64 Hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả quản lý và thực hành thu thuế
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu Trang
I Lý luận cơ bản về kế toán, thuế - Mối quan hệ giữa kế toán và thuế 1
I.1 Khái niệm, nhiệm vụ của kế toán 1
I.1.1 Sơ lược về lịch sử kế toán Việt Nam 1
I.1.2 Khái niệm kế toán 4
I.1.3 Nhiệm vụ của kế toán 5
I.1.4 Yêu cầu kế toán 5
I.2 Khái niệm, đặc điểm, chức năng của thuế 6
I.2.1 Sơ lược về quá trình phát triển của hệ thống thuế Việt Nam 6
I.2.2 Đặc điểm của thuế 7
I.2.3 Chức năng của thuế 8
I.3 Mối quan hệ giữa kế toán và thuế 8
I.3.1 Kế toán là công cụ của thuế 8
I.3.2 Luật thuế chi phối đến hệ thống kế toán 16
I.3.3 Sự khác biệt trong việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế theo chế độ kế toán và theo Luật thuế 16
Kết luận chương I 21
II Thực trạng hệ thống kế toán doanh nghiệp và công tác quản lý, hành thu thuế hiện nay 22
II.1 Thực trạng hệ thống kế toán trong việc cung cấp thông tin cho việc quản lý và hành thu thuế hiện nay 22
II.1.1 Việc chấp hành pháp luật 22
II.1.2 Tổ chức bộ máy kế toán 23
II.1.3 Chứng từ 24
II.1.4.Tài khoản 36
Trang 2II.1.5 Sổ sách 38
II.1.6 Báo cáo 39
II.1.7 Phương pháp hạch toán 40
II.2 Thực trạng công tác quản lý và hành thu thuế hiện nay 42
Kết luận chương II 46
III Hoàn thiện hệ thống kế toán để nâng cao hiệu quả quản lý và hành thu thuế 47
III.1 Yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện 47
III.2 Giải pháp hoàn thiện 48
III.2.1 Giải pháp vĩ mô 48
III.2.2 Giải pháp vi mô 51
Kết luận chương III 66
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.Việc thực thi pháp luật thuế cho đến nay đã thu được nhiều thành tựu to lớn Nguồn thu từ thuế đã góp phần phát triển kinh tế xã hội Bên cạnh đó cũng tồn tại nhiều bất cập do hạn chế từ chính sách thuế, việc quản lý của cơ quan thuế và
từ việc tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp và người dân
Kế toán doanh nghiệp là một công cụ quan trọng không những phục vụ cho hoạt động quản lý doanh nghiệp mà còn phục vụ cho việc quản lý nhà nước, trong đó có cơ quan thuế Chất lượng của thông tin kế toán ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của việc quản lý và hành thu thuế
Để nâng cao hiệu quả quản lý và hành thu thuế, bên cạnh việc cải cách chính sách thuế thì vấn đề hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp cũng không kém phần quan trọng
Xuất phát từ vấn đề trên, luận văn " hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và hành thu thuế" được thực hiện nhằm góp chút công sức nhỏ bé vào việc xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
Vấn đề hoàn thiện hệ thống kế toán là rất rộng và đòi hỏi có sự nghiên cứu sâu sắc trên phương diện vĩ mô và vi mô Vì vậy, phạm vi luận văn chỉ đề cập đến một số vấn đề thấy được qua quá trình học tập lý thuyết, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn và qua tác nghiệp trong công tác cũng như tìm hiểu thực
tế tại các doanh nghiệp ở tỉnh Bình Dương và Cục thuế tỉnh Bình Dương Từ
đó, luận văn chỉ đưa ra một số thực trạng, giải pháp có thể thực hiện được và một số hướng để tiếp tục nghiên cứu
Trang 4CHƯƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN, THUẾ - MỐI QUAN
HỆ GIỮA KẾ TOÁN VÀ THUẾ
I.1 Khái niệm, nhiệm vụ của kế toán
I.1.1 Sơ lược về lịch sử kế toán Việt Nam
a Giai đoạn từ 1945 đến 1953
Đây là giai đoạn đất nước ta đi vào khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước và tiếp tục cuộc kháng chiến chống thực dân Kế toán sử dụng chủ yếu trong các xí nghiệp quốc phòng, áp dụng hình thức kế toán đơn
b Giai đoạn từ 1954 đến 1974
Năm 1954, hòa bình lập lại Miền Bắc chuyển sang việc xây dựng nền kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa Kế toán giai đoạn này được sử dụng như là một công cụ giám đốc các hoạt động sản xuất kinh doanh và việc sử dụng vốn của Nhà nước trong các ngành kinh tế quốc doanh
Năm 1957, Nhà nước ban hành chế độ kế toán kép áp dụng thống nhất thí điểm trong tất cả các xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp và xây dựng
Năm 1961, Chính phủ ban hành điều lệ tổ chức kế toán nhà nước
Năm 1962, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định 27/CP ngày 22/02/1962 quy định các nguyên tắc lập và ban hành các chế độ biểu mẫu và phương án điều tra thống kê
Năm 1964, Nhà nước ban hành Thông tư số 07 TC/CĐKT ngày 21/12/1964 hướng dẫn cụ thể về việc vận dụng các hình thức và sổ sách kế toán
Năm 1967, Liên bộ Tổng Cục thống kê - Tài chính ban hành chế độ ghi chép ban đầu theo Quyết định số 583/LB ngày 01/09/1967
Trang 5Năm 1970, Bộ Tài chính ban hành hệ thống tài khoản kế toán áp dụng thống nhất cho tất cả các ngành trong cả nước theo Quyết định số 425 TC/CĐKT ngày 14/12/1970.
Năm 1971, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết 02/CP ngày 02/01/1971 tổ chức lại hệ thống thông tin kinh tế Thủ tướng ban hành Quyết định 299/TTg ngày 27/10/1971 về chế độ báo cáo thống kê, kế toán định kỳ chính thức của các đơn vị kinh tế thuộc ngành nội thương và Quyết định 233/CP ngày 01/12/1970 đưa ra chế độ báo cáo thống kê, kế toán định kỳ chính thức của các xí nghiệp công nghiệp Tổng Cục thống kê cũng ban hành Quyết định số 212-TCKT ngày 03/11/1971 quy định cụ thể nội dung chế độ báo cáo thống kê kế toán định kỳ chính thức đối với các đơn vị công ty, cửa hàng, thương nghiệp đã hạch toán kinh tế độc lập
c Giai đoạn từ 1975 đến 1989
Giai đoạn này Nhà nước bắt đầu tiến hành đổi mới công tác kế toán để phục vụ cho yêu cầu xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế mới về quản lý kinh tế nhằm phát huy tính chủ động của cơ sở kinh doanh
Năm 1983, Tổng Cục Thống kê ban hành Quyết định 200-TCTK/PPCĐ ngày 24/03/1983 sửa đổi bổ sung hệ thống chứng từ ghi chép ban đầu đã ban hành trước đó (theo Quyết định 583/LB ngày 01/09/1967)
Năm 1986, Tổng Cục thống kê ban hành danh mục báo cáo thống kê -
kế toán định kỳ áp dụng cho các đơn vị hạch toán độc lập thuộc ngành công nghiệp theo Quyết định 13/TCTK/PPCĐ ngày 13/01/1986
Năm 1988, Nhà nước ban hành Pháp lệnh kế toán thống kê áp dụng thống nhất trong cả nước và là văn bản có tính pháp lý cao nhất về kế toán -thống kê
Trang 6Năm 1989, Bộ Tài chính ban hành hệ thống tài khoản kế toán áp dụng thống nhất cho tất cả các ngành trong cả nước theo Quyết định số 212 TC/CĐKT ngày 15/12/1989.
d Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1994
Năm 1994, Hệ thống tài khoản được sửa đổi theo Quyết định 1205 TC/CĐKT ngày 14/02/1994 do Bộ tài chính ban hành
Năm 1990, Bộ Tài chính ban hành chế độ báo cáo kế toán định kỳ theo Quyết định 224TC/CĐKT ngày 18/04/1990, sau đó được sửa đổi bổ sung theo Quyết định 1206-TC/CĐKT ngày 14/12/1994
e Giai đoạn từ năm 1995 đến nay.
Giai đoạn từ năm 1995 đến nay có sự phát triển mạnh của các thành phần kinh tế về số lượng và chất lượng Thị trường chứng khoán hình thành
và từng bước phát triển, đáp ứng yêu cầu huy động vốn cho nền kinh tế Đồng thời, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ yêu cầu Việt Nam phải hòa nhập vào nền kinh tế quốc tế
Năm 1995, Bộ Tài chính ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 Chế độ kế toán doanh nghiệp được áp dụng thống nhất trong cả nước cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế Chế độ này thay thế các văn bản
về hệ thống tài khoản, chế độ báo cáo kế toán, chế độ kế toán sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh, chế độ sổ sách, chứng từ kế toán ban hành trong
khoảng thời gian trước đó (Phụ lục 1, 2, 3 - trang 1-9).
