1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tết của dân tôc sán dìu ở xã đạo trù, tam đảo, vĩnh phúc

52 710 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tết Trong Đời Sống Của Người Sán Dìu Ở Xã Đạo Trù, Huyện Tam Đảo, Tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả Lưu Văn Năm
Người hướng dẫn Th.s: Bùi Minh Thuận
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Văn hóa
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 875,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lí do chọn đề tài. Đối với người Việt Nam, tết là thời gian cho gia đình xum họp, quây quần bên nhau, thời gian này diễn ra lễ và hội, cảnh không khí nhộn nhịp này thường diễn ra vào đầu năm, tức là tết Nguyên đán, có thể nói rằng đây là tết lớn nhất của dân tộc Việt Nam. Hòa cùng không khí chung của dân tộc anh em, đồng bào ngươi Sán Dìu cũng có hình thức ăn tết rất phong phú và đa dạng, điểm độc đáo ở đây là cảnh nhộn nhịp của tết không chỉ diễn ra trong tết Nguyên đán mà diễn ra nhiều lần trong một năm. Người Sán Dìu có 5 lần ăn tết trong năm, vào tháng 1 tết Nguyên đán, tháng 3 tết Thanh minh, tháng 5 tết Đoan ngọ, tháng 7 và tháng 11 tết Đông chí. Đây là nét độc đáo trong đời sống tết của người Sán Dìu, tô đậm thêm nét đặc trưng trong văn hóa của tộc người này, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng của văn hóa Việt Nam. 2. Lịch sử vấn đề. Văn hóa tết trong đời sống người Việt đã được rất nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu trong đó có công trình “tìm hiểu phong tục Việt Nam ,nếp cũ tết lễ hội hè” của tác giả Toan Ánh nhà xuất bản Thanh Niên , hay “ý nghĩa một số phong tục ngày tết của người Việt” của tác giả Lý Thái Bình 2007…nhưng văn hóa tết của người Sán Dìu, những nét độc đáo trong tết của tộc người này rất ít công trình tiếp cận và mang tính khoa học, hệ thống. Bên cạnh những bài viết về phong tục người Sán Dìu thì chưa thực sự đầy đủ nếu không đi sâu nghiên cứu tết trong đời sống của tộc người này. Chính vì vậy đề tài nghiên cứu “tết trong đời sống của người Sán Dìu ở xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” của tôi là một đề tài mới mẻ, tìm hiểu khá đầy đủ phong tục phong tục đời sống của người Sán Dìu, và đi sâu nghiên cứu văn hóa tết của tộc người này qua 5 cái tết trong một năm, và hiện nay chưa có công trình nào đi sâu nghên cứu về vấn đề này. 3.Đối tượng phạm vi nghiên cứu. 3.1 Đối tượng nghiên cứu. Tết trong đời sống người việt rất phong phú, đa dạng và trong mỗi tộc người có một nét đặc trưng riêng, trong đề tài tôi tập trung nghiên cứu tết trong đời sống của người Sán Dìu. Tìm hiểu riêng văn hóa tết của tộc người này, trong văn hóa tết nói chung của người Việt. 3.2 phạm vi nghiên cứu. 3.2.1 phạm vi thời gian. Trong đề tài tôi tập trung chủ yếu vào nghiên cứu văn hóa, đời sống trong các ngày tết, diễn ra trong một năm của người Sán Dìu ở xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. 3.2.2 phạm vi không gian. Thực hiện nghiên cứu văn hóa tết của người Sán Dìu, tôi tập trung chủ yếu trên địa bàn xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh phúc, nơi có nhiều người Sán Dìu sinh sống và hoạt động nhất ở tỉnh Vĩnh Phúc. 4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu. 4.1 Nguồn tài liệu. Nguồn tài liệu sử dụng chính trong đề tài là tài liệu điền dã, tìm hiểu qua tranh ảnh và tham khảo trên trang web : vptoday, trang web chính thức của Vĩnh phúc, có nhiều bài viết về phong tục người Sán Dìu. 4.2 Phương pháp nghiên cứu. Để hoàn thành đề tài tôi có sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như khảo sát thực tế tại địa phương nơi người Sán Dìu sinh sống. Ngoài ra còn áp dụng phỏng vấn chuyên sâu để tìm ra sự thay đổi trong tết của người Sán Dìu hiện nay. Phân tích, so sánh tổng hợp cũng được sử dụng trong đề tài để tìm ra sự khác biệt với người kinh sông quanh khu vực. 5. Bố cục đê tài. Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục,tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được trình bày qua 3 chương. Chương 1 : Những nét khái quát đời sống người Sán Dìu Chương 2: Các hoạt động tổ chức tết của người Sán Dìu Chương 3: Vị trí và vai trò tết trong đời sống của người Sán Dìu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LƯU VĂN NĂM

Tết trong đời sống của người Sán Dìu ở xã Đạo Trù,

huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

Chuyên ngành: Lich sử Văn hóa Người hứng dẫn khoa học

Th.s: Bùi Minh Thuận Sinh viên: Lưu Văn Năm

Vinh, năm 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành tiểu luận này, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, và cácbạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơnchân thành tới: Th.s Bùi Minh Thuận, người đã trực tiếp hướng dẫn tôitrong suốt quá trình tìm hiểu và hoàn thành tiểu luận này

Qua đây tôi xin bài tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo hướng dẫn, các thầy côtrong khoa Lịch Sử, gia đình và bạn bè đã động viên chia sẻ, giúp đỡnhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, trong thời gian tôi hoànthành bài tiểu luận

Mặc dù đã cố gắng hết sức mình, song đây là bài nghiên cứu đầu tiên Dotrình độ còn có hạn, thời gian nghiên cứu không dài cũng như nguồn tài liệuchưa thật đầy đủ, bài tiểu luận không thể tránh khỏi những sai sót Tôi rấtmong nhận được sự góp ý của quý thầy cô cũng như bạn bè để bài tiểu luậnđược hoàn chỉnh hơn

Vinh, tháng 6 năm 2011

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 2

2.Lịch sử vấn đề 3.Đối tượng phạm vi nghiên cứu 3

4.Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3

5.Bố cục đề tài 3

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT NGƯỜI ĐỜI SỐNG NGƯỜI SÁN DÌU 1.1 Nguồn gốc người Sán Dìu 4

1.2 Đời sống người Sán Dìu 4

CHƯƠNG 2 CÁC HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC TẾT CỦA NGƯỜI SÁN DÌU 2.1 Tết Nguyên Đán 1/1 14

2.2 Tết Thanh Minh 3 18

2.3 Tết Đoan Ngọ 5/5 23

2.4 Tết tháng 7 (tết Trung Nguyên)14/7 26

2.5 Tết Đông Chí 11 27

CHƯƠNG 3 VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA TẾT TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI SÁN DÌU 29

Trang 4

3.1 Ý nghĩa tết trong năm

3.2 Nét độc đáo trong tết của người Sán Dìu 303.3 Sự thay đổi trong đời sống tết hiện nay 30

KẾT LUẬN 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 33

Trang 5

là tết lớn nhất của dân tộc Việt Nam Hòa cùng không khí chung của dân tộcanh em, đồng bào ngươi Sán Dìu cũng có hình thức ăn tết rất phong phú và

đa dạng, điểm độc đáo ở đây là cảnh nhộn nhịp của tết không chỉ diễn ratrong tết Nguyên đán mà diễn ra nhiều lần trong một năm Người Sán Dìu có

5 lần ăn tết trong năm, vào tháng 1 tết Nguyên đán, tháng 3 tết Thanh minh,tháng 5 tết Đoan ngọ, tháng 7 và tháng 11 tết Đông chí

Đây là nét độc đáo trong đời sống tết của người Sán Dìu, tô đậmthêm nét đặc trưng trong văn hóa của tộc người này, góp phần tạo nên sựphong phú đa dạng của văn hóa Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề.

