1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

97 Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Ernst và Young Việt Nam thực hiện

58 628 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam thực hiện
Tác giả Phạm Thùy Trang
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kiểm toán
Thể loại Chuyên đề thực tập
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 821 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

97 Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Ernst và Young Việt Nam thực hiện

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Giai đoạn hai của quá trình thực tập là quãng thời gian sinh viên thực tập cóđiều kiện được tiếp xúc sâu sát hơn và được tham gia nhiều hơn vào công việc kiểmtoán, từ đó được tìm hiểu, xem xét giấy tờ làm việc của kiểm toán Hơn nữa, như đãnêu trong báo cáo thực tập tổng hợp, công việc kiểm toán được chia nhỏ ra thànhnhiều phần hành, mỗi phần hành có thể bao gồm một hoặc nhiều tài khoản, trong đócác tài khoản này thông thường có sự liên đới với nhau, việc kiểm toán theo từngphần hành này trước nhất là giúp cho việc kiểm toán được phân công hợp lý chotừng thành viên trong đoàn kiểm toán, đồng thời cũng dễ dàng trong việc chia táchcông việc, cũng như tiếp cận kế toán của kiểm toán viên

Chính vì thế, mục đích của giai đoạn này đó là giúp sinh viên có định hướng

cụ thể và có cái nhìn sâu sắc hơn về một phần việc trong tiến hành một cuộc kiểmtoán Đây chính là những tiền đề giúp em lựa chọn đề tài cho chuyên đề thực tập tốt

nghiệp là: Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán

BCTC do công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam thực hiện

Kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên là công việc soát xét tính trungthực, hợp lý về khoản mục liên quan đến chi phí tiền lương và nhân viên của công

ty, như thế phần hành này liên quan mật thiết đến khoản mục chi phí nhân công, chiphí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của đơn vị,như thế đồng thời cũng liên quan đến khoản mục giá vốn hàng bán Chính vì tínhchất quan trọng đó, khoản mục liên quan đến bảng lương được coi là một khoảnmục khó, đòi hỏi sự cẩn thận và tỉ mỉ không chỉ đứng riêng ở góc độ về tính trungthực số liệu mà còn xem xét đến tính logic khi đối chiếu với các phần hành khác cóliên quan Nhận thấy được tính phức tạp của phần hành này, em đã cố gắng thamkhảo các tài liệu kiểm toán của công ty, cũng như tham vấn từ các anh chị đã từngtham gia thực hiện phần hành này để có thêm được những hiểu biết về các côngviệc cụ thể cũng như trình tự thực hiện và nội dung của các công việc để đi đến mụcđích cuối cùng là xác minh của kiểm toán về tính trung thực, hợp lý của BCTC, và

Trang 2

có thể từ đặc điểm của kế toán tại doanh nghiệp, bày tỏ ý kiến để khách hàng có thểquản lý tốt hơn và khắc phục được những sai sót hoặc lược giản hệ thống cồng kềnhkhông cần thiết trong việc hạch toán.

Nội dung chuyên đề thực tập tốt nghiệp gồm hai chương:

Chương 1: Thực trạng quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam thực hiện

Chương 2: Nhận xét và các giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam thực hiện

Trang 3

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN CHU TRÌNH TIỀN LƯƠNG VÀ NHÂN VIÊN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH ERNST & YOUNG VIỆT

NAM THỰC HIỆN1.1 Mục tiêu kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam thực hiện

Trước khi bắt đầu thực hiện một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải xácđịnh rõ ràng mục tiêu của cuộc kiểm toán đó, bắt đầu từ những mục tiêu chung chođến những mục tiêu cụ thể cho từng phần hành kiểm toán, kết hợp với những hiểubiết về đơn vị để quyết định mục tiêu trọng yếu và cần tập trung vào phần hành nào.Mục tiêu kiểm toán có giá trị giúp kiểm toán viên vạch ra nền tảng của cuộc kiểmtoán, từ đó xác định khối lượng công việc, thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợpphục vụ cho việc thực hiện kiểm toán và hoàn thành công việc trong tiến độ

Trong kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên, cụ thể các mục tiêu kiểmtoán được xác định như sau

Mục tiêu kiểm toán chung: Khẳng định tính trung thực hợp lý của các nghiệp

vụ liên quan đến tiền lương và nhân viên, phù hợp với nguyên tắc và chế độ kế toánhiện hành, để có đủ bằng chứng kết luận về con số của các khoản mục phải trả liênquan đến tiền lương trên BCTC của đơn vị

Tính trọn vẹn: Những khoản phải trả công nhân viên phát sinh trong kỳ đã

được hạch toán đầy đủ trên sổ sách kế toán của đơn vị

Tính hiện hữu: Số dư phải trả công nhân viên, tức con số được trình bày trên

BCTC là có thực, là kết quả của các nghiệp vụ thực tế đã phát sinh trong niên độ tàichính

Tính phân loại và trình bày: Việc hạch toán chi phí vào khoản phải trả công

nhân viên (TK 334), và các khoản trích theo lương (TK 3382, 3383, 3384, TKBHTN) là đúng đắn, phù hợp với tính chất hạch toán của tài khoản

Trang 4

Tính chính xác cơ học: Việc đặt công thức tính lương (kế toán trên excel) và

các khoản trích theo lương là đúng đắn, các công thức cộng tổng là đầy đủ và không

bỏ sót để đảm bảo con số tổng hợp cuối cùng được tính toán chính xác

Tính định giá: Việc tính toán lương theo quy định đã đúng hay chưa, mức

lương cơ bản áp dụng như thế nào, có đúng như trong hợp đồng lao động hay không(chọn mẫu để xem xét việc thực hiện này, chủ yếu được thực hiện trong thử nghiệmkiểm soát)

Tính quyền và nghĩa vụ: Số dư của TK 334 và 338 thể hiện nghĩa vụ của đơn

vị về chi trả tiền lương và thực hiện việc quản lý các khoản trích theo lương Đặcbiệt trong phần hành này, kiểm toán viên phải hết sức chú ý đến việc trích thuế thunhập cá nhân của nhân viên có ký hợp đồng với công ty theo văn bản pháp luật,thông tư mới nhất ban hành và được áp dụng hiện hành Đặc biệt, phần lương còn

có liên hệ đến phần thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, cụ thể là thuế thu nhập

cá nhân (TK 3335), trong phần kiểm toán này sẽ đề cập đến việc kiểm toán tínhthuế thu nhập cá nhân, để thể hiện tính gắn kết của các khoản mục

Như vậy, việc xác định mục tiêu kiểm toán trong chu trình tiền lương vànhân viên, đi từ tính có thực của các nghiệp vụ, cho đến tính có thực của số dư cuối

kỳ trên bảng cân đối kế toán Kiểm toán viên phải xác định được đối với doanhnghiệp được kiểm toán, phần chi phí chiếm tỷ trọng bao nhiêu, ảnh hưởng đến kếtquả hoạt động kinh doanh như thế nào Trả lời được những câu hỏi đó, nghĩa làkiểm toán viên có thể xác định được tính chất quan trọng của chu trình trong hoạtđộng của đơn vị được kiểm toán, cũng như phân bổ mức trọng yếu cho các khoảnmục phải trả công nhân viên và các khoản trích theo lương trên bảng cân đối kếtoán

1.2 Đặc điểm kế toán nghiệp vụ hạch toán tính lương và chi trả lương, các khoản trích theo lương ở khách thể kiểm toán của Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam có ảnh hưởng đến kiểm toán

Trong phần hành kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên, điều quantrọng đó là kế toán phải tìm hiểu được đặc điểm kế toán của đơn vị được kiểm toán

Trang 5

để nắm bắt được rủi ro tiềm tàng cũng như rủi ro kiểm soát đối với chu trình này.

