Bài 1: Một số phương pháp phân tích, thiết kế Hệthống thông tin 5 Phương pháp SADT Đặc trưng của phương pháp SADT là: Phương pháp SADT có nhiều ưu điểm như dựa vào nguyên lý phân t
Trang 2CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN PTTKHT
2
Bài 1: Một số phương pháp phân tích, thiết kế HTTT
Bài 2: Phương pháp luận phân tích HTTT.
Bài 3: Phân loại một số cách tiếp cận.
Bài 4: Mô hình hoá hệ thống.
Bài 5: Phương pháp phân tích, thiết kế có cấu trúc.
Bài 6: Phân tích chức năng.
Trang 3Bài 1: Một số phương pháp phân tích, thiết kế Hệ
Trang 4Bài 1: Một số phương pháp phân tích, thiết kế Hệ
Ý tưởng cơ bản của nó là: phân rã một hệ thống lớn thành các phân
hệ nhỏ hơn và đơn giản hơn
SADT được xây dựng dựa trên 7 nguyên lý sau đây
Sử dụng mô hình
Phân cấp đi xuống (top down).
Dùng mô hình chức năng và mô hình quan niệm.
Thể hiện tính đối ngẫu của hệ thống.
Sử dụng biểu diễn dưới dạng đồ hoạ.
Phối hợp hoạt động của nhóm.
Ưu tiên tuyệt đối cho hồ sơ viết.
Trang 5Bài 1: Một số phương pháp phân tích, thiết kế Hệ
thống thông tin
5
Phương pháp SADT
Đặc trưng của phương pháp SADT là:
Phương pháp SADT có nhiều ưu điểm như dựa vào nguyên lý phân tích cấu trúc, thiết kế theo lối phân cấp, dựa trên các lưu đồ chức năng, tạo được các liên hệ “Một cha nhiều con” (one parent to many children
relationship), bảo đảm từ một dữ liệu vào sản xuất nhiều dữ liệu ra
Nhược điểm của nó là không bao gồm toàn bộ tiến trình phân tích và nếu không thận trọng sử dụng SADT có thể đưa tiến trình trùng lặp thông tin Phương pháp này được dùng khá phổ biến, truyền thống do tính logic của nó
Trang 6Bài 1: Một số phương pháp phân tích, thiết kế Hệ
Một là: Quan tâm chu kỳ sống của HTTT, trải qua nhiều giai đoạn: “Thai
nghén - Quan niệm, Ý niệm - Quản trị - Chết” Chu kỳ sống này đối với hệ thống tổ chức lớn có thể kéo dài từ 10 - 15 năm
Hai là: Đề cập tới chu kỳ đặc tả của HTTT còn được gọi là chu kỳ trừu
Ưu điểm của phương pháp MERISE là có cơ sở khoa học vững chắc
Nhược điểm của phương pháp này là cồng kềnh
Trang 7Bài 1: Một số phương pháp phân tích, thiết kế Hệ
thống thông tin
7
Phương pháp này khá thông dụng và thỏa mãn các điều kiện của các
phương pháp phân tích và thiết kế thứ hai.
Cho phép xây dựng được một mô hình tổng quát, chính xác, biểu diễn HTTT hoặc các phân hệ thông tin
Cho phép phân tích, nắm được dữ liệu, quá trình xử lý và truyền thông các HTTT
Cho phép biểu diễn các xử lý với các lưu đồ và các chương trình, soạn thảo bởi một ngôn ngữ giải thuật dùng ở các mức khác nhau
Phương pháp MCX đưa ra các giai đoạn cơ bản của quá trình phân tích
Phân tích macro,Phân tích sơ bộ,Phân tích quan niệm,Phân tích chức năng,Phân tích cấu trúc
Phương pháp phân tích MCX khá hữu hiệu, thích hợp với việc thực hành
Nhược điểm là rườm rà
Trang 8Bài 1: Một số phương pháp phân tích, thiết kế Hệ
Nghiên cứu các hệ thống tổ chức và HTTT tương ứng
Nghiên cứu hiện trạng
Nghiên cứu khả thi
Tổ chức xử lý: Theo lô, theo thời gian thực (đối thoại người với máy)
Môi trường tiếp nhận.
