Trong chương này những vấn đề sau sẽ được xem xét thảo luận : - Dự báo dân số - Dự báo yêu cầu nhà ở cho đến năm nào đó - Tính toán yêu cầu không gian bố trí và diện tích xây dựng nhà ở
Trang 1Chương 3: KỸ THUẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP QUY HOẠCH
3.1 Giới thiệu chung
Như đã giới thiệu trong các chương trước việc lập quy hoạch là một quá trình, nó ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, vì vậy người làm quy hoạch cần phải có đủ kinh nghiệm
và kiến thức, biết được kỹ thuật và phương pháp lập dự án Kỹ thuật lập dự án gồm có nhiều vấn đề ở đây cần nêu lên những điểm chính đó là kỹ thuật dự báo, thu thập và xử
lý số liệu, lựa chọn vị trí xây dựng dự án, phân tích kinh tế đầu tư và đánh giá tác động môi trường sua khi xây dựng dự án vấn đề phát triển hạ tầng cơ sở sẽ được nghiên cứu
Đối với một thành phố, thị xã sẽ có rất nhiều yêu cầu chức năng riêng về không gian như công trình vui chơi giải trí, khu dân cư Chương này tập trung nghiên cứu về kỹ thuật tính toán nhằm xác định yêu cầu không gian cho các thành phố có chức năng khác nhau
Câu hỏi đầu tiên cần được làm rõ là quy hoạch được thực hiện với khoảng thời gian bao lâu?
Người lập quy hoạch cần xác định rõ những yêu cầu của quy hoạch Yêu cầu của quy hoạch phụ thuộc vào 3 dạng khác nhau của việc phát triển:
• Phát triển Văn hoá- Xã hội
- Phát triển kinh tế
- Phát triển dân số Phát triển hiện nay có thể không bị ảnh hưởng của một quy hoạch Ví dụ như tăng trưởng kinh tế hoặc khuynh hướng văn hoá xã hội tự do hoá Nhưng có loại phát triển khác lại có thể bị ảnh hưởng của quy hoạch như quá trình di cư, nhập cư Dữ liệu có thể thu thập từ phòng quy hoạch văn hoá xã hội hoặc các phòng chức năng khác Trong chương này những vấn đề sau sẽ được xem xét thảo luận :
- Dự báo dân số
- Dự báo yêu cầu nhà ở cho đến năm nào đó
- Tính toán yêu cầu không gian bố trí và diện tích xây dựng nhà ở yêu cầu
Trang 2- Dự báo yêu cầu việc làm cho đến năm tính toán thiết kế
- Tính toán không gian bố trí khi yêu cầu việc làm thực hiện theo quy hoạch
3.2.1.2 Dự báo dân số
Phát triển dân số có quan hệ tới việc lập quy hoạch Sự phát triển dân số theo độ tuổi,
tỉ lệ nam nữ có ảnh hưởng rát lớn đến việc lập quy hoạch Hiện nay có rất nhiều phương pháp tính toán dự báo sẽ được giới thiệu sau đây
a Các phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo theo khuynh hướng ngoại suy
Để xác định các thông số về dân số vào năm nào đó con đường tốt nhất là sử dụng phương pháp ngoại suy về dân số trong quá khứ Tính toán theo nguyên tắc này có rất nhiều phương pháp Sau đây sẽ giới thiệu cách tính thông qua các ví dụ điển hình
- Ngoại suy tuyến tính
- Ngoại suy phi tuyến
sơ bộ nó phụ thuộc trực tiếp số liệu thống kế trong quá khứ Các thông số về dân số tương lai ( tuổi, giống, việc làm ) có thể cao hơn hoặc thâp hơn nếu số liệu cũ không áp dụng Điều này được thể hiện ở ví dụ 3.1 sau Lưu ý điều này chỉ đúng khi dùng phương pháp ngoại suy tuyến tính
Ví dụ 3.1 Phương pháp ngoaị suy tuyến tính
Thông số về dân số của thành phố được thống kê trong bảng sau
Cơ quan địa phương rất quan tâm về vấn đề việc chọn ví trí xây dựng khu nhà ở cho người dân trong vòng 15 năm tới Để làm được việc này cần dự báo dân số đến năm
2010 Hình 3.1 biểu diến khuynh hướng gia tăng dân số dựa theo tài liệu thống kê trong bảng 3.1 sau
Trang 3Bảng 3.1 Dân số thống kê từ năm 1970 đến 1995
là đủ
60000 65000 70000 75000 80000 85000 90000 95000 100000
Hình 3.1 Đường biểu diễn dân số theo phương pháp ngoại suy đoạn thẳng dựa theo số năm thống kê khác nhau
( Ghi chú: Nét liền đậm là đường nội suy theo liệt thống kê đầy đủ, đường chấm đậm là dựa theo số liệu 1985 – 1990, đường chấm gạch là dựa theo số liệu 1990 – 1995)
(ii) Hồi quy tuyến tính
Hiện nay có nhiều phương pháp bảng tính và phương pháp khác sử dụng máy tính để
vẽ đồ thị ngoại suy đường quan hệ trên Sử dụng phương pháp ô lưới máy tính có thể tính toán xác định đường thẳng tốt nhất trên cơ sở của dữ liệu cung cấp Số liệu dự
Trang 4báo có thể nhận thấy từ hình biểu diễn hoặc tính toán đặc biệt, phụ thuộc vào phần mềm sử dụng Hình 3.2 biểu diễn 2 đường ngoại suy
Ngoại suy phi tuyến
Ngoài việc ngoại suy hàm tuyến tính, nhiều chương trình máy tính cùng với dữ liệu có thể xác định hàm phy tuyến để nội suy khuynh hướng dữ liệu Một trong những hàm quan hệ là đa thức ngược lại bậc của đa thức có thể lựa chọn cho phù hợp
Ví dụ 3.2 Phép nội suy phy tuyến
Sử dụng số liệu ví dụ 3.1, áp dụng hàm đa thức để dự báo dân số đến năm 2010 Trong trường hợp này có thể sử dụng phương trình bậc hai ( đường Parabol) để biểu thị Nếu
sử dụng máy tính thì máy có thể biểu diễn hoàn hảo kết quả tính toán trên cơ sở dữ liệu đầu vào Theo kết quả tính toán dân số năm 2010 sẽ cao hơn năm 1995 là 5000 người Nhìn vào dạng đường biểu diễn ta thấy từ 1990 đến 1995 có xu thế giảm từ từ, nhưng không có nghiã là nó sẽ tiếp tục giữ độ giảm như vậy trong vòng 15 năm tới Khi này sử dụng hàm bậc hai hay bậc cao hơn không đưa lại kết quả đáng tin cậy
70000 72000 74000 76000 78000 80000 82000 84000 86000 88000
1965 1970 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010
Hình 3.2 Phép nội suy phy tuyến sử dụng hàm biểu diễn đường cong bậc hai
Phương pháp kéo dài trung bình
Phương pháp kéo dài trung bình thực hiện qua nhiều bước mỗi điểm trong đồ thị kéo dài được xác lập từ những số liệu trước đó Số liệu mới xác định sẽ thay thế số liệu cũ Hiện nay có nhiều cách xác định dạng đường kéo dài theo phương pháp này Ví dụ 3.3 và 3.4 là hai trong nhiều phương pháp thể hiện theo cách vẽ này
Ví dụ 3.3 Phương pháp kéo dài trung trình 1
Sử dụng số liệu trong ví dụ 3.1 trên, kết quả dự báo dân số năm 2010 được thể hiện
Trang 5trên hình 3.3 sau
Hình 3.3: Phương pháp dịch chuyển trung bình 1
Bước đầu tiên: ba số liệu các năm hiện tại 1985, 1990 và 1995 được vẽ trên hệ trục Ta đặt tên các điểm tương ứng các năm là điểm 1, 2, và 3 Đường thẳng nối hai điểm 1 và