Từ đó, kiểm toán viên có thể khoanh vùng và tập trung, chú ý đến những phần màtheo nhận định có thể sai phạm Ví dụ, về tính cập nhật thông tin và thực hiện thông

tư, như quyết định về tăng mức lương cơ bản của Nhà nước, các thông tư hướngdẫn về thuế, như thuế thu nhập doanh nghiệp và đặc biệt trong thời gian gần đây khi

có những điều chỉnh về thuế thu nhập cá nhân thì vấn đề này đang hết sức đượcquan tâm và các cuộc kiểm toán cũng chú trọng hơn đến việc thực hiện thể hiện tínhcập nhật và sự hiểu biết của doanh nghiệp đối với thông tư Bên cạnh đó, kiểm toánviên luôn phải quan tâm đến tình hình chi trả, sự phân công phân nhiệm, tính kiểmsoát và quy trình tại đơn vị để phản ánh về tính trung thực hợp lý trong thực hiệnchu trình này ở đơn vị Cụ thể kiểm toán viên cần phải xem xét đến những vấn đềnhư sau:

Về công tác kế toán chung thực hiện việc tính và chi trả lương: Ở mức độnày, kiểm toán viên cần xem xét những đặc điểm về nhân sự thực hiện các côngđoạn được miêu tả trong quy trình thực hiện của đơn vị, từ đó có kết luận về tínhphân công, phân nhiệm và phân cách trách nhiệm, cũng như khả năng sai sót, gianlận có thể xảy ra từ tính chất kế toán này

Đi sâu hơn vào công tác tổ chức thực hiện, kiểm toán viên có thể xem xéthình thức kiểm soát hồ sơ nhân viên để chi trả lương, việc cập nhật danh sách vàquản lý về cấp bậc lương, lương cơ bản để trích lập bảo hiểm, các yếu tố liên quanđến thuế thu nhập cá nhân bằng cách phỏng vấn khách hàng và cập nhật nhữngquyết định có liên quan đến vấn đề chi trả lương từ Ban giám đốc của đơn vị để đốichiếu việc thực hiện và hiểu biết thêm về quy chế thực hiện

Tiếp theo, kiểm toán viên có thể tìm hiểu hệ thống thông tư, văn bản tính vàtrích lập lương được đơn vị sử dụng và tính cập nhật của các văn bản này (mức trợcấp thất nghiệp…), ví dụ như trong thời gian gần đây, việc doanh nghiệp cũng như

cá nhân phải đóng thêm bảo hiểm trợ cấp thất nghiệp cho người lao động cũng như

họ phải trích thêm từ lương của mình để chi trả cho loại bảo hiểm bảo vệ quyền lợingười lao động này

Trang 6

Sau khi đạt những thông tin về tổng quan, kiểm toán viên có thể tiến hànhtìm hiểu những đặc điểm về số lượng nhân viên của đơn vị, việc phân chia thành tổđội, phòng ban và việc phân bổ hạch toán chi phí của đơn vị cũng như chia đầu mụchạch toán tài khoản tương ứng đối với cách phân chia này, từ đó xem xét đến tínhhợp lý của hệ thống tài khoản này của đơn vị.

Thông thường, tiền lương chỉ được ghi nhận là chi phí khi đã có lao độngsống phát sinh của người lao động trong kỳ, như vậy kế toán phải ghi nhận khoảnphải trả đối với những lao động sống phát sinh mà chưa được chi trả, chính vì lẽ đó,đối với phần hành này, kiểm toán viên cần đặc biệt chú ý tới việc ghi nhận phải trả

để phản ánh đúng chi phí phát sinh trong kỳ, dẫn tới việc tính toán đúng đắn giá vốnhàng bán, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp để có được con số phản ánhtrung thực tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị (lãi, lỗ)

Từ đó, kiểm toán viên phải xác định được tính trung thực, hợp lý của cáckhoản mục tương ứng trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) cũng nhưcác khoản trích thuế thu nhập cá nhân với những đối tượng được cơ quan Thuế quyđịnh

Ngoài ra, kiểm toán viên còn cần quan tâm đến việc thực hiện chi trả lương

để đảm bảo tiêu chí của phần hành này là đúng người-đúng thời gian-đúng lượng.Nghĩa là kiểm toán viên phải xem xét các giấy tờ, thủ tục từ thông lệ quy định củacông ty (ngày trả lương, mức thưởng, phương thức thanh toán,…) cho đến việc thựchiện trong thực tế thông qua các giấy tờ kế toán (bảng tính lương, bảng chi trảlương, chữ ký của những người có thẩm quyền, chữ ký ký nhận của nhân viên),ngoài ra còn cần phải chú ý đến việc xử lý các khoản giữ lương, hoặc chưa chi trảcho nhân viên trong trường hợp họ chưa kịp ký nhận

Như thế, trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, kiểm toán viên phải vạch rađược trình tự thực hiện chu trình tiền lương và nhân viên của đơn vị, thủ tục nàyđược gọi là “walkthrough”, tức vạch ra sơ đồ, thể hiện các bước từ lúc bắt đầu chođến khi kết thúc chu trình Phần này sẽ được trình bày chi tiết hơn ở trong các bước

Trang 7

thuộc quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán BCTCdưới đây.

1.3 Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam thực hiện

1.3.1 Chuẩn bị kiểm toán

Phân công công việc

Đoàn kiểm toán gồm 4 người Danh sách được lập nên trước khi tiến hànhkiểm toán để trình giám đốc kiểm toán phê duyệt Trong đó phần hành kiểm toánchu tình tiền lương và nhân viên do một trợ lý kiểm toán bậc 2 (staff2) thực hiện,việc phân công được dựa trên tài liệu “Phân công công việc” (Work allocation),phần hành được đánh ký hiệu là VB-payroll, giấy tờ làm việc của kiểm toán đềuđược chuẩn bị bằng Tiếng Anh để phục vụ cho việc kiểm soát chất lượng hàng năm

do Ernst & Young khu vực Châu Á- Thái Bình Dương tiến hành Mọi giấy tờ đượctrích dẫn sau đây đều đã được dịch từ bản gốc Tiếng Anh sang Tiếng Việt, bên cạnh

đó, để đảm bảo tính bí mật về thông tin cho khách hàng, tên của Công ty được kiểmtoán sẽ không được công bố, thay vào đó, tên ABC sẽ được dùng đại diện cho tất cảtài liệu kiểm toán được sử dụng trong bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp này

Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán là một công đoạn hết sức quan trọng trong mộtcuộc kiểm toán Có thể coi đây là tiền đề cho việc thực hiện kiểm toán, bởi nhữngcông việc mang tính nền tảng được thực hiện trong giai đoạn này Chuẩn bị kiểmtoán cho một cuộc kiểm toán nói chung là việc tìm hiểu hệ thống và xác lập cácmức trọng yếu cho toàn bộ BCTC, còn đối với cá thể phần hành tiền lương và nhânviên, công việc cụ thể được thực hiện để đạt được mục đích tìm hiểu về:

Đặc điểm về quy mô nhân sự của khách hàng

Tìm hiểu quy mô nhân sự của khách hàng là bước đầu tiên để xác định tínhtrọng yếu của khoản mục phải trả công nhân viên trên bảng cân đối kế toán, cũngnhư khả năng sai phạm khi hạch toán của kế toán Nắm được số nhân viên của công

ty có nghĩa là kiểm toán viên có thể thực hiện thủ tục ước lượng từ một tháng lươngđến cả năm và xác định mức thu nhập trung bình để xem xét về tính hợp lý của con

Trang 8

số Tìm hiểu đặc điểm quy mô nhân sự cho phép kiểm toán viên biết được mức độphức tạp của các nghiệp vụ liên quan, tính trọng yếu của khoản mục, từ đó cónhững quyết định trong phân công nhiệm vụ cho thành viên thuộc đoàn kiểm toán.