Giao diện người- máy
Trang 9Bài 2: Phương pháp luận phân tích HTTT
Trang 10Bài 2: Phương pháp luận phân tích HTTT
10
Phương pháp tiếp cận hệ thống
Yêu cầu chủ yếu nhất của phương pháp này là phải xem xét hệ thống trong tổng thể vốn có của nó cùng với các mối liên hệ của các phân
hệ nội tại cũng như mối liên hệ với các hệ thống bên ngoài
Do đó, khi phân tích HTTT, chúng ta phải xem xét một cách toàn diện các vấn đề kinh tế, kỹ thuật và tổ chức của hệ thống quản lý
Ứng dụng phương pháp tiếp cận hệ thống trong phân tích HTTT đòi hỏi trước hết phải xem xét doanh nghiệp như là một hệ thống thống nhất về mặt kinh tế, tổ chức, kỹ thuật, sau đó mới đi vào các vấn đề
cụ thể trong từng lĩnh vực Trong mỗi lĩnh vực lại phân chia thành các vấn đề cụ thể hơn, chi tiết hơn Đây là phương hướng tiếp cận đi
từ tổng quát đến cụ thể (Top - Down) theo sơ đồ cấu trúc hình cây
Trang 11Bài 2: Phương pháp luận phân tích HTTT
11
Đi từ chức năng đến mô hình hoá
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình phân tích HTTT người ta
phải tiến hành theo một trình tự khoa học
Trước hết, phải có kế hoạch phân tích tỉ mỉ, chu đáo đến từng khâu công việc
Sau đó, tiến hành từ bước phân tích chức năng của HTTT, phân tích dòng thông tin kinh doanh và sau đó tiến hành mô hình hoá HTTT kinh tế bằng các mô hình như mô hình luồng dữ liệu (DFD), mô hình thông tin ma trận
Cuối cùng là bản báo cáo toàn bộ những kết quả của quá trình phân tích HTTT
Trang 12Bài 2: Phương pháp luận phân tích HTTT
Phân tích hệ thống có cấu trúc không chỉ là “một ý tưởng tốt” hay một cái gì
đó mà nhà thực hành tìm ra để làm việc, nó còn là ứng dụng thực tiễn của một khái niệm lý thuyết đầy hiệu lực
Một khái niệm được sử dụng rất rộng rãi trong xử lý dữ liệu đó là quá trình phát triển các hệ thống mới có sử dụng máy tính có thể được xem như bao gồm một số giai đoạn phân biệt
Tất cả những giai đoạn này tạo thành “Vòng phát triển hệ thống” bao gồm
Xác định vấn đề, Nghiên cứu tính khả thi, Phân tích, Xây dựng, Cài đặt
Trang 13Bài 3: Phân loại một số cách tiếp cận
13
Nội dung bài học
Cách tiếp cận từ trên xuống
Quy trình thác nước
Chu trình tăng trưởng
Chu trình xoắn ốc
Chu trình lắp ráp các thành phần
Trang 14Bài 3: Phân loại một số cách tiếp cận
14
Cách tiếp cận từ trên xuống
Cách tiếp cận trên xuống được coi là một tiến bộ về phương pháp luận trong phát triển hệ thống
Đặc trưng chính của cách tiếp cận này là bài toán được xem xét từ tổng thể tới chi tiết, việc chi tiết hoá được tiến hành từng bước, từ phần cốt lõi tới các thể hiện cụ thể.
Cách tiếp cận này đặc biệt chú trọng tới các vấn đề mấu chốt của bài toán
Ở mỗi giai đoạn, ở mỗi thành phần của hệ thống, việc đầu tiên là xác định phần cốt lõi sau đó mới tiến hành phát triển hệ thống xung quanh các phần cốt lõi này
Cách tiếp cận này giúp người phân tích luôn xác định đúng được bản chất của
sự việc và đưa ra được giải pháp hữu hiệu nhất đáp ứng yêu cầu cốt lõi của
người dùng
Cách tiếp cận này chỉ phù hợp cho việc xây dựng hệ thống giống nhau, hoặc có nhiều điểm tương tự, điều mà trong thực tế ít xảy ra, vì người ta có thể sử dụng luôn phần mềm có sẵn mà không cần bỏ công làm lại.
Trang 15Bài 3: Phân loại một số cách tiếp cận
15
Quy trình thác nước.