Văn hóa tết trong đời sống người Việt đã được rất nhiều học giả

trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu trong đó có công trình “tìm hiểu

phong tục Việt Nam ,nếp cũ tết lễ hội hè” của tác giả Toan Ánh nhà xuất

bản Thanh Niên , hay “ý nghĩa một số phong tục ngày tết của người Việt”

của tác giả Lý Thái Bình 2007…nhưng văn hóa tết của người Sán Dìu,

Trang 6

những nét độc đáo trong tết của tộc người này rất ít công trình tiếp cận vàmang tính khoa học, hệ thống.

Bên cạnh những bài viết về phong tục người Sán Dìu thì chưa thựcsự đầy đủ nếu không đi sâu nghiên cứu tết trong đời sống của tộc người này

Chính vì vậy đề tài nghiên cứu “tết trong đời sống của người Sán Dìu ở xã

Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” của tôi là một đề tài mới mẻ, tìm

hiểu khá đầy đủ phong tục phong tục đời sống của người Sán Dìu, và đi sâunghiên cứu văn hóa tết của tộc người này qua 5 cái tết trong một năm, vàhiện nay chưa có công trình nào đi sâu nghên cứu về vấn đề này

3.Đối tượng phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tượng nghiên cứu.

Tết trong đời sống người việt rất phong phú, đa dạng và trong mỗi tộcngười có một nét đặc trưng riêng, trong đề tài tôi tập trung nghiên cứu tếttrong đời sống của người Sán Dìu Tìm hiểu riêng văn hóa tết của tộc ngườinày, trong văn hóa tết nói chung của người Việt

3.2 phạm vi nghiên cứu.

3.2.1 phạm vi thời gian.

Trong đề tài tôi tập trung chủ yếu vào nghiên cứu văn hóa, đời sốngtrong các ngày tết, diễn ra trong một năm của người Sán Dìu ở xã Đạo Trù,huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

3.2.2 phạm vi không gian.

Thực hiện nghiên cứu văn hóa tết của người Sán Dìu, tôi tập trungchủ yếu trên địa bàn xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh phúc, nơi cónhiều người Sán Dìu sinh sống và hoạt động nhất ở tỉnh Vĩnh Phúc

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.

4.1 Nguồn tài liệu.

Trang 7

Nguồn tài liệu sử dụng chính trong đề tài là tài liệu điền dã, tìm

hiểu qua tranh ảnh và tham khảo trên trang web : vptoday, trang web chínhthức của Vĩnh phúc, có nhiều bài viết về phong tục người Sán Dìu

4.2 Phương pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành đề tài tôi có sử dụng nhiều phương pháp nghiêncứu như khảo sát thực tế tại địa phương nơi người Sán Dìu sinh sống

Ngoài ra còn áp dụng phỏng vấn chuyên sâu để tìm ra sự thay đổitrong tết của người Sán Dìu hiện nay

Phân tích, so sánh tổng hợp cũng được sử dụng trong đề tài đểtìm ra sự khác biệt với người kinh sông quanh khu vực

5 Bố cục đê tài.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục,tài liệu tham khảo, nội dungchính của đề tài được trình bày qua 3 chương

Chương 1 : Những nét khái quát đời sống người Sán Dìu

Chương 2: Các hoạt động tổ chức tết của người Sán Dìu

Chương 3: Vị trí và vai trò tết trong đời sống của người Sán Dìu

Trang 8

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT ĐỜI SỐNG NGƯỜI SÁN DÌU

1.1 Nguồn gốc người Sán Dìu

Dân tộc Sán Dìu còn có tên gọi khác là Sán Déo, Trại, Trại Đất,

Mán Quần Cộc Tên tự gọi Sán Déo Nhín (Sơn Dao Nhân) Hiện nay người

Sán Dìu là một dân tộc cư trú tại vùng miền núi phía Bắc nước ta, vớikhoảng 95.000 người ở Vĩnh Phúc, người Sán Dìu sống ven chân núi TamĐảo với trên 31.000 người.(2003) Họ ở những chòm xóm nhỏ xen kẽ vớingười Hoa ,Tày, Nùng…Qua việc nghiên cứu gia phả và các cụ già kể lại, vìkhông chịu nổi sự đàn áp, bóc lột tàn khốc của bọn phong kiến TrungQuốc, người Sán Dìu phải vượt biên giới Việt Trung vào Việt Nam sinhsống đã trên dưới 300 năm nay( từ cuối nhà Minh đến đầu nhà Thanh)

Tiếng nói của người Sán Dìu thuộc ngôn ngữ Hán - Tạng, nhưnghiện tượng song ngữ đang dần phát triển, ngoài tiếng phổ thông họ còn biếtnhiều tiếng nói của các dân tộc khác cộng cư trong vùng

1.2 ĐỜI SỐNG NGƯỜI SÁN DÌU

1.2.1 Địa bàn cư trú.

Người Sán Dìu có tâm lý và sở thích chọn nơi đất ở là vùng bánsơn địa: Có núi, có đồi, có đất bằng ở ven sông, ven suối để khai khẩn thànhruộng lúa nước Người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc đã chọn, sinh sống ở vùng venchân núi Tam Đảo phía Nam Những nơi này từ xưa là rừng nguyên sinhrậm rạp, nhiều chim muông thú rừng, đất đai màu mỡ, có tầng đất mùn dày

dễ trồng cấy các loại cây lương thực Nhiều dòng khe, dòng suối lớn nhỏ bắt

Trang 9

nguồn từ từ trên núi Tam Đảo với nguồn nước vô tận Lại có nhiều loại cátôm, lươn, cua, ốc, ếch - nguồn thực phẩm dồi dào cung cấp cho con người.Địa thế các xã: Minh Quang, Tam Quan, Trung Mỹ, Hồ Sơn, HợpChâu nơi có đông đảo đồng bào Sán Dìu cư trú là một dải đất khá bằng Từnhững năm 60 trở về trước vùng này còn là rừng cây âm u rậm rạp, nơi đấtbằng đã được khai khẩn thành ruộng gieo trồng cây lương thực Ở vùng cácxã Đạo Trù, Yên Dương, Bồ Lý của huyện, cùng xã Quang Sơn, BắcBình phía Đông - Bắc huyện Lập Thạch nơi có đồng bào Sán Dìu cư trúcũng có địa thế tương tự Vùng này còn có dòng sông Đáy - nguồn cung cấpnước và nguồn thực phẩm dồi dào cho đồng bào.