Tìm hiểu về tổ chức phòng ban, tổ chức sản xuất, bố trí nhân sự

Sau khi tìm hiểu về quy mô nhân sự, kiểm toán viên có cái nhìn tổng thể vềđơn vị, ngay sau đó, kiểm toán viên cần tìm hiểu chi tiết hơn về việc tổ chức phòngban, bố trí tổ chức sản xuất, phân chia nhân sự theo những chỉ tiêu nào, ví dụ nhânviên văn phòng và công nhân sản xuất, việc sản xuất được bố trí theo nhà máy, theo

tổ đội, theo khu vực, hay theo tính chất công việc,v.v…

Tìm hiểu về công tác kế toán tiền lương tại đơn vị

Công tác kế toán tiền lương nói chung đó là việc thực hiện ghi sổ, chi trả tiềnlương ở đươn vị Bắt đầu từ người tiến hành, những người có liên quan, thủ tục cầnthiết thực hiện ghi sổ, chi trả Hình thức hạch toán ghi sổ, hình thức chi trả, định kỳchi trả Việc tìm hiểu này bao gồm cả phương pháp tính lương được áp dụng tại đơn

vị được kiểm toán

Thông thường, ở các công ty lương thường được ấn định trả vào một ngày cốđịnh trong tháng, có thể là cuối tháng này hoặc đầu tháng sau

Ngoài ra, ở một số công ty, lương thường được chia làm 2 kỳ để nhân viênnhận trong tháng, kỳ một vào giữa tháng và kỳ 2 vào cuối tháng

Từ tháng 9 năm 2007, Nhà nước ta đã bắt đầu thực hiện chi trả lương qua tàikhoản cho cán bộ công nhân viên chức, và bắt đầu triển khai mở màn việc chi trảlương qua hệ thống TK ngân hàng, do đó xuất hiện hai hình thức chi trả tiền lươngcho nhân viên, đó là chi trả bằng tiền mặt và chi trả thông qua TK của nhân viên.Như thế, để kiểm tra được việc chi trả lương cho nhân viên, đồng nghĩa với mụctiêu kiểm tra về tính có thực của nghiệp vụ phát sinh, hay còn được biết đến như thủtục kiểm tra nhân viên khống, kiểm toán viên phải có hai hướng nhìn nhận đối vớihai phương thức chi trả này

Trang 9

Cụ thể, đối với chi trả lương trực tiếp bằng quỹ tiền mặt, kiểm toán viên phảiquan tâm đến thủ tục chi trả và nhận tiền lương của công ty, quy trình này có đảmbảo sự phân tách trách nhiệm, khả năng gian lận, biển thủ có thể xảy ra hay không.

Mặt khác, đối với chi trả lương qua hệ thống TK ngân hàng, kiểm toán viênphải tiến hành đối chiếu việc lập bảng lương tương ứng với quản lý số TK của từng

cá nhân, thông qua đó có thể kiểm tra thông qua sổ phụ của ngân hàng, được coinhư là bằng chứng về nhận tiền lương của nhân viên công ty

Ở bước này, nhân viên kiểm toán có thể cập nhật hệ thống tài khoản hạchtoán và quy trình hướng dẫn hạch toán ở đơn vị

Bố trí nhân sự kiểm toán thực hiện phần hành

Sau khi đã tìm hiểu những đặc điểm về nhân viên trong đơn vị, lúc này kiểmtoán đã có kết luận ban đầu về tính trọng yếu của khoản mục tiền lương và nhânviên Trước đó, kiểm toán viên đã tính ra được mức trọng yếu ban đầu cho toàn bộBCTC, từ đó phân bổ vào khoản mục tiền lương và nhân viên

Đây là phần hành đòi hỏi những hiểu biết từ bảo hiểm đến thuế thu nhập đểthực hiện công việc đối chiếu và tính toán lại của kế toán Tùy theo mức độ lớn củaphần hành, kiểm toán viên có thể xem xét để giao nhiệm vụ cho người có đủ khảnăng và kinh nghiệm để thực hiện phần hành này

Lập kế hoạch và thiết kế các thủ tục kiểm toán

Cuối cùng, song song với việc đưa ra kế hoạch kiểm toán tổng quát, kế hoạchkiểm toán chi tiết cho từng phần hành cũng được thiết lập ra

Trang 10

STT Miêu tả những thay đổi trọng yếu đối với chu trình Công nghệ thông tin vào Miêu tả ứng dụng

những bước trọng yếu thuộc chu trình

1 Tuyển dụng hoặc cho thôi việc được phê duyệt Giám đốc hoạt động

2 Mức lương được kiểm tra và phê duyệt Giám đốc hoạt động

3 Thẻ hoặc báo cáo chấm công được chuẩn bị và thông tin

được nhập vào hệ thống bảng lương Chương trình ghi nhận số

lượng sản phẩm hoàn thành của nhân viên

4 Thẻ thời gian được kiểm tra và phê duyệt Bộ phận nhân sự

5 Tính toán bảng lương sử dụng mức lương được lưu

6 Bảng tính lương được chuẩn bị Kế toán lương

7 Bảng lương được phê duyệt Kế toán trưởng, Giám đốc

hoạt động

8 Trả lương được thực hiện thông qua chuyển khoản Kế toán lương

9 Nghiệp vụ được ghi nhận vào hệ thống Kế toán lương

Bảng 1.1 Các nghiệp vụ liên quan đến phần hành tính lương tại doanh nghiệp

Trang 11

Những tài khoản có liên quan đến kiểm toán bảng lương

 Chi phí tiền lương

 Tài khoản phải trả

 Thuế thu nhập cá nhân và BHXH và BHYT, BHTN.

a Quá trình thực hiện từ đầu đến cuối bao gồm toàn bộ chu

Những nghiệp vụ đơn lẻ và hoạt động kiểm soát tương ứng

b Chúng tôi đã phỏng vấn nhân viên của Công ty về hiểu

biết của họ về những thủ tục theo quy định và thủ tục kiểm soát để

xác định chu trình xử lý số liệu, lên sổ là đúng với bản chất nghiệp vụ

và đúng kỳ

c Chúng tôi đã lưu ý những ngoại lệ đối với thủ tục cũng

như hệ thống kiểm soát của Công ty

d Nếu chúng tôi xác định mức rủi ro kiểm soát theo kế

hoạch ít hơn mức tối đa hoặc chúng tôi tiến hành kiểm toán liên kết,

thì chúng rôi đã xác định chất lượng của bằng chứng thu được trong

quá trình thực hiện thủ tục “từ đầu đến cuối” phù hợp với việc xác

định tính hiệu lực của thiết kế hệ thủ tục kiểm soát và xác định thủ

tục kiểm soát có được tiến hành hay không

e Chúng tôi sử dụng cùng một nguồn tài liệu và công nghệ

thông tin mà nhân viên của khách hàng sử dụng trong việc xử lý các

nghiệp vụ

f Những câu hỏi của chúng tôi đối với nhân viên của Công

ty bao gồm những câu hỏi mang tính chất hướng theo để xác định

được những lỗ hổng trong kiểm soát hoặc dấu vết của gian lận

g Khi chúng tôi xác định những thay đổi lớn trong việc thực

hiện xử lý nghiệp vụ, chúng tôi xác định bản chất của thay đổi để

xem xét việc thực hiện thủ tục “từ đầu đến cuối” đối với cả nghiệp

vụ được xử lý trước và sau thay đổi này

Bảng 1.2 Thủ tục kiểm toán tiến hành để tìm hiểu về thực hiện phần hành lương ở khách hàng

