1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty tnhh mai hương

58 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 182,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng trước những yêu cầu, đòi hỏi đó, sau quá trình thực tập tại Công ty TNHH Mai Hương cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo, thạc sĩ Lã Thị Bích Diệp và sự giúp đỡ của tập thể cán

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Vốn là một trong những yếu tố tiền đềđể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong điều kiện giới hạn về nguồn lực sản xuất thì việc làm thế nào để quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả trở thành một vấn đềđược quan tâm hàng đầu đối với các doanh nghiệp

Công ty TNHH Mai Hương là một doanh nghiệp tư nhân cũng đang đứng trước thách thức đó, phải làm sao quản lý và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, làm thế nào để bảo toàn và phát triển được nguồn vốn- Đó là câu hỏi luôn được đặt ra đối với ban lãnh đạo công ty

Đứng trước những yêu cầu, đòi hỏi đó, sau quá trình thực tập tại Công ty TNHH Mai Hương cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo, thạc sĩ Lã Thị

Bích Diệp và sự giúp đỡ của tập thể cán bộ phòng Tài chính, đề tài “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Mai Hương”

được lựa chọn làm báo cáo thực tập vàđược trình bày theo nội dung sau:

Ngoài lời nói đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Phần 1 : Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Phần 2 : Thực trạng tình hình sử dụng vốn tại Công Ty TNHH Mai Hương Phần 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công

Ty TNHH Mai Hương

Trang 2

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

Vậy vốn doanh nghiệp là gì ?

Đứng trên mỗi góc độ và quan điểm khác nhau, với mục đích nghiên cứu khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn

Theo quan điểm của Marx, ông cho rằng: “ Vốn chính là tư bản, là giá trịđem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất ” Định nghĩa của Marx có tầm khái quát lớn, tuy nhiên do hạn chế về mặt trình độ phát triển của nền kinh tế mà Marx quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế

Paul.A.Samuelson, nhà kinh tế học theo trường phái Tân cổđiển đã kế thừa các quan điểm của trường phái cổđiển về yếu tố sản xuất để phân chia các yếu

tố của đầu vào sản xuất thành ba bộ phận làĐất đai, Lao động và Vốn Theo ông, vốn là các hàng hoáđược sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, làđầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, đó có thể là máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ…Trong quan niệm về vốn của Samuelson không đề cập đến các tài sản tài chính những tài sản có giá có thểđem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, ông đãđồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp

Trong cuốn kinh tế học của David Beeg, tác giảđãđưa ra hai định nghĩa về vốn: Vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác Vốn tài chính

là tiền và các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp Như vậy David Beeg đã bổ sung định nghĩa vốn tài chính cho định nghĩa vốn của Samuelson

Trang 3

Nhìn chung, các nhà kinh tếđã thống nhất ởđiểm chung cơ bản: Vốn là yếu tốđầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng để sản xuất

ra hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho thị trường Như vậy, vốn của doanh nghiệp

là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ vật tư, tài sản, được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Chính vì vậy vốn là một loại hàng hoáđặc biệt

Trước hết, vốn là hàng hoá vì nó có giá trị và giá trị sử dụng Giá trị của vốn thể hiện ở chi phí mà chúng ta bỏ ra để cóđược nó Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng nóđểđầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh ( mua máy móc, thiết bị, hàng hoá…)

Vốn là hàng hoáđặc biệt bởi vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng

và quyền sở hữu Khi vay vốn chúng ta chỉ có quyền sử dụng vốn còn quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ sở hữu của nó Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ vốn không bị hao mòn hữu hình trong quá trình sử dụng mà còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Chính vì vậy, giá trị của vốn phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô, không phụ thuộc vào lợi ích cận biên của bất kỳ doanh nghiệp nào Điều này đặt ra nhiệm vụđối với nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng tối đa hiệu quả vốn đểđem lại một giá trị thặng dư tối đa, đủ chi trả cho chi phí bỏ ra để mua vay vốn và có lợi nhuận tối đa

Quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp được tiến hành liên tục do vậy vốn của doanh nghiệp cũng được vận động không ngừng tạo ra sự tuần hoàn và chu chuyển vốn Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, vốn thay đổi cả về hình thái và lượng giá trị Vốn trong các doanh nghiệp sản xuất được vận động như sau:

T – H ( TLSX, TLLĐ )… S X … H’ …T’

Trang 4

1.1.2 Phân loại vốn

Như đã trình bày ở trên, vốn giữ vai trò quan trọng, thiết yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, việc phân loại vốn theo các cách thức khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp đề ra được các giải pháp quản lí và

sử dụng sao cho có hiệu quả Có nhiều cách phân loại vốn doanh nghiệp theo các giác độ khác nhau

Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn

Dựa vào căn cứ này có thể chia vốn thành hai loại Vốn cốđịnh và Vốn lưu động

a Vốn cốđịnh:

Là một bộ phận của vốn sản xuất, là hình thái giá trị của những tư liệu lao động đang phát huy tác dụng trong sản xuất Khi xem xét những hình thái giá trị của những tư liệu lao động đang nằm trong vốn cốđịnh, không chỉ xét về mặt hiện vật mà quan trọng là phải xem xét tác dụng của chúng trong quá trình sản xuất kinh doanh Đối với tất cả các tư liệu lao động đang phát huy tác dụng trong sản xuất đều là vốn cốđịnh, tuỳ theo tình hình thực tế, từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể khác nhau Hiện tại Nhà nước quy định các tư liêu sản xuất cóđủ hai điều kiện thời gian sử dụng lớn hơn một năm và giá trị tài sản lớn hơn 5 triệu đồng thìđược coi là tài sản cốđịnh

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn cốđịnh tham gia nhiều lần vào sản xuất, giá trị của tài sản cốđịnh giảm dần, theo đó nóđược tách ra làm hai phần: Một phần gia nhập vào chi phí sản phẩm dưới hình thức khấu hao tương ứng với sự giảm dần giá trị sử dụng của tài sản cốđịnh Trong các chu kỳ sản xuất tiếp theo, nếu như phần vốn lưu chuyển dần tăng lên thì phần vốn cốđịnh giảm đi tương ứng với mức suy giảm giá trị sử dụng của tài sản cốđịnh Kết thúc quá trình sản xuất kinh doanh tài sản cốđịnh hết thời gian sử dụng và vốn cốđịnh hoàn thành một vòng luân chuyển

Đối với các doanh nghiệp tư nhân, vốn cốđịnh là phần vốn đầu tư mua sắm các loại tài sản cốđịnh dưới hai hình thức: đầu tư từ vốn chủ sở hữu và vay ngân hàng Vốn cốđịnh giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, nó quyết định đến việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ sản xuất, quyết định việc ứng dụng các thành tựu khoa học tiên tiến Do có vị trí then chốt vàđặc

Trang 5

điểm vận động của nó có tính qui luật riêng nên việc quản lý nâng cao hiệu quả vốn cốđịnh được coi là công tác trọng điểm của quản lý tài chính doanh nghiệp.

