1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LÝ THUYẾT TIỀN TỆ - SẢN XUẤT HÀNG HÓA - TIỀN TỆ VÀ NHÀ NƯỚC - 8 ppsx

22 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 260,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm tra tài chính còn xác định được các quan hệ cân đối trong kinh tế, các quyết định của Nhà nước và của người quản lý doanh nghiệp có liên quan đến các vấn đề tài chính có sai sót hay

Trang 1

_ Tránh áp dụng những hạn chế đối với thanh toán thường xuyên

_ Tránh việc thu xếp, thanh toán tiền tệ có sự phân biệt

_ Chuyển đổi các số dư tiền tệ do các thành viên khác nắm giữ

_ Gửi và trao đổi các thông tin cho quỹ theo yêu cầu của quỹ

_ Trao đổi, tham khảo, lấy ý kiến của các thành viên về các hiệp định, thoả thuận quốc tế hiện hành

_ Có nghĩa vụ hợp tác với quỹ và các thành viên về các chính sách đối với các tài sản dự trữ

d Nguồn vốn của IMF: bao gồm nguồn tự có và nguồn đi vay

_ Nguồn vốn tự có do các thành viên đóng góp theo hạn mức của mình và thu nhập ròng của quỹ không đem phân chia Nguồn vốn gồm có vàng, SDR và tiền của các nước thành viên Tiêu chuẩn xác định mức đóng góp của các nước thành viên là tiềm năng kinh tế và vị trí của mỗi nước trong nền kinh tế thế giới

Giá trị nguồn vốn của IMF được biểu hiện bằng đồng SDR ( Quyền rút vốn đặc biệt) SDR được hình thành dựa trên cơ sở giá trị của 5 đồng tiền chính: USD, FF, DM, GBP, JY

_ IMF có thể bổ sung nguồn vốn của quỹ bằng cách đi vay Quỹ có một số thoả thuận vay mượn trong thực tế nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ bổ sung ngày càng tăng lên của các nước thành viên

e Các hình thức tài trợ của IMF:

_ Các hình thức sử dụng nguồn vốn chung của quỹ:

Sử dụng nguồn vốn chung của quỹ là hình thức các nước thành viên dùng đồng tiền của mình mua SDR của quỹ hay đồng tiền của một nước thành viên khác để sử dụng trong một thời hạn xác định nào đó, chủ yếu là dùng cho nhu cầu về cán cân thanh toán Có các hình thức cụ thể sau đây:

+ Rút vốn dự trữ:

Đây là việc một nước thành viên được quyền rút ra 25% số vốn góp bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi đã đóng vào IMF để bù đắp thiếu hụt trên cán cân thanh toán với điều kiện là nước này phải nộp vào quỹ một số tiền quốc gia tương đương và đến kỳ hạn thoả thuận phải nộp lại số ngoại tệ đã rút và thu lại số tiền quôc gia Rút vốn dự trữ không mang tính chất vay mượn, không

có lãi suất, chỉ thu lệ phí

+ Tín dụng thông thường theo đợt:

Nước thành viên có thể mua 4 đợt tín dụng, mỗi đợt bằng 25% hạn mức đóng góp của mình vào quỹ Hình thức này phục vụ giải quyết khó khăn về các cân thanh toán và vay dự phòng + Cho vay dự phòng và mở rộng:

Cho vay dự phòng của IMF nhằm hỗ trợ nhu cầu ngắn hạn của cán cân thanh toán Cho vay

mở rộng là hình thức tài trợ bổ sung theo yêu cầu khẩn thiết của các nước thành viên để khắc

Trang 2

Thời hạn cho vay là 1 - 2 năm đối với vay dự phòng và 3 - 4 năm đối với vay mở rộng + Tài trợ giảm bớt nợ và thanh toán nợ: Số tiền tài trợ cho mục đích này được quyết định cho từng trường hợp và phù hợp với cán cân thanh toán và mức độ mạnh mẽ của chương trình điều chỉnh do các nước thành viên thực hiện