Khi đã chọn được vùng đất hợp lý, với tâm lý và tập tục canh tác họdành nơi đất bằng để khai khẩn ruộng lúa nước, đất gần bờ suối bờ sông làmsoi bãi, đất đồi gò làm nương rẫy Ở ven những cánh đồng làm nhà ở tạothành những bản đông vui

1.2.2 Kỹ thuật gieo trồng

Người Sán Dìu đã sớm có nền văn minh cấy lúa nước Họ sớm tiếp thu

kỹ thuật gieo trồng mới của dân tộc bạn Phương pháp khai khẩn đất hoangkhông ngoài biện pháp chặt cây, phát cỏ rồi đốt, dọn sạch gieo trồng lúa, ngôkhoai rau đậu vài vụ, đến khi gốc rễ cấy mục nát, họ cuốc xới san bằng, đắp

bờ chờ trời mưa hoặc đắp phai, đập nhỏ khơi luồng nước vào ruộng Dùngsức người hoặc trâu bò kéo san bằng, cày, cuốc, bừa cho đất nhuyễn rồi cấymạ đã gieo sẵn vào ruộng Một số vùng đồng bào Sán Dìu ở Vĩnh Phúc cónhững cánh đồng bằng phẳng với hàng trăm mẫu Bắc bộ như ở Đạo Trù,Minh Quang, Hợp Châu, Đại Đình huyện Tam Đảo Đến nay đã có nhiềucông trình thuỷ lợi lớn được Nhà nước đầu tư như hồ Đại Lải, Xạ Hương,làng Hà, Đạo Trù với hàng nghìn km kênh mương dẫn nước về để đồng bàocanh tác Song phần lớn đồng ruộng của đồng bào Sán Dìu vẫn là ruộng bậc

Trang 10

thang thấp, ruộng dộc, ruộng chằm lầy lụt ở những thung lũng đồi núi hẹp.Không chủ động nguồn nước tưới tiêu Trước đây chỉ làm một vụ mùa vàomùa mưa, năng suất thấp Số thóc làm ra từ ruộng đất chỉ đạt 50% nhu cầulương thực cho con người nên họ phải đa canh làm thêm soi bãi, phát thêmnương trên đồi rừng để trồng các loại hoa màu khác như: ngô, khoai, sắn,đậu đỗ , lạc vừng bổ sung vào nguồn lương thực Người Sán Dìu còn cóphương pháp luân canh: Trên một vạt nương đồi hoặc soi bãi, những nămđầu đất còn tốt họ trồng lúa cạn (lúa nương), xung quanh trồng đậu đỗ Nămthứ 3 trồng lạc, đỗ vừng, khoai sọ Có nơi năm thứ 4, thứ 5 quay sang trồngmía, sắn rồi củ từ, củ mỡ Vì đất những năm sau đã bạc màu, họ chuyển sangtrồng những loại cây có rễ dài ăn sâu xuống đất như chè, dứa rồi biến vạtnương này thành cây ăn quả lâu năm hoặc cây lấy dầu, lấy gỗ như: trẩu, sở,xoan

Người Sán Dìu thường có những loại ruộng sau:

- Ruộng nước trên những cánh đồng tương đối bằng

- Ruộng dộc, ruộng bậc thang, ruộng chằm lầy

- Ruộng cạn soi bãi, nương đồi (lúa cạn + ngô)

Người Sán Dìu cũng đã sớm hiểu biết và tiếp thu kỹ thuật thâm canhcây lương thực (nhất là cây lúa nước) " Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứgiống " của người Kinh Khi khai khẩn đất hoang để làm ruộng họ đã chú ýđến lấy nguồn nước ở đâu: " Kẹn then, kẹn súi, mạo kẹn nhìn" tức là nhìntrời, nhìn suối, không nhìn người Làm ruộng không phải chỉ nhìn vào sứcngười mà phải nhìn vào cả trời và nước (tức dòng suối - nguồn nước) Vìvậy ở đâu có cánh đồng lúa nước thì phía cao đều có một con phai, đập nhỏngăn dòng khe, hoặc suối bằng cách thô sơ như: Chắn đá, đóng cọc tre, đắpđất ngăn nước đào mương đưa vào ruộng Thời kỳ xây dựng hợp tác xã nôngnghiệp, những con đập này được gia cố bằng gạch, bê tông cốt thép, hệ

Trang 11

thống mương máng được mở rộng kiên cố hơn Những công trình thuỷ lợinhỏ này thấy nhiều ở các xã Đạo Trù, Hồ Sơn, Ngọc Thanh nơi chủ yếuđồng bào Sán Dìu cư trú.

Về nông cụ của người Sán Dìu không có gì đặc biệt Vẫn là con dao,cái cuốc, cái xẻng, cái gạt dùng sức người, cái cày, cái bừa, con lăn dùng sứctrâu, bò kéo Dụng cụ thu hái vẫn là cái liềm cắt lúa, cái cuốc, cái thuổng đàocủ, đôi quang, cái sọt quẩy gánh lương thực Tuy nhiên người Sán Dìu cómột phương tiện vận tải khá đặc biệt là chiếc xe quệt Chưa thấy tài liệu nàonói là chiếc xe quệt này là của người Sán Dìu sáng tạo Từ những năm khángchiến chống Pháp đã có câu chuyện dùng xe quệt tải đạn tải lương nói làcủa một chiến sỹ người dân tộc Sán Dìu sáng tạo Viết là xe nhưng thực rakhông có bánh lăn, khung chứa gần giống như chiếc xe bò, xe ba gác, có 4thanh quệt xuống đất đỡ lấy khung chứa Hai thanh đằng trước dài khoảng2,5m giống như hai càng xe bò, xe trâu được bắc cái vạy đặt vào vai trâuhoặc bò khoẻ, phần cuối quệt xuống đất có độ cong thích hợp đơc cho khungchứa thăng bằng Xe có thể đi ở bất kỳ loại đường nào, kể cả đường ruộngbậc thang, đến đường mòn đèo dốc

Người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc từ lâu làm ruộng là chính, làm nương soibãi là phụ Chăn nuôi cũng là một nghề chính ngang hàng với nghề trồngtrọt Theo tính toán của một số "lão nông chi điền" người Sán Dìu ở xã MinhQuang (Tam Đảo) thì chăn nuôi đã tạo nên thu nhập chiếm 40% so với tổngthu cả năm của một gia đình trung nông, trong đó lúa ngô + cây có bộtchiếm 40%, còn lại các nguồn thu khác 20%

Con trâu vẫn là "đầu cơ nghiệp" đối với nghề nông của người Sán Dìu Thứnữa là con bò, con lợn, đây là ba loại gia súc lớn đem lại nguồn lợi thiết thựcnhư: sức kéo, thực phẩm, phân bón và cả nguồn tiền khi cần chi tiêu tronggia đình Đặc biệt người Sán Dìu có kiểu cho trâu bò ăn cháo ngô có pha

Trang 12

muối khi chúng sinh đẻ Người phụ nữ chăn nuôi trâu, bò, lợn là chính Sốlượng trâu bò cũng chính là một tiêu chí đánh giá giàu nghèo, tài sản của cáctầng lớp người trong cộng đồng Nghề phụ trong nông nghiệp chỉ có nghềđóng cày bừa, nghề mộc, đan lát những vật dụng cần thiết Trước đây ngườiphụ nữ có nghề dệt vải thô mộc, không có nhiều hoa văn đẹp như một số dântộc khác.