3 kéo dài cho ta điểm 4 Đây chính là dân số đến năm 2000 Dựa trên các điểm đã xác định trên hệ trục 2, 3 và 4 qua các điểm 2 và 4 ta xác định điểm số 5 đó là số dân vào năm 2005 Cuối cùng dựa vào các điểm 3 và 5 ta vẽ đường thẳng để tìm được số dân vào năm 2010, đó là dân số dự báo cho năm 2010 là 87500 người
Ví dụ 3.4 Phương pháp kéo dài trung trình 2
Phương pháp 2 căn bản giống phương pháp 1 nhưng đường quan hệ không phải đi qua tất cả các điểm từ điểm đầu tiên đến điểm cuối cùng như phương pháp 1 mà sẽ sử dụng đường quan hệ có tính phù hợp nhất để thể hiện
Dự báo dựa theo số liệu sinh và tử
Số liệu dân số có thể dựa vào tỉ lệ sinh, tỉ lệ chết hàng năm trên 1000 để xác định Giả thiết rằng hai loại tỉ lệ này không thay đổi theo thời gian Thông số chung về dân số có thể tính toán qua công thức sau:
Trang 6Dự báo theo tỉ lệ sinh, tử, nhập và di dư
Nhập cư và di cư cùng với các tỉ lệ sinh và tử có vị trí quan trọng trong tính toán số dân trong tương lai Nếu hai yếu tố này được xem xét thì công thức 3.1 trở thành:
B(t) =B(o)*(1 + g – s + i - e) t (3.2)
Các thông số t, o, g, s đã nêu ở trên, ngoài ra i và e được xác định như sau
i = Số lượng nhập cư trên tỉ lệ tính toán
e = Số lượng di cư trên tỉ lệ tính toán
Giả thiết thêm i và e không đổi trong khoảng thời gian tính toán
Ví dụ 3.6 về sử dụng công thức 3.2
Dữ liệu
Trang 7b Biểu diễn dân số
Phần trên mới chỉ xét số dân vào năm tính toán và số lượng ứơc tính trong tương lai Đây mới chỉ là số tròn, thực ra có rất nhiều thông số cần được làm rõ như giới tính, tuổi, nguồn gốc, việc làm, thu nhập cần chỉ rõ trong tài liệu thống kê
Phương pháp phân đoạn
• Phương pháp này chia độ tuổi ra thành các nhóm mà chúng có tên là nhóm tuổi Thang bậc trong bước chia lấy theo cấp 5, cụ thể là 0-4 tuổi, 5-9 tuổi
- Sử dụng số liệu kinh nghiệm, điều kiện sinh tồn của các nhóm tuổi được xác định Điều kiện sinh tồn ở đây là để chỉ người đang sống có tuổi trong nhóm điều tra và có khả năng sống tiếp ở độ tuổi nhóm trên
- Ngoài ra lượng nhập cư hàng năm cũng phải được xác định trong mỗi nhóm tuổi
Giả thiết rằng nhóm tuổi trong 5 năm việc tính toán dân số về nhóm tuổi tiếp theo được xác định qua công thức sau:
1 Lấy nhóm tuổi i tại thời điểm t
2 Nhân nhóm tuổi i với cơ hội sống sót trong nhóm i-
3 Cộng thêm 5 lần nhóm nhập cư của nhóm i + 1
4 Kết quả chính là nhóm tuổi i + 1 tại thời điểm t + 1
Các bước giới thiệu trên nên được xác định cho mỗi nhóm ở các bước tiếp theo Chiều dài của bước thời gian bằng với số năm trong nhóm tuổi tính Hình 5.5 mô tả quá trình tính toán này
Số người sống trong nhóm 1 tại thời điểm t + 1 phụ thuộc vào số lượng phụ nữ có khả năng sinh sản tại thời điểm t Đó là phụ nữ trong nhóm 4 đến 10 (15 đến 49 tuổi) Trong mỗi nhóm tuổi tỉ lệ khả năng sinh đẻ đã được xác định Tỉ lệ sinh là số lượng người sinh đẻ / 1000 phụ nữ trong nhóm điều tra
Trang 8Việc tính toán cho nhóm đầu tiên được tiến hành như sau:
1 Lấy số lượng phụ nữ sinh sản của nhóm 4
2 Nhân số lượng trên với tỉ lệ sinh đặc biệt nhóm 4 và chia cho 1000
3 Nhân số lượng trên với số năm trong thang tính
4 Lập lại 3 bước trên cho nhóm tuổi từ 5 đến 10
5 Cộng các kết quả lại
6 Lấy số dân nhập cư của nhóm 1 nhân với số năm của nhóm
7 Cộng kết quả bước 5 và 6 Đây chính là kết quả của số dân nhóm 1 tại thời điểm t+1
Hình 3.5: Mô hình phương pháp phân độ tuổi
So với các phương pháp giới thiệu trên, phương pháp này có nhiều ưu điểm nổi bật hơn
• Tính toán chính xác hơn bởi vì những thay đổi đã được xác định trong các nhóm tuổi Trên cơ sở của số lượng sinh ra trong nhóm tưởi sinh đẻ 15 – 50 sẽ chính xác hơn nhiều nếu ta nhân tỉ lệ sinh đẻ trong toàn bộ dân số
• Phương pháp phân nhóm tuổi cung cấp nhiều thông tin trong điều tra Số lượng người trong từng nhóm tuổi, số liệu này sẽ giúp ích cho nhiều tính toán khác Ví dụ
Trang 9những người trong độ tuổi từ 6 đến 20 trong nhóm đối tượng đến các trường học, nhóm 4 đến 13 là số lượng người có thể tham gia lao động được
Ví dụ 3.7 Tính toán dân số sử dụng phương pháp phân đoạn
Số liệu sử dụng trong tính toán
• Thông số độ tuổi ngày 1-1-1995
• Điều kiện sống của mỗi nhóm
• Tỉ lệ sinh đẻ đặc biệt của nhóm
• Số lượng nhập cư ở mỗi nhóm tuổi
Giả thiết rằng 3 điều kiện cuối không đổi trong khoảng thời gian tính toán Thông tin được thể hiện bảng 3.2 và sử dụng nó cho dự báo số dân vào năm 2010
Dân số không phân theo nhóm giới tính và như vậy giả thiết tỉ lệ nan nữ như nhau trong mỗi nhóm tuổi Bước chia nhóm tuổi là 5 năm Kết quả được thể hiện trong bảng 3.3 của hai ví dụ
Ví dụ 1: Dự báo độ tuổi nhóm 6 (25-29 tuổi) vào ngày 1-1-2000 thì bằng với độ tuổi
nhóm 5 vào ngày 1-1-1995 nhân với cơ hội sống sót nhóm 5 Số liệu này đựơc cộng thêm 5 lần số nhập cư của nhóm 6:
6828 0.99828 + 5 * 213 = 7881
Ví dụ 2: Dự báo độ tuổi nhóm 1 (0-4 tuổi) vào ngày 1-1-2010 thì bằng 5 lần số lượng
sinh hàng năm trong nhóm 4 đến 10 của bước trước đây nhân với số lượng nhập cư trong 5 năm nhóm 1
Trong nhóm 4: 3789*0.5 (số lượng phụ nữ nhóm 4 thời điểm 1-1-2005, xem
bảng 3.3) *0.0043 (số lượng sinh nhóm phụ nữ nhóm 4/ năm)
*5 (Số năm trong / bước thời gian tính) Nhóm 5: 4367 * 0.5 * 0.0446 * 5 = 487
Nhóm 6: 6020 * 0.5 * 0.1094 * 5 = 1646
Nhóm 7: 8382 * 0.5 * 0.0753 * 5 = 381
Nhóm 8: 8020 * 0.5 * 0.0190 * 5 = 42 Nhóm 9: 4981 * 0.5 * 0.0034 * 5 = 5
Tổng số sinh : 4180 người
Cộng thêm số nhập cư:
44 (Số nhập cư nhóm 1/năm) *5 (số năm tính trong một bước) = 220
Ngày 1-1-2010 nhóm 1 có 4138 + 220 = 4400 người
Trang 10Kết quả thể hiện ở bảng 3.3 chưa làm tròn với tổng số là 4401 người nhóm 1 tính cho thời điểm 1-1-2010
Bảng 3.2 số liệu tính toán nhóm tuổi
Trang 11Bảng 3.3 Kết qủa tính toán số lượng nhân khẩu theo nhóm tuổi
Nhóm Nhóm
tuổi
Số lượng
3000 người, nhưng tỷ lệ tăng trưởng nhỏ ở các nhóm tuổi 30-44, 60 và 64 Ngược lại các nhóm khác thì giảm đi rất rõ nét
Nhìn vào bảng 3.3 ta thấy dân số tăng dần Nếu không kể đến lượng nhập cư thì số lượng tăng từ từ, và thêm 7000 người (xem bảng 3.4) Như vậy tỉ lệ tử lớn hơn tỉ lệ sinh
