôn mà còn cả những vấn đề của thành thị như áp lực về di cư tự do, tệ nạn xãhội…

Vai trò quan trọng của các doanh nghiệp trong nền nông nghiệp ngàycàng tăng lên đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế

Thông qua bài tiểu luận mang tên : “ Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới” này, em mong có một cái nhìn tổng hợp nhất về quá trình hội nhập nền

kinh tế thế giới của Việt Nam, phân tích những cơ hội và thách thức của cácdoanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam khi hội nhập kinh tế thế giới

Trang 4

PHẦN II

QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI

CỦA VIỆT NAM

Hoạt động của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế(HNKTQT) luôn luôn là một chủ đề nóng hổi bởi vì trước hết các doanh nghiệp

là nền tảng của nền kinh tế quốc gia và tiến trình HNKTQT trực tiếp tác độngđến hoạt động của các doanh nghiệp Việc nắm vững các cam kết hội nhập hiệnnay của ta và nhìn thấy trước triển vọng của tiến trình này trong tương lai có ýnghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp, bởi vì nó là cơ sở để các doanhnghiệp định hướng chiến lược phát triển và kế hoạch hoạt động phù hợp với tìnhhình đan xen giữa những cơ hội và thách thức, đặc biệt là sự cạnh canh ngàycàng tăng từ nhiều phía và ngay cả trên thị trường trong nước

Có thể nói HNKTQT của Việt Nam thực sự bắt đầu cùng với sự nghiệpđổi mới được Đại hội Đảng lần thứ 6 khởi xướng Đây là quá trình từng bướctiến hành tự do hoá các hoạt động kinh tế, mở cửa thị trường và tham gia vàocác tổ chức/thể chế kinh tế khu vực và thế giới Điều này có nghĩa là chúng tatừng bước tháo gỡ những trói buộc và cản trở đối với các hoạt động sản xuấtkinh doanh, xây dựng cơ chế kinh tế mới dựa trên những nguyên tắc của thịtrường có định hướng XHCN, mở cửa và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nướcngoài vào làm ăn, giảm và đi đến xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi quanthuế và các rào cản khác để việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ,nhân công… giữa Việt Nam và các nước được dễ dàng, phù hợp với những quyđịnh của các tổ chức/thể chế kinh tế khu vực và thế giới mà Việt Nam tham gia

Trang 5

2.1 Các bước đi trong quá trình hội nhập

Về các bước đi trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, chúng ta cần xem xét đến hai mặt

Đối với bên ngoài: Chúng ta đã thực hiện lần lượt các bước đi cụ thể Đó

- Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam đang bước vào giai đoạn cuối cùng Phiên đàm phán đa phương thứ 10 về việc Việt Nam gia nhập WTO được tiến hành vào ngày 15/9, là phiên rất quan trọng và có ý nghĩa quyếtđịnh đối với quá trình đàm phán của Việt Nam với các đối tác đa phương

- Việc đạt được thỏa thuận sớm với EU, một đối tác thương mại lớn có 25nước thành viên, đã có tác động tích cực đối với quá trình đàm phán của Việt Nam);

- Ngày 25/7/1995 đã chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á(ASEAN), đồng thời tham gia vào AFTA và Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT);

- Ngày 3/1996 tham gia Diễn đàn Á - Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập;

- Ngày 15/6/1996 gửi đơn xin gia nhập APEC; 11/1998 được công nhận

là thành viên của APEC;

- Năm 2000 ký Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ…

Trang 6

Đối với trong nước: Chúng ta đã làm 3 việc cơ bản: Quốc hội đã thông

qua nhiều đạo luật, văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý phù hợp cho hộinhập (Ví dụ: Luật Doanh nghiệp, Luật Công ty, Luật Đầu tư nước ngoài…);thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế, đổi mới chính sách và hệ thống kinh tế

vĩ mô và cố gắng cải cách kinh tế, xây dựng cơ chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế; để thốngnhất việc chỉ đạo quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 10/2/1998Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 31/1998-TTg thành lập Uỷ ban quốc gia vềhợp tác kinh tế quốc tế Uỷ ban này có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo và điềuhành các bộ, ban, ngành trong việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế

Như vậy, HNKTQT của Việt Nam là một tiến trình từng bước từ thấp đếncao diễn ra trên cả phương diện đơn phương, song phương và đa phương, lồnggép các phạm vi tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu, diễn ra trên hầuhết các lĩnh vực gồm hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…

Cho đến nay, các cam kết hội nhập chủ yếu của Việt Nam gồm những nộidung cơ bản như sau:

* Về cắt giảm thuế quan

- Trong AFTA: Bắt đầu thực hiện giảm thuế quan vào 1996; về cơ bản đưa mức thuế suất xuống còn 0-5% vào năm 2005 đối với hàng hoá nhập khẩu

từ các nước ASEAN và đạt 100% số dòng thuế ở mức 0% vào năm 2015

- Trong APEC: Về cơ bản thực hiện mức thuế suất 0% vào 2020

- Hiệp định Việt-Mỹ: Cắt giảm thuế quan đối với khoảng 400 dòng thuế theo những lộ trình khác nhau

Trang 7

- Khu vực MDTD ASEAN-Trung Quốc: Theo Chương trình “Thu hoạch sớm” thì bắt đầu từ 2004, ta sẽ thực hiện cắt giảm thuế quan nhanh đối với mặt hàng cam, quýt của Trung Quốc nhập vào Việt Nam, trong khi đó tất cả các mặthàng nông sản ta xuất sáng Trung Quốc nằm trong các chương từ 1-9 của biểu thuế xuất nhập khẩu của ta hiện nay sẽ được hưởng nhân nhượng về thuế quan nhanh của Trung Quốc

* Về phi thuế

- Trong AFTA:

+ Đến 2006, về cơ bản ta hoàn thành việc xoá bỏ các hạn chế về định lượng đốivới hàng hoá nhập khẩu từ các nước ASEAN và tiến tới xoá bỏ các hàng rào phithuế quan khác

+ Bắt đầu từ 2002 thực hiện Hiệp định đánh giá giá trị hải quan của WTO;

+ Từng bước thực hiện việc đơn giản hoá, thuận lợi hoá và thống nhất các thủtục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu

- Trong APEC: Từng bước và tiến tới xoá về cơ bản các hàng rào phi thuếquan vào năm 2002

- Hiệp định Việt-Mỹ: Việc xoá bỏ các rào cản phi thuế được thực hiệntheo những lộ trình cụ thể đối với trên 200 sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ vào VN

* Về dịch vụ

Chúng ta đã cam kết thực hiện tự do hoá đối với nhiều lĩnh vực dịch vụtheo các lộ trình cụ thể khác nhau cả trong ASEAN, APEC, Hiệp định Việt-Mỹ

Trang 8

Nhìn chung, ta sẽ từng bước mở cửa thị trường Việt Nam và dành đối xử bìnhđẳng đối với các dịch vụ cũng như các nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vựcdịch vụ.

* Về đầu tư

Chúng ta cũng đã có những cam kết cả trong khuôn khổ ASEAN, APEC,Hiệp định Việt-Mỹ về mở cửa thị trường Việt Nam cho các nhà đầu tư nướcngoài vào đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, thực hiện các biện pháp tự do hoá

và thuận lợi hoá đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài và tiến tới dành cho các nhàđầu tư nước ngoài quy chế đãi ngộ quốc gia

* Về sở hữu trí tuệ

Những cam kết của ta dựa căn bản trên các nguyên tắc của Hiệp địnhTRIPS và các công ước của WIPO Theo đó, ta sẽ phải tôn trọng và thực hiệnbảo hộ các quyền về bản quyền tác giả, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu,thiết kế, kểu dáng công nghiệp, giống vật nuôi cây trồng…