1.2.3 Nhà ở

Là nhà đất giống như nhà của người Kinh Vào một bản làng của ngườiSán Dìu không khác so với thôn, làng của người Kinh ở trung du Thời xưangôi nhà làm bằng tre gỗ, lợp rơm rạ, cỏ tranh tuỳ theo điều kiện kinh tế vàsố người trong gia đình, làm ngôi nhà to hay nhỏ, nhiều gian hay ít gian.Song thường có khuân mẫu: 3 hoặc 5 gian, kiêng làm nhà chẵn 2,4 Nếu lànhà 5 gian thì 2 gian đầu hồi thường làm thò ra từ 1,5m đến 2m, 3 gian giữathụt vào theo hình chữ "U" Hai gian thò ra thường được ngăn đôi thành 4phòng để vợ chồng con trai, con dâu và con gái ở Một phòng là bà vợ chủnhà, một phòng là kho để thóc hoặc của cải Ba gian giữa là chung, gian giữa

để bàn thờ, 2 gian hai bên kê giường ông chủ, con trai hoặc khách Hai phíatrái nhà chính nhất thiết phải có 2 cái nhà phụ để làm bếp nấu ăn và để các

đồ lặt vặt Một cái làm kho chứa và chuồng trâu, bò lợn, gà

Xét về sinh hoạt gia đình, bố trí như kể trên có thể xem là rất khoahọc, văn minh, an toàn trong cuộc sống Kiểu bố trí nhà ở này mang phongcách nhà cổ Trung Hoa

Thời nay, vật liệu làm nhà dần được thay bằng gạch vôi, xi măng lợpngói đỏ Song người Sán Dìu vẫn thích làm nhà theo mô hình trên

1.2.4 Trang phục truyền thống

Không rực rỡ sắc màu như trang phục người Mông, nhưng trang phục

Trang 13

người Sán Dìu mang những nét độc đáo, riêng có không bị lẫn với bất cứ dântộc nào trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trang phục Sán Dìu của nam và nữ đều do đôi bàn tay khéo léo củangười phụ nữ Sán Dìu làm ra Người phụ nữ Sán Dìu luôn mặc hai áo đi theocặp, áo trong màu sáng (gọi là yếm), áo ngoài màu đen có 3 vạt, cổ áo hìnhchữ V, được nẹp bằng vải trắng, trên cổ áo có gắn hai chiếc cúc bằng bạc tạo

âm thanh vui nhộn khi mặc bộ trang phục Rìa cổ áo được viền một dải nhỏvải khác màu Váy có hai mảnh được khâu chéo, nhiều nếp gấp, rộng, xoè ranhư cánh hoa, phần cạp váy được khâu xếp lại, có hai dây để buộc cho vừamột vòng bụng Thêm nét duyên dáng cho người phụ nữ Sán Dìu, bộ trangphục còn có chiếc dải váy được dệt bằng chỉ nhiều màu, dây xà tích, vòng cổ,

Bộ trang phục của người Sán Dìu không thể không nói tới hai chiếckhăn thắt ở eo lưng và xà cạp Thắt lưng có 4 màu: Xanh, đỏ, tím, hồng, mỗicái dài 1,2m đến 1,5m, rộng 20cm đến 30cm, được làm bằng vải mỏng, haiđầu làm tua rủ Người phụ nữ Sán Dìu thường vấn tóc, quấn khăn theo hìnhmỏ quạ Đặc biệt, trong trang phục người phụ nữ Sán Dìu còn có thêm chiếctúi đựng trầu khâu theo hình múi bưởi với tua dua được dệt bằng chỉ đỏ,thường buộc quanh thắt lưng để đựng các têm trầu, đi đôi với túi đựng trầu làcon dao cau được chạm trổ cầu kỳ thường được chị em dùng như một thứ

Trang phục của đàn ông Sán Dìu lại đơn giản, mộc mạc hơn nhưngvẫn toát lên vẻ đẹp khoẻ khoắn, mạnh mẽ Áo có màu chàm, được may theokiểu bà ba, có hai túi rộng, quần dài, cạp chun, ống quần rất rộng để thuận lợicho việc leo núi, đồi Trong những ngày lễ tết, đám cưới, hát giao duyênngười Sán Dìu xúng xính trong những bộ trang phục mới hơn ngày thường

Trang 14

Điều đáng chú ý là bộ trang phục của người Sán Dìu do chính đôi bàn tayngười phụ nữ Sán Dìu nhuộm màu cho vải để có những màu sắc ưng ý.Đốivới bộ trang phục phụ nữ người Sán Dìu, công đoạn nhuộm chàm mất khánhiều thời gian, trồng cây chàm nhuộm vải cũng vất vả, cầu kỳ Người phụ

nữ Sán Dìu đến nơi ở mới không quên mang theo hạt chàm giống Chàmđược trồng vào tháng 2 và thu hoạch vào tháng 7, chàm cắt về, rửa sạch cắtthành từng khúc ngâm vào vại, qua một đêm thứ nước đó được hoà với nướctro bếp và một bát nước vôi (theo kinh nghiệm phải có tro bếp và vôi mới giữđược màu), sau đó khuấy đều, để lắng 30 phút, lấy thứ nước lắng phía bêndưới có màu vàng đem phơi khô Đến đây, người phụ nữ Sán Dìu lại lênrừng tìm đủ 4 loại cây: Cây chỉ thiên, cây lau sau, cây dáp thanh, vỏ cây núcnác mang về ngâm cùng cốt cây chàm đã khô Theo người Sán Dìu, câychàm phải được ngâm cùng bốn loại cây này thì vải mới lên được màu sẫm.Sau một tuần thì bắt đầu thả vải vào ngâm Đây là công đoạn thứ 2, vảinhuộm một lần có màu xanh lợt, dễ phai, nhuộm nhiều lần rồi mang phơinắng, sắc xanh nhạt sẽ thẫm lại thành sắc chàm sẫm như màu của núi rừng.Vải đem nhuộm phải là vải tấm, dày, sợi chỉ bắt màu

Đối với trang phục của nam giới người Sán Dìu thì công việc nhuộmvải không mất nhiều thời gian Người phụ nữ Sán Dìu bung củ nâu, khi nước

có màu đỏ đồng thì đưa vải vào ngâm Vải cũng được ngâm thành nhiều lầnrồi phơi nắng Khi vải đã có màu chàm thì đem giặt sạch với nước giếng rồiphơi lại một lần nữa Người Sán Dìu thường để mặt phải của tấm vải hướng

về phía mặt trời để vải bắt màu Như vậy là hoàn thành việc nhuộm chàmcho bộ trang phục Đôi bàn tay người phụ nữ Sán Dìu xanh màu chàm là dấu

ấn của những lần nhuộm chàm Người phụ nữ Sán Dìu khi đã làm mẹ có

Trang 15

nghĩa vụ dạy bảo con gái trồng chàm và nhuộm vải chàm Người Sán Dìuđánh giá tài năng, đức hạnh của người phụ nữ thông qua khả năng nhuộmchàm Trang phục của người Sán Dìu được hình thành theo tháng ngày nhọcnhằn của người phụ nữ Đó là một tác phẩm nghệ thuật người Sán Dìu làm ravới sự cần cù, khéo léo góp phần tô điểm cho vườn hoa văn hoá các dân tộc.