Trang 12Bảng 3.4 : dự báo dân số chưa kể đến lượng nhập cư
c Mô hình dân số (POPHOU model)
Các phương pháp dự báo trước đây dựa vào số liệu điều tra của các năm trước đó Với phương pháp nội suy sử dụng số liệu các năm gần nhất Phương pháp phân độ tuổi sử dụng số liệu độ tuổi theo khả năng sinh tồn và tỉ lệ nhập cư trong mỗi nhóm Phương pháp thứ ba sử dụng số liệu kinh nghiệm của tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử, số lượng nhập và di cư
Ưu điểm của phương pháp này là sử dụng số liệu kinh nghiệm đưa ra đặc tính không khả dĩ trong tính toán Ví dụ các phương pháp trưới đây không bị ảnh hưởng của việc xây dựng vùng dân cư (quá tải) gia tăng trong điều tra Ngược lại thực tế cho thấy rằng khả năng cung cấp nhà cửa và việc làm là yếu tố rất quan trọng để quyết định nên đặt tại một địa điểm nào đó hay di chuyển nơi khác Điều này ảnh hưởng đến vấn đề nhập cư
Mô hình POPHOU quan hệ số lượng nhà ở và dân số trong khu vực khảo sát Ưu điểm
Trang 13số nhà ở theo chủ hộ là tỉ số giữa số lượng nhà và số nhà Tỉ số này bị ảnh hưởng của
số dân số lượng nhà có trong khu vực Nhưng ở đây cón có thông tin về quan hệ giữa hai yếu tố : nhập cư và xây dựng nhà mới Điều này được thể hiện trên hình 3.7
Hình 3.7 : Mối liên quan trong mô hình POPHOU
Tỉ số HHR (số chủ hộ và số nhà) cao quan hệ với khả năng cấp nhà thấp Điều này không chỉ nói lên mức độ thấp các nhà trống mà nó còn chỉ ra tình trạng hiện nay có thể là giá cao, quá thời hạn bảo dưỡng, và sự lựa chọn thấp về vị trí nhà ở Điều này cũng ảnh hưởng đến vấn đề nhập cư vì họ khó khăn trong lựa chọn ngôi nhà phù hợp Tại một thời điểm sẽ có mối quan hệ tốt giữa HHR và việc xây dựng nhà mới Trong trường hợp tỉ số HHR thấp thì không cần xây dựng thêm nhà mới
Xây dựng nhà ở
Trang 14Mô hình POPHOU được viết trong phần mềm ngôn ngữ máy tinh DYNAMO DYNAMO sử dụng thông tin thời gian được thể hiện trên hình 3.8 K thời điểm hiện tại, j và L là thời điểm trước và bước tiếp theo Cả 3 đại lượng này là hiện tại, JK và
KL là khoảng thời gian của phân chia (năm)
Số lượng nhân khẩu tại thời điểm k sẽ được xác định trên cơ sở dân số tại bước phân chia J, tính toán số sinh, tử, nhập cư và di cư:
P.K = P.J + DT * (B JK + IM.JK - D.JK - OM.JK)
Trong đó:
P = Dân số
B = Số lượng sinh trong năm
IM = Số nhập cư trong năm
D = Số người chết trong năm
OM = Số nhập cư trong năm
DT = Khoảng phân chia (năm)
Hình 3.8: Ký hiệu thời gian trong DYNAMO
Số lượng sinh và chết được dựa theo dân số Số nhập cư cũng được tính theo cách này
IM.KL = P.K * IMN * AHM.K
Trang 15mới Trong trường hợp ưu tiên cự ly, sẽ có nhiều người đến ở Trường hợp cấp số nhân hẫp dẫn thấp sẽ có ít người tới nhập cư Nhưng khi tỉ số HHR thấp số lượng nhà
ở lại cao và như vậy sẽ tăng lượng nhập cư bởi chính tính hấp dẫn của nó Số lượng nhà ở trong khu vực có thể sẽ tăng lên nguyên do xây thêm, và sự giảm đi nguyên do xuống cấp phá bỏ
Hình 3.10 Mối quan hệ giữa AHM và HHR
Hình 3.9: Mối quan hệ giữa AHM và HHR
H*K = H.J + DT * (HC.JK - HD.JK)
H = Số lượng nhà ở
HC = Số lượng nhà xây dựng trong năm
HD = Số lượng phá dỡ trong năm
HD phụ thuộc trực tiếp vào số lượng nhà ở Chính vì vậy khi tính toán chưa đưa vào tình trạng sửa chữa và tuổi của ngôi nhà
Trang 16HCN = Số nhà xây dựng trong năm
HCM = Cấp số xây dựng nhà ( không thứ nguyên)
Cấp số nhân xây dựng nhà ở đưa ra hai hệ số ảnh hưởng tới quá trình xây dựng nhà ở
là điều kiện đất đai và đặc tính thị trường nhà ở
HCM.K = HLM.K * HAM.K
HLM = Cấp số nhà đất (không thứ nguyên)
HAM = Cấp số nhà ở có thể (không thứ nguyên)
Cấp số nhà đất là hàm số của LFO ( hệ số chiếm đất) Nó là tỉ số của diện tích xây dựng và tổng diện tích, được thể hiện trên hình 3.10
LFO.K = H.K *LPH / AREA
LPH = Diện tích đất chiếm (m2/ nhà)
AREA = Tổng diện tích (m2)
Hình 3.10: Mối quan hệ giữa LFO và HLM
Cấp số nhân khả năng nhà ở phụ thuộc vào tỉ số giữa số hộ và số nhà dựa trên hình 3.11 Nếu giá trị HHR lớn có nghĩa là khả năng đáp ứng nhà là thấp, trị số HAM lớn hơn 1, dẫn đến cần xây dựng thêm nhà ở Nếu HHR giảm đến 0 sau đó HAM sẽ giảm theo và như vậy HC cũng sẽ giảm Nhưng hàm sẽ không giảm đến 0 bởi vì vẫn có nhu cầu nào đó về nhà ở mà tại thời điểm đó thị trường nhà ở chưa đáp ứng
Trang 17Qua mô hình tính toán cho thấy rằng: Tại thời điểm xuất phát thì tăng, nó phụ thuộc vào giai đoạn sau đó do khối lượng giới hạn của đất sử dụng Nếu không thay đổi các thông số mô hình sẽ giữ ổn định trong nhiều năm Điều này chỉ ra rằng số lượng người
sử dụng và nhà ở luôn ổn định Chính quyền địa phương sẽ có thể thực hiện một số giải pháp trước khi có sự cân bằng ổn định này Những biện pháp khả dĩ có thể khuyến khích việc xây dựng nhà ở Trong khái niệm mô hình POPHOU thì các thông số HCN
sẽ tăng lên chính vì lẽ đó mô hình này có thể được sử dụng để xác định các bước của quy hoạch và quyết định chính sách
Mô hình POPHOU đã không tính đếm đến khả năng về vấn đề việc làm Như vậy có thể làm các mô hình nhỏ mà mối quan hệ kích thước dân số và việc làm được thể hiện đầy đủ Và như vậy mô hình có thể kết hợp với các điểm chính của pophou để đưa ra dạng mới Đối mô hình kết hợp này vấn đề dân số, nhà ở và việc làm đã chia ra thành
ba cấp ( Loại lớn loại trung và loại nhỏ)
Mặc dù hai phương pháp giới thiệu trên có tính khả thi cao về vấn đề tính toán Song không hẳn là phương pháp tốt nhất Phương pháp Cohort có những ưu điểm nổi bật về
độ chính xác khi kể đến số sinh và tử khi có sự thay đổi trong quá trình tính toán xét cả vấn đề công ăn việc làm và nhà ở, lứa tuổi và giưới tính
Hình 3.11: Mối qua hệ giữa HHR và HAM
3.2.1.3 Dự báo về nhu cầu nhà ở
Yêu cầu về đất xây dựng nhà ở có liên quan trực tiếp đến phát triển dân số Tính toán
về vấn đề nhà ở được dựa trên tính toán phát triển dân số và nhu cầu ở
Hai phương pháp sau sẽ trình bày về tính toán số lượng nhà và kế hoạch ưu tiên