Năm 1999, thuế doanh thu được thay thế bằng thuế giá trị gia tăng thông qua việc Quốc hội ban hành Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 ngày 10/05/1997 Các tài khoản, sổ sách, báo cáo tương ứng với thuế doanh thu được thay thế, sửa đổi bằng thuế giá trị gia tăng
Trang 7Năm 2000, Bộ Tài chính ban hành Quyết định 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 về việc áp dụng chế độ báo cáo tài chính thống nhất cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, thành phần kinh tế
Nhằm đưa ra những nguyên tắc kế toán và phương pháp kế toán cơ bản
để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính, đồng thời hòa nhập với hệ thống kế toán quốc tế Bộ tài chính đã lần lượt ban hành 22 chuẩn mực kế toán Việt Nam dựa trên chuẩn mực kế toán quốc tế theo các Quyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001, Quyết định 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002, Quyết định 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003, Quyết định 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005
Ngày 17/06/2003, Quốc hội ban hành Luật kế toán số 03/2003/QH11
có hiệu lực thi hành bắt đầu từ tháng 01/2004, thay thế Pháp lệnh kế toán thống kê năm 1988
I.1.2 Khái niệm kế toán
Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động
Kế toán gồm có kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán tài chính phục vụ cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán Kế toán quản trị phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị
Đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin kế toán tài chính gồm có:
- Đối tượng bên trong đơn vị: lãnh đạo, hội đồng quản trị, cấp trên
- Đối tượng bên ngoài đơn vị:
+ Cơ quan nhà nước: cơ quan thuế, cơ quan thống kê, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan tài chính Trong đó, cơ quan thuế là đối tượng mà đơn vị có nghĩa vụ cung cấp thông tin một cách thường
Trang 8xuyên, liên tục theo tháng, quý, năm theo quy định của Luật thuế và chế độ kế toán
+ Đối tượng có lợi ích trực tiếp với đơn vị: Ngân hàng, chủ nợ, khách hàng, cổ đông,
I.1.3 Nhiệm vụ của kế toán
Luật kế toán quy định kế toán có 4 nhiệm vụ cơ bản:
Một là, thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán
Hai là, kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán
Ba là, Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán
Bốn là, cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật
I.1.4 Yêu cầu kế toán
Kế toán có 6 yêu cầu cơ bản:
Thứ nhất, phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính
Thứ hai, phản ánh kịp thời thông tin và số liệu kế toán
Thứ ba, phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác số liệu kế toán
Thứ tư, phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế, tài chính
Thứ năm là thông tin, số liệu kế toán phải được phản ánh liên tục từ khi phát sinh đến khi kết thúc hoạt động kinh tế, tài chính, từ khi thành lập
Trang 9Thứ sáu là phân loại, sắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, có
hệ thống và có thể so sánh được
I.2 Khái niệm, đặc điểm, chức năng của thuế
I.2.1 Sơ lược về quá trình phát triển của hệ thống thuế Việt Nam
a Giai đoạn từ 1945 đến 1953
Thời kỳ này Nhà nước bãi bỏ một số sắc thuế cũ, lạc hậu, xây dựng hệ thống thuế mới bao gồm 07 sắc thuế: thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hàng hóa, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ, thuế tem
b Giai đoạn từ 1954 đến 1974
Từ năm 1954 đến 1957, Chính phủ ban hành nhiều loại thuế mới trên
cơ sở sửa đổi, bổ sung các loại thuế cũ đã áp dụng trong vùng tự do cũ
Từ năm 1958 đến 1960, thuế công thương nghiệp được áp dụng trên nhiều khâu của quá trình sản xuất và lưu thông
Từ năm 1961 đến 1965, Nhà nước áp dụng thí điểm chế độ thu mới là thu quốc doanh Ngoài ra, các doanh nghiệp phải trích nộp một phần lợi nhuận nộp Nhà nước theo "chế độ trích nộp và sử dụng lợi nhuận của các xí nghiệp"
Từ năm 1966 đến 1975, Nhà nước bổ sung thêm hình thức thu mới là thu khấu hao cơ bản thông qua việc ban hành chế độ nộp khấu hao cơ bản
Trang 10, có bãi bỏ một số loại phản tiến bộ và sửa đổi bổ sung phù hợp
Từ năm 1980 đến năm 1989, hệ thống thu và thuế được áp dụng thống nhất trong cả nước
d Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
Từ năm 1990 đến 1998, hệ thống thuế đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, gồm các sắc thuế: Thuế nông nghiệp, thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi tức, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế nhà đất, thuế tài nguyên, thuế vốn, ngoài ra còn có các loại phí và lệ phí
Từ năm 1999 đến nay, Nhà nước đã đưa vào áp dụng các sắc thuế tiên tiến trên thế giới Thuế giá trị gia tăng thay thế thuế doanh thu, thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế thuế lợi tức
I.2.2 Đặc điểm của thuế
Thuế là hình thức đóng góp theo nghĩa vụ do luật quy định cho các cá nhân, doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trong xã hội bằng một phần thu nhập của mình vào Ngân sách Nhà nước
Thuế có các đặc điểm cơ bản:
Một là, thuế có tính bắt buộc Người tiêu dùng, người sản xuất, người
có thu nhập cao có nghĩa vụ phải đóng góp một phần thu nhập vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của các sắc thuế do Nhà nước ban hành
Hai là, thuế không hoàn trả trực tiếp Người nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp một cách trực tiếp hàng hóa, dịch vụ công cộng cho mình Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng và giá trị hàng hóa dịch vụ công cộng cung cấp cho người nộp thuế không nhất thiết phải bằng với khoản thuế mà họ đã nộp
Ba là, thuế có tính cố định Luật thuế ban hành một mức thu cố định cho đối tượng chịu thuế (hàng hóa, dịch vụ, người có thu nhập cao, ) Nhờ
Trang 11đó Nhà nước có thể ước tính trước mức thu ngân sách và người nộp thuế cũng
có thể tính trước được số tiền phải nộp vào ngân sách
I.2.3 Chức năng của thuế
Thuế có các chức năng cơ bản sau:
Một là, chức năng huy động nguồn lực tài chính Thuế huy động và tập trung nguồn lực tài chính vào quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Nhờ vậy, Nhà nước thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội
Hai là, chức năng điều chỉnh: Thuế được quy định các hình thức thu khác nhau, xác định đúng đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp được xây dựng có tính đến khả năng của người nộp thuế Trên
cơ sở đó, Nhà nước điều tiết các hoạt động kinh tế theo định hướng chung và kích thích sự phát triển của các thành phần kinh tế
I.3 Mối quan hệ giữa kế toán và thuế
I.3.1 Kế toán là công cụ của thuế.