Cũng như một số dân tộc khác sống ở vùng núi đồi thấp như Tày,Cao Lan, Mường Người phụ nữ Sán Dìu dần dần bỏ cách trang phục áo váytruyền thống Nhất là lớp thanh niên, phụ nữ trẻ, họ học tập theo mốt ăn mặccủa người Kinh, gọn gàng hơn Hiện nay vào bản làng của người Sán Dìunếu không quan sát kỹ thì không biết họ là người Kinh hay người dân tộc Ởmột số bản làng vùng sâu như: Đạo Trù ,Yên Dương Bồ Lý(Tam Đảo),một số nơi ở Bình Xuyên người phụ nữ vẫn còn những bộ váy truyền thống

để dành khi có lễ hội hoặc khi người già chết, người ta mặc cho người chết

bộ áo váy đẹp theo truyền thống để về thế giới bên kia

1.2.5 Ngôn ngữ

Theo một số tài liệu của các nhà nghiên cứu dân tộc học, ngôn ngữhọc, tiếng nói của dân tộc Sán Dìu thuộc ngữ hệ Hán Tạng, trong nhóm ngônngữ Hán gồm có: Dân tộc Hoa, Dân tộc Thái, Dân tộc Sán Dìu

Dưới đây là bảng so sánh ngữ âm, ngữ nghĩa giữa dân tộc Sán Dìu vàmột số dân tộc anh em khác trong cùng một sự vật và khái niệm:

Trang 16

Vố Tầu Phố vù Phầy Lửa

Như vậy tiếng Sán Dìu có âm gần với tiếng dân tộc Hoa, tiếng SánChỉ và tiếng Cao Lan cổ Hoàn toàn xa lạ với tiếng Dao, tiếng Tày Đây mớichỉ là một số tờ gốc, ngoài ra còn hệ thống ngôn ngữ (tiếng nói) đã đượchình thành từ hàng trăm năm cũng rất phong phú Chúng đủ khả năng biểuđạt thông tin khi giao tiếp, đủ khả năng biểu cảm trong sinh hoạt văn nghệ,hát ví sọong cô, hát cúng lễ Song không tránh khỏi sự vay mượn ngôn ngữcủa dân tộc khác sống trong vùng, đặc biệt là tiếng Kinh chỉ những kháiniệm mới vật dụng mới, như cụm từ "Hợp tác xã", "Học nghị quyết", "cái Ti

- vi"vv

Tiếng Sán Dìu thuộc vào hệ ngôn ngữ đơn âm tiết giống như tiếngViệt Kết cấu ngữ pháp không có gì phức tạp, hoàn toàn theo chiều thuậnnhư tiếng Việt (tiếng phổ thông) Ví dụ kết cấu câu "Tôi muốn ăn cơm " thìcũng thứ tự " Ngoi ọi slệch van" hoặc câu dài hơn: "Ngoi ọi sú hú nhoongSan Déo nhín " cũng thứ tự "Tôi - muốn - lấy - vợ - người - Sán Dìu ".Riêng cụm từ "người Sán Dìu " ở đây chứng tỏ vẫn bị ảnh hưởng kết cấungữ pháp tiếng Hán kiểu như: "Tam Đảo Sơn", "Hồng Hà", tiếng Kinh lạiđảo lại là "Núi Tam Đảo" hay "Sông Hồng"

Người Sán Dìu cũng giống như người Dao, người Hoa, người SánChỉ dùng tiếng nói hàng ngày đồng thời là tiếng hát ví dao duyên, cúng

Trang 17

thần linh, cúng tổ tiên, cúng khi có đánh ma, chay Hoàn toàn khác vớingười Cao Lan cùng một thời điểm họ phải dùng 3 loại ngôn ngữ: ngôn ngữgiao tiếp hàng ngày, ngôn ngữ trong cúng bái, hát ví giao duyên và tiếngKinh trong giao tiếp.

1.2.6 Chữ viết

Người Sán Dìu cũng như một số dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc Tây Bắc không có chữ viết riêng Song họ dựa vào chữ Hán để tạo ra chữHán - Nôm Sán Dìu, giống như Hán - Nôm Tày, Hán - Nôm Cao Lan, NômDao

-Bài cúng của các dân tộc Sán Dìu, Cao Lan, Dao, Hoa, Sán Chỉ gầngiống nhau về ý, phần chữ viết cũng gần giống nhau Chỉ khác nhau phầnphát âm theo tiếng riêng của mỗi dân tộc và phần cúng này sử dụng vào thờiđiểm khác nhau Ví dụ: Mở đầu một bài tấu sớ bao giờ cũng có đoạn: "Kimsự Đại Nam Quốc, Vĩnh An tỉnh, Bình Xuyên huyện, Minh Quang xã, LâmLưu thôn " (tiếng Sán Dìu đọc là: Thai Nàm coóc, Vĩnh An dênh, Phềnhson don, mênh coong slạ, Lim Lưu son )

Dịch là: "Hôm nay, tại nước Đại Nam, tỉnh Vĩnh Yên, huyện BìnhXuyên, xã Minh Quang, thôn Lâm Lưu "

Chữ Hán - Nôm Sán Dìu trên nguyên tắc không khác gì cách ghép âm

và nghĩa theo kiểu Nôm Việt và Nôm Tày, Nôm Cao Lan, Nôm Dao NgườiSán Dìu dùng tới 60-70% chữ Hán cổ trong một văn bản hoặc sách cúng,đọc theo cách phát âm tiếng của dân tộc mình Những chữ thứ biểu âm biểunghĩa, họ dùng cách ghép phần âm và phần nghĩa thành chữ Nôm của họ Ví

dụ chữ "sệch" nghĩa là "ăn" Chữ Hán không có chữ "sệch", nên được ghép

bộ "khẩu" là cái mồm với chữ "đích" biểu âm thành chữ "Sệch" cũng có khi

họ dùng nguyên chữ "thực" của chữ Hán có nghĩa là "ăn" mà đọc là " Sệch"hoặc chữ "sộ" nghĩa là "ngồi" được ghép chữ "thổ" với chữ "nhân đứng" đọc