Trang 12

Xác định rủi ro kiểm toán kết hợp

kỳ, số lượng ít

Tiến hành thủ tục kiểm soát toàn phần

Bảng 1.3 Xác định rủi ro kết hợp trong kiểm toán

1.3.2 Thực hiện kiểm toán

1.3.2.1 Thực hiện thử nghiệm kiểm soát

Thử nghiệm kiểm soát là một trong những công việc được thực hiện đểkhẳng định tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị Thử nghiệm nàychỉ được áp dụng khi kiểm toán viên có sự tin cậy cao vào hệ thống của đơn vị Nhưthế, thử nghiệm này sẽ không được áp dụng đối với đơn vị có hệ thống kiểm soátnội bộ được đánh giá là yếu- tức không thể tin tưởng để dựa vào đó thực hiện kiểmtoán

Xem xét và đánh giá tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ

Tìm hiểu quy trình về tiền lương nhân viên bằng cách chọn một vài nhânviên, truy xuất các tài liệu đi từ hợp đồng lao động, bảng chấm công, bảng tínhlương, giấy tờ nghỉ (nghỉ thai sản, nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ hết nguyên vật liệu,…)đến giấy tờ thanh toán lương

Nếu có ngoại lệ khác với đánh giá ban đầu, phải tăng cương thử nghiệm cơbản

Trang 13

Thử nghiệm kiểm soát thường được tiến hành trong giai đoạn kiểm toán giữa

kỳ, công việc cụ thể trong giai đoạn này, kiểm toán viên có thể sử dụng đến nhữngphương thức hữu dụng kiểm toán như:

số liệu chỉ là một phần bảo đảm tính trung thực của BCTC, vấn đề xử lý số liệu củaphần mềm là phần còn lại để đảm bảo điều đó, và với khối lượng tính toán khổng

lồ, kiểm toán viên không thể tiến hành tự xử lý toàn bộ để đảm bảo con số cuốicùng trên BCTC, khi đó phần mềm được cài vào hệ thống để phát hiện và báo lỗinhững bất thường xảy ra trong hệ thống sẽ giúp việc kiểm tra vấn đề kiểm soát củadoanh nghiệp và ước đoán mức rủi ro kiểm soát của doanh nghiệp

Bảng các câu hỏi là sản phẩm thường thấy của giai đoạn này, kiểm toán viênthông qua quá trình quan sát, phỏng vấn, thực hiện lại để có thể tổng hợp thực tiễnkiểm soát của doanh nghiệp Đối với phần hành lương, việc tiến hành thủ tục kiểmsoát sẽ tương ứng với việc thực hiện việc phân tích về tất cả các đặc điểm về hệthống kiểm soát, hệ thống vận hành của doanh nghiệp, môi trường doanh nghiệpcho tới tính liêm chính của thành viên Ban giám đốc

Cơ cấu của một bản tường trình về hệ thống kiểm soát nội bộ của doanhnghiệp

Thông thường việc kiểm soát hệ thống nội bộ sẽ được đi kèm với việc quansát và xác định rủi ro gian lận của doanh nghiệp

Trang 14

Kết luận về tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ ở mức doanh nghiệp

Bảng 1.4 Bảng kết luận về thủ tục kiểm soát và xác định rủi ro gian lận

Trên đây là nội dung đầy đủ của thủ tục kiểm soát và xác định rủi ro gian lận,tuy nhiên đối với từng khách hàng cụ thể, kiểm toán viên chỉ thực hiện một phần

Bảng kết luận về thủ tục kiểm soát và xác định rủi ro gian lận

Phần 1 – Xem xét thành phần của Hệ thống kiểm soát nội bộ ở mức doanh nghiệp

* Môi trường kiểm soát

-Tính liêm chính, giá trị đạo đức, và hành xử của các nhà quản trị cấp cao

-Tính chất hoạt động và ý thức kiểm soát của Nhà quản lý

-Sự quan tâm của nhà quản trị đến tính cạnh tranh, khả năng của doanh nghiệp-Sự tham gia Ban giám đốc và/ hoặc Ủy ban kiểm toán (hay Cơ quan có thẩm quyền giám sát) vào việc giám sát và điều hành

-Cơ cấu tổ chức và tính phân quyền và trách nhiệm

-Chính sách nguồn nhân lực

* Xác định rủi ro

* Hoạt động kiểm soát, thông tin và liên

* Giám sát

Phần 2 – Xác định khả năng rủi ro của sai phạm trọng yếu do cố tình gian lận

* Thảo luận trong đoàn kiểm toán

* Nhân tố rủi ro liên quan đến gian lận trong BCTC

* Nhân tố rủi ro liên quan đến khả năng biển thủ tài sản

* Kết quả của thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch

* Phỏng vấn các nhà quản trị cấp cao, Ủy ban kiểm toán (hoặc cơ quan có thẩm quyền), Kiểm toán nội bộ và các thành phần khác

* Các thông tin khác

14

Trang 15

nội dung của thủ tục kiểm toán, nhấn mạnh vào tính trọng yếu và ứng dụng phù hợpvới đặc thù của doanh nghiệp Cụ thể về chu trình tiền lương và nhân viên, phần thủtục kiểm soát sẽ giúp cho kiểm toán viên kết luận về tính hiệu quả trong việc thựchiện tính toán và chi trả lương cho nhân viên Có thể nói, thủ tục kiểm soát mangtính hệ thống, mọi thủ tục cũng như kết luận tương ứng đều phục vụ cho việc đưa raphương án về thủ tục kiểm toán cần áp dụng, đối với công ty TNHH Ernst & YoungViệt Nam, thể hiện tính thận trọng nghề nghiệp cao, vì thế khi tiến hành thủ tụckiểm soát, kết luận về hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ ở mức đánh giá tối đa là khá.Khi thực hiện thủ tục kiểm soát, phân tích ảnh hưởng của từng nội dung của thủ tụcđến việc kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên nói riêng

Thứ nhất, là về môi trường kiểm soát, cụ thể từ tính liêm khiết của bản thân nhà quản trị cho đến trách nhiệm, sự tham gia vào việc xây dựng doanh nghiệp, vào hoạt động điều hành, giám sát của doanh nghiệp.

Kiểm toán viên có thể sử dụng các mẫu câu hỏi để quyết định tính hiệu lựccủa hệ thống kiểm soát

Doanh nghiệp có quy định bằng văn bản về nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp đối với toàn bộ nhân viên hay không?

Môi trường doanh nghiệp có nhấn mạnh tầm quan trọng của tính liêm chính và hành xử đạo đức hay không? Ví dụ, những người có hành động bạo lực có ngay lập tức bị sa thải hay không?

Nhà quản lý có thể hiện như một tấm gương tốt đối với nhân viên hay không?

Nhà quản lý cấp cao có luôn giữ những chuẩn mực cao nhất?

Nhà quản lý có ra những quyết định phù hợp để phản hồi lại các phòng ban từ những chính sách và thủ tục được ký duyệt hay từ quy định đạo đức nghề nghiệp hay không?

Nhà quản lý có dành sự quan tâm phù hợp đến bộ phận kiểm soát nội bộ, trong đó bao gồm kiểm soát công nghệ thông tin hay không?