+ Tài trợ khẩn cấp liên quan đến thiên tai:

Hình thức này có thể được quỹ xem xét trong trường hợp thiên tai ảnh hưởng xấu đến cán cân thanh toán

_ Các hình thức cho vay trợ giúp đặc biệt:

+ Tài trợ chứng khoán đệm: Hình thức này để tài trợ cho chứng khoán hàng hoá, các đại lý chứng khoán

_ Các hình thức tài trợ cho các nước thành viên có thu nhâp thấp:

+ Cho vay điều chỉnh cơ cấu ( SAF): Là hình thức cho vay ưu đãi cao để hỗ trợ cho các chương trình điều chỉnh cơ cấu và kinh tế vĩ mô ở các nước có đủ điều kiện được vay đang ở tình trạng tỉ lệ tăng trưởng thấp, thu nhập đầu người thấp, gánh nặng nợ nước ngoài kéo dài nhiều năm

Số tiền cho vay SAF cho mỗi nước có thể bằng 47% hạn mức đóng góp của nước đó và rút vốn trong 3 năm, số tiền này cũng có thể tăng lên đến 70% Lãi suất 0,5%/năm, thời hạn vay là 10 năm với năm 5 ân hạn

+ Cho vay điều chỉnh cơ cấu tăng cường và mở rộng ( ESAF):

Dùng để hỗ trợ cho các chương trình điều chỉnh ở các nước thành viên mà SAF không đủ

hỗ trợ Thông thường, mục tiêu các chương trình điều chỉnh có sự hỗ trợ cho vay ESAF rộng hơn mục tiêu cho vay SAF

Vay ESAF có thể lên tới 250%, tối đa là 350% hạn mức đóng góp Rút vốn một năm 2 lần, lãi suất 0,5%/ năm, thời hạn vay 10 năm ( 5 năm ân hạn)

+ Quỹ tín thác: Cho vay từ quỹ này nhằm hỗ trợ cán cân thanh toán với điều kiện ưu đãi

f Quan hệ của Việt nam với IMF:

_ Năm 1956, Chính phủ Việt nam cộng hoà đã đóng góp vào quỹ IMF 62 triệu SDR ( tương đương 62 triệu tại thời điểm đó), trong đó 25% bằng vàng

_ Năm 1976, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt nam tiếp quản vai trò hội viên thay chính quyền Sài Gòn, đến tháng 7/1976 Chính phủ CHXHCN Việt nam tiếp quản vai trò

Trang 3

hội viên thay Chính phủ CMLT miền Nam Việt nam, từ năm 1977 Việt nam bắt đầu vay vốn IMF Trong 2 năm 1977- 1978, IMF cho Việt nam vay 71,7 triệu SDR

_ 3/12/1984, IMF ra quyết định xoá bỏ quyền nhận tài trợ của Việt nam do Việt nam có nợ quá hạn đối với quỹ Thêm vào đó, dưới áp lực của Mỹ, quan hệ tài trợ của IMF đối với Việt nam

bị ngưng trệ

_ Năm 1986, Quỹ đã đề ra một giải pháp giúp Việt nam giải quyết nợ cũ bằng “ Chương trình bóng tối” do Quỹ giám sát, song do tình hình quan hệ Việt nam và Mỹ chưa tiến triển thuận lợi nên Quỹ lại bỏ qua chương trình này

_ Đến cuối năm 1988, Quỹ và Việt nam đã thoả thuận khoanh số nợ cũ quá hạn của Việt nam ở mức 101,2 triệu SDR Số còn lại Việt nam cố gắng thu xếp trả Để giải quyết nợ cũ, Quỹ

đã giúp Việt nam thành lập nhóm cho vay bắc cầu để trả nợ cũ của Quỹ, sau đó vay mới ngay để trả khoản vay bắc cầu