Trang 18

là "'sộ" Còn đại đa số họ dùng nguyên chữ Hán cổ đồng nghĩa, nhưng đọctheo âm của tiếng dân tộc, như chữ " Thiên" âm tiếng Sán Dìu đọc là "then"nghĩa là "Trời", vẫn dùng chữ "Thiên", chữ "Đồng" nghĩa là: đồng ruộng,đồng thời, tiếng Sán Dìu đọc là "Thống" vẫn dùng chữ "đồng"

Hệ thống chữ Nôm Sán Dìu đủ khả năng ký âm chuyển tải thông tincho hệ thống tiếng nói (ngôn ngữ) của họ Nó được thể hiện trong các bộsách cúng, sách hát ví soọng cô, thậm chí trong thư từ gửi cho người thântrao đổi tình hình khi ở cách xa nhau lâu ngày không gặp Qua đó thấy trình

độ Hán ngữ và Hán tự của các thầy cúng cùng đồ đệ (đạo tràng) của ngườiSán Dìu khá cao Các cụ già cho biết một đứa trẻ nam giới 12-14 tuổi bắtđầu học chữ Hán, nếu thông minh phải mất 10 năm thì mới lên được bậc

"trung cấp" tức bậc đạo tràng "bê tráp" cùng các thầy cúng cao tay đi cúngđạo cho người Tiếp tục phấn đấu 10 năm nữa nghĩa là phải ở tuổi 35-40 trở

đi mới trở thành thầy cúng được cấp sắc Chuyện học hành này không phảingười nào cũng học được, chỉ có một số học trò thông minh, có điều kiệnkinh tế, có lòng ham say học hành, thường là con cháu của các ông thầycúng Người phụ nữ Sán Dìu không được học, không được cúng bái như phụ

nữ người Kinh

Người Sán Dìu còn dùng hệ thống chữ cái La tinh để phiên âm tiếngnói của mình Loại chữ này được họ sử dụng cách nay không lâu, có lẽ từkhi có phong trào "Bình dân học vụ" xoá mù chữ của nhà nước Việt Namdân chủ cộng hoà những năm 1945 - 1946 Phần lớn đồng bào Sán Dìu ởrừng núi hẻo lánh, nơi cán bộ cách mạng, bộ đội đóng quân nên được họcbình dân xoá mù chữ Cả nam nữ đều được học, biết đọc, viết chữ Quốc ngữ,khi cần họ phiên âm tiếng dân tộc mình để gửi thư, thông tin cho nhau Lớpthanh niên chưa vợ, chưa chồng họ dùng chữ viết này chép những bài hát ví

Trang 19

soọng cô vào những quyển vở nhỏ tiện cho vào túi để đi chơi làng hát vígiao duyên.

Cụ thể, trong lá thư của một người đàn ông Sán Dìu đi bộ đội chống

Mỹ gửi thư về cho vợ, đại ý mấy câu đầu: "Ngoi sloáng nhoong xím, nhoongkhọi ốc cháo mạn khín can trọng dịu, tô phan dọng chấy nhuý " dịch ý là:

"Anh nhớ em lắm, em ở nhà chịu khó cày cấy (làm ruộng) để có nhiều thóc(cơm) nuôi con "

Từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, người SánDìu ở vùng xen canh, xen cư với người Kinh (cùng xã, thôn) nên tình trạngtiếng Sán Dìu bị pha tạp với tiếng Kinh khá lớn, chẳng hạn cụm từ "tôikhông biết " đáng ra phải nói "Ngoi mạo ty" thì lại nói "Ngoi mạo biết".Hoặc khi chỉ có người Sán Dìu với nhau họ nói được vài câu tiếng dân tộc,lại pha tiếng Kinh Trong đám cưới, đám ma họ đều pha tạp hai thứ tiếngnày Ở các bản làng vùng sâu vùng xa ít pha tạp hơn Tình trạng này nhữngnăm gần đây lại càng gia tăng

Khi các chàng trai, cô gái Sán Dìu còn đi hát ví soọng cô với nhau, họdùng tiếng Kinh để đặt những bài thơ thể hiện tình cảm hát với nhau bằnglàn điệu dân ca Sán Dìu Về đêm khuya họ chuyển sang hát tiếng Sán Dìu.Những người phụ nữ Sán Dìu họ ít nói tiếng Sán Dìu với nhau trong cả muabán hàng hoá Thỉnh thoảng mới nghe được vài câu hỏi nhau "Bán con gàđược bao nhiêu tiền" tiếng dân tộc "Mai chác cay tách ký tô sen " Hỏi các

cô gái trẻ: "Vì sao không nói tiếng dân tộc?" - Trả lời: - "Nói ở ngoài chợngượng lắm, về nhà mới nói"

Nguy cơ bị mất chữ viết của người Sán Dìu (chữ Nôm) lại càng cận

kề hơn Hiện nay trong các bản làng người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc còn rất ítngười viết chữ Hán - Nôm Ở lớp tuổi 60 - 70 tuổi trở nên làm thầy cúng biếtchữ Hán - Nôm chỉ còn vài ba người như ở Đạo Trù, Minh Quang, Hồ

Trang 20

Sơn Lớp người từ 40 tuổi trở nên lại càng hiếm hơn, có lẽ chỉ 10-15 nămnữa thôi chữ Nôm của người Sán Dìu sẽ không còn ai biết Nếu lớp tuổi giàbiết chữ và các nhà quản lý văn hoá ở địa phương không có kế hoạch khuyếnkhích đào tạo lớp trẻ học kế tiếp thì loại chữ này trong xã hội người Sán Dìugần như bị "chết".

CHƯƠNG 2

CÁC HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC TẾT CỦA NGƯỜI SÁN DÌU

Tết là cách nói tắt của hai chữ lễ- tết Dân tộc ta có nhiều cái tết khácnhau:têt Nguyên Đán, tết Trung Nguyên , tết Hạ Nguyên, tết Thanh Minh,

Trang 21

Trung Thu ,tết Đông Chí …mỗi tết của dân tộc ta đều có một ý nghĩa riêng,

đó là thuần phong mỹ tục của dân tộc ta ,gắn liền với đời sống phong tục tínngưỡng của dân tộc ta từ bao đời nay

Một năm người Sán Dìu ở Đạo Trù có 5 cái tết lớn: Tết Nguyên đán,Tết Thanh minh, Tết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5), Ngày xá tội vong nhân,Tết Đông chí

Đối với người Sán Dìu sinh sống ở khu vực nơi đây, mỗi ngày tết lại

có ý nghĩa đặc biệt, mỗi tết lại có một cách tổ chức riêng, tạo ra sự khác biệtgiữa các tết trong năm của người Sán Dìu, các hoạt động trong dịp tết tạo rasự khác biệt với đời sống tết của các dân tộc anh em khác

Để rõ hơn vấn đề này ta đi tìm hiểu cụ thể từn tết sau của người SánDìu ở xã Đạo Trù huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