Trang 16

Có tình trạng một hoặc rất ít người chi phối quyền quản lý mà không có sự tham khảo hiệu quả từ phía Ban giám đốc hay ủy ban kiểm soát (hoặc bộ phận có trách nhiệm điều hành) hay không?

Nhà quản trị có trao đổi với kiểm toán viên về những vấn đề quan trọng liên quan đến kiểm soát nội bộ và thực hiện kế toán, hay họ thường xuyên có những bất đồng (hoặc, với cuộc kiểm toán năm đầu, ban giám đốc

có mâu thuẫn với kiểm toán viên tiền nhiệm)?

Nhân viên kế toán, tài chính và công nghệ thông tin có đủ năng lực

và được đào tạo đầy đủ để xử lý được với những vấn đề phức tạp đặc thù của hoạt động doanh nghiệp hay không? Những sai sót lặp lại có được khắc phục bằng việc thay đổi nhân sự hay hệ thống hay không?

Nhà quản lý có cam kết cung cấp nhân viên kế toán, tài chính, và công nghệ thông tin để đáp ứng sự tăng trưởng hay tính phức tạp của loại hình doanh nghiệp cũng như yêu cầu từ phía nhà đầu tư hay không?

Nhân viên kế toán, tài chính, công nghệ thông tin có đạt được những kỹ năng nghề nghiệp để tiếp nhận những thay đổi mới về kế toán, luật, hay hệ thống công nghệ thông tin hay không?

Thành viên thuộc ủy ban kiểm soát có kinh nghiệm và những phẩm chất phù hợp hay không?

Thành viên ban giám đốc (và ủy ban kiểm soát) có độc lập với nhà quản lý hay không?

Liệu ủy ban kiểm soát (và/hoặc ban giám đốc) có dành sự quan tâm phù hợp đến việc giám sát rủi ro kinh doanh ảnh hưởng đến doanh nghiệp

và quy trình xác định rủi ro của nhà quản lý (bao gồm cả rủi ro gian lận) hay không?

Thành viên ban giám đốc có sự thay đổi thường xuyên hay không?

Có cơ cấu phù hợp trong phân công việc quản lý dữ liệu, bao gồm những người có thẩm quyền bắt đầu và/ hoặc thay đổi nghiệp vụ hay không?

Trang 17

Doanh nghiệp có tiêu chuẩn và thủ tục phù hợp để thuê mướn, đào tạo, khuyến khích, đánh giá, đề đạt, bồi thường, chuyển giao hay cho thôi việc đối với nhân viên (đặc biệt là trong hệ thống kế toán, tài chính, và công nghệ thông tin)?

Doanh nghiệp có những hướng dẫn chi tiết về công việc hoặc sổ tay hướng dẫn để thông báo cho nhân viên trách nhiệm của họ (hoặc, trong trường hợp không có tài liệu hướng dẫn, thì có những trao đổi về nhiệm vụ

và kỳ vọng trong công việc) hay không?

Chính sách và thủ tục có rõ ràng và được cập nhật, thay đổi phù hợp hay không?

Doanh nghiệp có chính sách và thủ tục để kiểm soát hoạt động của nhân viên hợp đồng và bảo vệ tài sản về thông tin của công ty bằng chức năng công nghệ thông tin hay không?

Dựa vào mẫu câu hỏi dùng để tiến hành thủ tục kiểm soát như trên, một doanh nghiệp có hệ thống kiểm soát tốt nghĩa là:

Doanh nghiệp đã có quy định về nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp đối với nhân viên công ty, và quy định này được theo dõi thường xuyên đối với nhân viên của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp đã có những miêu tả chi tiết về công việc, hướng dẫn tương ứng và những cách thức khác để thông báo cho nhân viên về nhiệm vụ của họ.

Ủy ban kiểm soát của doanh nghiệp đã thể hiện việc giám sát hiệu quả trong việc thực hiện lập BCTC và báo cáo kế toán quản trị.

Nhà quản lý có duy trì, giám sát và có biện pháp phù hợp đối với khả năng gian lận.

Ban giám đốc đã thiết lập chính sách khuyến khích trình báo những hành vi sai phạm từ phía nhân viên đồng thời có sự giám sát phù hợp và giải quyết khiếu nại từ phía nhân viên.

Trang 18

Nhà quản lý có thiết lập quy trình xử lý những khiếu nại về kế toán,

hệ thống kiểm soát nội bộ và công nghệ thông tin.

Hoạt động của công ty củng cố thông điệp về chính sách và môi trường tương ứng.

Nhà quản trị có biện pháp khắc phục kịp thời những thiếu sót về kiểm soát nội bộ.

Doanh nghiệp có những chính sách phù hợp đối với những vấn đề như: Chấp nhận một kế hoạch kinh doanh mới, mâu thuẫn về lợi ích, và thực hiện vấn đề bảo mật trong toàn bộ cơ cấu của doanh nghiệp.

Việc thực hiện công việc được định kỳ đánh giá, nhận định đối với mỗi nhân viên.

Thứ hai, trong công đoạn xác định rủi ro

Nhân tố cần quan tâm

Quy trình xác định rủi ro có được thiết lập bao gồm ước tính mức ảnh hưởng của rủi ro hay không?

Quy trình xác định rủi ro của doanh nghiệp bao gồm việc xác định

và tìm hiểu rủi ro liên quan đến hệ thống công nghệ thông tin (ví dụ như tìm hiểu tác động của doanh nghiệp có được thực hiện trên cơ sở xem xét ảnh hưởng của thất bại hệ thống trong việc lập BCTC) hay không?

Bộ phận công nghệ thông tin có quy trình xác định người sử dụng

hệ thống cuối cùng (ví dụ: đối với phần mềm kế toán) khi có thay đổi lớn trong cài đặt hệ thống ảnh hưởng đến phương pháp hoặc quy trình ghi nhận nghiệp vụ hay không?

Bộ phận kế toán có thiết lập quy trình xác định những thay đổi quan trọng trong khung BCTC được công bố bởi cơ quan có thẩm quyền tương ứng hay không?

Kênh thông tin có được thiết lập để thông báo cho bộ phận công nghệ thông tin và bộ phận kế toán về những thay đổi trong môi trường hoạt

Trang 19

động của doanh nghiệp mà có thể gây ảnh hưởng đến phương pháp hoặc quy trình ghi chép nghiệp vụ hay không?

Bộ phận kế toán có quy trình để xác định thay đổi lớn đối với môi trường hoạt động, bao gồm cả môi trường pháp luật hay không?

Điển hình về một môi trường kiểm sáot rủi ro tốt trong doanh nghiệp

Doanh nghiệp có cơ chế thích hợp để xác định rủi ro doanh nghiệp như: Tham gia vào thị trường mới, đưa ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới, quy chế bảo mật tài liệu, và những thay đổi khác trong công việc kinh doanh, môi trường chính trị, kinh tế.

Nhà quản lý ước đoán được rủi ro BCTC trong đơn vị.

Bộ phận kiểm toán nội bộ (hoặc một nhóm trong doanh nghiệp) thực hiện việc xác định rủi ro (ít nhất là hàng năm), bao gồm cả khảo sát hệ thống công nghệ thông tin.

Ban giám đốc và/ hoặc Ủy ban kiểm soát giám sát và theo dõi quá trình nhận biết rủi ro và hành động của nhà quản lý để đảm bảo những rủi

ro quan trọng được xác định.

Bộ phận kế toán phải có quy trình xử lý kịp thời để xác định và cập nhật những thay đổi của các mẫu bảng biểu BCTC, môi trường hoạt động, hay môi trường pháp luật, cũng như nhưng thay đổi trong việc thực hiện công tác kế toán để thích nghi với những thay đổi nói trên.