* Về công khai hóa

Chúng ta phải công khai hoá các chính sách, luật lệ, quy định về chế độthương mại, thủ tục hành chính có liên quan và bảo đảm cho mọi người có thểtiếp cận một cách thuận lợi và dễ dàng các thông tin đó

Những gì chúng ta đã cam kết và thực hiện trong những năm qua đượckiểm nghiệm là đúng, cơ bản phù hợp với xu thế và điều kiện thực tế của đất

Trang 9

nước ta, do vậy đã đóng góp quan trọng vào những thành tựu kinh tế xã hội tolớn của đất nước

Trước sự gia tăng của xu thế toàn cầu hoá trong những năm tới, tiến trìnhHNKTQT của chúng ta sẽ tiếp tục có những phát triển mới cả về bề rộng lẫn bềsâu

Trong ASEAN, quá trình tự do hoá sẽ được thúc đẩy lên mức cao hơn vàrộng hơn về phạm vi lĩnh vực nhằm biến ASEAN không chỉ thành một khu vựcmậu dịch tự do mà còn là một thị trường chung, một cộng đồng kinh tế trongtương lai ASEAN cũng sẽ phát triển mạnh hơn các mối liên kết kinh tế với cácđối tác ngoài khu vực để hình thành những khối liên kết kinh tế lớn hơn như cáckhu vực MDTD ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Nhật như đã được các nhà lãnhđạo các nước này nhất trí Có thể trong tương lai, sẽ hình thành và phát triển cácliên kết kinh tế sâu giữa ASEAN-Mỹ, ASEAN-CER, ASEAN-Ấn Độ, ASEAN-

EU, ASEAN-Hàn Quốc, ASEAN-NAFTA, ASEAN-MERCOSUR… Khôngloại trừ khả năng sẽ hình thành một khu vực MDTD thống nhất cho toàn bộ khuvực Đông á

Song hành với tiến trình hội nhập khu vực đó, chúng ta sẽ tích cực chuẩn

bị và đàm phán để sớm gia nhập WTO (mục tiêu là cố gắng trước khi kết thúcVòng Đô-ha vào 2005)

Ngoài ra, chúng ta cũng thúc đẩy các liên kết kinh tế song phương trên cơ

sở các hiệp định MDTD song phương với các nước, đồng thời tiếp tục tăngcường liên kết kinh tế vùng

2.2 Những kết quả đã đạt được trong tiến trình hội nhập

Nước ta triển khai hội nhập kinh tế quốc tế chưa lâu, kinh nghiệm còn

Trang 10

hạn chế nhưng cũng đã mang lại những kết quả bước đầu khá khả quan Đó là:

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước và có quan hệ kinh tế - thương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ, với hầu hết các tổ chức quốc tế, khu vực quan trọng Đẩy lùi được chính sách bao vây, cấm vận của các nước, thế lực thù địch Tạo được thế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao vị thế của Việt Nam trên chính trường và thương trường quốc tế

Khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu sụp đổ, khủng hoảng kinh tế trong khu vực năm 1997, đồng thời cũng đã mở rộng được thị trường xuất khẩu.Năm 2004, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước đạt 26,003 tỷ USD,tăng 28,9% so với năm 2003 và là mức tăng cao nhất trong bốn năm trở lại đây Ðây là một trong những thành tựu nổi bật của nền kinh tế nước ta năm qua Tính riêng trong tháng 8 năm nay, kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt 2,8 tỷ USD, nâng kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng qua lên hơn 20,3 tỷ USD, tăng gần 19% so với cùng kỳ năm trước, đã chứng tỏ đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Ðảng và Nhà nước ta đang được thực tiễn khẳng định

Thu hút được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn và giảm đáng kể nợ nước ngoài Năm 2004, vốn thực hiện của khu vực đầu tư nước ngoài đạt 2,85

tỷ USD, tăng 7,5% so với năm 2003 và vượt so với dự kiến ban đầu (mục tiêu năm 2004 là 2,75 tỷ USD) Doanh thu của khu vực đầu tư nước ngoài trong năm

2004 đạt khoảng 18 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2003 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo thêm việc làm cho 7,4 vạn lao động, đưa tổng số lao động trực tiếp lên khoảng 74 vạn người Năm 2004 cả nước đã thu hút được hơn 4,2 tỷ USD vốn đầu tư mới, tăng 37,8% so với năm 2003, trong đó vốn cấp mới đạt trên 2,2 tỷ USD và vốn bổ sung đạt gần 2 tỷ USD Đây là mức đăng ký

Trang 11

cao nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính khu vực diễn ra vào năm 1997.