Kế toán là công cụ để xác định đúng số thuế phải nộp, cung cấp thông tin cho việc quản lý thuế của Nhà nước và xác lập các căn cứ pháp lý thể hiện mức độ chấp hành pháp luật của các tổ chức, cơ sở, cá nhân sản xuất kinh doanh, thể hiện qua chứng từ kế toán, tài khoản, sổ sách, báo cáo, phương pháp hạch toán và các ước tính kế toán
I.3.1.1 Chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán là những giấy tờ phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành trong đơn vị, làm căn cứ ghi chép vào sổ sách kế toán Chứng từ kế toán gồm có chứng từ gốc và chứng từ ghi chép ban đầu Chứng từ gốc thể hiện bản chất của nghiệp vụ kinh tế phát sinh Chứng từ ghi chép ban đầu thể hiện thêm thông tin về nghiệp vụ và phân loại thông tin kế
Trang 12theo đối tượng kế toán để ghi chép vào sổ sách
kế toán
Chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý quan trọng giúp cho nhà quản lý trong tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh (gọi chung là đơn vị) và cơ quan nhà nước kiểm tra kế toán Chứng từ kế toán là cơ sở chứng minh việc chấp hành pháp luật của đơn vị Chứng từ là căn cứ xác định các hành vi gian lận, biển thủ tài sản, trốn thuế của cá nhân trong đơn vị và của bản thân đơn vị trước pháp luật
Chứng từ kế toán là cơ sở pháp lý giúp cho cơ quan thuế xác định phạm vi áp dụng, căn cứ tính thuế; từ đó xác định đúng, đủ số thuế phải nộp,
số thuế được miễn, giảm; thuế được hoàn lại từ ngân sách nhà nước; đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của đơn vị Phạm vi áp dụng thuế là phạm vi xác định đối tượng nộp thuế (tổ chức, cá nhân); đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế (hàng hóa, dịch vụ) Căn cứ tính thuế là giá tính thuế (hoặc thu nhập chịu thuế) và thuế suất tương ứng Cụ thể:
+ Với thuế giá trị gia tăng, đối với các đơn vị kê khai thuế theo hình thức khấu trừ, chứng từ gốc là căn cứ xác định chính xác thuế giá trị gia tăng đầu vào, thuế giá trị gia tăng đầu ra mà đơn vị phải nộp cho nhà nước, thể hiện qua hóa đơn giá trị gia tăng đầu vào, hóa đơn đầu ra, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu, chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hóa xuất khẩu Đối với đơn vị áp dụng theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng, chứng từ giúp xác định được giá trị gia tăng và thuế suất tương ứng để tính toán được thuế giá trị gia tăng phải nộp
+ Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, thông qua chứng từ là hóa đơn (đầu vào, đầu ra); hợp đồng kinh tế cung cấp hàng hóa dịch vụ (mua, bán), tờ khai hải quan xuất khẩu, nhập khẩu; hợp đồng lao động; bảng thanh toán lương; bảng tính khấu hao; biên lai thu phí và lệ phí; biên bản kiểm kê tài
Trang 13sản, hàng tồn kho và các chứng từ khác theo luật định để xác định được chi phí hợp lý và doanh thu, thu nhập chịu thuế
+ Đối với thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, chứng từ là cơ
sở xác định đúng đối tượng nộp thuế (cá nhân có thu nhập cao) và thu nhập chịu thuế Chứng từ chủ yếu gồm có: hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế cung cấp dịch vụ, bảng thanh toán lương, phiếu chi, quyết định điều chuyển công tác của người nước ngoài, hộ chiếu và các chứng từ khác thể hiện thu nhập của cá nhân
+ Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt: Chứng từ như hóa đơn; tờ khai hải quan xuất khẩu, nhập khẩu; chứng từ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt của nguyên liệu sản xuất là căn cứ để xác định giá tính thuế và thuế suất tương ứng với hàng hóa dịch vụ chịu thuế
+ Đối với thuế xuất khẩu, nhập khẩu: Các chứng từ: tờ khai hàng hóa nhập khẩu, tờ khai hàng hóa xuất khẩu, hợp đồng kinh tế mua bán hàng hóa, hóa đơn tài chính, là cơ sở xác định số thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải nộp Các chứng từ: định mức nguyên vật liệu, chứng từ thanh toán qua ngân hàng cần thiết cho đơn vị được hoàn thuế nhập khẩu trong các trường hợp theo luật định
+ Đối với thuế tài nguyên: Chứng từ là căn cứ xác định sản lượng tài nguyên thương phẩm khai thác, giá tính thuế và thuế suất tương ứng nhằm tính thuế tài nguyên phải nộp
+ Đối với các loại thuế khác (thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế nhà, đất; thuế chuyển quyền sử dụng đất) chứng từ cung cấp các thông tin có tính pháp lý để tính thuế như diện tích đất, sản lượng thu hoạch, đơn giá
Trang 14I.3.1.2 Tài khoản
Tài khoản kế toán dùng để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính theo nội dung kinh tế Hệ thống tài khoản bao gồm nhiều tài khoản nhất định được dùng trong đơn vị
Các tài khoản liên quan trực tiếp đến việc phản ánh từng loại thuế:
Số hiệu TK
1331 Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hóa dịch vụ
1332 Thuế GTGT được khấu trừ của tài sản cố định
3331 Thuế GTGT
33311 Thuế GTGT đầu ra
33312 Thuế GTGT hàng nhập khẩu
3332 Thuế tiêu thụ đặc biệt
3333 Thuế xuất, nhập khẩu
3334 Thuế thu nhập doanh nghiệp
3335 Thu trên vốn
3336 Thuế tài nguyên
3337 Thuế nhà đất, tiền thuê đất
3338 Các loại thuế khác
3339 Phí, lệ phí và các khoản phải nộp khácCác tài khoản này phản ánh cụ thể từng loại thuế phát sinh, được tập hợp theo kỳ kế toán và kỳ tính thuế, thể hiện mối quan hệ về nghĩa vụ với ngân sách nhà nước
Các tài khoản kế toán khác cũng gián tiếp cung cấp thông tin phục vụ cho việc tính thuế
Trang 15Sổ kế toán tương ứng tài khoản phản ánh các loại thuế ghi chép và tổng hợp từng loại thuế phát sinh trong đơn vị theo kỳ kế toán và kỳ tính thuế Các
sổ này cung cấp thông tin cụ thể cho việc lập và kiểm tra báo cáo thuế, báo cáo tài chính thể hiện:
+ Số thuế phát sinh trong kỳ, thuế đã khấu trừ, thuế đã nộp, thuế đã được hoàn lại, thuế được miễn giảm, thuế phải nộp thêm do truy thu hay thu hồi
+ Nghĩa vụ còn phải thực hiện với ngân sách nhà nước
Đồng thời, các sổ kế toán khác (tổng hợp, chi tiết) cũng cung cấp thông tin gián tiếp cho việc lập và kiểm tra báo cáo thuế và báo cáo tài chính như:
+ Thông tin về việc thanh toán qua ngân hàng của hàng hóa xuất khẩu: căn cứ vào sổ doanh thu hàng hóa xuất khẩu, sổ tiền gửi ngân hàng, sổ tiền mặt, sổ công nợ phải thu khách hàng
+ Số liệu về doanh thu và thu nhập chịu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp; Doanh thu và thu nhập không chịu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp: căn cứ vào sổ doanh thu và thu nhập khác
+ Chi phí hợp lý được trừ vào thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp: căn cứ vào sổ kế toán các tài khoản chi phí được mở và ghi chép theo từng đối tượng kế toán (phân xưởng sản xuất, bộ phận quản lý, bộ phận bán hàng ), theo khoản mục chi phí (giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản lý, chi phí tài chính, chi phí khác), theo yếu tố chi phí (chi phí nguyên vật liệu, tiền lương tiền công, khấu hao tài sản, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác)
+ Tình hình tăng giảm nguồn vốn: sổ kế toán theo dõi vốn chủ sở hữu,
nợ phải trả, các quỹ
+ Các thông tin cần thiết khác cho việc tính thuế
Trang 16I.3.1.4 Báo cáo.