Mục tiêu hoạt động phải được vạch ra, so sánh và theo dõi trong toàn doanh nghiệp.

Kế hoạch chiến lược được xem xét và thông qua bởi Ban giám đốc.

Dự toán hoặc dự báo được cập nhật trong suốt năm tài chính để phản ánh sự thay đổi của các điều kiện môi trường

Bởi phần hành về lương là một trong những nội dung hoạt động của doanhnghiệp, vừa liên quan đến nguồn lực con người, liên quan đến sản xuất sản phẩmdịch vụ và liên quan đến công tác kế toán của đơn vị Có thể nói đây là một phần

Trang 20

hành có tính xuyên suốt trong doanh nghiệp rất cao, tiến hành thực hiện kiểm soátnội bộ cho toàn doanh nghiệp cũng đồng thời là tiến hành kiểm soát để xác địnhmức tin cậy vào hệ thống của doanh nghiệp trong việc tiến hành thực hiện chu trìnhtiền lương và nhân viên.

1.3.2.2 Thực hiện thủ tục phân tích

Thủ tục phân tích là một thủ tục thuộc về thử nghiệm cơ bản dùng trongkiểm toán, thủ tục phân tích là cái nhìn bao quát của kiểm toán viên, dựa trên sựphân tích một các logic để xét đoán và khoanh vùng khu vực có khả năng sai phạm

Vì những giới hạn vốn dĩ trong kiểm toán về thời gian và nguồn lực, do đó áp dụngthủ tục phân tích chính là biện pháp để đối ứng với những giới hạn đó Thủ tục nàyđược thiết kế để so sánh trên hai phương diện, từ con số tuyệt đối cho tới con sốtương đối, cụ thể:

Dùng hai dãy số liệu có quan hệ mật thiết với nhau để so sánh sự biến độngsong song, thông thường khi thực hiện thủ tục này, kiểm toán viên kỳ vọng sự biếnđộng của chúng sẽ là tương đương, ví dụ: Số lượng nhân viên của doanh nghiệp vàchi phí tiền lương qua các tháng Thủ tục này được sử dụng đối với doanh nghiệp có

sự biến đổi về nhân viên trong năm Sử dụng thủ tục này, kiểm toán viên có thể biếtđược những thay đổi về chế độ lương thưởng trong năm

Kiểm toán viên có thể sử dụng tỷ lệ giữa chi phí nhân viên với doanh thu cáctháng trong năm so sánh với tỷ lệ này của năm trước, từ đó khảo sát sự biến độngtrong tỷ lệ này

So sánh mức chi trả trung bình mỗi nhân viên hoặc theo giờ của năm trướcbao gồm cả các khoản thưởng của nhân viên, nếu là trọng yếu Xem xét việc phânloại chi phí, chia phòng ban, tổ sản xuất

Dùng đồ thị để thể hiện chi phí tiền lương qua các tháng và so sánh với nămtrước, đồng thời xem xét sự biến động và mức tiền lương trung bình so với nămtrước

Trang 21

Sử dụng phương pháp ước tính từ một tháng để xem xét tính hợp lý của chiphí tiền lương trong năm Ta có thể sử dụng số liệu từ 3 tháng lương, lấy số liệutrung bình và từ đó ước tính ra con số của cả năm Sự chênh lệch nếu ở dưới mứctrọng yếu thiết lập cho khoản mục thì kiểm toán viên không cần phải thực hiện thêmthủ tục xác minh ở phần thủ tục ước tính này Tuy nhiên mọi sự khác biệt ở trênngưỡng trọng yếu đều phải được điều tra, xác minh để tìm hiểu nguyên nhân.

Thủ tục so sánh mức chi lương các tháng của năm nay với các tháng của nămtrước để phân tích nguyên nhân của những đột biến về số liệu (nếu có)

Kiểm toán viên còn có thể tiến hành thủ tục phân tích bằng cách chia nhỏ chiphí tiền lương theo như cách hạch toán trong doanh nghiệp như: Chi phí tiền lươngnhân viên hành chính (phần hạch toán đối ứng TK334 với TK 642) và chi phí tiềnlương công nhân (phần hạch toán đối ứng TK 334 với TK 621, 627) Đối với một sốdoanh nghiệp, TK 334 có thể được chia nhỏ để dễ dàng phân biệt khi hạch toán Sau

đó, kiểm toán viên sẽ xem xét tính biến động giữa hai dãy giá trị chi phí, hoặc cóthể sử dụng tỷ lệ để tiến hành phân tích

Trong phần này, biểu đồ sẽ được sử dụng

Biểu đồ 1 So sánh tiền lương nhân viên hành chính với tiền lương công

nhân

Trang 22

- Khách hàng sử dụng tài khoản:

+ TK642 để ghi nhận lương văn phòng

+ TK241810 để ghi nhận lương công nhân

+ TK62211, 62213 để ghi nhận lương công nhân trực tiếp xây dựng trong lò than cốc

+ TK627 để ghi nhận lương công nhân gián tiếp trong xây dựng lò than cốc

- Khách hàng chỉ ghi nhận lương công nhân (sẽ được vốn hóa trong chi phí xây dựng dở dang) kể từ tháng 3 năm 2009, trong hai tháng đầu tiên, tất cả chi phí lương đều ghi nhận vào TK 642 Khoản này sẽ ghi ngược lại vào cuối tháng 3.

- Vào tháng 9, để đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật trong xử lý lò than cốc, khách hàng phải sấy lò cốc, chính vì thế, công nhân phải làm việc 24/24, điều này dẫn đến sự tăng lên tọng yếu trong chi phí lương.

-Từ tháng 8, số lượng nhân viên tăng lên đáng kể bởi vì doanh nghiệp đã thuê thêm một lượng lớn công nhân phổ thông cho những công việc đơn giản.

- Khách hàng ghi nhận chi phí lương nhân viên cho lò than cốc riêng biệt kể từ tháng 10 năm 2009.

Trang 23

-Kể từ tháng 11, công ty có thêm công nhân Tuyển than với mục đích sản xuất.

- Trong tháng 12/2009 Ban giám đốc có quyết định từ Ban giám đốc về tăng lương cho nhân viên, 40% lương nhân viên văn phòng và 20% cho lương công nhân, và lương tháng 13, do đó chi phí lương trong tháng này tăng đột biến.

- Trong tháng 12/2009 doanh nghiệp ghi nhận khoản bảo hiểm và KPCĐ cho quý 1 năm 2010 trích từ tiền lương bởi vì yêu cầu thu của Cơ quan bảo hiểm trước 20/1/2010, như vậy phần trích lại cho KPCĐ là không cần thiết Khoản này trị giá: 9.601.000 VND

1.3.2.3 Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết

Thủ tục kiểm tra chi tiết là một trong những công cụ hữu hiệu để tìm ra đượcbằng chứng hiệu lực cho những sai phạm (nếu có) của công tác kế toán đơn vị Nếunhư thủ tục phân tích giúp cho kiểm toán viên có cái nhìn tổng thể về sự biến động

và thông qua việc phỏng vấn khách hàng và rà soát sổ chi tiết, có thể khoanh vùngđược phần có rủi ro sai phạm khi biến động là bất thường và không có giải thíchhợp lý Như vậy, sau khi tiến hành thủ tục phân tích, bằng thủ tục kiểm tra chi tiết,bao gồm việc xác định chi tiết số dư tại thời điểm 31/12 của các TK 334, 338; tínhtoán lại đối với những khoản chi phí phát sinh, như chi phí tiền lương, chi phí bảohiểm trích theo lương, chi phí công đoàn, tính toán việc khấu trừ các khoản bảohiểm, chi phí công đoàn và thuế thu nhập cá nhân từ lương và tiền công của nhânviên; và kiểm tra thông tin cũng như thủ tục từ những tài liệu bổ sung như hợpđồng, chứng từ chi trả lương, thủ tục chấm công, bảng tính toán lương, giấy tờ giảmtrừ gia cảnh, tờ kê khai thuế thu nhập cá nhân đối với một số đối tượng chọn mẫu