_ Từ tháng 10/1993, quan hệ giữa Việt nam và IMF được cải thiện rõ rệt với việc Việt nam trả xong số nợ quá hạn và với việc giải toả lệnh cấm vận của Công đồng quốc tế đối với Việt nam

_ Việt nam đã ký kết với Quỹ thoả thuận tài trợ theo thể thức cho vay dự phòng và theo chương trình chuyển đổi hệ thống với tổng số tiền là 243 triệu USD năm 1993 - 1994 Đến Tháng 11/1994, Việt nam được IMF tài trợ cho chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế 3 năm 1994-

1997 với số tiền 535 triệu USD

_ Ngoài ra, IMF còn giúp Việt nam nắm bắt và áp dụng các nguyên tắc quản lý tài chính tiền tệ theo cơ chế thị trường và hội nhập với cộng đồng TCQT

2 Tín dụng quốc tế là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể của một nước với các chủ thể của nước khác và với các tổ chức quốc tế khi cho vay và trả nợ tiền vay theo những nguyên tắc của tín dụng Tín dụng quốc tế có các hình thức: vay thương mại và viện trợ phát triển chính thức (ODA).Vay thương mại là hình thức vay nợ quốc tế dựa trên cơ sở quan hệ

sử dụng về vốn trên thị trường, lãi suất do thị trường quyết định ODA là các khoản viện trợ cho vay ưu đãi cảu các chính phủ, các hệ thống của tổ chức Liên Hiệp Quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức TCQT dành cho chính phủ và nhd các nước đang phát triển

Trang 4

3 Đầu tư quốc tế trực tiếp (FDI) là việc các tổ chức, cá nhân một nước thực hiện đầu tư vốn ra nước ngoài dưới hình thức tự mình đứng ra kinh doanh hoặc hợp tác kinh doanh với các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài Động cơ chung nhất của các chủ đầu tư nước ngoài là tìm kiếm thị trường đầu tư hấp dẫn, thuận lợi và an toàn nhằm thu lợi nhuận cao và sự thịnh vượng lâu dài của doanh nghiệp Tuy nhiên có 3 động cơ cụ thể tạo nên 3 định hướng khác nhau trong FDI đó là đầu tư định hướng thị trường, đầu tư định hướng chi phí, đầu tư định hướng nguồn nguyên liệu FDI có các hình thức sau: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh và các hình thức khác

4 Viện trợ không hoàn lại là một hình thức của quan hệ TCQT, có thể diễn ra giữa 2 chính phủ ( gọi là viện trợ song phương) hoặc diễn ra giữa các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ với Chính phủ hoặc các tổ chức của các nước trong cộng đồng quốc tế ( gọi là viện trợ

độ tỷ giá hối đoái: chế độ tỷ giá hối đoái cố định lấy vàng làm bản vị, chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods (1944) và chế độ tỷ giá thả nổi Tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng Tỷ giá hối đoái là công cụ so sánh sức mua của đồng tiền, nó kích thích và điều tiết xuất nhập khẩu, điều tiết thu nhập trong hoạt động kinh tế đối ngoại, tạo khả năng cạnh tranh cho hàng hóa - dịch vụ trên trường quốc tế và nó phản ánh cung cầu ngoại tệ Để điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nhiều biện pháp khác nhau đã và đang được sử dụng như lãi suất tái chiết khấu, can thiệp ngoại hối, phá giá tiền

tệ

6 Cán cân thanh toán quốc tế ( thường gọi là cán cân thanh toán) là một biểu tổng hợp, ghi chép một cách có hệ thống tất cả các khoản thu chi ngoại tệ của một nước phát sinh với các nước khác trong một thời kỳ nhất định Cán cân thanh toán của một nước thường do ngân hàng trung ương biên tập và công bố Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm các hạng mục: cán cân vãng lai ( Tài khoản vãng lai), cán cân vốn và tài chính (Tài khoản vốn), lỗi và sai sót, cán cân tổng thể