Báo cáo kế toán dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình hình hoạt động, kinh tế, tài chính của đơn vị theo yêu cầu của nhà quản lý đơn vị, của đơn vị cấp trên và theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Báo cáo kế toán gồm có: Báo cáo tài chính, báo cáo quản trị, báo cáo thuế, báo cáo tình hình thực hiện dự án, báo cáo thống kê
Để cơ quan thuế có thể quản lý, đánh giá được tình hình hoạt động, tài chính và đánh giá việc chấp hành pháp luật của các đơn vị nộp thuế (cá nhân,
tổ chức sản xuất kinh doanh), Nhà nước quy định các đơn vị nộp thuế có nghĩa vụ cung cấp cho cơ quan thuế các báo cáo thuế định kỳ theo quy định của Luật thuế và các báo cáo tài chính theo quy định của Luật kế toán
a Báo cáo thuế
Báo cáo thuế được lập theo quy định của Luật thuế và được gửi cho cơ quan thuế định kỳ hàng tháng, quý và năm Trên cơ sở những báo cáo này, cơ quan thuế cập nhật thông tin về số thuế phát sinh, doanh thu bán hàng, tình hình sử dụng hóa đơn, tăng giảm vốn, tình hình thực hiện các hợp đồng mua bán của đơn vị vào hồ sơ quản lý thuế Từ đó có thể đánh giá việc chấp hành pháp luật của đơn vị, phát hiện những nghi vấn về gian lận, trốn thuế để
có những biện pháp ngăn ngừa kịp thời
Báo cáo thuế hàng tháng cơ bản gồm có (Phụ lục 4, trang 9-20)
* Đối với cơ sở kinh doanh kê khai thuế theo hình thức khấu trừ:
+ Tờ khai thuế giá trị gia tăng;
+ Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ bán ra;
+ Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào;
+ Bảng kê thu mua hàng hóa mua vào không có hóa đơn;
+ Bảng kê hàng hóa, dịch vụ mua vào có hóa đơn bán hàng, hóa đơn
thu mua hàng nông, lâm, thủy sản;
Trang 17+ Bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ
* Đối với cơ sở kinh doanh tính thuế theo phương pháp trực tiếp:
+ Tờ khai thuế giá trị gia tăng
* Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh và xây dựng lắp đặt kê khai tạm nộp thuế theo tỷ lệ %:
+ Tờ khai thuế giá trị gia tăng
b Báo cáo tài chính
Đơn vị có nghĩa vụ cung cấp báo cáo tài chính cho cơ quan thuế định
kỳ hàng năm Báo cáo tài chính được lập và gửi cho các cơ quan nhà nước theo quy định tại Quyết định 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 về việc ban hành Chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp và được sửa đổi bổ sung theo các Thông tư của Bộ tài chính hướng dẫn các Chuẩn mực kế toán như: Thông tư 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002, Thông tư 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003, Thông tư 23/2005/TT-BTC ngày 30/03/2005 Báo cáo tài chính gồm có: Bảng cân đối kế toán, Kết quả hoạt động kinh doanh, Lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính
Với những thông tin được cung cấp trên báo cáo tài chính, cơ quan thuế
có thể đánh giá được tình hình tài chính; kết quả hoạt động kinh doanh; việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước: thuế phát sinh, thuế được hoàn, thuế đã nộp; những thông tin thay đổi của đơn vị trong niên độ; thống kê các chỉ tiêu kinh tế tài chính vào hồ sơ quản lý thuế nhằm theo dõi, quản lý và đánh giá
I.3.1.5 Phương pháp hạch toán, ước tính kế toán
I.3.1.5.1 Phương pháp hạch toán kế toán thuế
Phương pháp hạch toán kế toán thuế tuân thủ theo nguyên tắc hạch
toán kế toán và những quy định của các Luật thuế (Phụ lục số 5, trang 20-25
Trang 18I.3.1.5.2 Phương pháp ước tính kế toán
Các ước tính kế toán nhằm mục đích xác định một cách phù hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một niên độ kế toán Đồng thời, các phương pháp ước tính kế toán cũng ảnh hưởng đến số thuế phải nộp trong kỳ tính thuế Các ước tính có thể kể đến như:
- Phương pháp tính giá xuất hàng tồn kho;
- Phương pháp xác định chênh lệch tỷ giá;
- Tỷ lệ phân bổ, khấu hao;
- Phương pháp đánh giá chi phí sản xuất sản phẩm dở dang;
- Thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn giảm trong các trường hợp
ưu đãi đầu tư mở rộng tương ứng tỷ lệ giá trị tài sản đầu tư mở rộng;
- Tỷ lệ, mức khống chế chi phí hợp lý được trừ vào thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ tính thuế;
- Phương pháp xác định giá trị gia tăng làm căn cứ tính thuế giá trị gia tăng đối với cơ sở sản xuất kinh doanh áp dụng phương pháp trực tiếp: Mức doanh thu ấn định, tỷ lệ giá trị gia tăng ấn định;
Trang 19- Phương pháp xác định thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các cơ sở nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo cơ chế khoán: Mức doanh thu ấn định,
tỷ lệ thu nhập chịu thuế ấn định;
Ngoài ra còn có các phương pháp khác
I.3.2 Luật thuế chi phối đến hệ thống kế toán
Nhà nước quản lý các doanh nghiệp thông qua công cụ luật pháp Thông qua công cụ kế toán, doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu quản lý cho Nhà nước
Thuế là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh theo định hướng phát triển chung Chính vì vậy, Luật thuế tác động trực tiếp đến hệ thống kế toán của doanh nghiệp, góp phần tạo nên các nội dung, biểu mẫu, nguyên tắc, phương pháp của việc ghi chép, chứng từ, tài khoản, sổ sách, báo cáo kế toán, ước tính Do vậy, khi Luật thuế
có sự thay đổi thì sẽ kéo theo sự thay đổi của hệ thống kế toán doanh nghiệp
I.3.3 Sự khác biệt trong việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế theo chế độ kế toán và theo Luật thuế
Luật thuế và chế độ kế toán cùng chi phối đến hoạt động của doanh nghiệp Nội dung của Luật thuế và chế độ kế toán có sự khác biệt tương đối Năm 2003 trở về trước, doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý nhà nước chưa có sự phân biệt rõ ràng sự sai biệt giữa thuế và kế toán do chưa có quy định cụ thể Do vậy người làm công tác kế toán gặp rất nhiều khó khăn trong việc ghi chép nghiệp vụ kinh tế phát sinh đảm bảo phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động đúng quy định của chế độ kế toán và đồng thời đúng theo quy định của Luật thuế Mặc dù người làm kế toán hiểu rõ một nghiệp vụ nếu theo chế độ kế toán thì cần phải ghi chép để lợi nhuận kế toán phản ánh đúng tình hình sản xuất kinh doanh, tuy nhiên theo quy định của Luật thuế thì không được phản ánh nghiệp vụ đó hoặc phản ánh nhiều hơn hoặc phản ánh
Trang 20chỉ một phần để tính vào thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu làm theo quy định của chế độ kế toán thì khi cơ quan thuế khi thanh kiểm tra sẽ không những không chấp nhận khoản mục đó mà còn xử phạt vi phạm Do vậy, người kế toán thường làm theo quy định của Luật thuế Trong quan điểm của họ, họ làm như thế nào mà cơ quan thuế chấp nhận là được chứ không nhất thiết phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định kế toán
Từ năm 2004 đến nay, Nhà nước đã cụ thể hóa sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, đảm bảo việc phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tuân thủ đúng quy định của chế độ kế toán và quy định của Luật thuế Bộ tài chính đã ban hành Thông tư 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, trong Thông tư đã ban hành "tờ khai tự quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp" hướng dẫn cụ thể việc điều chỉnh từ lợi nhuận kế toán sang thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp phản ánh nghiệp
vụ kinh tế phát sinh trong niên độ và lập báo cáo tài chính theo quy định của chế độ kế toán Khi lập báo cáo quyết toán thuế, doanh nghiệp sẽ tự điều chỉnh các khoản mục đã phản ánh sang các khoản mục theo quy định của Luật thuế để tính ra thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Cơ quan thuế sẽ căn
cứ vào "tờ khai tự quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp" để thanh kiểm tra cũng như quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp Hiện nay, mẫu "tờ khai tự quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp" đã được sửa đổi theo Thông tư 88/2004/TT-BTC ngày 01/09/2004, Thông tư 128/2004/TT-BTC ngày
27/12/2004 của Bộ tài chính (Phụ lục số 6, trang 26-29)
Năm 2005, Bộ tài chính ban hành chuẩn mực kế toán số 17 "Thuế thu nhập doanh nghiệp" theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 21Sự khác nhau cơ bản các khoản mục tạo ra lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế có thể kể đến như sau:
Một là, nguyên tắc ghi nhận doanh thu:
- Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 " Doanh thu và thu nhập khác" (ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của
Bộ Tài chính), doanh thu được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện:
Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
- Theo quy định của Luật thuế:
Đối với hàng hóa: Khi doanh nghiệp đã xuất hóa đơn hoặc chuyển giao sở hữu hàng hóa
Đối với dịch vụ: Khi doanh nghiệp đã xuất hóa đơn hoặc hoàn thành dịch vụ
Hai là, nghiệp vụ trao đổi hàng hóa dịch vụ để lấy hàng hóa dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị
- Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14: Không ghi nhận doanh thu
- Theo Luật thuế: kế toán phải ghi nhận doanh thu, lập hóa đơn bán hàng theo quy định
Ba là, khoản tiền nhận trước của dịch vụ đã phát sinh liên quan đến nhiều niên độ kế toán như cho thuê tài sản, dịch vụ bảo trì,
Trang 22- Theo chuẩn mực kế toán số 14: Ghi nhận doanh thu tương ứng giá trị tính trong một niên độ
- Theo Luật thuế: Đơn vị có thể chọn một trong hai cách: ghi nhận doanh thu tương ứng phần giá trị được phân bổ trong một niên độ hoặc ghi nhận toàn bộ giá trị tương ứng khoản tiền đã nhận
Bốn là, Doanh thu chưa thực hiện của khoản đánh giá chênh lệch tỷ giá cuối kỳ Kế toán ghi nhận vào doanh thu nhưng Luật thuế thì không ghi nhận vào thu nhập chịu thuế
Năm là, thời gian của niên độ: Doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp được tổng kết trong niên độ trùng với niên độ tài chính của kế toán Doanh thu kê khai thuế giá trị gia tăng theo năm dương lịch Vì vậy, đối với Doanh nghiệp có niên độ kế toán khác với năm dương lịch thì niên độ tính thuế thu nhập doanh nghiệp khác niên độ kê khai thuế giá trị gia tăng
b Chi phí
Trong niên độ sẽ có một số khoản mục chi phí được ghi nhận là chi phí
kế toán để trừ vào lợi nhuận kế toán nhưng không phải là chi phí hợp lý để trừ vào thu nhập chịu thuế doanh nghiệp Có thể kể đến các loại chi phí sau:
Một là, tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, chủ hộ cá thể cá nhân kinh doanh Thù lao trả cho sáng lập viên, thành viên Hội đồng quản trị của các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất
Hai là, các khoản chi không có hóa đơn, chứng từ theo quy định của Luật thuế
Ba là, các khoản tiền phạt vi phạm hành chính Trong trường hợp tiền thu từ phạt vi phạm hợp đồng lớn hơn tiền chi ra để nộp phạt vi phạm hợp đồng thì khoản chênh lệch phải tính vào thu nhập chịu thuế, ngược lại chi lớn hơn thu thì không được tính là chi phí hợp lý trừ vào thu nhập chịu thuế
Trang 23Bốn là, các khoản chi theo quy định của Luật thuế được xem là không liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế như: chi ủng hộ các đoàn thể,
tổ chức xã hội, ủng hộ địa phương, chi từ thiện và các khoản chi khác không liên quan đến doanh thu chịu thuế
Năm là, chi phí chưa thực hiện của khoản đánh giá chênh lệch tỷ giá cuối kỳ
Sáu là, các khoản chi phí kế toán phát sinh nhưng vượt mức khống chế theo quy định của Luật thuế:
- Chi phí nguyên vật liệu vượt định mức;
- Mọi trường hợp tổn thất vật tư, hàng hóa sau khi được đền bù thiệt hại, bù đắp bằng quỹ dự phòng tài chính thì phần còn lại mới được đưa vào chi phí hợp lý;
- Tiền ăn giữa ca vượt quá lương tối thiểu của công chức Nhà nước;
- Phụ cấp đồng phục vượt mức quy định;
- Bồi dưỡng cho lao động nữ sinh con vượt mức quy định;
- Chi phí lãi vay ngoài (không phải vay từ ngân hàng, tổ chức tín dụng) vượt quy định;
- Tiền lãi vay được trả cho mục đích góp vốn pháp định, vốn điều lệ
- Chi phí khấu hao tài sản cố định vượt mức quy định
- Chi phí quản lý kinh doanh do công ty nước ngoài phân bổ vượt mức quy định
- Chi phí quảng cáo, tiếp thị, tiếp tân, khánh tiết, giao dịch, đối ngoại, hoa hồng môi giới, hội nghị và các loại chi phí khác theo thực chi vượt quá quy định
- Chi phí không hợp lý khác
Trang 24KẾT LUẬN CHƯƠNG I.