Để hiểu rõ thêm về tính xâu chuỗi trong việc kiểm toán chu trình tiền lương

và nhân viên, ta có thể khái quát dòng tiền chu chuyển trong chu trình thông qua sơ

đồ sau:

Trang 24

Sơ đồ 1.1 Sự cấu thành và chu chuyển của tiền lương nhân viên

Dựa theo đó, cụ thể các thủ tục được thực hiện như sau:

Thủ tục xác minh số dư thông qua phân tích biến động của TK 334, 338 trong năm của doanh nghiệp

Để thực hiện thủ tục này, kiểm toán viên phải yêu cầu khách hàng cung cấp

sổ chi tiết của TK 334 và 338 Như thế, số dư đầu kỳ của TK 334 sẽ bao gồm tổnglương tháng 13 của năm trước đó và số dư cuối kỳ của TK 334 sẽ bao gồm tổng

Tiền lương cơ bản

Tiền thưởng

Tiền phụ

-Y tế -Xã hội -Thất nghiệp -KPCĐ

Doanh nghiệp

Người lao động

Trang 25

lương tháng 13 của năm nay Quy định về lương tháng thứ 13 được đề cập trongluật lao động và được hướng dẫn chi tiết trong Điều 11 Nghị định 114/2002/NĐ-CPngày 31-12-2002 của Chính phủ.

Từ các sổ này, kiểm toán viên có thể lấy được số đầu kỳ (tiến hành khớp sốnày số cuối kỳ của năm trước) Việc khớp số này sẽ làm nảy sinh hai trường hợp,thứ nhất là BCTC năm trước cũng được kiểm toán bởi công ty TNHH Ernst &Young Việt Nam, thủ tục chỉ đơn giản là số đầu kỳ của năm nay phải bằng với sốkiểm toán (sau điều chỉnh) của BCTC đã được kiểm toán của năm trước Thứ hai làBCTC năm trước chưa được kiểm toán hoặc kiểm toán bởi công ty kiểm toán khác,trong trường hợp này, kiểm toán phải làm thêm một số thủ tục, nhằm phân tích chitiết thành phần của số dư đầu kỳ của TK 334 và 338, bằng việc kiểm tra các khoảnchi trả của đầu năm đang kiểm toán hiện hành, kiểm toán viên sẽ xác định được tính

có thực của các khoản phải trả công nhân viên đầu kỳ theo logic: Khi có phát sinh

Có để ghi nhận khoản phải trả, nghĩa là sẽ có bút toán Nợ để ghi giảm khoản phảitrả này, bởi quyền cũng như xu hướng hành động vì lợi ích kinh tế của người laođộng, đặc biệt trong phần hành lương, tính thời gian là một điểm thể hiện rất rõràng Sau đó, kiểm toán viên sẽ đối chiếu khoản thanh toán này với chứng từ thanhtoán, (chứng từ ngân hàng hoặc chứng từ chi tiền mặt với chữ ký của nhân viênnhận tiền), chứng từ nộp tiền vào Cơ quan Bảo hiểm Thủ tục xác minh chi tiết đốivới số dư đầu kỳ trong trường hợp thứ hai nói trên cũng là phương pháp để kiểmtoán số dư cuối kỳ của đơn vị Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được, bởi thờiđiểm đoàn kiểm toán viên có mặt tại đơn vị là thời điểm đầu của năm tài chính tiếptheo, khi đó hầu hết các khoản phải trả đều đã được chi trả cho nhân viên Đối vớinhững khoản không tìm thấy được chi trả trong giai đoạn này, kiểm toán viên phảixác định bản chất từ việc phỏng vấn khách hàng

Một lưu ý quan trọng trong thủ tục xác minh số dư này, đó là đối với việctiến hành kiểm toán cho những doanh nghiệp phải chi trả lương theo ngoại tệ,nhưng hạch toán bằng Việt Nam đồng Kiểm toán viên còn phải tiến hành đánh giálại các khoản phải trả này, trước khi thực hiện, kiểm toán viên phải tìm hiểu về

Trang 26

phương pháp ghi nhận ngoại tệ của doanh nghiệp, về tính hợp lệ và về tính nhấtquán của phương pháp đó Ví dụ, có những doanh nghiệp xác định số dư cuối kỳtheo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, có doanh nghiệp lại đánh giá theo tỷ giá củamột ngân hàng thường xuyên giao dịch, hoặc của một ngân hàng và cộng thêm phầntrăm biên (do tỷ giá giao dịch ngoại tệ ở các ngân hàng luôn thấp hơn tỷ giá giaodịch ngoại tệ trên thị trường).

Cũng từ các sổ này, kiểm toán viên sẽ tập hợp để có được tổng phát sinhtăng và tổng phát sinh giảm

Đối với phát sinh tăng (Ghi bên Có), kiểm toán viên sẽ khớp con số này vớibảng tính lương của đơn vị (số trước khấu trừ)

Đối với phát sinh giảm (Ghi bên Nợ), kiểm toán viên sẽ khớp với con số chitrả lương trong năm và các khoản trích, khấu trừ từ lương của nhân viên với vai tròtrung gian để thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm, cũng như nghĩa vụ nộp thuế thunhập cá nhân cho nhân viên của công ty

Ở giai đoạn này, kiểm toán viên không tiến hành kiểm tra chi tiết các nghiệp

vụ phát sinh, mà chỉ khớp số tổng phát sinh trên sổ để từ số đầu kỳ đã được xácminh, có thể đối chiếu với số dư cuối kỳ (đã được xác minh chi tiết) Chênh lệchgiữa số cuối kỳ được xác định dựa trên công thức:

Khi chênh lệch này lớn hơn mức trọng yếu được xác định dành cho khoảnmục phải trả công nhân viên thì kiểm toán viên, phải tiến hành xác minh bắt đầu từviệc kiểm tra lại việc khớp sổ, rồi tiến hành yêu cầu giải thích từ phía khách hàng,đồng thời báo cáo với trưởng nhóm kiểm toán vấn đề gặp phải để có được sự hỗ trợ

tư vấn từ người có nhiều kinh nghiệm hơn

Chênh lệch =(Số đầu kỳ + Tổng phát sinh tăng – Tổng phát sinh

giảm) – Số dư cuối kỳ đã được xác minh

26

Trang 27

Thủ tục tính toán lại các khoản chi phí, khoản trích và khoản khấu trừ nộp Nhà nước