Để tạo điều kiện cho việc quản lý và sử dụng vốn lưu động, người ta thường tiến hành phân chia tài sản cốđịnh theo các tiêu thức sau:

* Theo mục đích sử dụng tài sản cốđịnh gồm có:

 Tài sản cốđịnh phục vụ mục đích kinh doanh

 Tài sản cốđịnh phục vụ phúc lợi công cộng, an ninh quốc phòng

 Tài sản cốđịnh bảo quản giữ hộ

* Theo hình thái biểu hiện có thể chia tài sản cốđịnh thành hai loại:

 Tài sản cốđịnh vô hình: Là những tài sản cốđịnh không có hình thái vật chất nó thể hiện một lượng giá trịđãđược đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí nghiên cứu, chi phí mua bằng phát minh sáng chế…

Trong nền kinh tế thị trường do sự tác động của các qui luật kinh tế vàđể nâng cao khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đầu tư những khoản chi phí lớn cho phần tài sản vô hình Những chi phí này cần phải được quản lý và thu hồi dần dần như những chi phí mua sắm tài sản cốđịnh khác

 Tài sản cốđịnh hữu hình bao gồm:

- Nhà cửa, vật kiến trúc, đường xá, cầu cảng

Kết cấu tài sản cốđịnh giữa các ngành sản xuất khác nhau hoặc cùng một ngành sản xuất cũng khác nhau

Đối với các doanh nghiệp việc phân loại và phân tích tình hình kết cấu tài sản cốđịnh là việc làm cần thiết giúp doanh nghiệp chủđộng biến đổi kết cấu tài

Trang 6

sản cốđịnh sao cho có lơị nhất cho việc nâng cao hiêu quả sử dụng vốn cốđịnh của doanh nghiệp.

b Vốn lưu động:

Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động và tài sản lưu thông được đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy vốn lưu động bao gồm những giá trị của tài sản lưu động như: Nguyên vật liệu chính - phụ,và phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tưthuê ngoài chế biến, vốn tiền mặt, thành phẩm trên đường gửi bán…

Khác với tư liệu sản xuất, đối tượng lao động chỉđược tham gia vào một chu kỳ sản xuất để góp phần hợp thành giá trị và giá trị sử dụng của một sản phẩm Vì vậy vốn lưu động cóđặc điểm là luân chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm trong cùng một chu kỳ sản xuất

Vốn lưu động trong các doanh nghiệp vận động liên tục qua các giai đoạn trong quá trình sản xuất, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Bắt đầu từ hình thái tiền tệ ban đầu Sự vận động liên tục từ giai đoạn này sang giai đoạn khác giữa lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực lưu thông tạo nên sự luân chuyển của vốn lưu động

Qua phân tích trên cho thấy vốn lưu động là hình thái giá trị của nhiều yếu

tố tạo thành, mỗi yếu tố có tính năng, tác dụng riêng Để quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả ta phải tiến hành phân loại theo một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

* Căn cứ vào quá trình luân chuyển và tuần hoàn của vốn, vốn lưu động

được chia làm ba loại:

• Vốn dự trữ: Là bộ phận vốn dùng để mua nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế và chuẩn bịđưa vào sản xuất

• Vốn trong sản xuất: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản xuất như sản phẩm dở dang, nửa thành phẩm tự chế, chi phí chờ phân

• Vốn lưu thông: Là phần vốn trực tiếp phục vụ cho việc lưu thông, tiêu thụ hàng hoá

* Căn cứ vào phương pháp xác lập vốn, người ta chia vốn lưu động ra làm

hai loại

• Vốn lưu động định mức: Là vốn lưu động được quy định mức tối thiểu cần thiết thường xuyên cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó bao

Trang 7

gồm vốn dự trữ, vốn trong sản xuất và thành phẩm hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, thuê ngoài chế biến.

• Vốn lưu động không định mức: Là vốn lưu động có thể phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng không có căn cứđể tính toán định mức được, chẳng hạn như thành phẩm trên đường gửi bán, vốn kết toán

* Phân loại theo hình thái biểu hiện: Vốn lưu động gồm:

• Vốn vật tư hàng hoá: Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm

• Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn bằng tiền mặt, đầu tư ngân hàng…

* Căn cứ vào chủ sở hữu về vốn, vốn lưu động bao gồm:

• Vốn chủ sở hữu: Là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp

• Vốn vay hay các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán

Tóm lại, từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau Kết cấu vốn lưu động phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp

Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động khác nhau Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau

sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ thêm những đặc điểm riêng về số vốn lưu động

mà mình đang quản lý và sử dụng Từđó xác định đúng biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn Qua đó cũng có thể thấy được những biến đổi tích cực hoặc những hạn chế về mặt chất lượng trong công tác quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp mình

Căn cứ vào nguồn hình thành

Nếu xem xét nguồn hình thành của các doanh nghiệp tức là trả lời câu hỏi

“Vốn cóđược từđâu? ” thì vốn được chia thành hai loại

a.Vốn tự có: Là nguồn vốn có trong nội bộ doanh nghiệp Với doanh

nghiệp Nhà nước thì vốn tự có do doanh nghiệp Nhà nước cấp từ lúc thành lập doanh nghiệp hoặc cấp bổ sung theo nhu cầu sản xuất kinh doanh Với doanh nghiệp tư nhân thì nó là phần vốn của chủ doanh nghiệp bỏ ra để kinh doanh,

Trang 8

còn với công ty cổ phần thì do các cổđông đóng góp thông qua việc nắm giữ cổ phiếu của công ty.

