Chức năng trung gian tín dụng Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, điều này thể hiện ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian tín dụng.. Đối với ng
Trang 1Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, được ngân hàng nước ngoài đảm bảo chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt nam Chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền và nghĩa vụ do pháp luật Việt nam quy định, hoạt động theo giấy phép mở chi nhánh và các quy định có liên quan của pháp luật Việt nam
II Chức năng của ngân hàng thương mại (1 tiết)
Các ngân hàng thương mại thực hiện các chức năng sau đây:
1 Chức năng trung gian tín dụng
Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, điều này thể hiện ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian tín dụng Một mặt, ngân hàng thương mại huy động các khoản tiền nhàn rỗi ở mọi chủ thể trong xã hội Mặt khác, ngân hàng thương mại dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay lại đối với các chủ thể cần vốn trong xã hội Như vậy, ngân hàng thương mại là một trung gian về tín dụng giữa các chủ thể dư thừa vốn và những chủ thể thiếu vốn
Hoạt động trên của ngân hàng thương mại mang tính chất kinh doanh, bởi vì khi cho vay, ngân hàng thương mại đặt ra mức lãi suất cao hơn so với khi huy động vốn Hoạt động này ngày càng được mở rộng nhiều, nó tiết kiệm được các chi phí về thông tin và giao dịch cho nền kinh tế
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại góp phần tạo lợi ích cho tất cả các chủ thể kinh tế tham gia và lợi ích chung của nền kinh tế
_ Đối với người gửi tiền
Người gửi tiền sẽ thu được lợi từ các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi, đồng thời ngân hàng cùng đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi và cung cấp cho khách hàng những dịch vụ thanh toán tiện lợi
_ Đối với người vay
Người vay sẽ được thỏa mãn nhu cầu về vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải tiêu tốn nhiều sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và
an toàn
_ Đối với ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại sẽ tìm kiếm được khoản lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi Đây là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại
_ Đối với nền kinh tế
Chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, vì nó đáp ứng được nhu cầu về vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất Với chức năng này, ngân hàng thương mại đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
2 Chức năng trung gian thanh toán
Trong nền kinh tế, khi chưa có hoạt động ngân hàng hoặc mới có những hoạt động sơ khai (nhận bảo quản tiền đúc) thì các khoản giao dịch thanh toán giữa những người sản xuất kinh doanh và các đối tượng khác đều được thực hiện một cách trực tiếp, người trả tiền và người thụ hưởng tự kiểm soát các giao dịch thanh toán, đồng thời sử dụng tiền mặt để chi trả trực tiếp Khi ngân hàng thương mại ra đời và hoạt động trong nền kinh tế thì dần dần các khoản giao dịch thanh toán giữa các đơn vị và cá nhân đều được thực hiện qua hệ thống ngân hàng
Trang 2Trên cơ sở hoạt động đi vay để cho vay, ngân hàng thương mại đã cung cấp các dịch vụ thanh toán cho các khách hàng Thay cho việc thanh toán trực tiếp, các đơn vị, cá nhân có thể nhờ ngân hàng thương mại thực hiện những công việc này dựa trên những khoản tiền họ đã gửi ở ngân hàng, thông qua việc mang tiền của người phải trả chuyển cho người được hưởng bằng nhiều hình thức khác nhau với kỹ thuật ngày càng tiên tiến và thủ tục ngày càng đơn giản
Những dịch vụ thanh toán của ngân hàng thương mại ngày càng được ưa chuộng vì nó đem lại sự thuận tiện,an toàn và tiết kiệm chi phí hơn cho những chủ thể trong nền kinh tế Đối với ngân hàng thương mại, khi thực hiện chức năng trung gian thanh toán sẽ tạo điều kiện để mở rộng quan hệ khách hàng, không chỉ hỗ trợ cho sự phát triển của hoạt động huy động tiền gửi mà còn đối với cá hoạt động cho vay
3 Chức năng tạo tiền
Khi kết hợp chức năng trung gian thanh toán và chức năng trung gian tín dụng tạo cho ngân hàng thương mại khả năng tạo ra tiền ghi sổ thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại Từ một lượng tiền gửi ban đầu, qua nghiệp vụ cho vay dưới hình thức chuyển khoản, đã làm cho số dư trên tài khoản tiền gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại tăng lên