Kế toán là một công cụ cung cấp thông tin cho cơ quan thuế trong việc quản lý thuế Các yếu tố cấu thành của hệ thống kế toán như chứng từ, tài khoản, sổ sách, báo cáo, phương pháp hạch toán và các ước tính kế toán giúp tính toán, xác định đúng và đủ số thuế mà tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh có nghĩa vụ nộp cho ngân sách nhà nước Khi các yếu tố cấu thành nên
hệ thống kế toán thay đổi do sự thay đổi của chế độ kế toán hoặc do sự thay đổi trong chính sách tài chính, chính sách hoạt động của bản thân đơn vị kinh doanh thì sẽ ảnh hưởng đến số thuế mà đơn vị phải nộp Số thuế có thể tăng lên hoặc giảm xuống nhất thời trong từng kỳ tính thuế nhất định
Đồng thời, Luật thuế khi cải cách, đổi mới theo yêu cầu của tình hình thực tế và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, sẽ làm thay đổi các yếu tố cấu thành nên hệ thống kế toán doanh nghiệp như thay đổi về biểu mẫu, các phương pháp tính thuế Do vậy, hệ thống kế toán và hệ thống thuế có mối quan hệ qua lại với nhau, cùng chi phối đến hoạt động của đơn vị kinh doanh
Trang 25Chương II THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, HÀNH THU THUẾ HIỆN NAY
II.1 Thực trạng hệ thống kế toán trong việc cung cấp thông tin cho việc quản lý và hành thu thuế hiện nay
II.1.1 Việc chấp hành pháp luật.
Thực tiễn cho thấy không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không có sơ hở, khiếm khuyết Từ đó sẽ tồn tại việc các đối tượng lợi dụng,
cố tình lách luật hoặc gian lận để trục lợi cá nhân Do vậy ý thức chấp hành pháp luật là một nhân tố quan trọng nhất trong việc thực thi pháp luật, đóng góp công sức của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Ở Việt Nam hiện nay, nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế trong công tác thu thuế Do vậy, hiện tượng trốn thuế còn diễn ra phổ biến Đối với người tiêu dùng, họ chưa có thói quen lấy hóa đơn bán hàng khi mua hàng hóa, dịch vụ, vì vậy vô tình họ đã tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) trốn thuế Đối với các doanh nghiệp, đa số còn tồn tại tâm lý trốn thuế Họ cố tình làm sai quy định của Luật thuế để giảm thiểu số thuế phải nộp cho Ngân sách Nhà nước, thậm chí còn rút ruột, chiếm đoạt tiền của Nhà nước
Từ công tác thực tế cho thấy, trong các thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với chủ đầu
tư từ Nhật và Singapore là các doanh nghiệp chấp hành chính sách thuế tốt nhất Họ luôn thực hiện đúng các quy định về kê khai và nộp thuế Đối với
Trang 26họ, việc làm sai chính sách thuế - dù vô tình hay cố ý - là một việc làm rất xấu
hổ và không thể chấp nhận được
Theo thống kê kết quả tình hình thanh tra, kiểm tra thuế từ năm 1999
đến năm 2003 tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương (phụ lục 7, trang 30), việc chấp hành pháp luật thuế của các doanh nghiệp còn thấp, thể
hiện qua tỷ lệ của số đơn vị vi phạm trên số đơn vị được thanh tra, kiểm tra qua các năm: năm 1999: 37%; năm 2000: 66%; năm 2001: 88,5%; năm 2002: 81,8%; năm 2003: 75,7% Tỷ lệ doanh nghiệp vi phạm pháp luật tăng dần qua các năm, trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng cao nhất Số tiền thuế truy thu, thu hồi và tiền phạt vi phạm hành chính nộp vào Ngân sách Nhà nước là rất lớn và liên tục tăng qua các năm: năm 1999: 17,6 tỷ đồng; năm 2000: 15,9 tỷ đồng; năm 2001: 18,4 tỷ đồng; năm 2002: 20,6 tỷ đồng; năm 2003: 33,3 tỷ đồng Số tiền này là số tiền phát hiện tăng thêm qua thanh tra kiểm tra thuế, ngoài số tiền thuế mà doanh nghiệp đã nộp theo số tự kê khai của mình Điều này cho thấy, nếu như ngành thuế không đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra thì sẽ không chấn chỉnh được việc thực thi đúng pháp luật thuế kịp thời và số tiền thuế bị thất thu là rất lớn do các doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm chỉnh chính sách thuế cũng như chủ trương của Nhà nước
II.1.2 Tổ chức bộ máy kế toán.