Để có thể có thực hiện thủ tục này, kiểm toán viên cần yêu cầu bộ phận kếtoán của doanh nghiệp cung cấp các bảng lương được tính của tất cả các thángtrong năm, trong đó gồm bảng lương của 12 tháng và bảng chi lương tháng thứ 13mang tính chất như tháng lương thưởng dành cho người lao động (được chi trongnăm tiếp theo) Con số tổng lương của từng tháng sẽ được tổng cộng để khớp vớiphát sinh Có TK 334 trên sổ cái của TK này Để đảm bảo về việc kế toán đã thựchiện việc tính lương trên bảng lương là chính xác, kiểm toán viên có thể chọn ra haibảng lương để tiến hành tính toán lại, bằng công thức thiết lập đúng của kiểm toánviên, từ đó kiểm toán viên sẽ phát hiện ra được chênh lệch trong việc tính toánlương với hai mẫu chọn này, thông thường nếu hai bảng tính được thực hiện đúng,với chênh lệch bé, dưới mức điều chỉnh, thì kiểm toán viên có thể chấp nhận vớicách tính của kế toán doanh nghiệp Mặt khác, kiểm toán viên còn có thể sử dụngviệc rà soát công thức được thiết lập trên bảng lương để đánh giá tính hợp lý vàđúng đắn của công tác tính lương Hiện nay, hầu hết công việc kế toán được thựchiện dựa trên sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, có nghĩa là doanh nghiệp sẽ tiếnhành thực hiện việc hạch toán bằng phần mềm kế toán chuyên dụng có khả năngchiết xuất dữ liệu ra bản Excel, hoặc bảng tính Excel, do đó rất tiện cho kiểm toánviên thực hiện công tác tính toán lại trên bảng lương của đơn vị Việc tính toán dựatrên việc soát xét công thức thực chất chỉ là thủ tục xác định về kỹ thuật, khả năngứng dụng và thiết lập công thức, cũng như cập nhật các tỷ lệ trích lập vào việc tínhtoán lương Kiểm toán viên còn phải thực hiện các thủ tục nhằm xác minh tính đúngđắn của thông tin cơ sở như mức lương cơ bản áp dụng để tính lương, như thế đòihỏi kiểm toán viên phải tiến hành chọn mẫu để đối chiếu những thông tin cơ sở trênbảng lương của người lao động, ngoài ra kiểm toán viên còn phải thu thập các quyđịnh về thưởng, phụ cấp tương ứng đối với đối tượng mẫu được chọn

Việc chọn mẫu có thể được thực hiện bởi công cụ EY Microstart để thể hiệntính khách quan của việc chọn mẫu Việc chọn ra mẫu này, tương ứng với việc kiểm

Trang 28

tra toàn bộ chu trình tiền lương và nhân viên, bắt đầu từ hợp đồng lao động, đếnbảng chấm công, bảng tính lương, các giấy tờ về việc giảm trừ gia cảnh trong tínhthuế thu nhập, việc thực hiện chi trả lương trong tháng lương được chọn ra để thựchiện thủ tục kiểm tra chi tiết.

Kiểm toán viên sẽ sử dụng các kỹ năng để tính toán lại bảng lương của mộthoặc hai tháng trong năm của khách hàng Thông thường một bảng lương sẽ baogồm các mục như:

Lương cơ bản (dùng để trích bảo hiểm)

Giảm trừ bản thân

Giảm trừ gia cảnh

Tiền lương dùng để tính thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân

Lần nhận lương đầu trong tháng

Thu nhập ròng

Dựa trên đó, kiểm toán viên cũng tiến hành tính lại các khoản này, theo côngthức phù hợp với thông tư, và từ đó tìm ra các chênh lệch, nếu tổng chênh lệch trênngưỡng chênh lệch quy định, kiểm toán viên cần phải yêu cầu lý giải từ phía kháchhàng, ngược lại, kiểm toán viên có thể chấp nhận việc tính toán lương, thôngthường nếu không có sự nhầm lẫn trong áp dụng công thức tính PIT, SI, HI thì cácchênh lệch chỉ xuất hiện do quá trình làm tròn

Kiểm toán viên cần phải quan tâm đến vấn đề như trích lập quỹ trợ cấp thấtnghiệp, để đảm bảo được doanh nghiệp đã trích lập quỹ này đúng với ý nghĩa dựphòng trợ cấp thất nghiệp cho các nhân viên trong công ty, từ đó đảm bảo việc phảnánh đúng đắn tình hình tài chính của doanh nghiệp

Trang 29

Cụ thể, trong TK 338, liên quan đến phần hành kiểm toán này, ta chỉ quantâm đến các TK sau:

3383, hoặc với các đầu tài khoản nhỏ 338 không sử dụng trong hạch toán thôngthường của doanh nghiệp như TK 3385 Tuy nhiên, vào ngày 31/12/2009, Bộ tàichính đã ban hành Thông tư số 244/2009/TT-BTC, trong đó bổ sung TK 3389 dùng

để hạch toán riêng BHTN Kiểm toán viên cần phải xác định TK hạch toán tại đơn

vị trong phần tìm hiểu về doanh nghiệp để thuận tiện trong quá trình thực hiện cácthủ tục Đối với năm tài chính 2010, Bộ tài chính đã có thông tin hướng dẫn cụ thể

về hạch toán BHTN, kiểm toán viên cần phải chú ý để xem xét việc hạch toán củadoanh nghiệp trong kiểm toán BCTC năm 2010

Đây là bước tính lại tiền bảo hiểm phải nộp cho cơ quan bảo hiểm mà doanhnghiệp trích ra từ tiền lương của nhân viên và do bản thân doanh nghiệp phải thựchiện nghĩa vụ đối với người lao động dưới tư cách người sử dụng lao động theo quyđịnh của pháp luật

Kiểm toán viên trước khi tiến hành kiểm toán phải nắm rõ tính chất, phươngpháp hạch toán kế toán, thông tư quy định hiện hành để nắm được tỷ lệ trích từlương của người lao động và tỷ lệ do doanh nghiệp phải chịu, từ đó kiểm tra với tỷ

lệ trích lập tương ứng của doanh nghiệp sử dụng, khi đã đảm bảo về tính cập nhật

và đúng đắn về áp dụng thông tư thích hợp, kiểm toán viên sẽ tiến hành dựa trênbảng lương cơ bản để tính các khoản bảo hiểm (BHXH, BHYT, BHTN) Kiểm toánviên phải xác định bản chất của số dư cuối năm trên TK này Xét về tính hợp lý, số

dư trên các TK này thông thường là khoản thu trước của doanh nghiệp cho kỳ sau(đầu năm tài chính tiếp theo) được trích từ lương của người lao động để đảm bảo có

Ngày đăng: 23/03/2013, 17:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Các nghiệp vụ liên quan đến phần hành tính lương tại doanh nghiệp - 97 Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Ernst và Young Việt Nam thực hiện
Bảng 1.1 Các nghiệp vụ liên quan đến phần hành tính lương tại doanh nghiệp (Trang 10)
Bảng 1.2 Thủ tục kiểm toán tiến hành để tìm hiểu về thực hiện phần hành lương ở khách hàng - 97 Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Ernst và Young Việt Nam thực hiện
Bảng 1.2 Thủ tục kiểm toán tiến hành để tìm hiểu về thực hiện phần hành lương ở khách hàng (Trang 11)
Sơ đồ 1.1 Sự cấu thành và chu chuyển của tiền lương nhân viên - 97 Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Ernst và Young Việt Nam thực hiện
Sơ đồ 1.1 Sự cấu thành và chu chuyển của tiền lương nhân viên (Trang 24)
Bảng 1.5 Tỷ lệ trích nộp bảo hiểm áp dụng cho năm 2009 và 2010 - 97 Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Ernst và Young Việt Nam thực hiện
Bảng 1.5 Tỷ lệ trích nộp bảo hiểm áp dụng cho năm 2009 và 2010 (Trang 31)
Bảng số ngẫu nhiên - 97 Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Ernst và Young Việt Nam thực hiện
Bảng s ố ngẫu nhiên (Trang 34)
Bảng 1.6 Bảng thuế suất Thuế TNCN áp dụng năm 2009 - 97 Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Ernst và Young Việt Nam thực hiện
Bảng 1.6 Bảng thuế suất Thuế TNCN áp dụng năm 2009 (Trang 37)
Bảng QTT 2008VC. - 97 Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Ernst và Young Việt Nam thực hiện
ng QTT 2008VC (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w