Những hoạt động mà ngân hàng thương mại thực hiện đã làm hình thành nên một cơ chế tạo tiền trong toàn hệ thống ngân hàng Từ những khoản tiền nhận được từ ngân hàng trung ương hoặc những khoản tiền gửi ban đầu, ngân hàng thương mại sử dụng để cho vay, sau đó những khoản tiền này sẽ được quay lại ngân hàng thương mại một phần khi những người sử dụng gửi tiền vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn Quá trình huy động tiền gửi và cho vay của ngân hàng thương mại trên cơ sở lượng tiền được cung ứng ban đầu sẽ được kéo dài và chỉ dừng lại khi nào toàn bộ lượng tiền được cung ứng ban đầu quay trở về hết ngân hàng trung ương dưới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc Khi đó các ngân hàng thương mại đã có một số dư rất lớn trên các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
III Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (1,5 tiết)
1 Hoạt động tạo lập nguồn vốn (Nghiệp vụ Nợ)
_ Các quỹ của ngân hàng
Các quỹ của ngân hàng thương mại bao gồm
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ (gọi tắt là quỹ dự trữ) Quỹ đầu tư phát triển
Quỹ dự phòng tài chính Quỹ dự phòng trợ cấp Quỹ khen thưởng phúc lợi,…
_ Các tài sản nợ khác
Các tài sản nợ khác bao gồm
Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản do Nhà nước cấp
Trang 3Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản Lợi nhuận được để lại chưa phân bổ cho các quỹ
1.2 Vốn huy động
Vốn huy động của ngân hàng thương mại bao gồm nội tệ và ngoại tệ được hình thành từ hai bộ phận: vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá
_ Tiền gửi
+ Tiền gửi thanh toán
Tiền gửi thanh toán là tiền gửi của các tổ chức, cá nhân Khi gửi tiền không kỳ hạn theo tài khoản thanh toán thể hiện một hợp đồng mặc nhiên giữa ngân hàng và khách hàng, theo đó ngân hàng phải có trách nhiệm thực hiện các khoản chi trả cho khách hàng một cách kịp thời, đầy
+ Tiền gửi tiết kiệm
Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của ngân hàng Với loại tiền gửi này, người gửi được ngân hàng giao cho một sổ tiết kiệm, trong thời gian gửi tiền sổ tiết kiệm có thể dùng làm vật cầm cố hoặc chiết khấu để vay ngân hàng
_ Vốn huy động thông qua phát hành các giấy từ có giá
Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá là việc ngân hàng thương mại phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động Trong hình thức huy động này, ngân hàng chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội nhằm bổ sung nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng
1.3 Vốn vay của các tổ chức tín dụng khác và của ngân hàng trung ương
Đây là nguồn vốn được hình thành bởi các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau, hoặc giữa các tổ chức tín dụng với ngân hàng trung ương
Trang 4Ngân hàng trung ương cho các tổ chức tín dụng vay vốn ngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn theo các loại sau:
Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
Đây là nguồn vốn mà ngân hàng có được do làm đại lý nhận ủy thác của các tổ chức trong
và ngoài nước để thực hiện đầu tư cho những chương trình, dự án Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ được hưởng hoa hồng phí
_ Vốn được tạo ra trong quá trình ngân hàng làm đại lý bán cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệp hay kho bạc nhà nước
…
2 Sử dụng và khai thác các nguồn vốn (Nghiệp vụ Có)
Sử dụng và khai thác nguồn vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại
2.1 Hoạt động ngân quỹ
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động phục vụ cho việc chi trả đối với khách hàng, nó bao gồm nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng khác và ngân hàng trung ương
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động không sinh lời, nhưng lại rất quan trọng đối với các ngân hàng thương mại vì nó góp phần tăng cường khả năng thanh toán và chi trả đối với khách hàng
2.2 Hoạt động cho vay
Bao gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn:
_ Cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng Đây là loại cho vay phổ biến của ngân hàng thương mại nhằm bổ sung vốn tạm thời thiếu hụt của các doanh nghiệp, dân cư
_ Cho vay trung và dài hạn
Cho vay trung và dài hạn là loại cho vay được thực hiện đối với những chương trình, dự
án phát triển kinh tế - xã hội có thời hạn từ 12 tháng trở lên Loại cho vay này ngày càng được các ngân hàng thương mại quan tâm Một mặt chúng đáp ứng yêu cầu vay vốn trung và dài hạn của xã hội để mở mang ngành nghề sản xuất kinh doanh, đầu tư và xây dựng cơ bản,… Mặt khác chúng cũng phù hợp với khả năng huy động vốn ngày một nhiều của ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay được thực hiện thông qua các hình thức phổ biến sau:
Chiết khấu thương phiếu Cho vay ứng trước Cho vay vượt chi
Trang 52.3 Hoạt động đầu tư
Ngân hàng thương mại ngoài hoạt động ngân quỹ, hoạt động cho vay còn dành một tỷ lệ vốn nhất định để thực hiện hoạt động đầu tư Bộ phân vốn được ngân hàng thương mại sử dụng trong hoạt động này phải có tính ổn định cao, chủ yếu là vốn tự có
Các hình thức đầu tư phổ biến như: góp vốn liên doanh liên kết, đầu tư chứng khoán…
Bảo quản và lưu giữ chứng khoán cho khách hàng _ Dịch vụ tư vấn tài chính, đầu tư phát triển, thẩm định dự án, cung cấp thông tin và tư vấn về kinh doanh
_ Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế _ Dịch vụ nhận và chi trả kiều hối, thu đổi ngoại tệ,…
IV Nguyên tắc chung trong quản lý hoạt động ngân hàng thương mại (0,5 tiết)
1 Đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên đối với khách hàng
Đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên đối với khách hàng là yêu cầu tối cao với hoạt động của bất kỳ ngân hàng thương mại nào Nó xuất phát từ đặc trưng cơ bản nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thương mại là dựa chủ yếu vào vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội Hơn nữa nó cũng là dấu hiệu nói lên khả năng tài chính mạnh hay yếu của một ngân hàng thương mại
2 Bảo đảm mức sinh lời cao
Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng của ngân hàng thương mại Dù hoạt động trong bất kỳ điều kiện nào thì các ngân hàng thương mại đều phải phấn đấu để có mức lợi nhuận cao Để đạt được điều này, các ngân hàng thương mại phải đẩy mạnh hoạt động cho vay và đầu tư, cho vay được nhiều với những khoản cho vay có độ an toàn cao, tiền lãi cao
3 Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và yêu cầu mức sinh lời cao
Trong kinh doanh muốn đứng vững và cạnh tranh, ngân hàng thương mại phải giữ rủi ro trong giới hạn nhất định, phải đảm bảo khả năng thanh khoản ở mức độ cần thiết trong kết cấu tài sản có và mức độ sinh lãi có thể chấp nhận được Tất cả những điều này sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả tài chính của ngân hàng thương mại
Trang 6V Vai trò của ngân hàng thương mại (0,5 tiết)
1 Ngân hàng thương mại giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, muốn mở rộng quy mô sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp phải
có lượng vốn lớn để đổi mới thiết bị và công nghệ lạc hậu Trong điều kiện đó, ngân hàng thương mại một mặt đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn thiếu hụt, cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh Mặt khác, thông qua hoạt động kiểm soát quá trình sử dụng vốn của các doanh nghiệp vay, ngân hàng thương mại giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
2 Các ngân hàng thương mại góp phần phân bố hợp lý các nguồn lực giữa các vùng trong quốc gia, tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại một mặt góp phần hình thành duy trì
và phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu ngành và khu vực nhất định Mặt khác, các ngân hàng thương mại góp phần điều chỉnh ngành, khu vực khi xuất hiện sự phát triển mất cân đối hoặc khi cần sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thị trường
3 Ngân hàng thương mại tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương
Để thực thi chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ như lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc,… Chính ngân hàng thương mại là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của những công cụ này và đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế
4 Ngân hàng thương mại là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia
Vai trò này của ngân hàng thương mại thể hiện thông qua các nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu, quan hệ thanh toán với các tổ chức tài chính, ngân hàng và doanh nghiệp quốc tế giúp cho việc thanh toán, trao đổi mua bán được diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, an toàn và hiệu quả
C TÓM TẮT CH ƯƠNG
1 Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Quá trình ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại trải qua 3 giai đoạn Dựa vào hình thức sở hữu, ngân hàng thương mại được phân loại thành ngân hàng thương mại quốc doanh (ngân hàng thương mại nhà nước), ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại liên doanh và chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài
2 Các ngân hàng thương mại thực hiện các chức năng: chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền Thông qua việc đi vay để cho vay, ngân hàng thương mại là một trung gian về tín dụng giữa các chủ thể dư thừa vốn và những chủ thể thiếu vốn đồng thời ngân hàng thương mại đã cung cấp các dịch vụ thanh toán cho các khách hàng Khi kết hợp chức năng trung gian thanh toán và chức năng trung gian tín dụng tạo cho ngân hàng thương mại khả năng tạo ra tiền ghi sổ thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại
3 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động tạo lập nguồn vốn (Nghiệp vụ Nợ), sử dụng và khai thác các nguồn vốn (Nghiệp vụ Có), và các hoạt động khác
Trang 7Nguồn vốn của ngân hàng được hình thanh từ vốn tự có, vốn huy động, vốn vay của các tổ chức tín dụng khác và của ngân hàng trung ương, và các nguồn vốn khác Nghiệp vụ Có của ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động ngân quỹ, hoạt động cho vay, hoạt động đầu tư Các hoạt động khác là các hoạt động được thực hiện theo sự ủy thác của khách hàng Nguyên tắc chung trong quản lý hoạt động ngân hàng thương mại phải tuân thủ nguyên tắc chung: đ ảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên đối với khách hàng, bảo đảm mức sinh lời cao, xử lý hài hòa mối quan
hệ giữa yêu cầu đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và yêu cầu mức sinh lời cao
4 Ngân hàng thương mại có vai trò của quan trọng: Ngân hàng thương mại giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh; ngân hàng thương mại góp phần phân bố hợp lý các nguồn lực giữa các vùng trong quốc gia, tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế; ngân hàng thương mại tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương; và ngân hàng thương mại là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia
D CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Trình bày quá trình ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại
2 Phân loại ngân hàng thương mại theo hình thức sở hữu
3 Trình bày các chức năng của ngân hàng thương mại
4 Trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, hoạt động nào là quan trong nhất? Tại sao?
5 Nguyên tắc chung trong quản lý hoạt động ngân hàng thương mại
6 Trình bày vai trò của ngân hàng thương mại
E TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Frederic S.Mishkin 2001 Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính Trang 254-292 Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà nội
2 PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn 2004 Tiền tệ - ngân hàng Trang 125-163 Nhà xuất bản Thống kê Hà nội
3 TS Nguyễn Minh Kiều 2006 Tiền tệ - ngân hàng Trang 160-186 Nhà xuất bản Thống
8 PGS.TS Lê Văn Tề, TS Nguyễn Văn Hà 2004 Lý thuyết tài chính tiền tệ Trang
246-272 Nhà xuất bản Thống kê Hà nội
Trang 8Chương 8
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
A MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG
Sinh viên nắm được các nội dung cơ bản sau:
_ Sự ra đời của Ngân hàng trung ương
_ Mô hình và hệ thống tổ chức của ngân hàng trung ương
_ 3 chức năng của ngân hàng trung ương ( Ngân hàng phát hành, ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của nhà nước)
_ Vai trò của ngân hàng trung ương
_ Chính sách tiền tệ (khái niệm, mục tiêu, nội dung, công cụ)