Trang 18- Phương pháp thứ nhất sơ bộ dựa theo số lượng nhân khẩu trong hộ để tính ;
- Phương pháp thứ hai được tính toán trên cơ sở chia nhỏ về hoàn cảnh kiến trúc khác nhau
a Phương pháp thứ nhất
Phương pháp sơ bộ dựa trên cơ sở số lượng bình quân các hộ Số lượng này có thể làm cơ sở tính toán kế hoạch văn hoá xã hội hàng năm rồi nhân số lượng trung bình các hộ để xác định cho kế hoạch, số lượng nhà yêu cầu Từ số lượng nhà yêu cầu và
số lượng có thể cung cấp, ta xác định được số lượng cần xây dựng cho kế hoạch năm với lượng người trong một hộ có thể thay đổi theo thời gian Việc tính toán số lượng nhà yêu cầu được minh hoạ qua thí dụ sau
Ví dụ: dự báo số nhà yêu cầu trên cơ sở số lượng trung bình hộ
Tiếp tục từ ví dụ của mục này Theo số lượng dự báo năm cuối (2010) dân số sẽ đạt
91000 Theo phân tích về phát triển văn hoá xã hội số dân trung bình hộ có xu thế giảm từ 2.42 vào năm 1995 xuống 2.15 vào năm 2010
Từ số liệu này ta xác định được số nhà ở cần cho năm 2010 để mỗi hộ có nhà riêng là 91000: 2.15 = 42326 nhà Số lượng nhà vào năm 1995 là 35188 cái Như vậy số lượng nhà cần xây thêm là 42326 – 35188 = 7138 cái
b Phương pháp thứ hai
Trong phần 3.3.1 thể hiện tính toán đơn giản với giả thiết một dạng nhà ở Thực tế thị trường nhà ở rất đa dạng như tính sang trọng và cao cấp thiết bị lắp đặt và đặc thù quang cảnh khu nhà ở Mật độ nhà ở tính theo diện tích phân bố trong thiết kế chung
có khác nhau khá lớn theo thời gian xây dựng dựa theo nhu cầu về đất xây dựng Để tính toán không gian cho xây dựng điều quan trọng đầu tiên là ta phải biết được mật độ dân số trên cơ sở của các vùng nhà ở khác nhau Thực tế có thể có 5 dạng nhà ở khác nhau như:
• Hộ gồm nhiều thế hệ sống trong nhà điều kiện bình thường
• Hộ gồm nhiều thế hệ sống trong nhà điều kiện sang trọng
• Hộ gồm các cá nhân
Mật độ nhân khẩu sống trong 3 nhóm nhà này phụ thuộc vào các yếu tố sau:
• Phát triển xã hội (nếu nền công nghiệp phát triển thì xu thế đưa đến hộ gồm những cá thể - đơn)
• Vấn đề phát triển dân số trong khu vực (nếu khu vực có nhiều người cao tuổi sẽ có xu hướng có nhiều hộ cá thể)
• Vấn đề phát triển kinh tế (nếu kinh tế khá giả sẽ có nhiều hộ sống trong căn hộ hoặc ngôi nhà sang trọng)
Từ những đặc điểm trên chính là cơ sở để phát triển nhà ở theo nhu cầu thực tế sử
Trang 19dụng
Dữ liệu sau đây là cơ sở ban đầu để tính toán số lượng nhà ở:
Từ số lượng tổng cộng các hộ sống trong khu vực cần có số liệu dự báo số lượng người trung bình trong mỗi hộ
Ví dụ: Dự báo về nhu cầu nhà ở
Bảng thống kê sau lấy theo số lượng dân số năm 1995 với số nhà ở khác nhau hộ và phân bổ theo các dạng khác nhau của hộ
Bảng 3.5 : Số hộ phân bổ theo dạng- số liệu thống kê 1995
Dạng hộ gia đình Số lượng Phần trăm
Đa thế hệ điều kiện bình thường 2817 (62%)
Đa thế hệ mức sống cao 4926 (14%) Độc thân 8445 (24%) Tổng số hộ 35118 Trung bình mỗi hộ 2.42
Chiụ ảnh hưởng của vấn đề phát triển kinh tế, xã hội và nhân khẩu học số lượng người trong một hộ có xu thế giảm và chỉ có 2.15 người trong một hộ tính đến thời điểm năm
2010 Mặt khác số hộ đơn và hộ có mức sống cao sẽ vượt lên so những hộ có mức sống bình thường
Bảng 3.6: Dự báo số hộ vào năm 2010
lượng Phần trăm
Hộ đa thế hệ có mức bình thường 21150 50
Hộ đa thế hệ có mức ssống
Hộ độc thân 12700 30 Tổng số hộ 42300 Trung bình mỗi hộ 2.15
Các bảng sau là số liệu nhà sẽ xây dựng trong giai đoạn kế hoạch 1995-2010
Trang 20Bảng 3.7: Các dạng hộ gia đình khác nhau giữa năm 1995 và 2010
Dạng hộ gia đình/ Năm 1995 2010 Chênh lệch
Đa thế hệ có điều kiện bình
3.2.1.4 Yêu cầu không gian nhà ở
Sau khi yêu cầu về nhà ở trong năm đã xác định, yêu cầu không gian nhà ở sẽ được tính toán Từ đây ta có hai cách tính toán Một là từ chỉ tiêu số lượng để xác định số lượng trung bình nhà trên một hecta Cách thứ hai là dựa theo số lượng nhà trên một đơn vị diện tích để phân chia
a Yêu cầu không gian nhà ở dựa theo chỉ số trung bình
Việc tính toán diện tích yêu cầu trong năm dựa theo chỉ số trung bình mật độ nhà ở cho nơi ở mới được tính dựa theo một số thông số cơ bản Để đi đến việc này ta cần nắm được một số khái niệm Mật độ nhà ở là chỉ số lượng nhà trên một hecta Tỷ số này dựa theo tỷ lệ hiện tại và dự đoán trong tương lai Tỷ lệ này khoảng 40 nhà trên một hecta tại Hà Lan hiện nay Ở Việt Nam mật độ nhà ở phụ thuộc vào vị trí địa lý Khu vực miền núi thì mật độ thấp, đồng bằng thì cao hơn Mật độ cao nhất là thành phố nhỏ và thị xã Các thành phố cấp cao hiện nay xu thế xây dựng chung cư cao tầng nên mật độ này không tính được
b Yêu cầu không gian nhà ở dựa theo chỉ tiêu nhà ở môi trường khác nhau
Diện tích yêu cầu cho mỗi loại nhà ở rất khác đựa theo đặc điểm sử dụng của nó Theo kinh nghiệm của Hà Lan mật độ nhà ở được sơ bộ như sau:
Trang 21trưởng việc làm theo bộ phận công việc;
- Phương pháp thứ ba dựa theo kế hoạch phát triển kinh tế mà chính quyền đưa
ra
a Dự báo dựa trên cơ sở số liệu thống kê tuyến tính
Nguyên lý tính toán phương pháp này rất đơn giản, dựa theo số lượng nghề nghiệp thống kê Giả thiết ngành nghề tỉ lệ với thuận theo phát triển của vùng, phát triển dân
số Tỉ lệ có việc làm ở các nhóm tuổi là không đổi cho tương lai
Ví dụ 3.12 : Dự báo theo khuynh hướng chung
Số lượng việc làm theo nhóm tuổi được thông kê bảng sau:
Bảng 3.9 Số lượng nghề phát triển theo thời gian
Hình 3.12: Dự báo phát triển việc làm vào năm 2010
Đường dự báo được dựa theo số liệu của các năm từ 1980 đến 1995 để tiên đoán năm
2010 khoảng 45500 Năm 1995 số việc làm là 39179 Điều này chỉ cho ta thấy số lượng việc làm gia tăng vào năm 2010 thêm lên là 6300 việc làm
Số lượng tăng trưởng hàng năm có thể dự báo thông qua số liệu thống kê của giai đoạn
Trang 22dài hoặc trung của liệt thống kê tăng trưởng kinh tế quốc gia Phương pháp tính toán này khá đơn giản và phạm vi áp dụng hạn chế
Ví dụ 3.13: Dự báo việc làm dựa theo số liệu tăng trưởng quốc gia
Giả thiết: Số lượng tăng trưởng theo phát triển kinh tế quốc dân tăng 7.5% trong khoảng thời gian 1995 đến 2010 Sử dụng số liệu này, số liệu năm 1995 đã là 39179
dự báo năm 2010 sẽ là 42200 Ta có 42200 – 39179 = 3020 là số việc làm tăng thêm trong khoảng 1995 đến 2010
b Kỹ thuật dự báo dựa theo tăng trưởng việc làm bộ phận
Phương pháp này dựa theo công việc của ngành nghề cụ thể Tỷ lệ tính toán phụ thuộc vào đặc trưng ngành nghề, dạng của công việc và vùng Điều này thể hiện ở tính đặc thù của nó ví như:
• Công việc văn phòng
• Công nghiệp
• Giao thông, phân phối ( dịch vụ)
Việc dự báo cho các loại ngành nghề trên dựa trên khuynh hướng phát triển kinh tế vùng để tiên đoán
Ví dụ 3.14: Dự báo dựa trên ngành nghề bộ phận
Số việc làm cho 39179 người trong vùng phân bổ theo bộ phận ngành nghề như sau:
Bảng 3.10 Phân bổ ngành nghề theo bộ phận 1995
1 Công sở 22724 (58%)
2 Công nghiệp 11362 (29%)
3 Dịch vụ 5093 (13%) Tổng 39179
Từ năm 1995 đến 2010 tỷ lệ ngành nghề giữa các bộ phận trên như sau:
Bảng 3.11 : tỷ lệ tăng trưởng theo ngành nghề
1 Công sở (10.6%)
2 Công nghiệp (1.0%)
3 Dịch vụ (8.9%) Phát triển cơ hội việc làm trong khoảng 1995 và 2010 như sau:
Trang 23Bảng 3.12 Tỷ lệ và số lượng việc làm theo đặc trưng ngành nghề của 3 bộ phận
Tăng trưởng việc làm giữa 1995 và 2010 là: 42155 - 39179 = 2976
c Kỹ thuật dự báo dựa trên mục tiêu phấn đấu
Hai phương pháp tính toán trên giả thiết tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên thuần tuý, nó không ràng buộc điều kiện nào Thực tế có thể có những thay đổi ảnh hưởng đến cơ hội việc làm Ví thử số lượng việc làm có thể khác nhau giữa nông thôn và thành thị
Để làm được việc này, chính quyền địa phương phải đưa ra các tiêu chuẩn về việc làm Công việc mà chính quyền thực hiện đưa lại kết quả khác nhau đặc biệt là phần đất giành cho tạo công việc làm Diện tích này phụ thuộc vào số lượng ngành nghề tạo ra trong thời gian hiện tại và tương lai
Khái niệm – Mạng lưới công việc ổn định
Ngành nghề dự kiến trong vùng phụ thuộc không chỉ người không sinh sống trong khu vực và ngược lại người sống ở chính khu vực nghiên cứu lại làm việc bên ngoài khu
nghiên cứu Chênh lệch của hai loại này là khái niệm chỉ về mạng lưới công việc ổn định Nếu trị số chênh lệch này dương thì có tên gọi là: thị thành- đủ việc, ngược lại
nếu nó âm thì có tên là: thành phố dư người Khái niệm này còn được thể hiện ở tỷ số
người có việc làm trên số dân
Các số liệu sau cần thu thập cho việc tính toán dự báo việc làm:
• Số lượng phần trăm số người chưa có việc làm tính theo dự kiến yêu cầu của chính quyền
• Số lượng, nhóm tuổi và giới tính những người ở độ tuổi lao động Số liệu lấy từ
dự báo dân số
• Mức độ hiện nay của việc làm trong vùng yêu cầu
• Phát triển ngành nghề
Ví dụ 3.15: Dự báo việc làm dựa theo bộ mục tiêu
Ở hai thí dụ trên, chúng ta đều tính toán dựa theo gỉa thiết là phát triển ngành nghề là tăng tự động Nhưng ở thí dụ này bộ mục tiêu về tỷ lệ phần trăm của các nhóm nghề theo dân số được thể hiện và tính toán cho thời điểm 2010
Trang 24Năm 1995 các số liệu sau đã được khẳng định:
• Nghề nghiệp tạo việc làm là 59374
• Người có việc làm ổn định 8% của toàn bộ dân số Vấn đề đặt ra là 4750 việc làm đã được chiếm chỗ do người sống ngoài phạm vi nghiên cứu mà số lượng này cần cho chính người trong vùng nghiên cứu
• Như vậy số lượng công việc còn lại trong vùng là : 39179 - 4750 = 34429, số lượng này chiếm 57.9% số lượng ngành nghề trong tổng số
Tới năm 2010 chính quyền địa phương phải tạo được 60% ngành nghề cho người lao động (tính theo số dân) Số lượng dự báo sau sẽ tính toán theo số lượng ngành nghề yêu cầu :
• Dự báo dân số vào năm 2010 là : 61851 người
• Hệ thống việc làm ổn đinh tăng dần Năm 1995 là 8%, năm 2010 là 13% Như vậy số lượng gia tăng là 8041 việc làm
Tính toán số lượng việc làm cho 80% trong tổng số dân vào năm 2010 sẽ là:
61851 * (0.60+0.13) = 45152
Điều này cũng cho ta thấy cần có đất quy hoạch để tạo công ăn việc làm cho 45152 -
39179 = 5973 nghề trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2010
Chính quyền địa phương cố gắng mở rộng ngành nghề ở hai bộ phận phân phối và công sở Số liệu như sau:
Bảng 3.13: Thiết kế tăng trưởng việc làm ở các bộ phận
TT Bộ phận Số lượng gia tăng
1 Công sở 3000
2 Công nghiệp 500
3 Phân phối 2500
Tổng 6000
3.2.1.6 Yêu cầu không gian trong bố trí việc làm
Trong mục này phương pháp tính toán diện tích cho việc bố trí tạo việc làm được giới thiệu Hiện nay có hai phương pháp chính sau:
• Phương pháp sử dụng chỉ số trung bình về diện tích yêu cầu cho mỗi việc làm
• Phương pháp phân biệt sự khác nhau giữa bộ phận ngành nghề khác nhau
Trang 25a Phương pháp sử dụng chỉ số trung bình về diện tích yêu cầu cho mỗi việc làm
Phương pháp này tính toán số lượng người làm việc trong phạm vi diện tích tính toán
và được thể hiện qua trị số tỷ lệ giữa diện tích phân bổ cho nó và số lượng người thực hiện công việc và nó được thể hiện qua hai cách biểu diễn sau
- Phương pháp biểu diễn Hiệu ích diện tích = Diện tích / số người làm việc
- Phương pháp biểu diễn Chiếm chỗ không gian = số người làm/ diện tích tính toán
Trong khi tính toán hai phương pháp trên kết quả cho thấy định mức trung bình của phương pháp một là 100 – 500 m2/ người làm, phương pháp 2 định mức khoảng 20-
100 người làm / hecta
Ví dụ: Yêu cầu không gian về chỗ làm việc
Ở các ví dụ trên tính toán ban đầu cho ta biết được diện tích cần thiết cần dự tính để bố trí cho 6000 chỗ việc làm khi lượng nghề nghiệp yêu cầu tăng lên trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2010 Cũng ở ví dụ này 39179 việc làm cần 443 ha dành cho thương mại và công nghiệp Nếu phân tích tính theo định mức ta có: 39179/433 = 90 nghề/ha Nếu bố trí cho 6000 chỗ làm việc phải cần: 6000/90 = 67 ha
Như vậy bài toán đã có câu trả lời trong khoảng từ 1995 đến 2010 để bố trí cho lượng nghề nghiệp tăng lên ta phải cần 67 ha dành riêng cho bố trí không gian sản xuất
d Tính toán diện tích yêu cầu dựa theo tỷ số diện tích công việc bộ phận