Ngoài ra phần lợi nhuận không chia dùng để tái đầu tư cũng bổ sung vào vốn tự có của doanh nghiệp

b.Vốn huy động bên ngoài

Vốn huy động bên ngoài có thể là vốn vay, vốn liên doanh liên kết

Do nhu cầu sản xuất kinh doanh, do yêu cầu đổi mới, phát triển và mở rộng liên tục, do khả năng về vốn tự có không thể trang trải được tất cả các thành phần cần thiết, các doanh nghiệp phải tìm đến một nguồn tài trợ khác là vốn vay

Doanh nghiệp có thể vay vốn từ ngân hàng thương mại hoặc phát hành tín phiếu để huy động vốn

Vốn vay dài hạn có thểđược thực hiện thông qua các dựán đầu tư phát triển khả thi Nó có thểđược thực hiện bằng vốn trung và dài hạn của ngân hàng thương mại hoặc có thể phát hành trái phiếu công ty nếu được phép

Liên doanh liên kết cũng là một phương pháp huy động vốn rất phổ biến nhờđó mà doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng về vốn, nâng cao trình độ quản lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như hiện đại hoá công nghệ

Căn cứ vào nội dung vật chất vốn

Căn cứ vào nội dung vật chất vốn thì vốn được chia thành vốn thực và vốn tài chính

a Vốn thực: Là toàn bộ hàng hoá phục vụ cho sản xuất và dịch vụ

khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng v v phần vốn này phản ánh hình thái vật thể của vốn, nó tham gia trực tiếp vào sản xuất kinh doanh

b.Vốn tài chính: Là biểu hiện dưới hình thái tiền, chứng khoán và

các giấy tờ có giá khác dùng cho việc mua tài sản, máy móc … phần vốn này phản ánh phương tiện tài chính của vốn

1.1.3 Vai trò của vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp

Qua việc xem xét các khái niệm và phân loại về vốn, ta có thể thấy vốn là tiền đề cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Phải có một lượng tiền nhất định mới có thể tiến hành các hoạt động đầu tư của mình, bắt đầu từ việc doanh nghiệp mua các tài sản cần thiết cho việc xây dựng và khởi động doanh nghiệp ( máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, mua phát minh sáng chế…), đảm bảo

Trang 9

cho sự vận động của doanh nghiệp ( mua nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân, trả lãi…) và sự tăng trưởng của doanh nghiệp ( đầu tư mở rộng dây chuyền sản xuất…) Vậy vốn là yếu tố khởi đầu, bắt nguồn của mọi hoạt động kinh doanh, nó tồn tại vàđi liền xuyên suốt giúp cho các doanh nghiệp hình thành và phát triển.

Vốn của các doanh nghiệp có vai trò quyết định, làđiều kiện tiên quyết quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của từng loại doanh nghiệp theo luật định Trong những nền kinh tế khác nhau, những loại hình doanh nghiệp khác nhau tầm quan trọng của vốn cũng được thể hiện ở mức độ khác nhau

Vốn là yếu tố quyết định mức độ trang thiết bị kỹ thuật, quyết định việc đổi mới công nghệ, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất, ứng dụng thành tựu mới của khoa học và phát triển sản xuất kinh doanh Đây là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công vàđi lên của doanh nghiệp

Vốn còn là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có và tiềm năng tương lai về sức lao động, nguồn hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá, làđiều kiện để phát triển kinh doanh, thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh, là chất keo để nối chắp, dính kết các quá trình và quan hệ kinh tế, là dầu bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động

Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn tham gia vào tất cả các khâu, ở mỗi khâu nó thể hiên dưới các hình thái khác nhau như vật tư, vật liệu, hàng hoá…và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền tệ Như vậy sự luân chuyển của vốn giúp cho doanh nghiệp thực hiện được hoạt động tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng của mình

1.2 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH

Trang 10

cần phải có một lượng vốn nhất định và các nguồn tài trợ tương ứng thì mới có thể tồn tại, hoạt động và phát triển Làm thế nào để luôn đủ vốn - Đó làđiều quan trọng, là tiền đề của sản xuất song việc sử dụng vốn sao cho đạt hiệu quả mới thực sự là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp Việc thường xuyên kiểm tra tình hình tài chính, tiến hành phân tích đểđánh giá hiệu quả sử dụng vốn là nội dung quan trọng trong công tác tài chính của doanh nghiệp Cách đo lường chính xác thể hiện rõ nhất tính hiệu quả là thước đo tiền tệđể lượng hoá các yếu tốđầu vào vàđầu ra Tuy nhiên quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn được hiểu trên hai khía cạnh

• Với số vốn hiện có doanh nghiệp có thể sản xuất thêm sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ nhằm mục đích tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

• Đầu tư thêm vốn ( mở rộng quy mô sản xuất, tăng doanh thu ) sao cho tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của vốn

Vậy hiệu quả sử dụng vốn chính là thước đo, phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả thu được với những chi phí về vốn mà doanh nghiệp bỏ ra trong hoạt động để cóđược chính kết quảđó Hiệu quả sử dụng vốn có thểđược tính một cách chung nhất bằng công thức:

Trong một doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực hiện có Trình độ sử dụng nguồn lực thể hiện qua kết quả kinh doanh của mỗi kỳ hạch toán, qua đó quy mô vốn của doanh nghiệp có thể bị thu hẹp so với đầu kỳ ( doanh nghiệp sử dụng vốn kém hiệu quả, nếu tình trạng này kéo dài

có thể doanh nghiệp sẽ bị phá sản ) và cũng có thểđược bảo tồn và phát triển Đây là kết quả mà doanh nghiệp nào cũng cần phải phấn đấu đểđạt được bởi vì khi bảo tồn được đồng vốn sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp tồn tại và tìm

Trang 11

ra những biện pháp, bước đi đúng đắn phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường nhằm phát triển vốn trong một khoảng thời gian nào đó.

Sử dụng vốn hiệu quả sẽđảm bảo khả năng an toàn về tài chính cho doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Qua đó doanh nghiệp sẽđảm bảo việc huy động các nguồn tài trợ và khả năng thanh toán, khắc phục được rủi ro trong kinh doanh Mặt khác đối với các doanh nghiệp nâng cao kiệu quả sử dụng vốn nhằm tăng uy tín, thế lực, sự bành trướng của doanh nghiệp trên thương trường đồng thời góp phần tạo ra sản phẩm với chất lượng cao, giá thành hạđáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, đảm bảo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Từđó tạo ra lợi nhuận lớn hơn Đó là cơ sởđể mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên, nâng cao hiệu quảđóng góp cho xã hội Nhưng một doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả khi nào? Chỉ khi doanh nghiệp đó bảo tồn và phát triển được vốn

1.2.1.2 Hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn

Mục đích cũng nhưý tưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới hiệu quả kinh tế trên cơ sở khai thác và sử dụng triệt để mọi nguồn lực hiện có Tạo lập, khai thác và sử dụng các tiềm lực về vốn hợp lý hay không sẽ có tác động tích cực hay tiêu cực tới hiệu quả sử dụng vốn nói riêng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung của doanh nghiệp Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc, đánh giáđúng hiệu quả sử dụng vốn sẽ thấy được chất lượng của việc kinh doanh và khả năng quản lý vốn của doanh nghiệp Để thấy rõđược vấn đề trên, thông qua các chỉ tiêu sau đây để nhận xét đánh giá

Trang 12

Tỷ suất lợi nhuận có thể tính chung hay tính riêng cho từng loại vốn cốđịnh hoặc vốn lưu động Nếu tỷ suất lợi nhuận của kỳ sau cao hơn kỳ trước thì doanh nghiệp làm ăm có hiệu quả.