Việc tăng cường vận động xúc tiến đầu tư ở nước ngoài, việc ký kết và thực hiện các hiệp định song phương liên quan đến đầu tư đã xuất hiện động thái mới về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thể hiện qua việc gia tăng số lượngnhà đầu tư vào Việt Nam khảo sát, tìm kiếm cơ hội đầu tư, kinh doanh Xu hướng nói trên đã tạo điều kiện để hình thành các dự án đầu tư mới trong năm

2005 Nếu tính cả số vốn của những dự án mới được cấp phép và số vốn bổ sung của những dự án đang hoạt động thì tổng số vốn đăng ký mới trong 7 tháng đầu năm 2005 đạt khoảng 3,2 tỷ USD, tăng 66,6% so với cùng kỳ năm trước

Tiếp thu được nhiều thành tựu mới về khoa học, công nghệ và kỹ năng quản lý Nhiều ngành kinh tế mới đã xuất hiện dựa trên cơ sở tăng cao hàm lượng chất xám trong sản xuất - kinh doanh Các ngành cơ khí chế tạo, đóng tàu… từng bước được nâng lên tầm cao mới, sản phẩm ngày càng tạo được uy tín trên thị trường trong và ngoài nước Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Tỷ trọng giá trị công nghiệp và dịch

vụ trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ngày càng tăng, nông nghiệp ngày cànggiảm Trong đó xu hướng tỷ trọng giá trị của dịch vụ ngày càng tăng, tổng giá trị sản phẩm nông - công nghiệp ngày càng giảm tương ứng

Giữ vững sự ổn định về kinh tế Điều này thể hiện ở nền kinh tế có tốc độtăng trưởng liên tục khá cao và tương đối ổn định, đưa đất nước thoát khỏi

khủng hoảng kinh tế Từ năm 1991 đến năm 2000, GDP tăng liên tục qua các năm với nhịp tăng bình quân hàng năm 7,5% So với năm 1990, năm 2000 GDPtăng gấp 2,07 lần Tuy xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực năm

1997, nhưng từ năm 2001 đến 2004, GDP của Việt Nam vẫn có nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 7,25% Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng GDP quí I đạt 7,23%, 6 tháng đầu năm đạt 7,63% (tuy nhiên, tốc độ tăng này chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước - mặc dù có chịu ảnh hưởng do thiên tai,

Trang 12

dịch bệnh) Như vậy liên tục trong thời gian qua, kinh tế Việt Nam luôn đạt mứctăng trưởng cao so với các nước trong khu vực Đặc biệt, tỷ lệ người nghèo đói

ở Việt Nam đã giảm mạnh, từ 58% (năm 1993) xuống 24,1% vào năm 2004 (theo chuẩn nghèo 1USD/ngày), chuẩn nghèo lương thực đã giảm từ 24,9% (năm 1993) xuống 7,8% trong năm 2004