và tài trợ Cán cân thanh toán quốc tế của một nước phản ánh kết quả của hoạt động trao đổi đối ngoại của nước đó với các nước khác Thực trạng cán cân thanh toán có thể ảnh hưởng đến những nhà hoạch định chính sách làm thay đổi chính sách kinh tế của họ Vì vậy Chính phủ các nước thường dựa vào cán cân thanh toán để thiết kế chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và có những chính sách phù hợp cho từng thời kỳ Trong trường hợp cán cân thanh toán bội chi, Chính phủ có thể áp dụng những biện pháp như điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu, điều chỉnh tỷ giá hối đoái, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, vay ngoại tệ, bảo hộ mậu dịch và các biện pháp khác

7 Về các tổ chức tài chính quốc tế, bài giảng đề cập đến Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, nguồn vốn và phân bổ nguồn vốn, các nguyên tắc và chính sách hoạt động của từng tổ chức cũng như quan hệ giữa chúng với Việt Nam

Trang 5

D CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Trình bày đặc điểm của Tài chính quốc tế

2 Trình bày vai trò của Tài chính quốc tế

3 Trình bày các hình thức và ưu nhược điểm của tín dụng quốc tế

4 Trình bày đặc điểm, động cơ, các hình thức và ưu nhược điểm của FDI

5 Trình bày các loại tỷ giá hối đoái

6 Tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố nào?

7 Trình bày vai trò của tỷ giá hối đoái

8 Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm các hạng mục nào?

9 Trình bày các biện pháp điều chỉnh trong trường hợp cán cân thanh toán quốc tế bội chi

10 Trình bày những nội dung cơ bản về UNDP v à IMF

E TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Frederic S.Mishkin 2001 Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính Trang 584-600, 620-626 Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà nội

2 PGS TS Dương Đăng Chinh 2003 Lý thuyết tài chính Trang 323-394 Nhà xuất bản Tài chính Hà nội

3 PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn 2004 Tiền tệ - ngân hàng Trang 262-269, 285-293,

294-296 Nhà xuất bản Thống kê Hà nội

4 TS Nguyễn Minh Kiều 2006 Tiền tệ - ngân hàng Trang 486-504 Nhà xuất bản Thống

Trang 6

Chương 10 CÔNG TÁC KIỂM TRA TÀI CHÍNH

A MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG

Sinh viên nắm được các nội dung cơ bản sau:

_ Khái niệm, đặc điểm và tác dụng của công tác kiểm tra tài chính

_ Các nguyên tắc kiểm tra tài chính

_ Nội dung và phương pháp kiểm tra tài chính

_ Các chủ thể kiểm tra tài chính ( chủ thể kiểm tra đối với NSNN và đối với các đơn vị cơ sở)

B NỘI DUNG BÀI GIẢNG (5 tiết)

I Những vấn đề chung về công tác kiểm tra tài chính (1,5 tiết)

1 Khái niệm kiểm tra tài chính

Trong đời sống kinh tê - xã hội, mọi lĩnh vực, mọi hoạt động đều có quá trình kiểm tra Kiểm tra gắn bó chặt chẽ, thiết thực với công tác lãnh đạo và quản lý kinh doanh trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Nó được thực hiện ở cả 4 khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng

Trong các hoạt động kiểm tra của xã hội nói chung, kiểm tra tài chính có vị trí quan trọng trong điều kiện tiền tệ hoá ngày càng phổ biến khi của cải vật chất, các loại tài sản, các khoản thu nhập, các loại hao phí, kết quả sản xuất kinh doanh đều được giá trị hoá, được phản ánh bằng tiền Kiểm tra tài chính có thể xác định được quy mô vốn, chi phí đã bỏ ra, kết quả thu về: chỗ nào là hợp lý, là đúng và chỗ nào là lãng phí, kém hiệu quả Kiểm tra tài chính còn xác định được các quan hệ cân đối trong kinh tế, các quyết định của Nhà nước và của người quản lý doanh nghiệp có liên quan đến các vấn đề tài chính có sai sót hay không, trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp mới về kinh tế và tài chính để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.Cơ sở khách quan của công tác kiểm tra tài chính là chức năng giám đốc và chức năng này chỉ được thể hiện qua công tác kiểm tra tài chính