Chỉ tiêu cho biết để có một vòng luân chuyển thì cần bao nhiêu đồng vốn bình quân Hệ số của chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, tiết kiệm được vốn.

Hệ số này cho biết một đồng giá trị tài sản có bao nhiêu đồng vốn vay trong

đó, qua chỉ tiêu ta thấy được tính chất của nguồn vốn

2) Chỉ tiêu phân tích

Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp được phản ánh bằng hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp và các chỉ tiêu phân tích Qua chỉ tiêu phân tích

Trang 13

sẽ làm rõđược kết quả, mức độảnh hưởng đến chỉ tiêu tổng hợp Sau đây là các chỉ tiêu phân tích cho vốn cốđịnh và vốn lưu động

+ Đối với vốn cốđịnh có các chỉ tiêu phân tích sau:

Chỉ tiêu cho biết mức độđầu tư thêm tài sản cốđịnh vào sản xuất kinh doanh của kỳ sau so với kỳ trước

Suất hao phí

=

Nguyên giá bình quân

Chỉ tiêu cho biết để thu được một đồng doanh thu thuần phải bỏ ra bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ Chỉ tiêu tính ra càng nhỏ càng tốt

Chỉ tiêu này cho biết để cóđược một vòng luân chuyển thì cần bao nhiêu đồng vốn cốđịnh bình quân Hệ

số của chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ càng tốt

Trang 14

Chỉ tiêu cho biết một đồng vốn sử dụng bình quân vào quá trình sản xuất đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Hệ số của chỉ tiêu tính ra càng lớn càng tốt

+ Đối với vốn lưu động có các chỉ tiêu phân tích sau:

Sức sản xuất của = Tổng doanh thu thuần (15)vốn lưu động Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu cho biết một đồng vốn lưu động bình quân tạo ra bao nhiêu đồng tổng doanh thu thuần Hệ số của chỉ tiêu tính ra càng lớn càng tốt

Vốn lưu động Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu cho biết một đồng vốn lưu động bình quân tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Hệ số của chỉ tiêu tính ra càng lớn càng tốt

vốn lưu động Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này còn được gọi là hệ số luân chuyển , cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ Nếu hệ số của chỉ tiêu này tính ra tăng so với kỳ trước là tốt vì nó chứng tỏđược hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại

Thời gian một

Thời gian của kỳ phân tích

(18)luân chuyển Số vòng quay củaVLĐ

trongkỳ

Chỉ tiêu thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng.Thời gian càng ngắn thì tốc độ luân chuyển càng nhanh tức là vốn lưu động được sử dụng triệt để hơn Chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ càng tốt

Hệ sốđảm nhiệm

Vốn lưu động Tổng doanh thu thuần

Chỉ tiêu cho biết để cóđược một vòng luân chuyển cần bao nhiêu đồng vốn lưu động Hệ số của chỉ tiêu tính ra càng nhỏ càng tốt vì nó thể hiện hiệu qủa sử dụng vốn lưu động càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều

3) Nhóm chỉ tiêu về tình hình và khả năng thanh toán :

Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu thanh toán sau đây:

Trang 15

Khả năng thanh = Tổng tài sản lưu động (20)

1.3 Các nhân tốảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn

Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường chịu tác động của nhiều nhân tố, bao gồm cả những nhân tố khách quan và chủ quan Do vậy hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của những yếu tốđó

1.3.1 Nhân tố khách quan

1.3.1.1 Môi trường pháp luật

Hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế phải tuân theo những quy định pháp luật do Nhà nước ban hành, qua đó có tác dụng hướng hoạt động kinh tế của họ tuân theo ý muốn chủ quan của Nhà nước Tuy nhiên mục tiêu này không phải lúc nào cũng đạt được kết quả mong muốn bởi vì hệ thống luật pháp ở nhiều quốc gia còn chưa được kiện toàn Chính vì vậy đã tạo ra kẽ hở trong luật và bị các cá nhân, tổ chức lợi dụng để hoạt động kinh doanh bất hợp pháp hay dựa vào những điều luật còn chồng chéo, thiếu tính cụ thể nghiêm minh nên dẫn tới việc coi thường luật pháp trong hoạt động kinh tế mà hậu quả có thể làđơn phương phá ngang hợp đồng kinh tếđã ký kết, hoặc chiếm dụng vốn mà không thanh toán, gây thiệt hại về kinh tế cũng như hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp là nạn nhân Vì thế, để chấm dứt được tình trạng này thì biện pháp tối ưu là phải khắc phục những mặt hạn chế trong hệ thống luật pháp, xử lý thật nghiêm minh những tội phạm kinh tếđể làm gương răn đe, giáo dục Có như vậy mới tạo được sựổn định trong hoạt động kinh tế và mục tiêu của mới thực hiện được triệt để.

1.3.1.2 Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Nhà nước điều tiết nền kinh tế thông qua các chính sách cơ bản là chính sách thuế, giá cả và lãi suất

Chính sách thuế thay đổi sẽảnh hưởng đến công tác hạch toán kế toán và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật màđơn vịđang áp dụng

Chính sách giá của thay đổi sẽ làm thay đổi giá thành sản phẩm cũng như giá bán của sản phẩm đó, vì thế sản lượng tiêu thụ, doanh thu bán hàng cũng

sẽ chịu ảnh hưởng

Trang 16

Chính sách về lãi suất thay đổi sẽảnh hưởng đến thu nhập tài chính của khoản tiền gửi ngân hàng, mức độ thuận lợi hay khó khăn của việc vay vốn, số lượng tiền được vay nhiều hay ít, và chi phí tài chính của đơn vịđi vay