Đây là loại quy trình phát triển đầu tiên, được Royce đề xuất năm
1970, để mô tả quy trình phát triển của hệ thống
Đó là quá trình tiếp nối của năm giai đoạn: phân tích, thiết kế, mã hoá, kiểm thử và nghiệm thu
Mỗi giai đoạn chỉ có thể bắt đầu khi giai đoạn trước đó đã hoàn tất (không đuợc chờm lên nhau)
Vì vậy, quy trình phát triển này còn được gọi là quy trình tuyến tính
Nhược điểm chính của quy trình phát triển thác nước là ở chỗ không cho phép quay lui
Chính vì vậy mà cũng có nhiều phương án cải tiến chu trình thác
nước, cho phép quay lui
Trang 16Bài 3: Phân loại một số cách tiếp cận
16
Chu trình tăng trưởng
Chu trình tăng trưởng do D.R Graham đề xuất năm 1989, dựa trên các bước tăng trưởng dần dần, cho phép hoàn thành hệ thống từng mảng một
Mỗi bước tăng trưởng thực hiện một tiến trình tuyến tính để triển
khai một phần có thể chuyển giao được của cả hệ thống
Quy trình này lặp lại nhiều lần cho tới khi đạt được phương án hoàn chỉnh của toàn bộ hệ thống
Cách làm này chỉ thích hợp với các hệ thống có thể chia cắt và
chuyển giao theo từng mảng
Trang 17Bài 3: Phân loại một số cách tiếp cận
17
Chu trình xoắn ốc
Chu trình xoắn ốc hay chu trình lặp là do Bochm đề xuất 1988, với các đặc điểm sau:
Tiến trình lặp đi lặp lại một dãy các giai đoạn nhất định.
Qua mỗi vòng lặp, tạo ra một nguyên mẫu hoàn thiện dần.
Chú trọng khắc phục các nguy cơ (nguy cơ có thể bắt nguồn từ các sai sót trong đặc tả các nhu cầu)
Trang 18Bài 3: Phân loại một số cách tiếp cận
18
Chu trình lắp ráp các thành phần
Chu trình lắp ráp các thành phần dựa trên việc sử dụng lại các thành phần phần mềm.
Việc tạo lập hệ thống được thực hiện bằng cách lắp ráp các thành phần có sẵn.
Như vậy, điều quan trọng là cần phải xác định và thu gom các thành phần có khả năng sử dụng lại càng sớm càng tốt.
Theo Hooper, Chester và Chang thì tiến trình gồm 6 giai đoạn:
Tìm hiểu bài toán: Tìm hiểu vấn đề được đặt ra và khả năng sử dụng lại.
Hình thành giải pháp: Đề xuất một số giải pháp theo hướng sử dụng các thành phần có sẵn.
Tìm kiếm các thành phần: Lựa chọn các thành phần thích hợp.
Điều chỉnh và thích ứng các thành phần: điều chỉnh các thành phần thực sự thích ứng với giải pháp.
Tích hợp các thành phần: Lắp ráp các thành phần thành giải pháp.
Đánh giá: Đánh giá kết quả thực hiện, đồng thời xác định các thành phần mới có thể lưu để sử dụng lại sau này.
Trang 19Bài 4: Mô hình hoá hệ thống
Trang 20Bài 4: Mô hình hoá hệ thống
Nói cách khác, trước một bài toán (hay một vấn đề) có thể tạm quên hay lờ
đi các chi tiết ít hoặc không thể hiện bản chất vấn đề và có ít ảnh hưởng đối với bài giải bài toán, nhờ đó hình thành được một diễn giải đơn giản và dễ hiểu, cho phép giải quyết được bài toán mà vẫn đảm bảo theo đúng bản chất của vấn đề ban đầu
Trang 21Bài 4: Mô hình hoá hệ thống
21
Khái niệm mô hình hoá hệ thống
Mô hình (model) là một dạng trừu tượng hoá của một hệ thống thực.
Cụ thể hơn, mô hình là một hình ảnh (một biểu diễn) của một hệ thống thực, được diễn tả:
Ở một mức độ trừu tượng hoá nào đó
Dưới một quan điểm (hay một góc nhìn) nào đó
Dưới một hình thức thể hiện (văn bản, phương trình, bảng, đồ thị, ) nào đó
Mục đích và chất lượng của mô hình
Hiểu được: Hiểu tức là hình thành được một hình ảnh xác thực và giản lược về đối
tượng được tìm hiểu
Trao đổi được: Vì tính hiểu được của mô hình mà mô hình trở thành một thứ ngôn
ngữ chung cho phép trao đổi giữa những người cùng quan tâm tới một vấn đề hay một
hệ thống chung.
Hoàn thiện được: Nhờ sự hiểu được của mô hình mà người tìm hiểu, trao đổi dễ nhận
Trang 22Bài 5: Phương pháp phân tích, thiết kế
Mô hình luồng dữ liệu
Mối quan hệ và thứ tự xây dựng các mô hình
Trang 23Bài 5: Phương pháp phân tích, thiết kế
năng, trả lời cho câu hỏi: Hệ thống thực hiện những công việc gì?
Mô hình được sử dụng cho mục đích này là sơ đồ phân rã chức năng
(Business Functional Diagram viết tắt là BFD)
Tư tưởng phân tích từ trên xuống (top-down) được thể hiện rõ nét trên sơ đồ này
Việc phân loại có thể theo loại hình tính chất công việc, có thể theo đơn vị
sử dụng, có thể theo dữ liệu sử dụng và có thể là kết hợp của các kiểu phân loại khác nhau.