2.1 TẾT NGUYÊN ĐÁN

2.1.1 Nguồn gốc tết Nguyên đán

Tết Nguyên Đán có từ bao giờ ? Tết Nguyên Đán hay nói ngắn hơn làtết, có từ thời Ngũ Đế, Tam Vương.nhà hạ chuộng màu đen nên lấy thángdầu năm, sanng nhà Thương ưa màu trắng nên lấy tháng chạp làm tháng đầunăm, qua nhà Chu ưa sắc đỏ nên lấy tháng Tý (11) làm tết, các vua chúa nóitrên đã chọn theo ngày giờ mà lúc tạo thiên lập địa mà đặt ngày tết khácnhau, ngày tết thường được kể từ ngày mùng 1 tết

2.1.2 Ý nghĩa tết Nguyên đán

Tết Nguyên đán là tiết lễ đầu tiên của năm bắt đầu từ lúc giao thừa với

lễ từ tịch

Nguyên là bắt đầu, Đán là buổi sớm mai, tết Nguyên đán tức là bắt

đầu 1 năm mới, mở đầu cho một năm mới với tất cả sự may mắn, mọi cảnhvật đều mới mẻ đón xuân sang

Trang 22

Năm mới đến, những sự may mắn cũng sẽ đến,và bao nhiêu điều đênđủi của năm cũ cũng đều theo năm cũ mà trôi đi.

Người vui vẻ đón một mùa xuân mới, lòng chứa chan hi vọng ởnhững sự may mắn mới Ai cũng vui, nên không ai bảo ai, gặp nhau người tađều chúc cho nhau những điều tốt đẹp: Phúc, Lộc,Thọ, Khang, Ninh

2.1.3 Thời gian diễn ra tết

Tết Nguyên bắt đầu từ lúc giao thừa Lẽ trời đất có khởi thủy phải cótận cùng, một năm có bắt đầu ắt phải có hết, bắt đầu từ lúc giao thừa, cũnglại hết vào giao thừa

Vậy giao thừa là gì? Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh nghĩa

là cũ giao lại mới tiếp nhận.

Đó là thời điểm người ta tính cho một năm mới Đối với người SánDìu một năm mới cũng tính từ thời gian này, nhưng sự chuẩn bị tết nhất làkhông khí tết có từ khá sớm, 27/12 người ta đã đặt đồ thờ cúng lên bàn thờ,kết thúc những ngày tết vào 14 hoặc 15 tùy vào từng năm, nếu trước tết việccày cấy đã làm xong

2.1.4 Các hoạt động trong tết Nguyên đán

Ngày Tết, mùa Xuân về như báo hiệu một vụ mùa mới sắp bắt đầu,người Sán Dìu lại có điều kiện ôn lại những gì đã qua, có điều kiện gần gũinhau hơn

Ngay từ những ngày đầu tháng Chạp, các cô gái Sán Dìu đã rủ nhauvào rừng lấy lá dong, lá chít và những cây giang bánh tẻ về để chuẩn bị góibánh Bánh chưng hay bánh tro đều phải cuốn rất chặt để khi nấu nướckhông ngấm vào, bánh mới ngon và để được lâu Lạt giang phải chẻ mỏng,

to bản, nối 6 - 8 chiếc thành một dây dài Việc chuẩn bị để đón chào nămmới của người Sán Dìu diễn ra rất tưng bừng và nhộn nhịp

Trang 23

Ngoài ra còn chuẩn bị sẵn nhiều củi để thuận lợi cho công đoạn nấubánh, và việc đun nấu trong dịp diễn ra tết, người Sán Dìu vào mùa có măng

họ còn đi lấy rất nhiều măng về phơi khô, đem cất chờ ngày tết

Chợ tết của người Sán Dìu được mở từ ngày 20 tháng Chạp Lúc đầu

là chợ tết của trẻ con Từ sáng sớm, lũ trẻ đã được bố mẹ đưa đi chơi chợ tết,

ra tới đường chúng kết thành đám đông, vừa đi vừa chạy tung tăng, cườicười, nói nói râm ran Đến chợ, chúng được bố mẹ dẫn đi khắp nơi, cho ănquà bánh và mua những gì chúng thích, đặc biệt là những đồ chơi của trẻcon

Tiếp đến là chợ tết của thanh niên và các chủ gia đình thường tổ chứcvào hai ngày 27-28 tháng Chạp Người dân Sán Dìu thường nói: “Một phiênchợ cuối năm bằng cả năm đi chợ”, bởi những người chủ gia đình thì chỉ lomua sắm, còn thanh niên nam nữ ngoài việc sắm tết còn là dịp đi tìm kiếmbạn đời

Đến 30 Tết nhà nào cũng trang trí hoa văn, biểu tượng bằng các loạigiấy xanh, đỏ, tím, vàng từ ngoài cửa chính, cửa bếp, tới cả chuồng trâu,chuồng bò, chuồng gà,… thậm chí cả đồ vật như: cày, bừa, vại gạo, bồ thóc,các cây cối trong vườn cũng được dán một mảnh giấy màu Người ta quanniệm làm như vậy để những thứ đó cũng được tham gia ăn tết như chủ nhà

và cũng là để cho ma quỷ khỏi đến tranh chiếm Những gia đình có trẻ nhỏcòn phải may một bộ quần áo mới, đong một rá gạo, làm một sàng cỗ, córượu cúng bà Mụ để cầu bà Mụ luôn ở bên, dỗ cho bé mau khôn lớn

Cũng ngày 30 Tết, chó và mèo được chủ nhà gọi đến vuốt ve, nói vớichúng những lời âu yếm và cho chúng ăn ngon hơn các ngày thường Khi cáikhoảnh khoắc năm cũ qua đi, năm mới đang tiến đến cũng là lúc tiếng nhạc,

Trang 24

tiếng tù và vang khắp nơi Giây phút này thật là thiêng liêng Mọi thứ ngoàiđường trong nhà đều im lặng, không có sự can thiệp của con người NgườiSán Dìu quan niệm: đây là giây phút giao hoà của trời đất Người trời xuốngthăm trần gian, xem trần gian năm qua đã làm gì, năm mới cần gì để về trờiphán xử Giờ phút linh thiêng này kéo dài cho tới hết ngày mồng 1 và phảituyệt đối tránh sát sinh, ngay cả đến loài ruồi, muỗi, ếch, nhái cũng không aidám giết Các con chó, mèo ăn vụng vào giờ phút thiêng liêng này khôngnhững không bị đánh mắng mà còn được cho ăn hết phần mà nó đã đụngvào.