Như vậy có thể hiểu:

Kiểm tra tài chính là loại kiểm tra được thực hiện đối với quá trình phân phối các nguồn lực tài chính để đảm bảo tính đúng đắn, hợp lý của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ

CHÚ Ý: Cần phân biệt hai khái niệm “ Chức năng giám đốc” và “ Công tác kiểm tra tài chính”:

_ Chức năng giám đốc tài chính: là sự biểu hiện về mặt bản chất các phạm trù tài chính Nó chỉ có tác dụng khi có sự tham gia của con người Nói tới chức năng giám đốc tài chính là nói tới những khả năng khách quan của tài chính trong việc giám đốc tính mục đích, tính hiệu quả của việc phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ

Trang 7

_ Công tác kiểm tra tài chính : là sự vận dụng chức năng giám đốc tài chính để tổ chức quá trình kiểm tra bằng đồng tiền của các chủ thể kinh tê - xã hội trong việc sử dụng chức năng này một cách độc lập với chức năng phân phối Công tác kiểm tra tài chính là hoạt động chủ quan của con người

2 Đặc điểm của kiểm tra tài chính

_ Kiểm tra tài chính là kiểm tra bằng đồng tiền, thực hiện thông qua các chỉ tiêu tài chính đối với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính quốc gia Kiểm tra tài chính được giới hạn trong phạm vi các quan hệ tài chính đối với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước, của các chủ thể kinh tế - xã hội Ví dụ:

+ Kiểm tra tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính như chỉ tiêu chi phí sản xuất kinh doanh, lợi nhuận, hệ số nợ giúp thấy được các mặt yếu kém hay tích cực trong hoạt động của doanh nghiệp

+ Kiểm tra tài chính thông qua các chỉ tiêu tổng thu, tổng chi, các chi phí khác như chi phí văn phòng phẩm, hội nghị phí cho phép Nhà nước thấy được chính xác quá trình huy động vốn

và sử dụng vốn của NSNN, của các đơn vị hành chính sự nghiệp có tuân thủ chính sách, chế độ, nguyên tắc quản lý, mức độ tiết kiệm hiệu quả trong sử dụng tài chính để thực hiện tốt các nhiệm

vụ được giao ở từng thời kỳ hay không

_ Kiểm tra tài chính được tiến hành một cách thường xuyên ở mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi đơn vị, cá nhân Ở đâu có liên quan đến hoạt động tài chính, có sự tạo lập và sử dụng vốn tiền tệ thì ở đó có kiểm tra tài chính Không một đơn vị nào có đặc quyền không phải kiểm tra, bao gồm

cả lĩnh vực sản xuất vật chất và không sản xuất vật chất Mỗi hoạt động kiểm tra tài chính đều có đối tượng cụ thể cho nên phải có các tổ chức, con người, phương pháp và chỉ tiêu khác nhau trong kiểm tra đối với từng đối tượng cụ thể Do đó kiểm tra tài chính mang tính tổng hợp, toàn diện, thường xuyên, rộng rãi và kịp thời