Tóm lại, khi các chính sách kinh tế kể trên tay đổi sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu qủa sử dụng vốn cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn, trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng thấp thì có thểđối phó bằng cách: hạ lãi suất cho vay, tiền gửi, tăng thuế nhằm khuyến khích các tổ chức cá nhân tham gia mạnh mẽ hơn vào hoạt động kinh tế của Đất nước, nhờđó mà nền kinh tế sẽ có mức tăng trưởng cao hơn Với một chính sách lới lỏng như vậy, nếu doanh nghiệp nào có những dựán đầu tư tốt, có tính khả thi cao mà số vốn cần thiết để thực hiện dựán chưa đủ thì có thể bổ xung bằng cách huy động số vốn còn thiếu thông qua hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng Nhờ vậy, các doanh nghiệp sẽ hạn chếđược những cơ hội kinh doanh tốt bị bỏ qua và có thời cơ kiếm lợi nhuận, tăng quy mô vốn, nâng cao hơn hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc về vốn vào các tổ chức tài chính Ngược lại, trong thời kỳ nền kinh tế “nóng” thì giải pháp đối phó là hoàn toàn ngược lại Với chính sách này sẽ hạn chếđược những doanh nghiệp thành lập mới, đồng thời ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư phát triển của các doanh nghiệp đang hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng vốn của từng doanh nghiệp Vì thế trong bất kỳ hoàn cảnh nào các doanh nghiệp luôn mong muốn có sựổn định trong chính sách kinh tế của Nhà nước, trên cơ sởđóđể thiết lập chiến lược kinh doanh phù hợp, có như vậy mới tạo tâm lý an toàn cho các nhàđầu tư, bởi vì chỉ một thay đổi nhỏ trong chính sách kinh tế sẽ có tác động lớn đến chỉ tiêu chi phí, lợi nhuận và hiệu hiệu quả sử dụng vốn

Trang 17

1.3.1.3 Thị trường và hoạt động cạnh tranh

Tất cả các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều chịu sự tác động của nhân tố thị trường Có thể nói, nếu vốn giúp cho doanh nghiệp bước vào hoạt động thì thị trường là nhân tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp, nóảnh hưởng đến “đầu ra”- doanh thu và thị trường “đầu vào”- các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp Sự tác động của thị trường đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau:

Nếu doanh nghiệp huy động vốn vay để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng hàng sản xuất

ra hay nhập về lại không tiêu thụđược sẽ làm cho vốn lưu động của doanh nghiệp không luân chuyển được, vốn không sinh lời trong khi đó doanh nghiệp vẫn phải trả lãi vay, mục tiêu của doanh nghiệp không những không đạt được mà còn đứng trước nguy cơ thua lỗ.

Sự biến động của thị trường cũng là nhân tốảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Điều đó thể hiện ở cảđầu ra vàđầu vào của doanh nghiệp

Sự biến động của thị trường đầu vào các yếu tố sản xuất, nguồn lực đầu vào trở nên khan hiếm, giá cả biến động lớn dẫn đên sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp không đủ bùđắp chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra

đã tạo ra sự tăng nhanh số lượng của các loại hình doanh nghiệp mới, trong đó có những doanh nghiệp đăng ký sản xuất kinh doanh những mặt hàng mà thị trường đã có Vì thế, càng làm tăng thêm sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến doanh thu và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

1.3.1.4 Tính chất ổn định của môi trường

Kết quả sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của một doanh nghiệp tốt hay xấu không những chỉ phụ thuộc vào trình độ quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của ban lãnh đạo công ty mà còn phụ thuộc vào tính chất của môi trường kinh doanh Một môi trường kinh doanh tốt được coi là có thể chế pháp lý chặt chẽ nghiêm minh, các chính sách quản lý về kinh tế của Nhà nước có tính ổn định rõ ràng, cụ thể Trên cơ sởđó các doanh nghiệp mới thực sự an tâm sản xuất, lập kế hoạch đầu tư cho tương lai, nhờđó hiệu quả

sử dụng vốn sẽ tốt hơn Ngược lại, các kế hoạch đầu tư dài hạn cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

sẽ bịảnh hưởng tiêu cực gây tâm lý chán nản cho các nhàđầu tư Do đó sẽ làm giảm khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.

Trang 18

1.3.2 Nhân tố chủ quan

1.3.2.1 Cơ cấu vốn của doanh nghiệp

Cơ cấu vốn là tỷ trọng của từng loại vốn trong tổng số vốn của doanh nghiệp Tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu vốn của chúng cũng khác nhau, trong các doanh nghiệp thương mại thì vốn lưu động chiếm tỷ trọng chủ yếu Chính điều này có tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trên hai giác độ là:

Với cơ cấu vốn khác nhau thì chi phí bỏ ra để cóđược nguồn vốn đó cũng khác nhau

Cơ cấu vốn khác nhau thì khi xét đến tính hiệu quả của công tác sử dụng vốn người ta tập trung vào những khía cạnh khác nhau Chẳng hạn nhưđối với doanh nghiệp thương mại thì khi xét hiệu quả sử dụng vốn người ta chủ yếu tập trung vào xét hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Cơ cấu vốn sẽảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn thông qua sựảnh hưởng của nóđến chi phí vốn của doanh nghiệp Việc sử dụng vốn của doanh nghiệp chỉđược coi là có hiệu quả nếu nóđem lại một tỷ suất lợi nhuận lớn hơn chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để cóđược nguồn vốn đó.

1.3.2.2 Chi phí vốn

Chi phí vốn được hiểu là chi phí trả cho nguồn vốn huy động và sử dụng, chi phí vốn được đo bằng tỷ suất doanh lợi mà doanh nghiệp cần phải đạt được trên tổng vốn huy động để giữ không làm thay đổi tỷ lệ sinh lời cần thiết dành cho cổđông cổ phiếu thưòng hay vốn tự có của doanh nghiệp.

Liên quan đến các nguồn huy động bởi các nguồn khác nhau, là các chi phí vốn khác nhau mà doanh nghiệp phải bỏ ra.

Đối với các doanh nghiệp thì nguồn vốn có thểđược huy động bởi các nguồn:

+ Chi phí vốn liên quan đến vốn vay ngân hàng:

 Chi phí nợ vay trước thuế ( t) là lãi suất mà các doanh nghiệp phải trả cho khoản vay ngân hàng của mình

 Chi phí nợ vay sau thuế Kđ = t (1- T ) với Kđ là nợ vay sau thuế, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.

Từ nhân tố trên sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được cho mình một cơ cấu vốn tối ưu Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp nếu cần mở rộng qui mô huy động vốn mà vẫn giữ nguyên tỷ trọng này thì chi phí vốn vẫn là thấp nhất.