diện tích
Trên thực tế diện tích yêu cầu cho mỗi bộ phận rất khác nhau Ví dụ diện cần bố trí trung bình cho một cán bộ văn phòng cần 6 m2, nhưng diện tích để bố trí cho một công trình vệ sinh trung bình cần 5000 m2 Chính vì vậy ta cần phân loại đối tượng riêng ra để tính toán
• Bộ phận công sở
• Bộ phận công nghiệp
• Bộ phận phân phối
Công việc văn phòng
Định mức quy định cho công việc văn phòng khá thấp so hai loại định mức khác và thông thường khoảng 20 – 50 m2/ người Định mức trung bình hợp lý khoảng 25
m2/người Còn nếu tính toán theo chỉ số thứ hai thì khoảng 400 việc làm / ha tính cho loại này Cũng cần lưu ý thêm việc tính diện tích này sẽ khác nhau xa khi xem xét nhà nhiều tầng và nhà cao tầng
Trang 26Công nghiệp
Đối với loại này định mức khoảng 150 -250 m2/ người hoặc 40 – 702 người làm/ ha Đặc biệt đối công nghiệp khu vực bến cảng định mức khoảng 2500 m2/ người
Bộ phận phân phối
Định mức cho đối tượng này khoảng 200- 500 m2/người
Ví dụ tính toán diện tích cho chỗ làm việc
Việc tính toán diện tích bố trí cho 6000 việc làm cho các bộ phận được thể hiện ở bảng sau
Bảng 3.14: Không gian cần thiét bố trí cho 6000 chỗ làm việc
Tổng 6000 99.9
Từ bảng trên ta thấy để bố trí cho 6000 việc làm mới cần 100 ha cho các bộ phận văn phòng, công nghiệp và phân phối
3.2.2 Thu thập và sử dụng số liệu của quy hoạch tổng hợp
3.2.2.1 Giới thiệu chung
Khi lập kế hoạch và quy hoạch có rất nhiều số liệu cần thu thập trong suốt quá trình lập Chính vì vậy cần sắp xếp cấu trúc của quá trình thu thập, xử lý số liệu, quản lý và
sử dụng nó là một việc cần thiết Trước tiên cần phân biệt các dạng số liệu Theo trình
tự và sự liên kết giữa chúng Nhưng việc phân loại số liệu có rất nhiều cách, một trong những phương pháp là có thể chia nhỏ số liệu cần tính từ số liệu thống kê hỗn hợp Ví
dụ số lượng trẻ em ở các độ tuổi khác nhau như mẫu giáo, phổ thông
Việc phân biệt số liệu bao gồm:
(1) Số liệu tổng quan
a) số liệu cơ bản không liên quan đến đặc điểm không gian nhưng có quan hệ trực tiếp đến quy hoạch bố trí Loại này bao gồm như sử dụng đất hiện tại, thị trường lao động, giá cả đất đai và vật liệu liên quan, thông tin về đặc trưng dân số, số lượng ô tô yêu cầu diện tích bố trí phòng học
Trang 27b) Không gian yêu cầu của một số bộ phận công trình văn hoá thể thao, hạ tầng cơ sở c) Định mức bố trí công trình đơn vị: như định mức diện tích nhà ở, định mức bố trí nhà, định mức cho bố trí khu vui chơi giải trí
d) Định mức cho bố trí khu dịch vụ như thương mại, bệnh viện, trường học, vệ sinh
(2) Dữ liệu giá trị tiêu chuẩn thường được sử dụng khi lập quy hoạch nên chia ra thành các nhóm nhỏ như sau:
Ví dụ đơn giản Dữ liệu được lấy từ thí nghiệm thực tế, giá trị kiến thức hạn chế Dữ liệu kinh nghiệm và khuynh hướng: có vị trí quan trọng và gía trị hơn những thí nghiệm và ước lượng
Số liệu tiêu chuẩn rút ra từ các nhóm chuyên môn, chuyên nghành
Yêu cầu kỹ thuật: chuyên môn ngành nghề
Tài liệu chuyên môn kỹ thuật do các tổ chức biên soạn và xuất bản
Quy định và luật pháp, định mức, quy phạm, quy chuẩn chuyên nghành
Nhược điểm hay hạn chế khi sử dụng dữ liệu cơ bản và định mức:
- Đơn giản hoá dễ dẫn tới cứng nhắc trong tính toán
- Lệ thuộc vào định mức nên hạn chế sáng tạo của người lập quy hoạch
Từ những phân tích trên ta thấy việc sử dụng phần mềm GIS là rất tiện ích và hiệu quả Tuy vậy việc nhập dữ liệu cần phân chia ra các cấp để thực hiện quá trình tính toán, từ mỗi kết quả sẽ cho dữ liệu giải tiếp các bước sau Trong khi làm sẽ có những hiệu chỉnh hợp lý để kết quả chính xác hơn
3.2.2.2 Sự cần thiết của dữ liệu trong các bước lập quy hoạch
Thông tin đầu vào của các bước có vị trí rất quan trọng Để nắm được vai trò của trong lập quy hoạch ta đi vào khảo sát các bước chính sau
Nhận biết vấn đề
Ở giai đoạn này thông tin cung cấp bao gồm các vấn đề như : khuynh hướng phát triển kinh tế, nhà ở, giao thông cũng như giá cả đất đai, quy hoạch sử dụng đất, vấn đề môi trường Cần lưu ý thông tin không quá chi tiết và ngược lại không quá rộng về những vấn đề cơ bản cần khảo sát Việc lấy thông tin bằng nhiều cách như phỏng vấn trực tiếp, lấy phiêú thăm dò hoặc lấy ý kiên các nhà chuyên môn Các thông tin thu thập cần được kiểm tra độ tin cậy trước khi biên tập chúng
Thu thập số liệu
Công tác thu thập số liệu của giai đoạn này cần làm rõ các vấn đề sau:
• Vùng, thực trạng, thông tin bộ phận và các số liệu
• Hiện trạng sử dụng đất
Trang 28• Đặc trưng chỉ số tiêu chuẩn
• Phân loại theo dạng nhà ở
• Phân loại theo lứa tuổi
• Mật độ phân bố
Việc làm
• Phân theo lực lượng lao động
• Phân loại theo kỹ năng ngànhnghề
• Phân loại theo yêu cầu công nghiệp
• Nguồn gốc và điểm đến của dòng người di chuyển
• Hệ thống đường giao thông
• Số lượng hàng hoá và người đi lại
• Điểm xuất phát và đến các phương tiện
• Vận chuyển hành khách đi làm và học sinh tới trường
• Cấp nước sinh hoạt
• Hệ thống tiêu thoát
• Hệ thống vệ sinh
• Hệ thống thu gom rác thải
• Hệ thống điện
Công viên, môi trường và tự nhiên
• Công viên, vườn cây, khu vui chơi
• Hàng rào bảo vệ khu vui chơi
Trang 29• Sự cần thiết của các loại dịch vụ này
b) Thông tin về sử dụng đất và giá thành
- Tỷ lệ số người làm thương mại trên dân số
- Diện tích trung bình cho dịch vụ thương mại
- Số lượng trung bình công trình vui chơi trên đầu người
- Số lượng bình quân ô tô / hộ gia đình
- Lượng nước sử dụng trung bình hộ
- Lượng rác thải trung bình hộ
d) Chính sách nhà nước
- Quy định cho vùng, đặc khu, quốc gia
- Phụ thuộc vào bộ phận nhỏ, phạm vi rộng
- Quy hoạch và kế hoạch hiện tại
- Cơ cấu tổ chức, quy trình lập quyết định, luật pháp và nghị định
Từ các thông tin trên được thu thập, thông qua quy trình sử dụng dữ liệu tiêu chuẩn và phân loại đối tượng qua việc sử dụng phần mềm GIS sẽ đưa cho ta mục đích cần làm
Phân tích các phương án