Hiện nay, đa số các doanh nghiệp đã tổ chức được bộ máy kế toán tương đối tốt, đáp ứng được yêu cầu quản lý kế toán và phù hợp với ngành nghề và quy mô hoạt động Đội ngũ kế toán có số lượng vừa phải, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, được phân công phân nhiệm tương đối hợp lý Mối quan hệ giữa các phần hành kế toán với nhau và giữa bộ phận kế toán với các
bộ phận khác trong và ngoài doanh nghiệp được xây dựng tốt, đáp ứng việc cung cấp thông tin lẫn nhau một cách kịp thời và hiệu quả Do vậy, bộ máy kế
Trang 27toán tốt đã góp phần tiết kiệm chi phí, đáp ứng việc theo dõi các hoạt động kinh tế tài chính và cung cấp thông tin theo yêu cầu bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Tuy nhiên còn tồn tại nhiều doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài quy mô nhỏ chưa tổ chức tốt bộ máy kế toán Nguyên tắc bất kiêm nhiệm thường bị vi phạm Mối quan hệ gia đình trong doanh nghiệp đã gây hạn chế sự độc lập trong nghiệp vụ kế toán, thậm chí còn nhiều chủ doanh nghiệp còn gây áp lực bắt buộc nhân viên kế toán làm sai pháp luật
để trốn thuế
Trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhân viên kế toán thường làm việc không lâu dài, hay thay đổi thường xuyên Do đó, công tác ghi chép kế toán, công tác lưu trữ không liên tục và không có hệ thống, gây khó khăn trong việc phản ánh nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh cũng như việc cung cấp thông tin kế toán đúng quy định
Qua kết quả từ thăm dò ý kiến (Phụ lục 8, trang 31-36 ), đa số các
doanh nghiệp còn xa lạ với việc tổ chức bộ phận kế toán quản trị và bộ phận kiểm toán độc lập Chỉ có rất ít các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với quy mô lớn mới xem trọng hai bộ phận này
II.1.3 Chứng từ
II.1.3.1 Kết quả đạt được
Chứng từ kế toán được hầu hết các doanh nghiệp sử dụng đúng theo quy định của chế độ kế toán và Luật thuế Chứng từ được sử dụng đúng mẫu biểu và nội dung quy định, đáp ứng được yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, đảm bảo tính pháp lý của chứng từ Hầu hết các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh đều được lập chứng từ ghi chép ban đầu: phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập, phiếu xuất hoặc phiếu hạch toán để làm căn cứ vào sổ sách kế toán
Trang 28Chứng từ kế toán với chức năng cơ sở pháp lý, đã giúp cho doanh nghiệp cũng như cơ quan thuế xác định đúng, đủ số thuế phải nộp, đồng thời
là bằng chứng để xác định đúng tính chất, mức độ vi phạm pháp luật của doanh nghiệp để từ đó có các biện pháp hướng dẫn, xử lý đúng quy định
II.1.3.2 Tồn tại, hạn chế
a Trong việc quản lý và sử dụng chứng từ
Nhiều doanh nghiệp còn quản lý và sử dụng chứng từ chưa đúng quy định, điển hình qua kết quả thanh tra kiểm tra thuế từ năm 1999 đến năm
2003 tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương (phụ lục 7, trang 30), số lỗi vi phạm trong việc quản lý và sử dụng hóa đơn trên số doanh
nghiệp được thanh kiểm tra qua các năm như sau: Năm 1999: 69/308; năm 2000: 114/265; năm 2001: 161/295; năm 2002: 176/346; năm 2003: 225/523
Có thể kể đến các trường hợp vi phạm như sau:
- Lập hóa đơn chứng từ chưa đầy đủ các nội dung như hóa đơn không
có chữ ký người mua hàng, thủ trưởng đơn vị
- Một số nghiệp vụ không lập chứng từ theo quy định như hoạt động thanh lý tài sản, hàng hóa xuất dùng nội bộ, biếu, tặng, khuyến mại
- Chứng từ bị thất lạc, lưu trữ chưa khoa học
* Một là, nhận hóa đơn đầu vào được lập với nội dung không giống nhau giữa các liên của cùng một số seri
Trong việc quản lý cũng như thanh kiểm tra thuế, cơ quan thuế thường xuyên thực hiện công tác xác minh hóa đơn Cơ quan thuế sẽ gửi nội dung hóa đơn có nghi ngờ của doanh nghiệp mua hoặc bán đến cơ quan thuế địa phương nơi quản lý doanh nghiệp bán hoặc mua hàng hóa dịch vụ để xác định việc kê khai các hóa đơn này như thế nào Trong thời gian vừa qua, cơ quan thuế đã phát hiện rất nhiều trường hợp mà các liên hóa đơn của cùng một số
Trang 29seri có nội dung không giống nhau, thường là liên lưu tại đơn vị bán có giá trị
và số lượng thấp hơn liên giao cho người mua hàng Có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc vi phạm:
- Bên bán hàng cố tình thực hiện để trốn thuế Bên mua hàng vô tình nhận hóa đơn sai lệch nêu trên do không kiểm tra và ký tên trên tất cả các liên hóa đơn của bên bán hàng;
- Bên mua hàng và Bên bán hàng thông đồng với nhau nhằm giảm số thuế phải nộp, tăng số thuế được giảm trừ (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp)
Theo quy định, cơ quan thuế phải xác định rõ hành vi vi phạm do bên bán hàng hay bên mua hàng thực hiện, sau đó sẽ xử lý bên vi phạm và chấp nhận hóa đơn hợp pháp cho bên không vi phạm Trong thực tế, việc xác định bên nào vi phạm, có sự thông đồng hay không là hết sức khó khăn Do đó cơ quan thuế thường có biện pháp áp dụng ngay là không chấp nhận hóa đơn hợp pháp cho bên mua hàng, tức là bên mua hàng không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng và hạch toán chi phí hợp lý Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp là đơn
vị mua hàng không có vi phạm, việc xử lý như vậy là không hợp lý, chẳng những ảnh hưởng đến tình hình tài chính của đơn vị mà còn ảnh hưởng lớn đến uy tín, tình hình sản xuất kinh doanh
* Hai là, hợp thức hóa hàng hóa dịch vụ mua vào không hợp pháp, dùng hóa đơn chứng từ giả, tẩy xóa nội dung chứng từ
Hàng hóa dịch vụ mua vào không hợp pháp là hàng hóa dịch vụ do các
tổ chức, cá nhân cung cấp nhưng không thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc không
có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Sau khi mua hàng hóa dịch vụ không hợp pháp, doanh nghiệp sẽ thông đồng với các doanh nghiệp khác để mua hóa đơn chứng từ khống (thực tế không có hàng hóa dịch vụ phát sinh) để hợp thức hóa nguồn hàng hóa dịch vụ Điển hình như các trường hợp: Dùng hóa đơn
Trang 30khống để hợp thức hóa gỗ lậu, hợp thức hóa máy móc mua trôi nổi; dùng hóa đơn tiếp khách để thay thế cho chi phí mua công cụ, gia công ngoài không có hóa đơn; các cá nhân không đăng ký kinh doanh mượn tư cách pháp nhân để xuất hóa đơn Các hóa đơn chứng từ này là những hóa đơn chứng từ thật, có đăng ký sử dụng và được phép lưu hành theo quy định của pháp luật Nhưng nội dung kinh tế được lập là hoàn toàn giả, không đúng với bản chất của giao dịch kinh tế hoặc thực tế không có giao dịch kinh tế xảy ra Người kiểm tra kế toán khó có thể kiểm tra được tính có thực của giao dịch kinh tế này
Một số doanh nghiệp có hành vi tẩy xóa nội dung hóa đơn chứng từ hoặc mua hóa đơn giả để hợp thức hóa chi phí, khai man trốn thuế
Qua công tác xác minh hóa đơn, cơ quan thuế đã phát hiện được nhiều trường hợp gian lận và xử lý thu lại tiền thuế với giá trị lớn Đối với hóa đơn giả và hóa đơn có nội dung không giống nhau giữa các liên, cơ quan thuế sẽ phát hiện ra sự gian lận Đối với hóa đơn hợp thức hóa thì khó có thể phát hiện được, thậm chí tại thời điểm xác minh, doanh nghiệp bán hàng đã bỏ trốn hoặc đã giải thể Mặt khác, công tác xác minh hiện nay còn nhiều hạn chế do chưa được tổ chức khoa học, chưa có sự ứng dụng công nghệ thông tin Số lượng hóa đơn xác minh được trả lời, xác nhận rất ít so với số lượng gửi đi và thời gian thực hiện rất chậm, từ vài tháng đến vài năm Do vậy, việc xử lý thường không kịp thời và gặp nhiều khó khăn
Chứng từ khống là chứng từ ghi nhận nghiệp vụ kinh tế tài chính giả hoặc thực tế không có phát sinh để tăng chi phí, hợp thức hóa hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, hàng lậu Thực tế có thể kể đến những chứng từ sau:
Doanh nghiệp lập chứng từ là bảng kê thu mua hàng hóa khi mua các loại hàng hóa, dịch vụ sau:
Trang 31- Sản phẩm nông, lâm, thủy sản do người nông dân trực tiếp làm ra như: mây, tre, lá, cói, dừa, cọ, rau quả hoặc tự khai thác như: đất, đá; cát, sỏi, tôm, cá
- Phế liệu của người trực tiếp thu nhặt
- Sản phẩm thủ công mỹ nghệ của các nghệ nhân không kinh doanh
- Một số dịch vụ của của cá nhân không kinh doanh, không có hóa đơn chứng từ theo chế độ quy định