_ Sự ra đời và phát triển; tổ chức bộ máy; chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ngân hàng nhà nước Việt nam
B NỘI DUNG BÀI GIẢNG (6 tiết)
I Sự ra đời của Ngân hàng trung ương (1 tiết)
Quá trình hình thành ngân hàng trung ương ở các nước khác nhau là một quá trình lâu dài
và thường là đa dạng, do ở mỗi nước có những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội Nhìn chung sự ra đời của Ngân hàng trung ương được phát triển theo một trật tự nhất định
Thời kỳ đầu ( từ khoảng thế kỷ 12 đến thế kỷ 18 ) ở hầu hết các nước Châu Âu, các ngân hàng kinh doanh tiền tệ lần lượt ra đời, nói chung thực hiện những chức năng tương tự nhau, bao gồm nhận tiền gửi, cho vay, phát hành kỳ phiếu của ngân hàng mình vào lưu thông, thực hiện các dịch vụ tiền tệ khác
Về sau ( từ khoảng thế kỷ 18 và thế kỷ 19 ) do quy mô và phạm vi lưu thông hàng hóa được mở rộng, trong lưu thông có quá nhiều loại kỳ phiếu ngân hàng tư nhân đã gây cản trở cho giao lưu và phát triển kinh tế Do đó, nhà nước của các nước đã bắt đầu can thiệp vào hoạt động của hệ thống ngân hàng bằng cách hạn chế số lượng các ngân hàng được phép phát hành kỳ phiếu ngân hàng Nhà nước ban hành luật lệ chỉ cho phép một hoặc một số ngân hàng có năng lực tài chính lớn và có tín nhiệm hơn cả được thực hiện chức năng phát hành kỳ phiếu ngân hàng Từ đó
hệ thống ngân hàng được phân định thành 2 loại:
- Những ngân hàng được phép phát hành tiền được gọi là ngân hàng phát hành Đây là những ngân hàng lớn, có uy tín, tài chính vững mạnh Ngân hàng phát hành giảm dần và đi đến không giao dịch với công chúng mà chỉ giao dịch với các ngân hàng trung gian
- Những ngân hàng không được phép phát hành tiền được gọi chung là ngân hàng trung gian Ngân hàng trung gian giao dịch với công chúng, thực hiện kinh doanh tiền tệ thuần túy
Tuy nhiên số ngân hàng được phép phát hành tiền ở từng nước cũng còn tới hàng chục ngân hàng, đều thuộc sở hữu tư nhân Sẽ không có gì đảm bảo rằng những tư nhân này sẽ không đưa ra những chính sách có hại cho quốc gia, cho nền kinh tế khi mà quyền lợi cá nhân của họ bị
đe dọa hoặc là mâu thuẫn với lợi ích quốc gia Tức là, việc ngân hàng phát hành vẫn thuộc sở hữu
tư nhân sẽ không cho phép Nhà nước có thể can thiệp một cách thường xuyên và kịp thời vào hoạt động kinh tế thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ ( Nhà nước không thể chủ động
Trang 9kiểm soát được khối lượng tiền phát hành, không có điều kiện can thiệp vào hoạt động của hệ thống tài chính để điều khiển kinh tế thông qua tác động của tiền tệ )
Vì vậy, từ khoảng đầu thế kỷ 19 trở đi, lần lượt các nước đã tiến hành thành lập ngân hàng phát hành do Nhà nước quản lý, thực hiện cơ chế một ngân hàng độc quyền phát hành tiền để thông qua ngân hàng này, Nhà nước có thể chủ động việc kiểm soát phát hành tiền và điều tiết khối lượng tiền cung ứng, phục vụ cho quản lý và phát triển kinh tế Đặc biệt từ sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 và sau thế chiến lần thứ hai phần lớn các nước đều tiến hành quốc hữu hóa ngân hàng phát hành chuyển thành sở hữu của nhà nước Đây chính là quá trình hình thành ngân hàng phát hành và xác lập cho ngân hàng này chức năng quản lý nhà nước
về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, được gọi là Ngân hàng trung ương Việc quốc hữu hóa ngân hàng phát hành được thực hiện bằng cách Nhà nước bỏ tiền ra mua lại toàn bộ cổ phiếu của ngân hàng phát hành Toàn bộ hội viên của hội đồng quản trị và bộ máy lãnh đạo điều hành, thanh tra, kiểm soát đều do nhà nước bổ nhiệm trên cơ sở cơ cấu cũ trước khi quốc hữu hóa
Như vậy sự ra đời của ngân hàng trung ương là hệ quả của quá trình chuyển hóa ngân hàng thương mại thành ngân hàng phát hành, và ngân hàng phát hành thành ngân hàng trung ương gắn liền với sự can thiệp của Nhà nước trên lĩnh vực này Sự ra đời của ngân hàng trung ương xuất phát từ đòi hỏi của sản xuất và lưu thông hàng hóa, cùng với yêu cầu của Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ Nó ra đời không vì mục đích tìm kiếm doanh lợi, mà xuất phát từ yêu cầu của quản lý và điều tiết lưu thông tiền tệ, thực hiện nhiệm vụ ổn định tiền tệ, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn
và có hiệu quả để phát triển kinh tế Dù tên gọi không giống nhau như Quỹ dự trữ liên bang, Ngân hàng nhà nước, Viện phát hành,… chúng đều có chung một tính chất: ngân hàng trung ương
Hiện nay, ở một số nước ngân hàng trung ương không hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng hoạt động vẫn mang tính chất như một ngân hàng của nhà nước và cơ quan quản
lý cao nhất của nó là do nhà nước bổ nhiệm và miễn nhiệm Chẳng hạn: Ngân hàng trung ương Nhật Bản là ngân hàng cổ phần ( nhà nước chiếm 55%) nhưng cơ quan quản trị ngân hàng có 7 thành viên do chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm Hệ thống dự trữ liên bang Mỹ là ngân hàng cổ phần với hội đồng thống đốc có 7 thành viên do Tổng thống đề cử và Quốc hội bổ nhiệm,…
II Mô hình và hệ thống tổ chức của Ngân hàng trung ƣơng (0,5 tiết)
1 Mô hình tổ chức
Sự ra đời của ngân hàng trung ương là do yêu cầu khách quan của việc quản lý phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ … Ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyền phát hành tiền
và thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng với nhiệm vụ
cơ bản là ổn định giá trị tiền tệ Để thực hiện chức năng nhiệm vụ đó, ngân hàng trung ương phải chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ Do đó ngân hàng trung ương có vị trí đặc biệt trong bộ máy quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô Cho đến nay trên thế giới có 2 mô hình
tổ chức ngân hàng trung ương:
1.1 Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ (Ngân hàng trung ương trực thuộc Quốc hội)
Theo mô hình này, Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của Ngân hàng trung ương, đặc biệt là trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
Mô hình này được xây dựng dựa trên quan điểm cho rằng: Chính phủ là người thực thi chính sách tài chính quốc gia, quản lý, điều hành ngân sách nhà nước Để ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ sẽ bị Chính phủ lạm dụng công cụ phát hành tiền để trang trải sự thiếu hụt
Trang 10của ngân sách nhà nước, từ đó dễ gây ra lạm phát Mặt khác ngân hàng trung ương mất hẳn tính độc lập và chủ động trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
Tiêu biểu cho mô hình này là Quỹ dự trữ liên bang Mỹ và Ngân hàng dự trữ liên bang Đức
Ngân hàng dự trữ liên bang Đức không trực thuộc Chính phủ khi thực hiện các nghiệp vụ của mình, đồng thời có trách nhiệm ủng hộ chính sách kinh tế chung của Chính phủ
Quỹ dự trữ liên bang Mỹ: cơ quan quản lý cao nhất là hội đồng thống đốc có 7 thành viên Thành viên của Hội đồng thống đốc không được tái nhiệm Chính phủ khó có thể chi phối hoạt động của ngân hàng trung ương
1.2 Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ
Theo mô hình này, Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đối với ngân hàng trung ương thông qua việc bổ nhiệm các thành viên của bộ máy quản trị và điều hành ngân hàng trung ương, thậm chí Chính phủ còn can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
Mô hình này được xây dựng trên quan điểm cho rằng: Chính phủ là người thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thực hiện vai trò quản lý kinh tế vĩ mô, do đó chính phủ phải nắm và sử dụng các công cụ kinh tế vĩ mô Việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu trong tổng thể các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô Chính phủ phải nắm lấy ngân hàng trung ương để sử dụng ngân hàng này trong việc thực hiện các chức năng của Chính phủ
Như vậy, ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng Nhưng nó khác với tính chất quản lý của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý không chỉ đơn thuần bằng các luật lệ, các biện pháp hành chính mà còn thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh sinh lời Ngân hàng trung ương có các khoản thu nhập từ các tài sản có của mình như chứng khoán chính phủ, kinh doanh trên thị trường ngoại hối, cho vay chiết khấu,…Hai mặt quản lý và kinh doanh gắn chặt với nhau trong tất cả các hoạt động của ngân hàng trung ương Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh chỉ là phương tiện để quản lý, không phải là mục đích của ngân hàng trung ương Hầu hết các khỏan thu nhập của Ngân hàng trung ương, sau khi trừ các chi phí hoạt động, đều phải nộp vào ngân sách nhà nước
2 Hệ thống tổ chức
Hệ thống tổ chức của ngân hàng trung ương được bố trí theo tuyến dọc: bên trên là ngân hàng trung ương, tỏa dọc xuống là các chi nhánh trực thuộc đặt trên các địa bàn các tỉnh, thành phố Hệ thống tổ chức này đảm bảo cho ngân hàng trung ương vận hành các hoạt động của mình một cách thông suốt, nhạy bén theo nguyên tắc tập trung thống nhất
* Về cơ chế quản trị, điều hành
Trong bộ máy quản lý, điều hành vĩ mô của Nhà nước, ngân hàng trung ương có vị trí đặc biệt, cùng với nhiệm vụ xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, cho nên việc quản trị và điều hành hoạt động của ngân hàng trung ương được thực hiện theo một cơ chế đặc biệt so với các Bộ chức năng của nhà nước
_ Về cơ chế quản trị
Hiện nay, hầu hết các nước đều thực hiện theo cơ chế lãnh đạo dưới hình thức một hội đồng Hội đồng này được nhà nước bổ nhiệm gồm những người có chuyên môn cao, có trình độ quản lý,… Chức năng chủ yếu của Hội đồng là quyết định những chủ trương, chính sách về tiền
tệ, tín dụng, ngân hàng, chỉ đạo, giám sát các hoạt động của ngân hàng trung ương, tư vấn cho
Trang 11Chính phủ các vấn đề về kinh tế-tiền tệ Đứng đầu hội đồng là chủ tịch hội đồng – thường là Thống đốc ngân hàng trung ương
Chẳng hạn:
Ngân hàng dự trữ liên bang Đức: cơ quan quản trị là hội đồng ngân hàng trung ương Các thành viên hội đồng gồm có: Thống đốc ngân hàng liên bang, Thống đốc các ngân hàng trung ương bang Thống đốc ngân hàng liên bang đồng thời là chủ tịch hội đồng
Quỹ dự trữ liên bang Mỹ: cơ quan quản trị là hội đồng thống đốc gồm 7 thành viên được Tổng thống đề cử và Thượng viện phê chuẩn để phục vụ trong nhiệm kỳ 4 năm Các thành viên thường là các nhà kinh tế chuyên nghiệp hoặc những nhà ngân hàng chuyên nghiệp Đứng đầu hội đồng này là chủ tịch hội đồng thống đốc do Thượng viện bổ nhiệm
_ Về cơ chế điều hành
Thống đốc ngân hàng trung ương là người trực tiếp điều hành, giúp việc cho thống đốc có một số phó thống đốc Để thực hiện chức trách của mình, thốnh đốc sử dụng một bộ máy tổ chức gồm các vụ, cục, chi nhánh trực thuộc Thống đốc là người chịu trách nhiệm trước Quốc hội hoặc Chính phủ và trước hội đồng quản trị về thực hiện chức năng nhiệm vụ của ngân hàng trung ương
III Chức năng của ngân hàng trung ương (1 tiết)
1 Ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành và điều tiết lưu thông tiền tệ
Khi ngân hàng trung ương ra đời và hoạt động thì toàn bộ việc phát hành giấy bạc ngân hàng được tập trung vào ngân hàng trung ương theo chế độ nhà nước độc quyền phát hành tiền Ngân hàng trung ương trở thành trung tâm phát hành tiền của đất nước
Giấy bạc ngân hàng do Ngân hàng trung ương phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp, làm chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán Do đó việc phát hành tiền của ngân hàng trung ương có tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước Để cho giá trị đồng tiền được ổn định, đòi hỏi việc phát hành tiền phải tuân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt Đó là:
_ Phát hành tiền dựa vào dự trữ vàng
Giấy bạc ngân hàng phát hành vào lưu thông phải có vàng nằm trong kho của ngân hàng làm đảm bảo Mức đảm bảo ở mỗi nước có sự co giãn khác nhau Nhìn chung có 3 hình thức duy trì đảm bảo sau đây:
+ Nhà nước quy định một hạn mức phát hành, khối lượng phát hành phải nằm trong hạn mức pháp định
+ Nhà nước quy định tối đa lượng giấy bạc trong lưu thông và không quy định mức dự trữ vàng làm đảm bảo cho lượng giấy bạc đó
+ Nhà nước quy định mức dự trữ vàng tối thiểu cho khối lượng giấy bạc phát hành
_ Phát hành tiền có đảm bảo bằng giá trị hàng hóa thông qua cơ chế tín dụng
Việc phát hành giấy bạc được thực hiện qua cơ chế tín dụng ngắn hạn trên cơ sở đảm bảo bằng giá trị hàng hóa thể hiện trên kỳ phiếu thương mại và các chứng từ nợ khác Điều này làm cho việc phát hành giấy bạc gắn với nhu cầu thực tế của lưu thông hàng hóa, đảm bảo cho tổng lượng tiền tệ phù hợp với tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ trên thị trường Việc phát hành này của ngân hàng trung ương được thực hiện bằng phương pháp tái chiết khấu các chứng từ có giá của các tổ chức tín dụng