Tuy nhiên, kiểm tra tài chính vừa có kiểm tra thường xuyên vừa có kiểm tra không thường xuyên các hoạt động tài chính Trong các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, việc kiểm tra tài chính được thực hiện một cách thường xuyên chính là kiểm tra nội bộ, nó được thực hiện trong suốt quá trình kế hoạch hoá tài chính từ khâu lập, chấp hành đến quyết toán Ngoài ra, cơ quan tài chính, ngân hàng có thể kiểm tra thường xuyên nhưng chủ yếu là khi chuẩn bị giao nhiệm vụ thu nộp, thực hiện thu nộp, phân bổ vốn, kinh phí cấp phát, sử dụng vốn kinh phí, cho vay, thu hồi vốn và quyết toán tài chính Còn hoạt động kiểm tra không thường xuyên có kiểm tra của thanh tra Nhà nước, thanh tra tài chính, cơ quan kiểm toán Thanh tra Nhà nước, thanh tra tài chính là cơ quan, vừa có quyền kiểm tra vừa có quyền xử lý kết quả kiểm tra đã phát hiện Còn cơ quan kiểm toán chỉ thực hiện sự kiểm tra tài chính theo chức năng được pháp luật quy định: cung cấp thông tin kiểm toán cho chính quyền hay đơn vị hợp đồng để cơ quan này quyết định, chịu trách nhiệm trước pháp luật về các kết luận của kiểm toán mà không xét xử các vụ việc đã phát hiện

3 Tác dụng của kiểm tra tài chính

_ Về phía Nhà nước:

+ Kiểm tra tài chính giúp Nhà nước nắm được tình hình sử dụng vốn NSNN và hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ được giao

Trang 8

+ Kiểm tra tài chính giúp Nhà nước nắm được tình hình kinh doanh, tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh đối với mọi doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế thông qua việc đối chiếu, so sánh, phân tích tình hình thực tế so với yêu cầu khách quan của quản lý kinh tế thị trường theo hoạch định của Nhà nước, từ đó có thể đánh giá hiệu quả kinh tế, sự đúng đắn của chính sách, chế độ, luật pháp

+ Kiểm tra tài chính giúp Nhà nước phát hiện, ngăn chặn, chấn chỉnh những hiện tượng không lành mạnh, những sai lệch so với định hướng XHCN để từ đó điều chỉnh bằng hệ thống pháp luật đối với hoạt động sản xuất kinh doanh ( chính sách thuế, chính sách chi tiêu công cộng, chính sách lãi suất, trợ giá ) nhằm khai thác hết khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất, công ăn việc làm, thu nhập, giá cả, đầu tư, đảm bảo hiệu quả kinh tế ở tầm vĩ mô cũng như vi mô

+ Công tác kiểm tra tài chính có tác dụng to lớn trong việc tăng cường pháp chế XHCN, tăng cường kỷ luật tài chính, đảm bảo bình đẳng về pháp luật trong xã hội, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đồng thời hạn chế, khắc phục các khuyết tật vốn có của kinh tế thị trường

_ Về phía các doanh nghiệp:

+ Kiểm tra tài chính giúp cho người quản lý doanh nghiệp nắm được chính xác, toàn diện

về tình hình tài chính để điều hành và kiểm soát các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua phân tích, kiểm tra, đánh giá các chỉ tiêu tài chính về vốn, chi phí, công

nợ, lợi nhuận giúp phát hiện kịp thời những tồn tại trong kinh doanh để nhanh chóng đưa ra các quyết định điều chỉnh hoạt động phù hợp với yêu cầu của thị trường, phát hiện và khai thác triệt

để các tiềm năng của doanh nghiệp, có biện pháp bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, cũng như có căn cứ để xây dựng những dự án sản xuất kinh doanh, ra các quyết định tài chính đúng đắn

+ Kiểm tra tài chính trong các doanh nghiệp góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia vào doanh nghiệp, quyền lợi của các cổ đông; tránh sự thao túng, lợi dụng của một

số người trong bộ máy quản lý điều hành doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia vào liên doanh, của các cổ đông

+ Trong lĩnh vực phi sản xuất vật chất: công tác kiểm tra tài chính ở các đơn vị hành chính

sự nghiệp có tác dụng thúc đẩy thực hiện tốt kế hoạch công tác của đơn vị đảm bảo tính mục đích, tiết kiệm trong sử dụng kinh phí NSNN cấp nhằm tăng cường hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của vốn ngân sách, thúc đẩy các đơn vị khai thác triệt để các khả năng tài chính trong điều

kiện có thể trên cơ sở tôn trọng chính sách, chế độ, kỷ luật tài chính của Nhà nước