Trâu, bò ăn hoa màu cũng chỉ từ từ xua đi… vì lúc này con người trởnên cao thượng, hiền hậu, chút bỏ mọi thứ phàm tục, lầm lỗi để làm thêmđiều thiện, cầu cho cuộc sống ấm no, hạnh phục bình yên

Ngày mồng 1 Tết, từ sáng sớm tinh mơ, các cô gái ra suối múc nước,trên đường về có bẻ hoa để cắm lên bàn thờ Nước này các cô đem pha tràcúng và nấu một nồi cháo hành cho trẻ nhỏ ăn để năm mới học thêm sáng dạ

Sáng mồng 2 Tết là ngày Lễ tá - hôông - va (Lễ hoa hồng) Con gàtrống nhốt từ ngày 30 được đem ra cắt tiết Tiết này được thấm đều vào 12 lá

cờ xanh, đỏ, tím, vàng cắm trên bàn thờ thay cho 12 lá cờ cũ từ tết nămngoái Mỗi lá cờ tượng trưng cho một tháng trong năm.đa số người Sán Dìu

tổ chức đón năm mới thịnh soạn vào ngày mùng 2 Trên bàn thờ tổ tiên củamỗi gia đình đều có thịt lợn, thịt gà đã được chế biến sẵn cùng 5 bát bánhtrôi nước để cúng ông bà tổ tiên Từng gia đình, dòng họ làm cỗ mời khách

Đó là những người anh em họ hàng, bè bạn xa gần đến chúc Tết Quanhmâm cơm ngày Tết, mọi người ăn uống vui vẻ, bàn bạc công việc làm ăncủa những ngày sắp tới và cùng chúc nhau những điều may mắn tốt lành

Trang 25

Ngày mồng 1 và mồng 2 Tết, người Sán Dìu kiêng quét nhà Sángmồng 3 Tết, người ta mới quét và moi rác ở các xó xỉnh trong nhà rồi chovào thùng hay sọt rách, thắp một nén hương, cho vào đó một lát bánh chưngnhỏ Sau đó, thùng rác này được đưa ra cổng, đổ vào một gốc cây to nào đó

ở trong làng Tục lệ này, đồng bào gọi là "Sộng phống cúi", có nghĩa là để

đuổi ma đói ra khỏi nhà

Sau khi đã cùng nhau ăn Tết, thanh niên nam nữ Sán Dìu tổ chức

hát Soọng cô Ở từng thôn bản, mỗi tốp dăm bảy anh con trai của làng này

đến hát với các cô gái ở làng bạn Những gia đình nào được đám thanh niên

tổ chức hát tại nhà mình, họ coi đó là một niềm vinh hạnh Do vậy, gia chủtiếp bạn hát của mình rất niềm nở và hào phóng

Tết Nguyên đán của người Sán Dìu kéo dài tới 15 hoăc 16, đây là nétđộc đáo của người Sán Dìu ở Đạo Trù, “tháng Giêng là tháng ăn chơi”,hầunhư người ta không hoạt động công việc cho tới khi hết không khí tết, ẩmthực của người dân nơi đây trong dịp tết rất phong phú và đa dạng, vì tất cảmọi hoạt động buôn bán đều dừng lại nên những thực phẩm đều được dự trữ.Mỗi gia đình đều mổ 1 con lợn làm thức ăn dự trữ cho những ngày tết, khi

mổ xong lợn người ta đem chân giò đi thăm ông , bà ngoại và coi đó là lễ tạ

ơn công sinh thành của ông bà bên ngoại, ngoài ra ông bà mối cũng đượcmang chân giò tới

Không chỉ vậy, sáng mùng 2 tết mỗi gia đình có một chai rượu, mộtcon gà cùng với bánh kẹo đi sang nhà bên ngoại chúc tết đây là tục lệ có từlâu mà hiện nay vẫn còn lưu giữ, thể hiện tình cảm nhớ ơn cha mẹ sinh thành,ngày mùng 2 tết cũng là ngày mà gia đình nào mới có con dâu mới phảichuẩn bị rất nhiều bánh kẹo, mứt tết, rượu…cho con trai và con dâu đi về giađình nhà con dâu chúc tết (sọong dạ), ngoài ra con rể phải đi chúc tết tất cảnhững người trong gia đình mà hơn tuổi bố, mẹ bên nhà vợ (những người

Trang 26

bên nội và ngoại của nhà vợ ), việc đi tạ lễ này chỉ diễn ra trong một cái tết

và tết năm sau thì ngoài gia đình nhà vợ, ông bà mối thì không phải đi nữa Trên bàn thờ của người Sán Dìu vào dịp tết rất khác nhau, nếu gia đìnhnào có người theo nghề thầy cúng thì thường treo tranh ảnh phật, ảnh quan

âm Ngoài ra bát hương cũng có sự khác nhau, chủ nhà không theo thầycúng thì 1 bát hương và nếu chủ nhà làm thầy cúng thì ngoài 2 bát hươngchính thì còn phải làm thêm 3 bát hương khác đặt trên bàn thờ, trong dịp tết

có thể nhận ra điều này, và phân biệt được nhà nào không có người làm thầycúng

Từ sáng ngày mùng 2 tết đến khi tạ tết có thể vào 14 hoặc 15, buổi sángnào người dân cũng phải cắt bánh hoặc nấu cơm nếu hết bánh, làm 5 bát và

3 đĩa thịt để lên bàn thờ thắp hương (chụ cháo chíu),cứ như vậy cho tới khihết tết.đây cũng có thể là lí do mà hầu như gia đình nào cũng mổ riêng 1 conlợn, gói rất nhiều bánh Người Sán dìu còn biết cách muối thịt, cá để dànhtrong một thời gian khá lâu

Như vậy có thể thấy rằng tết Nguyên đán của người Sán Dìu có những

nét độc đáo mà không thể lẫn với dân tộc nào khác, Lễ Sán Dìu của đồng

bào Sán Dìu đã, đang và sẽ góp phần tạo nên sự đa dạng trong sự thống nhấtcủa nền văn hoá chung - Văn hoá Việt Nam

2.2 TẾT THANH MINH

Thanh Minh là gì ?

Theo đúng nghĩa đen , Thanh là khí còn Minh là sáng sủa Khi tiết

xuân phân qua tiết phân xuân đến trước tiết Thanh Minh, những mưa bụi củatrời xuân đã tan hết bầu trời trở nên quang đãng, khí trời trong trẻo cảnh trời

Ngày đăng: 13/08/2014, 09:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Toan Ánh (1992), tìm hiểu một số phong tục Việt Nam nếp cũ_lễ tết_hội hè, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: tìm hiểu một số phong tục Việt Nam nếp cũ_lễtết_hội hè
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 1992
2] Lý Thái Bình (2007), ý nghĩa một số phong tục ngày tết của Việt Nam, NXB tạp chí sô 1+2 ngôn ngữ và đời sông Sách, tạp chí
Tiêu đề: ý nghĩa một số phong tục ngày tết của Việt Nam
Tác giả: Lý Thái Bình
Nhà XB: NXB tạp chí sô 1+2 ngôn ngữ và đời sông
Năm: 2007
[3] [Phan Kế Bính (2008), Việt Nam phong tục, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: [Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2008
[4] Ủy ban khoa học xã hội, viên Dân tộc học (1978), các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: các dân tộc ítngười ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)
Tác giả: Ủy ban khoa học xã hội, viên Dân tộc học
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1978
[5] Tân Việt (2009) 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam, NXB Dân tộc học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam
Nhà XB: NXB Dântộc học Hà Nội
1. Các hình ảnh tết của người Sán Dìu Bánh chưng của người Sán Dìu (bánh gù) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w