1.3.2.3 Nhân tố con người

a Trình độ quản lý doanh nghiệp

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn trăn trở phải làm gìđể có vốn đểđầu tư, sử dụng

nó như thế nào, quản lý tài sản hiện có ra sao để mang lại hiệu quả sử dụng vốn cao nhất Trên cơ sởđó, doanh nghiệp sẽđề ra giải pháp nhằm đối phó với tình hình thực tế Những giải pháp này có tính khả thi hay không, phần lớn phụ thuộc vào trình độ quản lý của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có trình độ quản lý tốt thì ngoài việc lập được kế hoạch huy động vốn nhanh chóng, kịp thời với chi phí thấp, và sử dụng vào thời điểm thích hợp nhất, còn có thể tổ chức tốt công tác quản lý hàng tồn kho, tiền mặt tại quỹ cũng như khả năng khai thác vốn cao nên hiệu quả sử dụng vốn thường rất tốt Trường hợp ngược lại, không chỉ có hiệu quả sử dụng vốn bị tác động tiêu cực mà doanh nghiệp còn có thể bị phá sản do quy mô vốn bị thu hẹp

b Tình trạng tay nghề của người công nhân

Bên cạnh yếu tố về trình độ quản lý doanh nghiệp thì yếu tố chất lượng lao động cũng có tác động đáng kểđến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Đặc biệt làđối với doanh nghiệp sản xuất thì chất lượng sản phẩm

Trang 19

sản xuất ra phụ thuộc rất lớn vào trình độ tay nghề của người công nhân sản xuất Chính vì vậy mà doanh thu tiêu thụ sản phẩm, chi phí sản xuất cũng như uy tín của một doanh nghiệp chịu ảnh hưởng lớn của đối tượng này nên hiệu quả sử dụng vốn cũng bịảnh hưởng theo.

1.3.2.4 Tính linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Để thích ứng với thị trường thì việc giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản, sản xuất cái gì ? sản xuất cho

ai ? sản xuất bao nhiêu và sản xuất như thế nào ? là rất cần thiết Những vấn đề này được nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu và khả năng tiêu thụ của khách hàng Sản phẩm sản xuất ra phải đảm bảo chất lượng, mẫu mã phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của khách hàng Đời sống của người dân ngày càng cao hơn do đó nhu cầu không ngừng tăng lên cả về chất lượng và số lượng Thực tế này đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động, nhạy cảm với thị trường thông qua các hình thức như thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng đểđảm bảo sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường Khi trên thị trường xuất hiện những sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của doanh nghiệp hoặc xuất hiện các đối thủ cạnh tranh thì phải bằng mọi cách doanh nghiệp phải làm sao cho khách hàng nhận rõưu điểm sản phẩm của doanh nghiệp mình Có thể thông qua các hình thức khuyến mại, tặng quà và các hình thức yểm trợ bán hàng khác, doanh nghiệp phải hướng sự chúý của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệ, phát sinh nhu cầu và thực sự cảm thấy hữu ích khi dùng sản phẩm đó và cóýđịnh tiêu thụ lâu dài với sản phẩm của doanh nghiệp Những điều trên là rất cần thiết đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào vì nóảnh hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp trước mắt Sau đó thực chất làảnh hưởng đến mức độ luân chuyển vốn, làm tốc độ quay vòng vốn giảm, hiệu quả sử dụng vốn thấp

Trang 20

PHẦN 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY

TNHH MAI HƯƠNG 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp

Trang 21

2.1.2 Cơ cấu tổ chức, sở hữu

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức

HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN

GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC 2 (PGD Kỹ thuật)

Phòng

kế toánPhòng vật tư, kho tàngPhòng Tổ chức hành chính, bảo vệ

PHÓ GIÁM ĐỐC 1 (PGD Tài chính)

Phòng kỹ thuật, KCSPhân xưởng sản xuấtPhòng mẫuPhân xưởng cơ điện

Trang 22

(Nguồn: Công ty TNHH Mai Hương)

- Hội đồng thành viên: là cơ quan cao nhất, điều hành các hoạt động chung

mang tính định hướng và đối ngoại của đơn vị

- Giám đốc Nhà máy: là người chịu trách nhiệm quản lý và điều hành mọi hoạt

động của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm trực tiếp trước Ban giám đốc về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và đội ngũ lao động

- Phó Giám đốc 1 (PGD Tài chính): chịu trách nhiệm quản lý khối văn phòng,

cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất gia công giầy dép và hàng may mặc, và phụ trách các mảng kinh doanh ngoài của doanh nghiệp Ngoài ra Phó Giám đốc 1 kết hợp với Phó Giám đốc 2 để quản lý đội ngũ nhân sự và chất lượng, giá thành sản phẩm

- Phó Giám đốc 2 (PGD Kỹ thuật): chuyên phụ trách mảng kỹ thuật cho việc

sản xuất, gia công các sản phẩm hàng da giầy và dệt may xuất khẩu Phó giám đốc 2 hỗ trợ Phó Giám đốc 1 trong việc điều tiết lượng nguyên vật liệu nhập về

và đội ngũ công nhân lao động

- Phòng kế toán tài chính: phụ trách mảng kế toán và các mảng kinh doanh khác

của đơn vị như kinh doanh kim khí, kinh doanh thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản… Phòng kế toán tài chính chịu sự quản lý trực tiếp của Phó Giám đốc 1

- Phòng vật tư, kho tàng: chuyên phụ trách nguyên phụ liệu , các loại hàng hóa

khác đầu vào và các thành phẩm sản xuất cho công ty

- Phòng tổ chức, hành chính, bảo vệ:chịu trách nhiệm quản lý tài sản, nhân sự

và thực hiện các quy định, quy chế của doanh nghiệp

- Phòng kỹ thuật, KCS:phụ trách việc vận hành máy móc thiết bị và chịu sự

giám sát trực tiếp của Phó Giám đốc 2

Trang 23

- Phân xưởng sản xuất: là bộ phận sản xuất gia công các mặt hàng da giầy và

may mặc

- Phòng mẫu:đây là bộ phận thiết kế các mẫu mã sản phẩm của công ty

- Phân xưởng cơ điện:phụ trách về vấn đề điện lưới đảm bảo hoạt động của đơn

vị luôn được vận hành tốt

2.1.2.2 Bộ máy lãnh đạo

- Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêmGiám đốc điều hành là bà Trần Thị