Bước đầu chúng ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng cũng vẫn còn những mặt hạn chế, yếu kém nhất định Cụ thể là: Nhận thức về hội nhập của cán bộ và nhân dân chưa được nhất trí cao Chưa có một kế hoạch tổng thể và dài hạn để hội nhập kinh tế quốc tế; hệ thống chính sách, luật pháp quản lý kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh, còn có những chính sách, luật chưa thực sự phù hợp với những thông lệ quốc tế; lực lượng sản xuất có nguy

cơ tụt hậu so với trình độ phát triển chung của thế giới, do đó sức cạnh tranh hàng hoá kém, hiệu quả đầu tư thấp Cơ cấu hàng hoá chủ yếu là bán sản phẩm

và gia công, xuất khẩu tuy với khối lượng lớn nhưng giá trị thu được thấp

Trước xu thế nhập khẩu và sức cạnh tranh chưa đủ mạnh, có thể dẫn đến khả năng mất thị trường trong và ngoài nước Trong thời gian qua, mục tiêu phát triển kinh tế của ta là hướng về xuất khẩu, nhưng thực tế lại có xu hướng thực hiện theo mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu Nền kinh tế đang ởtrình độ phát triển chậm, còn chênh lệch quá nhiều so với các nước trong khu vực; đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu, yếu, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại; Bản sắc văn hoá đang bị đe doạ, đặc biệt là lối sống của lớp trẻ

Với những thành công bước đầu về hội nhập kinh tế quốc tế mà Đảng vàNhà nước ta đã xác định trong thời gian qua, chúng ta tin tưởng rằng đến năm

2020, nước ta cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp, thực hiện thắng lợimục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trang 13

PHẦN III

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

3.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp nông nghiệp ở Việt Nam

Trên 90% các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với quy mô lao động bình quân 10-

200 lao động/doanh nghiệp

Quy mô huy động vốn của khối doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn này đã đạt gần 30 tỷ USD, sử dụng gần 3 triệu lao động, tạo 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn (tương đương 26% lao động cả nước); đóng góp 49% GDP, 29% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ đạt khoảng 2%/năm trong khi tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp bình quân

chung của cả nước là 20 - 25%/năm Bình quân khoảng 57.000 người dân sống

ở khu vực nông thôn mới có 1 doanh nghiệp nông nghiệp, trong khi trên cả nước cứ trên 700 người đã có 1 doanh nghiệp Hạn chế lớn nhất ảnh hưởng đến việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa nông nghiệp là thiếu các cơ hội đầu

tư, kinh doanh, môi trường đầu tư, chính sách ưu đãi hầu như không có hoặc rất khó triển khai, áp dụng

Quy mô nhỏ hạn chế phát triển

Nếu chỉ nhìn vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp, cả nước hiện có khoảng 1.100 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh Như vậy, số doanh

Trang 14

nghiệp nông, lâm nghiệp mới chỉ bằng xấp xỉ 1% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động Còn xét về mức vốn, hiện có khoảng 60% số doanh nghiệp nông, lâm nghiệp của Việt Nam có vốn dưới 10 tỷ đồng - quá nhỏ bé so với doanh nghiệp các nước trên thế giới và so với nhu cầu thực tế

Thêm nữa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn lại đang sử dụng những công nghệ, hệ thống máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu Tỷ lệ đổi mới trangthiết bị hàng năm chỉ đạt 5-7% (trong khi cả thế giới là 20%)

3.2 Cơ hội của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam khi hội nhập kinh tế thế giới.

Cơ hội cho doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường mới nổi:

Bộ Công Thương cho biết kim ngạch thương mại với các nước khu vựcchâu Phi, Tây Á, Nam Á duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong bối cảnh thịtrường khu vực này ít nhiều chịu ảnh hưởng từ tình hình bất ổn chính trị từ cácnước trong khu vực và suy thoái kinh tế thế giới

Số lượng các mặt hàng xuất khẩu đa dạng hơn trước, nhiều mặt hàng mớilần đầu xuất hiện trong danh mục xuất khẩu như ximăng, điện thoại di động,phần cứng máy tính, máy móc nông nghiệp

Trong quan hệ thương mại, Việt Nam xuất siêu sang phần lớn các nướckhu vực này và chủ yếu nhập siêu từ Ấn Độ, song chênh lệch thương mại giữahai nước bắt đầu thu hẹp đáng kể từ sau khi hiệp định FTA ASEAN - Ấn Độ cóhiệu lực

Ngày đăng: 13/08/2014, 12:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w