II Nguyên tắc kiểm tra tài chính (1 tiết)

Mục đích của kiểm tra là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa và xử lý những vi phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế XHCN Để đạt được mục đích này, công tác kiểm tra tài chính phải quán triệt những nguyên tắc sau:

1 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật

Các cơ quan quản lý, trong khi thực hiện chức năng kiểm tra tài chính của mình, phải tuân thủ theo pháp luật để đảm bảo tính độc lập, đề cao tính trách nhiệm của chủ thể kiểm tra, phát huy

Trang 9

tính hiệu lực của công tác kiểm tra tài chính, ngăn chặn tình trạng can thiệp trái pháp luật, làm vô hiệu hoá hoạt động kiểm tra tài chính, cụ thể:

_ Cơ quan và cán bộ kiểm tra tài chính phải thực hiện đúng chức năng, đúng quyền hạn trách nhiệm được pháp luật quy định

_ Cơ quan, đơn vị được kiểm tra tài chính phải chấp hành các yêu cầu của cơ quan, cán bộ kiểm tra đã được công nhận

_ Khi thu thập thông tin, phân tích, so sánh, đối chiếu để xác nhận kết quả; cơ quan, cán bộ kiểm tra tài chính phải căn cứ vào pháp luật đã quy định, coi pháp luật là chuẩn mực trong công tác kiểm tra, tuyệt đối không tuân theo và làm theo ý kiến của bất kỳ cơ quan hay cá nhân nào để ảnh hưởng đến kết luận kiểm tra tài chính không đúng với thực tế đơn vị được kiểm tra Cơ quan, cán bộ kiểm tra tài chính phải đưa ra kết luận kiểm tra đúng pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

2 Nguyên tắc chính xác, khách quan, công khai, thường xuyên và phổ cập

_ Nguyên tắc chính xác:

+ Cơ sở:

Công tác kiểm tra tài chính đảm bảo tính chính xác mới cho phép đánh giá đúng thực trạng đơn vị, xử lý sai phạm đúng pháp luật, đúng người, đúng tội và đem lại hiệu quả kiểm tra cao, mới có những giải pháp đúng đắn để giải quyết tình hình hoạt động kinh tế - xã hội ở đơn vị được kiểm tra tài chính

- Cán bộ kiểm tra tài chính phải căn cứ vào chứng từ thu thập được, phân tích so sánh để xác định rõ đúng, sai cả về mặt định tính và định lượng

+ Cơ sở: đảm bảo cho công tác kiểm tra thực hiện được công bằng, dân chủ, công khai, được chính xác, khách quan

Trang 10

- Công bố công khai quyết định kiểm tra, đối tượng kiểm tra, nội dung kiểm tra

- Tiếp xúc công khai với các đối tượng và mọi người có liên quan đến nơi kiểm tra

- Công bố công khai kết quả kiểm tra

_ Nguyên tắc thường xuyên:

Công tác kiểm tra tài chính phải được tiến hành một cách thường xuyên và định kỳ, có hệ thống

_ Nguyên tắc phổ cập:

Việc kiểm tra tài chính được tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, mọi đơn vị, mọi hoạt động có liên quan đến hoạt động tài chính, không một đơn vị nào có đặc quyền không phải chịu sự kiểm tra

3 Nguyên tắc bảo vệ bí mật

Cơ quan và cán bộ kiểm tra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tất yếu phải tiếp cận tới nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật doanh nghiệp, bí mật quốc gia Họ không được phép tiết lộ tài liệu, số liệu đã kiểm tra cho những cơ quan, cá nhân không có trách nhiệm biết, chỉ được báo cáo cơ quan lãnh đạo cấp trên, người có thẩm quyền được biết

4 Nguyên tắc hiệu lực và hiệu quả

_ Tính hiệu lực: Kết quả kiểm tra tài chính không thể dừng lại ở phát hiện ra những sai sót,

vi phạm Luật Tài chính mà phải tác động đến việc cải tiến các hoạt động của đơn vị được kiểm tra, phải nêu ra được những kiến nghị về chấn chỉnh tình hình kinh tế tài chính ở đơn vị được kiểm tra