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định chứng từ kế toán trong trường hợp này là bảng kê mua hàng hóa dịch vụ của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không có hóa đơn chứng từ và được lập trên cơ sở chứng từ thanh toán Bảng kê thể hiện tên người bán, tên hàng hóa dịch vụ, số lượng, đơn giá, thành tiền Giám đốc cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm trước pháp
luật về tính trung thực của bảng kê (Phụ lục số 4, trang 14)
Trong thực tế, các doanh nghiệp thường lợi dụng điểm này để kê số lượng mua tăng hơn nhiều lần so với thực tế, kê khống tên người bán nhằm để giảm chi phí hoặc hợp thức hóa hàng hóa mua không hợp pháp
Hiện nay, Luật thuế và chế độ kế toán chưa có quy định về việc xác nhận của chính quyền địa phương về tư cách của các cá nhân cư ngụ trên địa phương và cũng như xác nhận họ có hoạt động kinh doanh hay không khi có
sự giao dịch mua bán với các doanh nghiệp Đồng thời, công tác xác minh của
cơ quan chức năng thực tế cũng không hiệu quả do doanh nghiệp thường kê khai địa chỉ thu mua ở nhiều nơi xa xôi khác nhau, số lượng người bán nhiều Đồng thời không có sự hợp tác của chính quyền địa phương và các cá nhân trong quá trình xác minh Do đó việc kiểm tra tính có thực của giao dịch mua bán, sự hiện hữu của người bán, tính trung thực của số lượng và giá trị gặp nhiều khó khăn và chưa có biện pháp để phát hiện những gian lận này
Trang 32* Bảng tính lương, tiền công
Chứng từ ghi nhận chi phí tiền lương, tiền công là bảng chấm công; bảng thanh toán tiền lương, thưởng, bảo hiểm; hợp đồng lao động; hợp đồng giao khoán công việc; phiếu xác nhận công việc hoàn thành; thỏa ước lao động tập thể Các chứng từ này bắt buộc phải lập đối với các doanh nghiệp nhà nước nhưng mang tính hướng dẫn đối với các doanh nghiệp khác
Đối với doanh nghiệp nhà nước:
- Luật thuế thu nhập quy định chi phí tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ luật lao động
- Tiền lương tiền công phải lập kế hoạch trước, được tính trên cơ sở doanh thu hoặc kết quả hoạt động và có sự phê duyệt của các cơ quan quản lý tài chính, cơ quan quản lý lao động, cơ quan quản lý cấp trên Hàng năm, các
cơ quan quản lý sẽ xét duyệt quyết toán theo kết quả hoạt động thực tế của doanh nghiệp Do đó khoản mục chi phí tiền lương, tiền công thường đúng thực tế và tương ứng kết quả kinh doanh
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh khác:
- Luật thuế thu nhập quy định chi phí tiền lương, tiền công trả cho người lao động căn cứ vào hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể
và đặc biệt là chưa có quy định mức khống chế với khoản mục tiền lương tiền công nên việc các doanh nghiệp tăng khống chi phí tiền lương tiền công làm giảm thu nhập chịu thuế là khá phổ biến Cơ quan thuế không có chức năng điều tra nên khó có thể xác định tính có thực của khoản mục này
Thực tế thường có các trường hợp khai man chi phí sau:
- Tăng thêm số lượng lao động, tiền công của lao động thời vụ làm việc tại doanh nghiệp;
- Tăng mức tiền lương tiền công của lao động dài hạn cao hơn nhiều so với thực tế chi trả, đồng thời lập hai bảng thanh toán lương khác nhau;
Trang 33- Lập các khoản phụ cấp và các khoản khác không có thật
* Lập hồ sơ giả về vay vốn của cá nhân để tăng chi phí tiền lãi vay
Khi doanh nghiệp thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư, Doanh nghiệp có thể vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng Hiện nay, với chủ trương khuyến khích tăng vốn đầu tư để mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, Nhà nước vẫn khuyến khích doanh nghiệp vay vốn từ các cá nhân không hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc chấp nhận tiền lãi vay từ cá nhân được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh và tạm thời chưa điều tiết thu nhập từ thu nhập tiền lãi cho vay vốn Trong trường hợp vay vốn từ cá nhân, chứng từ để hạch toán là: hợp đồng vay vốn, phiếu thu tiền, bảng tính lãi vay, chứng từ chi tiền lãi
Thực tế hiện nay còn tồn tại nhiều doanh nghiệp mà chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã lợi dụng điểm này để lập hồ sơ vay vốn cá nhân không có thật, lập phiếu thu tiền vay vốn bằng tiền mặt, phiếu chi lãi vay không có thật để đưa tiền lãi vay vào chi phí nhằm giảm lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế Việc kiểm tra chi phí lãi vay của cơ quan chức năng chỉ dừng lại ở mức đủ chứng từ, khó có thể xác minh được tính có thực của nghiệp vụ vay vốn do không thể kiểm soát được luồng tiền vào ra doanh nghiệp
* Sử dụng tiền vốn vay sai mục đích
Khi doanh nghiệp vay vốn với mục đích dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí lãi vay sẽ được tính cho hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu vay để đầu tư tài sản của doanh nghiệp thì lãi vay được vốn hóa vào giá trị tài sản nếu tài sản chưa đưa vào sử dụng, lãi vay được tính thẳng vào chi phí trong kỳ sau khi tài sản đã đưa vào sử dụng
Tuy nhiên, thực tế còn tồn tại một số doanh nghiệp vay vốn với mục đích dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư tài sản của doanh
Trang 34nghiệp nhưng lại dùng vào mục đích khác như chi tiêu cá nhân, đứng ra vay vốn thay cho cá nhân - tổ chức khác, vay để đầu tư cá nhân Lãi tiền vay lẽ ra không được đưa vào chi phí hợp lý để tính thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, nhưng việc kiểm tra mục đích sử dụng vốn khó có thể thực hiện do không đủ thông tin và cơ sở
* Lập hồ sơ tài sản không trung thực để tăng chi phí khấu hao, tăng giá trị tài sản
Hiện nay tồn tại vấn đề chuyển giá đầu vào đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài Công ty mẹ ở nước ngoài sẽ đưa máy móc thiết bị vào công ty con ở Việt Nam với giá trị cao hơn gấp nhiều lần so với giá trị thực tế tại nước ngoài Hồ sơ nhập khẩu vẫn đảm bảo mẫu biểu đúng quy định nhưng giá trị đã được chuyển giá Với máy móc có giá trị lớn hơn giá trị thực, công ty con ở Việt Nam sẽ tăng chi phí khấu hao nhằm làm giảm lợi nhuận, tăng giá trị tài sản để có lợi trong giao dịch kinh doanh và vay vốn
Vấn đề chuyển giá hiện nay Nhà nước chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả Đối với cơ quan thuế và cơ quan hải quan, việc kiểm tra chỉ dừng lại
ở việc hồ sơ nhập khẩu đảm bảo đầy đủ mẫu biểu theo quy định chứ không thể thẩm định được giá cả hàng nhập khẩu
* Lập biên bản kiểm kê hàng tồn kho cuối kỳ không đúng thực tế
Cuối niên độ kế toán, doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê thực tế tài sản, hàng tồn kho thực tế thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Sau đó lập biên bản kiểm kê, ghi nhận số lượng tồn kho thực tế, so sánh với số lượng tồn kho trên sổ sách kế toán, tìm nguyên nhân chênh lệch và xử lý chênh lệch Trên thực tế, các doanh nghiệp thường lập biên bản kiểm kê với số lượng thực tế bằng với sổ sách nhằm che đậy hành vi gian lận, sai sót
Trang 35* Lập hồ sơ giả về tiêu hủy hàng tồn kho, phế liệu, tài sản
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, thường có phát sinh phế liệu thu hồi từ sản xuất; sản phẩm, hàng hóa, tài sản bị hư hỏng, kém chất lượng hoặc hết hạn sử dụng Doanh nghiệp có thể xử lý bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm ngành nghề như: tận dụng bằng cách đưa vào phục vụ cho quá trình sản xuất (ví dụ: phế liệu gỗ là củi có thể xuất để nung lò, sấy gỗ), tái chế, bán ra bên ngoài hoặc tiêu hủy Chứng từ để hạch toán là Biên bản kiểm
kê, biên bản xử lý
Việc tiêu hủy sản phẩm được doanh nghiệp chủ động thực hiện, lập một hội đồng để hủy hàng gồm các bộ phận liên quan trong nội bộ doanh nghiệp, sau đó lập chứng từ hủy và căn cứ vào đó để hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh Việc hủy hàng không cần phải có sự chứng kiến của cơ quan chức năng, tổ chức, doanh nghiệp bên ngoài
Thực tế tồn tại nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng vào những quy định về tiêu hủy sản phẩm nêu trên để lập chứng từ khống nhằm giảm lượng hàng tồn kho, phế liệu, tài sản trên sổ sách mà thực tế đã bán nhưng không xuất hóa đơn và không kê khai thuế, không kê khai doanh thu bán hàng