Thông tin giai đoạn này có vị trí quan trọng, nó cần phải phản ánh đầy đủ về kinh tế xã hội, tài chính và môi trường Để phân tích các bước cần sử dụng một số phương pháp tính toán hỗ trợ để tính ra giá thành, phân tích kinh tế, tài chính, đánh giá tác động môi trường Trong tính toán chuyên môn cần rất nhiều dữ liệu, điều kiện đầu vào phải được
rõ để từ đó các vấn đề tính được khai thông Ngoài ra vấn đề kiến thức chuyên môn tính toán cũng được xem xét có vị trí quan trọng
Thực thi và đánh giá
Trong quá trình thực thi có thể cần sử dụng thêm dữ liệu phục vụ cho bổ sung hoặc thay đổi thiết kế cho phù hợp khi phát hiện thiết kế ban đầu chưa thật hợp lý Công việc này còn có ý nghĩa cho cả giai đoạn duy tu bảo dưỡng vận hành
Trang 303.2.2.3 Chú ý khi sử dụng số liệu
Những điểm cần lưu ý trước khi sử dụng số liệu:
- Nghiên cứu dữ liệu không quá lâu, ngược lại các bước tiến hành quá lâu
sẽ dẫn đến khả năng chậm trễ Nếu quy trình thực hiện quá lâu, các thành viên tham gia sẽ có khó khăn nhất định về quỹ thời gian
- Phân loại thông tin để giúp người lập quy hoạch tiếp cận thuận lợi
- Thông tin dữ liệu cần lưu trữ phục vụ cho khai thác lâu dài và đa mục đích
3.2.2.4 Sử dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Việc sử dụng bản đồ là việc phổ biến trong lập quy hoạch, ở đó phạm vi sử dụng đất,
hạ tầng cơ sở được thể hiện Để trợ giúp cho việc lập quy hoạch hệ thống GIS được thiết lập để thể hiện những thông tin cần thiết khi sử dụng
a Tổng quan về GIS
Có 4 bước ứng dụng GIS:
(a) Thu thập thông tin (b) Nhập dữ liệu vào máy tính (c) Phân tích và chạy số liệu (d) Thể hiện kết quả
b Tính thực tế trong thực hiện quy hoạch
Hệ thống thông tin địa lý GIS có vai trò quan trọng trong phương pháp phân tích ô lưới và phương pháp phân tích tiềm năng bề mặt Trên thực tế GIS có thể được sử dụng khi:
(a) Lựa chọn hạ tầng cơ sở, đường sá (b) Tiêu chuẩn về tiếng ồn giao thông (ví dụ bao nhiêu nhà là hợp lý để hạn chế tiếng ồn xuống dưới 65 dB)
(c) Bảo vệ thiên nhiên và môi trường (d) Thống kê tai nạn giao thông (e) Quản lý hệ thống đường nhựa
3.2.3 Lựa chọn vị trí xây dựng công trình
3.2.3.1 Giới thiệu chung
Để xác định vị trí xây dựng nhà ở có thể tham khảo sử dụng hai phương pháp đã quen
dùng đó là phương pháp phân tích ô lưới (Sieve Analysis ) và phương pháp phân tích
bề mặt (Potential Surface Analysis)
Trang 31Phương pháp phân tích lưới giúp ta thấy được ngay diện tích đã có công trình chiếm chỗ Diện tích còn lại là đối tượng đầu vào để ta nghiên cứu phân tích chọn lấy vị trí hợp lý cho xây dựng tương lai
Phương pháp phân tích bề mặt không gian giúp cho người lập quy hoạch tìm ra những phần diện tích cho phép rồi từ đó tính toán để xác định khu hợp lý nhất cho xây dựng
dự án Hai phương pháp này có thể tính toán độc lập hoặc kết hợp vận dụng cả hai cho việc tìm ra nơi xây dựng hợp lý nhất cho dự án đầu tư
3.2.3.2 Phương pháp phân tích lưới
Phương pháp phân tích lưới (SA) rất đơn giản trong tính toán và sử dụng Các bước chính được tiến hành như sau:
• Bước một : liệt kê danh mục các tiêu chuẩn tính toán Ví dụ như vùng khó tiêu nước, vùng đầm lầy, vùng bảo tồn thiên nhiên…
• Bước hai: điều tra các tiêu chuẩn thống kê và tìm ra khu vực hay vùng không thuận lợi cho từng yếu tố Để thực hiện chúng ta có thể chồng các biều đồ của các đối tượng lên nhau Phần giao gianh của các đối tượng là phần đã có công trình và các mục đích của nó, phần trống đó chính là diện tích có thể xây dựng công trình trên đó
Ví dụ : Trên hình 3.13 thể hiện các tiêu chuẩn được thể hiện qua các hình biểu diễn trong đó hình A thể hiện khu vực đầm lầy, hình B thể hiện khu bảo tồn thiên nhiên, hình C là khu vực đã xây dựng công trình
Trang 32Hình 3.14: Kết quả của phương pháp phân tích lưới
3.2.3.3 Phương pháp phân tích tiềm năng (bề mặt không gian)
Phương pháp phân tích tiềm năng là phương pháp sử dụng các tính toán các mục tiêu khác nhau theo các đối tượng để tìm ra một tổ hợp ở đó tối ưu về các mặt Phương pháp này tiến hành qua việc phân chia diện tích ra thành các ô nhỏ có kích thước như nhau Trên cơ sở phân tích từng tiêu chuẩn tính toán để xác định ra phát triển trong tương lai
Ví dụ về phương pháp phân tích tiềm năng
Gần thi xã Forxton có khu đất có diện tích 2 ha có thể xây dựng nhà ở Hiện trạng khu này được thể hiên trên hình 3.15 Trên diện tích này được chia thành các ô nhỏ mỗi cạnh 20m dài
Hình 3.15: Lưới phân chia diện tích theo ô có các cạnh là 200m
Để tìm ra diện tích tối ưu cho việc xây dựng công trình ta cần đi vào tính toán từng chỉ tiêu yêu cầu
Trang 33Để xây dựng nhà ở vấn đề đất nền có tầm quan trọng nó liên quan trực tiếp đến gía thành xây dựng Xét về điều kiện địa chất nền, nếu lớp chịu lực càng sâu thì càng tốt
và mực nước ngầm càng thấp thì càng có lợi xét theo quan điểm tính toán ổn định nền Thông thường lớp chịu lực là lớp đất mặt Vấn đề thứ hai là giá thành cho việc sử dụng đất Giá thành tính toán lấy theo gía đơn vị hiện hành và giả thiết rằng đất sử dụng cho nông nghiệp thì rẻ hơn so sử dụng cho công nghiệp
Trị số tính toán cho mỗi mục đích được liệt kê trong bảng sau
Bảng 3.15: Trị số hiệu năng của ô lưới
Trang 34Hình 3.16: Kết quả của phương pháp thể hiện mục tiêu sử dụng qua phân tích hình
Kết quả trên cho thấy các ô số 1 và 4 là ô khả dĩ Phương pháp tính trên lượng hoá tiêu chuẩn có gía trị như nhau
3.2.3.4 Phân chia diện tích ra thành các ô nhỏ hơn
Đối với mỗi đối tượng sẽ được xem xét Ví dụ khu vực dân sinh có 3 cách phân chia diện tích
(1) Lưới
Ở ví dụ trên thể hiện cách phân chia theo lưới ô Diện tích lưới ô vuông bằng diện tích yêu cầu xây dựng Ưu điểm của phương pháp phân chia ô là các ô chia có diện tích bằng nhau trong tính toán và sử dụng tạo độ X và Y để tính Nhược điểm của nó là không thể đáp ứng việc phân chia các ô theo mỗi mục đích riêng
(2) Phân chia hữu cơ
Việc phân chia theo đặc tính của mỗi đối tượng và ưu tiên cho đặc tính cá biệt cho các đối tương này Điều này có nghĩa là tiểu diện tích sau phân chia sẽ có các đường biên giới Ví dụ như hệ thống kênh, đường giao thông và các công trình cá biệt khác mà chúng có biên giới Phương pháp phân chia hữu cơ được thể hiện qua hình 3.18 sau