_ Tính hiệu quả: kiểm tra tài chính phải có tác dụng đề phòng, ngăn chặn những thiếu sót,

vi phạm, vạch ra được những tiềm năng của đơn vị được kiểm tra

_ Nội dung:

+ Nhân dân lao động tham gia kiểm tra tài chính qua cơ quan dân cử, các đoàn thể quần chúng trong doanh nghiệp, đơn vị hành chính sự nghiệp như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn, nhất là các cổ đông trong các công ty cổ phần

+ Dựa vào quần chúng đáng tin cậy, có hiểu biết sự việc để nắm lấy thông tin, những tư liệu cần thiết phục vụ cho công tác kiểm tra tài chính

Trang 11

III Nội dung và phương pháp kiểm tra tài chính (1,5 tiết)

1 Nội dung của kiểm tra tài chính

a Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính: là loại kiểm tra được tiến hành khi xây

dựng, xét duyệt, quyết định các kế hoạch tài chính Tức là, kiểm tra trước là kiểm tra khi nghiệp

vụ thu, chi tài chính chưa phát sinh trong thực tế, là kiểm tra khi xây dựng, xét duyệt dự án NSNN, phân tích tính toán và lập kế hoạch tài chính của các doanh nghiệp, dự toán kinh phí của các đơn vị hành chính sự nghiệp

+ Ngăn ngừa tình trạng bỏ sót các nguồn thu chưa khai thác hết hoặc tình trạng sử dụng vốn kém hiệu quả nhằm đảm bảo lập ra được kế hoạch tài chính tiên tiến sát với thực tiễn, với khả năng nền kinh tế, phù hợp với kế hoạch kinh tế - xã hội; đồng thời giúp phòng ngừa, ngăn chặn các sai lầm khi ra quyết định quản lý tài chính dưới hình thức xét duyệt các dự án kế hoạch tài chính

_ Nội dung:

+ Kiểm tra các căn cứ xây dựng kế hoạch tài chính:

- Kiểm tra việc thể hiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong kế hoạch tài chính, đặc biệt là trong lĩnh vực Tài chính Nhà nước; kiểm tra sự phù hợp của kế hoạch tài chính với nhiệm vụ của ngành, của đơn vị với yêu cầu của thị trường trong kỳ kế hoạch để đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ kế hoạch đó

- Kiểm tra khi xây dựng các kế hoạch, các chỉ tiêu thu - chi tài chính có dựa trên các chỉ tiêu của kế hoạch kinh tế - xã hội hay không; có đảm bảo sự thống nhất và quan hệ chặt chẽ giữa chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị trong các kế hoạch hay không; xem xét các định mức, các chi phí làm căn cứ tính toán đưa ra các chỉ tiêu tài chính đã hợp lý chưa

- Kiểm tra việc khai thác khả năng tiềm tàng làm cho kế hoạch tài chính có tính tiên tiến, tích cực

Trên cơ sở phân tích các tài liệu kế toán tổng hợp của doanh nghiệp, xem xét thế mạnh, tiềm năng của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp cùng ngành; so sánh đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế và tài chính, giữa các chỉ tiêu tài chính với nhau, giữa các thời kỳ, so với các doanh nghiệp tương tự trong ngành để kiểm tra, khai thác hết những khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, của nền kinh tế, khai thác hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài chính trên thị trường làm cho kế hoạch tài chính có tính tích cực, tiên tiến, phát hiện ra các khả năng hạ thấp các chi phí sản xuất, khả năng tiết kiệm chi tiêu trên cơ sở tôn trọng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu, phát hiện

ra những khâu, những yếu tố sử dụng lao động - vật tư - tiền vốn chưa hợp lý, chưa tiết kiệm,

Ngày đăng: 13/08/2014, 07:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w