Các nhóm chức năng lại tiếp tục được phân nhỏ thành các cụm chức năng hoặc chức năng cụ thể
Sơ đồ BFD được biểu diễn dưới dạng hình cây, tại mỗi nút là một hình chữ nhật thể hiện chức năng hoặc nhóm chức năng cụ thể.
Trang 24Bài 5: Phương pháp phân tích, thiết kế
Mô hình dữ liệu (Entity Relationship Diagram viết tắt là ERD) là
một trong các công cụ phản ánh hệ thống từ một khía cạnh khác, bổ sung cho BFD để tạo nên một tổ hợp trọn vẹn của quá trình phân
Trang 25Bài 5: Phương pháp phân tích, thiết kế
có cấu trúc
25
Mô tả luồng luân chuyển dữ liệu trong hệ thống Có thể biểu diễn bằng
nhiều sơ đồ: sơ đồ ngữ cảnh, sơ đồ quá trình xử lý, sơ đồ luồng dữ liệu hoặc bằng các ma trận chức năng/ thực thể
Nếu như các mô hình chức năng và mô hình dữ liệu thể hiện hệ thống dưới dạng tĩnh thì ngược lại mô hình luồng dữ liệu thể hiện hệ thống dưới cách nhìn động.
Mô hình này lột tả luồng luân chuyển dữ liệu trong cả quá trình hoạt động của hệ thống.
Một trong các mô hình kinh điển được sử dụng cho mục đích mô tả luồng
dữ liệu là sơ đồ luồng (dòng) dữ liệu (Data Flow Diagram viết tắt là DFD)
DFD đưa ra một phương pháp thiết lập mối quan hệ giữa chức năng hoặc quá trình của hệ thống với thông tin mà chúng sử dụng
Trang 26Bài 5: Phương pháp phân tích, thiết kế
có cấu trúc
26
DFD bao gồm những thành phần chính sau:
Quá trình (chức năng –Processes) được ký hiệu bởi vòng tròn tượng trưng
cho các chức năng khác nhau mà hệ thống phải thực hiện.
Luồng dữ liệu (Flow) được ký hiệu bằng đường kẻ có mũi tên Mũi tên chỉ
hướng ra của luồng thông tin.
Kho dữ liệu (Data Store) được ký hiệu bởi 2 đường thẳng song song, biểu
diễn hay chứa đựng thông tin mà hệ thống cần phải lưu giữ trong một khoảng thời gian dài để một hay nhiều quá trình hoặc tác nhân truy nhập vào
Tác nhân ngoài là một người, một nhóm người hoặc một tổ chức bên ngoài
lĩnh vực nghiên cứu của hệ thống, nhưng có một số hình thức tiếp xúc với hệ thống
Tác nhân trong là một chức năng hay một quá trình bên trong hệ thống
Trang 27Bài 5: Phương pháp phân tích, thiết kế
có cấu trúc
27
Các mô hình kể trên cùng có chung một đối tượng mô tả là mô hình hệ
thống vì vậy chúng có quan hệ mật thiết với nhau, từ một mô hình có thể suy ra được một phần các mô hình còn lại.
Các mô hình thường được xây dựng đồng thời, tuy nhiên vẫn có thể theo một thứ tự trước sau một chút
Có thể xây dựng theo thứ tự BFD, ERD, DFD Thứ tự xây dựng này thường được lựa chọn khi phân tích định hướng lập trình Trong trường hợp này
DFD được sử dụng như một công cụ minh hoạ làm rõ quan hệ giữa các phần
tử của BFD (mô hình chức năng) và ERD (mô hình dữ liệu).
Với định hướng trao đổi làm rõ các yêu cầu của người dùng, DFD lại được xây dựng trước, thể hiện các quy trình nghiệp vụ của hệ thống thực Sau khi được người dùng xác nhận tính đúng đắn, từ DFD trích lọc các chức năng để xây dựng BFD và dữ liệu để xây dựng ERD
Trang 28Bài 6: Phân tích chức năng
28
Mục đích của phân tích chức năng
Mục đích của phân tích chức năng là xác định một cách chính xác và
cụ thể các chức năng của HTTT
Trong giai đoạn phân tích chức năng, người ta phải xác định một
cách rõ ràng những gì mà hệ thống sẽ phải thực hiện mà chưa quan tâm tới phương pháp thực hiện các chức năng ấy
Một chức năng đầy đủ gồm những thành phần sau:
Tên chức năng
Mô tả các chức năng
Đầu vào của chức năng (dữ liệu).
Đầu ra của chức năng (dữ liệu).