(3) Phân chia ô hữu cơ
Đây là phương pháp hỗn hợp của hai phương pháp trên Các bước tiến hành như sau: đặt diện tích ô lưới lên trên diện tích tính toán và nhóm các ô khác nhau theo đối tượng
để tính toán Các bước tiến hành giống như phương pháp PSA Phương pháp này được thể hiện trên hình 3.17
Trang 35Hình 3.17: Phương pháp phân chia hữu cơ và phân chia lưới hữu cơ
3.2.3.5 Sử dụng hỗn hợp hai phương pháp SA và PSA
Nội dung phương pháp này được thực hiện như sau: Bước đầu dùng phương pháp phân tích ô lưới là điểm bắt đầu của phương pháp PSA Diện tích sử dụng hiện tại đã xác định hoặc diện tích xác định cho tương lai không thay đổi sẽ không được tính toán trong đo đạc bề mặt của phương pháp PSA Trước tiên thu thập và lượng hoá các tiêu chuẩn, sau đó là bước phân tích
Hình 3.18: Mô hình biểu diễn trong bước phân tích
Mục đích
Mục đích tiêu chuẩn (SA) Mục đích tiêu chuẩn
Yếu tố
Chỉ số nhỏ
Tỉ số Chất lượng vùng
Trang 36Bước phân tích
Số liệu hiện tại được điều tra trong bước phân tích này, những mong ước về xã hội được liệt kê theo bộ các mục đích Trước tiên chia nhỏ các mục đích ra thành các tiêu chuẩn Theo diện tích trên cơ sở của phương pháp SA Các mục đích tiêu chuẩn (ví dụ như khu dân cư sẽ không được động đến) và các tiêu chuẩn phảI thoả mãn các yêu cầu theo tính toán PSA Khái niệm mục đích tiêu chuẩn (ví dụ như ảnh hưởng môi trường càng nhỏ càng tốt) Bước hai tìm các thừa số xác định các mục đích Các yếu tố có thể
là đặc tính vật lý ( ví dụ đất phù hợp cho xây dựng), hoặc vấn đề xã hội ( gần các trung tâm thương mại) Chất lượng của mỗi tiểu diện tích đôí yêu cầu đặc biệt đã được lượng hoá (trị số lấy từ 1- 10 hoặc có thể chia thang 100) Để có cơ sở tính toán cần cần gắn các giá trị cho mỗi chỉ số tính toán, đó là chính là các chỉ số nhỏ Tổng quan các bước tính được thể hiện trên hình 3.17
Ví dụ : Tổ hợp hai phương pháp SA/ PSA
Phương pháp này là tổ hợp của hai phương pháp SA và PSA Phương pháp này có thể giải thích như sau:
Ví dụ này đi vào giải quyết vấn đề khi dân số tăng lên và sự mở rộng thêm diện tích cho khu dân cư Diện tích tổng cộng có kích thước 7km x7 km Khu vực công trình, trường học và dịch vụ gần khu trung tâm thành phố, điều này rất tiện cho đi lại giữa khu ở và trung tâm thành phố Ngoài ra gần khu xây dựng còn có các công trình tự nhiên, lưu vực nguồn nước cần được bảo vệ
Mục tiêu của phương pháp SA là khi xây dựng khu nhà ở sẽ không ảnh hưởng tới :
(a) Khu vực nhà ở và khu công nghiệp (b) Khu vực nghiên cứu khoa học tự nhiên (c) Các lưu vực nguồn nước
Các vấn đề trên được thể hiện trên bản đồ 3.1 sau
Trang 37Bản đồ 3.1: Đánh ô các vùng cần bảo vệ trong phương pháp SA
Bản đồ 3.2: Kết quả phân tích vùng ô lưới với kích thước ô chia 250x250 (m)
Để chuyển sang phương pháp P.S.A biểu đồ được chia ra theo các ô lưới có kích thước 250x250 (mxm) Các ô lưới này phân chia sao thuận lợi cho tính toán để đảm bảo độ chính xác trong tính toán Kết quả phân chia được thể hiện trên bản đồ3.2
3.2.3.6 Tiêu chuẩn ảnh hưởng về không gian và phù hợp
Vùng nước Nhà hiện tại Đất tự nhiên
Trang 38Các tiêu chuẩn tính toán trong các ví dụ trước có liên quan chặt chẽ đến điều kiện thực tế trong tính toán Ví dụ việc xét các vấn đề lớp chịu tải, vùng bảo vệ tự nhiên, vị trí các khu nhà ở cũ v.v Các tiêu chuẩn này ta gọi là tiêu chuẩn phù hợp Nó hoàn toàn độc lập với việc phân chia diện tích và vị trí các ô lưới Ví dụ tiếng ồn có thể sinh
ra từ các đường giao thông lân cận Trong trường hợp này, trọng số các ô không phụ thuộc vào vị trí ô lưới mà phụ thuộc vào yếu tố tiếng ồn của giao thông Như vậy rõ ràng ô lưới phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài Để phân loại và đánh giá ảnh hưởng này ta đưa ra tiêu chuẩn ảnh hưởng Để hiểu rõ thêm các vấn đề đánh giá này một số ví dụ sau đây sẽ được làm sáng tỏ qua việc tổ hợp sử dụng cả hai phương pháp SA và PSA
Ví dụ tổ hợp sử dụng hai phương pháp SA và PSA
Khi áp dụng phương pháp PSA chúng ta đã sử dụng bản đồ 3.2 mà đã thực hiện ở phương pháp SA Bước tiếp theo cần xác định “thế năng” của các ô lưới Để có thể dễ tiếp cận phương pháp này một số mục tiêu mang tính phức tạp sẽ loại trừ mà giành cho các đối tượng đơn giản hơn trong thể hiện tính toán
Mục đích tiêu chuẩn của phương pháp PSA là:
(a) Khoảng cách từ khu nhà ở đến trung tâm thành phố là nhỏ nhất (ảnh hưởng không gian)
(b) Hạn chế tối đa có thể ảnh hưởng của tiếng ồn từ hệ thống giao thông (ảnh hưởng không gian)
(c) Giá đầu tư là nhỏ nhất ( phù hợp)
Bước tiếp theo là xác định các yếu tố ảnh hưởng từ điều kiện ban đầu Ở đây ta chú ý các yếu tố sau:
Trang 39Đó là khoảng cách theo đường chim bay từ điểm đo đến trung tâm thành phố Muốn xác định được khoảng cách này ta lấy trung tâm thành phố là điểm tâm vẽ vòng tròn
có đường kính là 2,5 km Các ô nằm trong vòng tròn này mang giá trị là 10 Tiếp theo
cứ 500m tiếp theo thì giảm đi một điểm ( ví dụ khoảng cách xa 3,5 km thì trị số tính toán là 10 - 2 = 8 điểm) Kết quả tính toán trên được thể hiện trên bản đồ 3.3 sau
phố
(2) Ảnh hưởng tiếng ồn
Mức độ ảnh hưởng của tiếng ồn được quy định như sau :
Mức độ tiếng ồn (dB)
Thang điểm
>55 1 50< x< =55 2
45 < X < =50 3
X <= 45 4 Kết quả thể hiện các điểm trên bản đồ 3.4 sau
Trang 40Bản đồ 3.4: Chỉ số tiếng ồn
(3) Vấn đề nền móng cho xây dựng
Vấn đề quan tâm trước tiên cho chỉ tiêu này là gía đầu tư xây dựng mà điều này phụ thuộc rất lớn vào điều kiện nền móng xây dựng công trình Gía thành cho công tác đất, nước ngầm và lớp gia cố bề mặt phụ thuộc chính vào cấu trúc đất nền và mực nước ngầm dao động Giá thành cho nền móng và công trình tiêu nước lại phụ thuộc vào lớp đất chịu tải của nền Trong bảng tính toán đã đề cập các yếu tố này
Đất nền phân bổ theo lớp và cấu tạo do 3 nhóm chính cát, cát pha sét và sét bùn Mực nước dưới nền chia ra thành 8 cấp như thể hiện trong bảng sau