Lan Bà Trần Thị Lan xuất thân từ một người lao động chuyên thu mua và chế biến lông vũ Sau khi tích lũy kinh nghiệm và nguồn vốn, đồng thời nắm bắt xu thế của thị trường, bà Lan chuyển sang mở cơ sở gia công hàng da giầy tại địa phương Với tài ngoại giao khéo léo và nhanh nhạy với thị trường, bà Lan đã tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động của cơ sở sản xuất, thành lập doanh nghiệp

và từng bước vươn tới thị trường giày da quốc tế, và tiếp tục là thị trường may mặc quốc tế Bà Trần Thị Lan nhiều năm liền được vinh danh là doanh nhân văn hóa, được thành phố Hải Phòng tặng nhiều bằng khen và kỷ niệm chương

- Phó Giám đốc tài chính và Phó Giám đốc kỹ thuật là ông Hoàng Văn

Cường và ông Nguyễn Văn Lập đều là những người có nhiều năm kinh nghiệm trong chuyên môn công tác và có mối quan hệ rộng rãi với các đơn vị, cơ quan ban ngành trên địa bàn, hỗ trợ tích cực cho việc quản lý và điều hành doanh nghiệp của bà Trần Thị Lan

2.1.2.3 Quy trình hoạt động sản xuất chính

Trang 24

2.1.3 Quy trình sản xuất gia công xuất khẩu

Khách hàng nước ngoài (Đài Loan, Trung Quốc, Anh…)

Công ty TNHH Mai Hương

NVL, phụ liệu, công nghệ chính

Thành phẩm

Nhà cung cấp phụ liệu trong nước

(Nguồn: Công ty TNHH Mai Hương)

- Khách hàng cung cấp các nguyên vật liệu chính như vải da, các phụ liệu chính và công nghệ sản xuất (máy móc thiết bị, chuyên gia) cho đơn vị theo đơn đặt hàng dựa trên hợp đồng đã ký kết Thời gian hợp đồng thường kéo dài từ 10 –15 năm

Trang 25

- Đối với một số các phụ liệu phụ như xăng dầu, keo, mực in, toluen (dung môi) … doanh nghiệp mua trực tiếp của các nhà cung cấp trong nước phục vụ cho hoạt động gia công Doanh nghiệp chủ động tìm kiếm nhân lực cho việc vận hành sản xuất.

- Ngoài ra đơn vị còn nhận gia công, sản xuất các đơn đặt hàng giày dép, may mặc xuất khẩu cho các đơn vị trong nước

b Quy trình gia công trang phục

CHUẨN BỊ MẪUCHUẨN BỊ VẬT TƯCẮT MẢNHMAY VÀ RÁP SẢN PHẨM

GIẶT SẤY

LÀ HƠIKIỂM TRA CHẤT LƯỢNG

ĐÓNG GÓINHẬP KHO THÀNH PHẨM

Trang 26

(Nguồn: Công ty TNHH Mai Hương)

Mô tả quy trình công nghệ một số công đoạn chính :

- Chuẩn bị mẫu: Mẫu sản phẩm do bên khách hàng cung cấp với các kích

thước, số đo theo tiêu chuẩn yêu cầu của bên cung cấp

- Chuẩn bị vật tư: Các vật tư chính để sản xuất như vải vóc, cúc sẽ được bên

khách hàng cung cấp và vận chuyển đến cảng Hải Phòng hoặc qua đường hàng không Các loại vật tư phụ như chỉ, giấy bìa, … sẽ do bên Công ty Mai Hương chịu trách nhiệm

- Cắt mảnh: Vải được chuyển đi cắt mảnh theo mẫu vẽ và chuyển sang các

bộ phận may

May và ráp sản phẩm: Các sản phẩm được tiến hành may trên máy may

công nghiệp Mỗi bộ phận phụ trách một công đoạn may và cuối cùng là bộ phận ráp sản phẩm

- Giặt sấy: Thực hiện trên dây chuyền máy công nghiệp Các sản phẩm được

đưa vào máy giặt và sấy khô Sau đó được chuyển theo băng chuyền sang bộ phận là

- Là hơi: Các sản phẩm được là bằng hệ thống là hơi đảm bảo chất lượng

hàng theo yêu cầu

- Kiểm tra chất lượng – Đóng gói – Nhập kho thành phẩm: Sau khi các sản

phẩm hoàn thành được chuyển qua khâu kiểm tra sản phẩm tại bộ phận kiểm tra (có bao gồm các chuyên gia nước ngoài được bên đối tác cử sang giám sát) Những sản phẩm đạt sẽ được đóng gói và chuyển nhập kho thành phẩm chờ xuất

2.1.4 Thị trường

2.1.4.1 Môi trường vĩ mô

a Kinh tế chung:

- Việt Nam năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế

giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở châu Âu chưa được

Trang 27

giải quyết Nhìn chung trong năm 2013 kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng đã từng bước phục hồi

- Các doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục được hưởng nhiều chính sách ưu đãi của Nhà nước về thuế thu nhập doanh nghiệp, lãi suất cho vay, ưu đãi xuất khẩu…

b Ngành da giầy, may mặc xuất khẩu.

- Năm 2012, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng ngành dệt may nói chung

và Tập đoàn Dệt may nói riêng vẫn duy trì mức độ tăng trưởng ổn định, tiếp tục

là ngành có kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu cả nước Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và xơ sợi dệt các loại toàn ngành ước đạt 17,2 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ 2011 Trong đó riêng xuất khẩu dệt may đạt 15,8 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ

- Năm 2013, ngành Dệt may Việt Nam có doanh thu và kim ngạch xuất khẩu đều tăng 12% so với năm ngoái Hiện, có nhiều tín hiệu vui khi nhiều doanh nghiệp dệt may có đơn hàng xuất khẩu tốt

- Ngành da giầy: Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 10,32 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2012, vượt 3% so với kế hoạch đặt ra của năm 2013, theo báo cáo của Hiệp hội da, giày, túi xách ViệtNam Ngành da giầy xuất khẩu của VN đang có xu hướng phát triển tốt

2.1.4.2 Môi trường doanh nghiệp

a Khách hàng

- Trong lĩnh vực gia công hàng may mặc và gia công: Các khách hàng của đơn vị chủ yếu là các đơn vị nước ngoài hoặc liên doanh nước ngoài tại Việt Nam nhận đặt hàng gia công như Công ty EXIMUK (Anh), Công ty CIXIONG DI.,LTD (Trung Quốc), Công ty YOU LIN INDUSTRIAL CO.,LTD (Đài Loan), Công ty SHUN YI XIN INDUSTRIAL CO.,LTD (Đài Loan)…, Công ty TNHH May STALIO (Bắc Ninh), Công ty Da giày Tam Gia (Hải Phòng)…

b Nhà cung cấp

- Do hoạt động chính của doanh nghiệp là gia công các sản phẩm may mặc

và da giầy nên nguồn nguyên liệu và phụ liệu đầu vào chính đều do phía đối tác cung cấp Các phụ liệu khác bổ sung thêm cho hoạt động gia công với số lượng nhỏ thì doanh nghiệp mua trong nội địa hoặc nhập khẩu theo yêu cầu của đối tác nước ngoài như chỉ, keo dán, mực in, xăng dầu, dung môi…

Trang 28

c Nhân sự

Hiện nay doanh nghiệp có đội ngũ lao động lên đến trên 1000 lao động, trong đó số lượng văn phòng là 20 người, 12 chuyên gia của Đài Loan và Trung Quốc Công ty luôn có chính sách hợp lý với đội ngũ lao động và cán bộ nhân viên nhằm tạo điều kiện cho người lao động đáp ứng tốt cuộc sống và học tập, nâng cao trình độ Từ đó, tạo mối quan hệ gắn kết giữa doanh nghiệp và người lao động

d Cạnh tranh

Hiện nay số lượng các doanh nghiệp may mặc và da giầy cũng tương đối nhiều tuy nhiên mức độ cạnh tranh không quá gay gắt do nhu cầu thị trường quốc

tế khá lớn Bên cạnh đó, các đơn hàng của doanh nghiệp thường có thời gian dài

từ 5 – 15 năm, bao tiêu sản phẩm nên doanh nghiệp hoàn toàn chủ động được nguồn đầu ra đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh

2.1.4.3 Chiến lược

Trong thời gian tới công ty dự kiến sẽ đẩy mạnh hoạt động gia công xuất khẩu các sản phẩm may mặc và da giầy ra thị trường quốc tế như Anh, Mỹ Bên cạnh đó, song song với việc thực hiện gia công cho các khách hàng nước ngoài, doanh nghiệp sẽ từng bước tiếp cận thị trường nội địa rộng lớn nhiều tiềm năng nhằm đa dạng hóa khách hàng và giảm thiểu rủi ro do sự biến động của thị trường quốc tế

2.2 Thực trạng sử dụng vốn của công ty TNHH Mai Hương

2.2.1 Thực trạng sử dụng vốn tại công ty

2.2.1.1 Cơ cấu nguồn vốn của công ty

Là một doanh nghiệp tư nhân ngoài nguồn vốn do chủ sở hữu cung cấp Công ty có thể huy động các nguồn vốn khác cho hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn vốn huy động của công ty chủ yếu là vay ngân hàng Trong hoạt động này chủ yếu là vay dài hạn và vay ngắn hạn nhưng vay dài hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn vay ngắn hạn trong tổng số nợ phải trả.

Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn của công ty TNHH Mai Hương

Đơn vị tính : nghìn đồng

Nợ phải trả 7,276,408,717 20.5 9,514,110,658 20.7 32,974,727,210 49.3

Trang 29

Nợ ngắn hạn 2,310,408,717 6.5 568,110,658 1,2 32,712,227,210 48,9

Nợ dài hạn 4,966,000,000 14.0 8,946,000,000 19,5 262,500,000 0,4Vốn chủ sở hữu 28,205,484,609 79.5 36,376,962,350 79,3 33,955,709,715 50,7Tổng nguồn vốn 35,481,893,326 100 45,891,073,008 100 66,930,436,925 100

( Nguồn trích: Bảng cân đối kế toán 2011-2013

Qua số liệu trên cho thấy công ty đã khá chủđộng trong việc huy động vốn Công ty chủ yếu là vay nợ ngân hàng đểđáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Khoản nợ phải trảđã liên tục tăng qua các năm, điều này cho thấy công ty có nhu cầu vốn lớn và các tổ chức tín dụng đã thực sự tin tưởng bởi uy tín, trách nhiệm mà công ty TNHH Mai Hương đã tạo dựng được trong những năm qua, thì nay lại được chứng minh rõ nét hơn khi mà nợ phải trả chiếm tỷ trọng ngày càng giảm đi trong tổng nguồn vốn điều đó khẳng định sự phát triển đi lên của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Năm 2012 nợ phải trả tăng 2,237,701,941 nghìn đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 30,75% so với năm 2012, nhưng tỷ trọng nợ phải trả trong tổng vốn lại giảm - 29,34% Năm 2013 nợ phải trả tiếp tục tăng so với năm 2012 với mức tăng tyệt đối là 23,460,616,552 nghìn đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 246,59%, nhưng tỷ trọng nợ phải trả trong tổng vốn đã giảm là -45,85% Qua sự so sánh trên ta thấy sở dĩ có hiện tượng nợ phải trả tăng nhưng tỷ trọng của nó lại giảm trong tổng vốn là do sự tăng lên rất mạnh mẽ của vốn chủ sở hữu Năm 2012 vốn chủ sở hữu tăng 8,171,477,741 nghìn đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng so với năm 2011 là 28,97% Năm 2013 giảm so với năm2012, với mức giảm tuyệt đối

là 2,421,252,635 nghìn đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 6,66%

4.314.614 = 77.545.183,32 (1.000đ)

0.05564

Cóđiểm đáng chúý là các khoản nợ của công ty chiếm tỷ trọng không đều nhau Nợ dài hạn luôn chiếm

tỷ trọng cao hơn nợ ngắn hạn và có xu hướng giảm dần nhưng không đáng kể Điều này có thểđược giải thích là trong ba năm 2011-2013 công ty đã chú trọng nhiều hơn vào việc đầu tưđổi mới nâng cấp tài sản cốđịnh nhằm nâng cao năng lực sản xuất, mà muốn làm được điều đó thì cần phải có một lượng vốn lớn và dĩ nhiên nó lớn

Ngày đăng: 13/08/2014, 07:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn của công ty TNHH Mai Hương - một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty tnhh mai hương
Bảng 1 Cơ cấu nguồn vốn của công ty TNHH Mai Hương (Trang 28)
Bảng 2: Kết quả các chỉ tiêu tổng hợp - một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty tnhh mai hương
Bảng 2 Kết quả các chỉ tiêu tổng hợp (Trang 30)
Bảng 5 :  Các chỉ tiêu tài chính - một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty tnhh mai hương
Bảng 5 Các chỉ tiêu tài chính (Trang 41)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w