Do hiện nay chưa có quy định việc chứng kiến của cơ quan chức năng trong việc hủy hàng nên không thể xác định được tính trung thực của việc tiêu hủy hàng hóa Do đó không thể phát hiện những hành vi tăng khống chi phí,
bỏ ngoài sổ sách doanh thu bán hàng và không kê khai nộp thuế của doanh nghiệp
Đối với hàng hóa xuất khẩu, khi đã hoàn tất hồ sơ hải quan xuất khẩu, hàng hóa đã thực xuất theo xác nhận của cơ quan hải quan, hóa đơn tài chính
đã được lập, doanh nghiệp sẽ ghi nhận doanh thu và công nợ phải thu đối với khách hàng Căn cứ vào chứng từ là giấy báo Có của ngân hàng về khoản tiền
Trang 36mà khách hàng đã thanh toán, doanh nghiệp sẽ ghi giảm khoản nợ phải thu tương ứng
Doanh nghiệp sẽ được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa dịch vụ mua vào phục vụ cho việc sản xuất cung ứng hàng hóa - dịch vụ
đã xuất khẩu khi đồng thời có đủ tất cả điều kiện sau đây theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng:
- Hợp đồng bán hàng hóa, gia công, cung ứng dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài Đối với trường hợp ủy thác xuất khẩu là hợp đồng ủy thác xuất khẩu và biên bản thanh lý hợp đồng ủy thác hoặc biên bản đối chiếu công nợ giữa 2 bên;
- Tờ khai hải quan xuất khẩu;
- Thanh toán qua ngân hàng hoặc cấn trừ vào tiền nợ vay nước ngoài hoặc thanh toán qua ngân hàng từ người thứ 3 theo ủy quyền của người nhập khẩu hoặc bù trừ hàng nhập khẩu
Hiện nay, việc xem xét chứng từ thanh toán qua ngân hàng gặp không
ít khó khăn do nội dung chứng từ không được ghi rõ ràng Cụ thể là không ghi
cụ thể thanh toán tiền cho bộ hồ sơ xuất khẩu nào (số invoice, số tờ khai hải quan, số hợp đồng mua bán), thanh toán cho mục đích gì; sổ phụ không ký tên Lợi dụng điểm này, các doanh nghiệp thường yêu cầu khách hàng chuyển tiền với bản chất là không phải thanh toán tiền hàng xuất khẩu như:
- Công ty mẹ chuyển tiền cho mục đích chi phí, thưởng hoặc tăng vốn đầu tư ở Việt Nam;
- Khách hàng trả tiền trước cho hàng hóa dịch vụ;
- Khách hàng trả tiền cho chi phí mà doanh nghiệp đã thanh toán hộ cho các chuyên gia làm việc ở Việt Nam;
- Khách hàng chuyển tiền cho mượn, cho vay
Trang 37Doanh nghiệp trong nước căn cứ vào chứng từ thanh toán qua ngân hàng trên, cố tình kê khai khoản tiền đó là tiền thanh toán cho hàng hóa dịch
vụ đã xuất khẩu nhằm khấu trừ thuế, hoàn thuế giá trị gia tăng Trên thực tế
có thể lô hàng hóa đó khách hàng không chấp nhận thanh toán do không đạt chất lượng, hư hỏng, đổ vỡ hoặc doanh nghiệp đã thu bằng tiền mặt nhưng để ngoài sổ sách
Chứng từ để ghi nhận doanh thu chịu thuế là hóa đơn Hóa đơn phải được lập thành nhiều liên, ghi cùng một nội dung kinh tế, lập cho cùng một khách hàng Giá cả, số lượng hàng hóa được xác định theo thỏa thuận giữa bên mua và bên bán trên cơ sở chi phí sản xuất, lợi nhuận của bên bán và tuân theo quy luật cung cầu Hóa đơn phải ghi đúng bản chất của giao dịch kinh tế Hóa đơn phải luôn luôn được lập khi đã bán hàng hóa dịch vụ, bất kể là người mua có nhận hóa đơn hay không, đã thanh toán tiền hay chưa thanh toán tiền
Các doanh nghiệp không chấp hành pháp luật có hành vi trốn thuế thông qua việc lập hóa đơn bán hàng nhằm che giấu doanh thu, giảm số thuế phải nộp cho Nhà nước hoặc tiếp tay cho các đối tượng khác trốn thuế, hợp thức hóa hàng hóa không hợp pháp Có các trường hợp chủ yếu sau:
* Doanh nghiệp không lập hóa đơn bán hàng khi đã bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ
Các doanh nghiệp này thường thuộc các ngành nghề mà khách hàng chủ yếu là người dân - người tiêu dùng cuối cùng Hiện nay người dân chưa
có thói quen lấy hóa đơn khi mua hàng hóa dịch vụ, điều này gián tiếp tạo điều kiện cho doanh nghiệp có hành vi trốn thuế Người dân không lấy hóa đơn nên doanh nghiệp cố tình không lập hóa đơn khi bán hàng Từ đó không
kê khai doanh thu, thuế phải nộp
Trang 38Điều đáng nói là việc vi phạm pháp luật nói trên lại tồn tại thành thói quen phổ biến hiện nay Khi đi ăn uống tại các nhà hàng, quán ăn, khách hàng nếu lấy hóa đơn đỏ thì được người bán yêu cầu phải thanh toán thêm 10% giá trị Khi mua các công cụ, máy móc, sản phẩm gia dụng tại các cửa hàng, khách hàng được báo giá với hai mức giá khác nhau ứng với việc lấy hóa đơn
và không lấy hóa đơn Từ việc không quen lấy hóa đơn hoặc ngại trả thêm tiền thuế, người tiêu dùng đã tiếp tay cho các doanh nghiệp khai man trốn thuế
* Lập hóa đơn bán hàng không đúng nội dung giữa các liên
Doanh nghiệp lập hóa đơn không đúng nội dung kinh tế nhằm mục đích gian lận thuế Có thể kể đến các trường hợp sau:
- Lập hóa đơn với số lượng và giá trị trên liên giao cho khách hàng cao hơn liên lưu để giảm doanh thu và giảm thuế phải nộp;
- Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho người này nhưng lại lập hóa đơn bán hàng cho người khác, tiếp tay cho hành vi gian lận;
- Lập hóa đơn với giá trị rất thấp so với giá thực trả của người tiêu dùng nhằm mục đích giấu doanh thu và trốn thuế;
- Ghi số lượng trên hóa đơn cao hơn thực tế rất nhiều để giảm lượng hàng tồn kho trên sổ sách thực tế không còn do đã bán hàng nhưng không xuất hóa đơn
Đối tượng mua hàng thường là người tiêu dùng trực tiếp, vì vậy cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn trong việc xác minh nội dung giao dịch kinh tế do không rõ lai lịch, địa chỉ người mua hàng và nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra rất lâu so với thời điểm kiểm tra
tự in chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép phát hành để bán hàng
Trang 39Qua thực tế làm việc, cơ quan chức năng đã phát hiện còn tồn tại một
số trường hợp doanh nghiệp đã sử dụng hóa đơn không hợp pháp để bán hàng Đồng thời doanh nghiệp không phản ánh doanh thu, không kê khai nộp thuế
II.1.4.Tài khoản
II.1.4.1 Kết quả đạt được
Hệ thống tài khoản kế toán được các doanh nghiệp áp dụng theo đúng quy định, vừa đáp ứng được yêu cầu phân loại của kế toán tài chính vừa thỏa mãn được yêu cầu quản trị
Qua bảng câu hỏi thăm dò thực tế (phụ lục số 8, trang 31-36), đa số các doanh nghiệp bằng lòng với hệ thống tài khoản kế toán hiện hành và xét thấy không cần phải hoàn thiện
II.1.4.2 Tồn tại, hạn chế
* Đối với nghiệp vụ nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng hóa
Trong trường hợp nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng, theo quy định của chế độ kế toán thì doanh nghiệp hạch toán như sau:
Trang 40- Cuối tháng, khấu trừ thuế giá trị gia tăng:
Nợ tài khoản 3331(33311, 33312)
Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng, đối với thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu, doanh nghiệp chỉ được khấu trừ thuế sau khi đã nộp thuế vào ngân sách Nhà nước và có biên lai nộp tiền do cơ quan hải quan cấp
Do đó, nếu thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu phát sinh trong tháng này nhưng nộp tiền vào ngân sách Nhà nước trong tháng sau thì sẽ có sự khác biệt giữa kế toán và thuế Số phát sinh ở tài khoản 133 sẽ không bằng với bảng kê hàng hóa dịch vụ mua vào Do vậy để khấu trừ thuế vào cuối kỳ, các doanh nghiệp còn nhiều bối rối trong việc xử lý:
- Một số doanh nghiệp khấu trừ luôn cả phần thuế giá trị gia tăng đầu vào hàng nhập khẩu chưa nộp vào ngân sách Nhà nước
- Một số doanh nghiệp phản ánh số thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu chưa nộp vào sổ sách kế toán nhưng chưa kê khai, khấu trừ thuế Nghiệp vụ này được theo dõi bằng cách ghi chú trên sổ sách kế toán hoặc trên sổ được
mở ngoài hệ thống kế toán
- Có doanh nghiệp mở thêm tài khoản chi tiết của tài khoản thuế giá trị gia tăng đầu vào 133 để phản ánh số thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu chưa nộp cho nhà nước
* Đối với nghiệp vụ xuất khẩu hàng hóa
Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đa số đều xuất khẩu hàng hóa theo phương thức FOB Hàng hóa chuyển giao quyền sở hữu tại cửa khẩu Việt Nam Sau khi hàng giao và hoàn thành thủ tục hải quan, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ lập hóa đơn bán hàng và ghi nhận doanh thu bán hàng
Tuy nhiên, đối với trường hợp hàng hóa xuất khẩu với các phương thức
mà địa điểm chuyển giao quyền sở hữu nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam (như