Tình hình nghiên cứu Thi hành hình phạt tử hình là một vấn đề đặc biệt quan trọng, hiện nay đã có một số nhà luật học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu như: Tiến sỹ Giang Sơn, Văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LUẬT
=== ===
NGUYỄN THỊ NHƯ NGỌC
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH SO SÁNH VỚI MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT TƯ PHÁP
NGHỆ AN - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LUẬT
=== ===
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH SO SÁNH VỚI MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT TƯ PHÁP
Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN THỊ THANH TRÂM Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ NHƯ NGỌC Lớp: 50B4 - Luật
Mã số SV: 0955033474
NGHỆ AN - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứuthực sự của cá nhân được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiếnthức chuyên ngành, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng
dẫn khoa học của giảng viên Nguyễn Thị Thanh Trâm.
Các số liệu, bảng biểu và những kết quả trong khóa luận là trung thực;các nhận xét, giải pháp đưa ra là xuất phát từ thực tiễn và sự nghiên cứu củabản thân
Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên
Vinh, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Như Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Luật tư pháp
với đề tài: “Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam về thi hành hình phạt tử hình So sánh với một số nước trên thế giới”
tôi đã nhận được sự động viên, quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô,gia đình và bạn bè
Để hoàn thành bài khóa luận này, tự đáy lòng tôi xin được gửi lời cảm
ơn chân thành nhất tới Nhà trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm Khoa Luật,cùng các thầy, cô giáo trong tổ bộ môn Luật Tư pháp đã trang bị cho tôinhững kỹ năng, kiến thức trong suốt quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin gửi lờicảm ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Thanh Trâm, người đã trực tiếp hướngdẫn, chỉ bảo, giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này
Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Tổng cục cảnh sát thihành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an, 175 Phố Định Công, QuậnHoàng Mai, Hà Nội; Phòng Thư ký Tòa án nhân dân tối cao… cùng các ban,ngành đoàn thể đã tạo điều kiện cho tôi có thể hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do những hạn chế nhất định về mặtthời gian cũng như thực tiễn nên chắc chắn khóa luận này không thể tránhkhỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến nhận xét,đánh giá của các thầy, cô giáo để giúp tôi hoàn thiện hơn nữa khóa luận tốtnghiệp của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Như Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận 3
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của khóa luận 4
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và ý nghĩa của khóa luận 4
6 Kết cấu của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 6
1.1 Khái quát chung về thi hành hình phạt tử hình 6
1.1.1 Khái niệm thi hành hình phạt tử hình 6
1.1.2 Đặc điểm của thi hành hình phạt tử hình 7
1.1.3 Các hình thức thi hành hình phạt tử hình 7
1.1.4 Ý nghĩa của chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 10
1.2 Các quy định về thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 11
1.2.1 Điều kiện áp dụng và thi hành hình phạt tử hình 12
1.2.2 Các cơ quan có nhiệm vụ thi hành hình phạt tử hình 15
1.2.3 Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình 17
1.3 Các quy định về thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số nước trên thế giới 28
1.3.1 Chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự của Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 28
1.3.2 Chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự của Vương quốc Nhật Bản 32
Trang 61.3.3 Chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình
sự của Cộng hòa Liên bang Nga 35
Trang 7CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH Ở
VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 37
2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chế định thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay 37
2.1.1 Thực tiễn thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay 37
2.1.2 Một số tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng chế định thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay 45
2.2 Tình hình áp dụng chế định thi hành hình phạt tử hình ở một số nước trên thế giới hiện nay 47
2.3 Một số quan điểm về việc nên hay không nên áp dụng hình phạt tử hình 50
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 57
3.1 Một số định hướng nhằm hoàn thiện chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 57
3.2 Các giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay 58
3.2.1 Hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về thi hành hình phạt tử hình 58
3.2.2 Hoàn thiện công tác tổ chức thi hành án tử hình 64
3.2.3 Tăng cường công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lập pháp hình sự và thi hành hình phạt tử hình 66
3.2.4 Tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật 67
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 BLHS : Bộ luật Hình sự
2 BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
3 HĐTHATH : Hội đồng thi hành án tử hình
4 LTHAHS : Luật Thi hành án hình sự
5 TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
6 VKSNDTC : Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
7 XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, nền kinh
tế thị trường đã mở ra cho nước ta những cơ hội thuận lợi nhằm tranh thủnguồn vốn đầu tư, các thành tựu khoa học công nghệ để phát triển kinh tế đấtnước; nhưng bên cạnh đó, cũng đặt nước ta trước muôn ngàn khó khăn thửthách Đó là mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến tình hình tội phạm
ở nước ta hiện nay diễn biến rất phức tạp Các vụ án giết người, cướp tài sản,hiếp dâm, tham nhũng, buôn lậu, các tội phạm về ma túy,… xảy ra ngày càngnhiều với tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng Tình hình trên khôngchỉ xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, lợi ích củaNhà nước mà còn gây thiệt hại đến nền kinh tế, chính trị của đất nước, giảmlòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Thậm chí, còn tạo cơ hội chocác thế lực thù địch lợi dụng để chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam
Trước tình hình đó, đòi hỏi các cơ quan bảo vệ pháp luật cần phải có sựquan tâm đúng mức và đề ra những biện pháp hữu hiệu nhất nhằm ngăn chặn,phòng ngừa và đẩy lùi tình hình tội phạm nói trên Để đáp ứng yêu cầu đó,trước hết các cơ quan chức năng cần xây dựng và hoàn thiện các quy định củapháp luật về hình phạt và thi hành hình phạt phù hợp, đảm bảo xử lý kịp thời,nghiêm minh và hiệu quả nhất Một trong những chế định pháp luật liên quanđến hình phạt mà chúng ta cần quan tâm hàng đầu là vấn đề hoàn thiện cácquy định về thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự ở nước ta giaiđoạn hiện nay
Mặt khác, do tính chất đặc biệt là hình phạt nghiêm khắc nhất nhằmtước bỏ quyền sống của người bị kết án nên thi hành hình phạt tử hình đang làmột vấn đề quan trọng được cả nhân loại quan tâm Hiện nay, không chỉ ởViệt Nam mà trên thế giới cũng đang có rất nhiều quan điểm tranh luận xoayquanh vấn đề có nên duy trì hay xóa bỏ hình phạt tử hình Dựa trên những cơ
Trang 10sở nào để nước ta thi hành hình phạt tử hình, những bất cập và giải pháp hoànthiện công tác thi hành án tử hình trong giai đoạn hiện nay để có thể đảm bảoyêu cầu phòng chống tội phạm ở Việt Nam trong thời gian tới và phù hợp với
xu thế phát triển chung của thế giới? Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng màchúng ta cần nghiên cứu, giải quyết
Xuất phát từ tầm quan trọng đó, em xin chọn vấn đề “Hoàn thiện các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thi hành hình phạt tử hình So sánh với một số nước trên thế giới” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
cho mình Do những hạn chế nhất định về mặt lý luận cũng như thực tiễn nên
có thể khóa luận của em vẫn còn một số chỗ chưa thật sự chính xác và đầy đủ
Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, bổ sung của các thầy, cô nhằm giúp emhoàn thiện hơn nữa bài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Thi hành hình phạt tử hình là một vấn đề đặc biệt quan trọng, hiện nay đã
có một số nhà luật học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu như: Tiến sỹ
Giang Sơn, Văn phòng Chủ tịch nước đã có công trình “Một số vấn đề về thi hành hình phạt tử hình”, (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9, năm 1996); Tòa
án nhân dân tối cao có công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Áp dụng và thi hành hình phạt tử hình- Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Tòa án nhân dân
tối cao, Hà Nội, 2002); Thạc sỹ Vũ Trọng Hách, Học Viện Hành Chính Quốc
gia có công trình “Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về thi hành án ở nước ta hiện nay” (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5, năm 2002);…
Các công trình kể trên có đề cập đến các khía cạnh khác nhau về thihành hình phạt tử hình, tuy nhiên chưa một đề tài nào nghiên cứu một cáchsâu sắc về vấn đề hoàn thiện chế định thi hành hình phạt tử hình ở Việt Namhiện nay kể từ khi Luật Thi hành án hình sự năm 2010 ra đời dưới góc độ sosánh với một số nước trên thế giới
Trang 113 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
* Mục đích của khóa luận là làm sáng tỏ một cách toàn diện, có hệ thốngcác vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tử hình; trình bày, phân tích, đánh giámột cách trung thực, sâu sắc nhất về thực tiễn thi hành hình phạt tử hình ở ViệtNam hiện nay dưới tác động của Luật Thi hành án hình sự năm 2010; kết hợp
so sánh với chế định thi hành hình phạt tử hình ở một số nước trên thế giớinhằm làm nổi bật những điểm tiến bộ, những thành quả đã đạt được, đồng thờicũng làm rõ những mặt hạn chế trong công tác thi hành án tử hình ở nước ta để
từ đó góp phần hoàn thiện chế định thi hành án tử hình ở Việt Nam trong giaiđoạn tới nhằm đẩy lùi tình hình tội phạm đang diễn biến hết sức phức tạp
* Để đạt được mục đích đã trình bày ở trên, tác giả lần lượt đi vào giảiquyết các nhiệm vụ sau đây:
Về mặt lý luận, khóa luận trình bày các nội dung sau:
Khái niệm, đặc điểm thi hành hình phạt tử hình
Các hình thức thi hành hình phạt tử hình và ý nghĩa của chế định thihành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta
Trình bày, phân tích, đánh giá một cách sâu sắc về chế định thi hànhhình phạt tử hình trong pháp luật hình sự hiện hành, rút ra những điểm mới,điểm tiến bộ của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 so với Bộ Luật Tố tụnghình sự 2003 về vấn đề thi hành hình phạt tử hình
Trình bày, phân tích các quy định của pháp luật hình sự ở một số nướctrên thế giới về vấn đề thi hành hình phạt tử hình, kết hợp so sánh, đối chiếuvới các quy định tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nhằmrút ra những ưu điểm, hạn chế góp phần hoàn thiện chế định thi hành hìnhphạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Về phương diện thực tiễn, tác giả khóa luận xin trình bày các vấn đề sau: Phân tích, làm sáng tỏ những thành quả, những bất cập trong thực tiễnthi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam và một số nước trên thế giới; tìm ranhững nguyên nhân dẫn đến các bất cập đó
Trang 12Đồng thời, tác giả cũng đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện phápluật thi hành án hình sự nói chung, chế định thi hành án tử hình nói riêng.
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
* Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận về thihành hình phạt tử hình, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về thihành hình phạt tử hình, đặc biệt là những nét mới, tiến bộ của Luật thi hành ánhình sự năm 2010 và thực tiễn áp dụng; đồng thời tác giả kết hợp nghiên cứucác vấn đề lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong pháp luật hình sự ởmột số nước trên thế giới để từ đó so sánh, đối chiếu nhằm rút ra những kinhnghiệm góp phần hoàn thiện chế định thi hành hình phạt tử hình ở nước ta
* Phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
Khóa luận nghiên cứu chế định thi hành hình phạt tử hình dưới góc độLuật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự;
Về mặt không gian, tác giả nghiên cứu chế định thi hành hình phạt tửhình trong phạm vi trong nước, kết hợp nghiên cứu ở một số nước tiêu biểutrên thế giới;
Về mặt thời gian, khóa luận nghiên cứu về chế định thi hành hình phạt
tử hình ở Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2012, trong đó tập trung chủ yếuvào giai đoạn kể từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 ra đời đến nay
* Cơ sở phương pháp luận của khóa luận là chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Để hoàn thành các nhiệm vụ đã đặt ra,trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp hệ thống,phân tích, tổng hợp, phương pháp suy luận, logic, thống kê, so sánh pháp luật
cả về mặt thời gian và không gian, về mặt pháp luật và xã hội, tham khảo ýkiến của các chuyên gia, tham khảo tài liệu, sách báo, tạp chí,… và cácphương pháp cần thiết khác
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và ý nghĩa của khóa luận
Cơ sở lý luận của khóa luận là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩaMác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về xây dựng
Trang 13Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân,
về chính sách đấu tranh phòng chống tội phạm
Cơ sở thực tiễn của khóa luận là các báo cáo chuyên đề về thi hành hìnhphạt tử hình của cơ quan Công an, các báo cáo tổng kết, số liệu của Tòa ánnhân dân tối cao về thi hành hình phạt tử hình
Ý nghĩa của khóa luận: Khóa luận không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn
có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của khóaluận có vai trò quan trọng đối với cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nóichung, công tác thi hành hình phạt tử hình nói riêng Thông qua kếtiquảnghiên cứu và các đề xuất của mình, tác giả hy vọng rằng có thể góp phần nhỏ
bé vào sự phát triển của kho tàng lý luận luật thi hành án hình sự, tổng kết,nghiên cứu thực tiễn thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam và một số nướctrên thế giới Để từ đó, làm sáng tỏ vấn đề nên hay không nên thi hành hìnhphạt tử hình hiện nay; đồng thời góp phần hoàn thiện chế định thi hành hìnhphạt tử hình ở Việt Nam sao cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước và yêu cầuphòng chống tội phạm Vì vậy, khóa luận này có thể sử dụng làm tài liệu thamkhảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung;khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học luật thi hành án hình sự, khoa học kỹthuật hình sự,… và tội phạm học nói riêng
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luậngồm có 3 chương sau:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về thi hành hình phạt tử hình.Chương 2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự về thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Chương 3 Một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nângcao hiệu quả thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI HÀNH
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
1.1 Khái quát chung về thi hành hình phạt tử hình
1.1.1 Khái niệm thi hành hình phạt tử hình
Để có thể hiểu một cách sâu sắc về khái niệm thi hành hình phạt tửhình, trước hết cần phải làm rõ khái niệm hình phạt tử hình
Trong hệ thống hình phạt được quy định trong luật hình sự Việt Nam,
tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện mức độ trừng trị cao nhất củaNhà nước đối với người phạm tội, bởi lẽ nó cướp đi quyền sống của người bịkết án, loại bỏ sự tồn tại của họ trong xã hội Theo quy định tại Điều 35, BộLuật hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) của Nước Cộng
Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng” [2, Tr 64].
Từ quy định trên, có thể đưa ra khái niệm hình phạt tử hình như sau: Tửhình là hình phạt đặc biệt, tước bỏ quyền sống của người bị kết án phạm tộiđặc biệt nghiêm trọng
Vấn đề tiếp theo mà chúng ta cần làm sáng tỏ là khái niệm thi hành ánhình sự Thi hành án hình sự có thể hiểu là việc các cơ quan Nhà nước, các tổchức xã hội, các cá nhân có liên quan đưa bản án và quyết định hình sự đã cóhiệu lực pháp luật của Tòa án ra thi hành làm cho nó phát huy hiệu lực pháp luật
Như vậy, từ các khái niệm như đã phân tích ở trên chúng ta có thể đưa ra
khái niệm thi hành hình phạt tử hình như sau: Thi hành hình phạt tử hình là hoạt
Trang 15động của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền đưa bản án tử hình của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế theo những trình tự, thủ tục do pháp luật thi hành án hình sự quy định
1.1.2 Đặc điểm của thi hành hình phạt tử hình
Nghiên cứu khái niệm trên, ta có thể rút ra đặc điểm của thi hành hìnhphạt tử hình như sau:
Thứ nhất, thi hành hình phạt tử hình là việc thực hiện trên thực tế sự
tước đi quyền sống của người phạm tội, do đó cơ quan thi hành án hình sựphải tuân theo những trình tự, thủ tục rất nghiêm ngặt và chặt chẽ Đây là đặcđiểm cơ bản nhất để phân biệt thi hành hình phạt tử hình với các hoạt động thihành án khác
Thứ hai, khác với việc thi hành các hình phạt và các biện pháp tư pháp
khác, nếu thi hành hình phạt tử hình có sai lầm thì không khắc phục được hậuquả Đặc điểm này bắt nguồn từ bản chất của hình phạt tử hình là tước đimạng sống của người bị kết án Vì vậy, nếu như thi hành không đúng đốitượng bị kết án thì sai lầm này không thể khắc phục được
Thứ ba, việc thi hành hình phạt tử hình không những tước đi mạng sống
của người bị kết án mà còn gây đau thương mất mát cho người thân của họ,đồng thời còn gây tâm lí tiêu cực nhất định lên những cá nhân trực tiếp thựchiện việc thi hành án tử hình Đây là đặc điểm chúng ta cần lưu ý khi thực hiệncông tác tư tưởng đối với người thân của người bị kết án cũng như đối với cán
bộ chiến sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ tước bỏ sinh mạng của người bị kết án
1.1.3 Các hình thức thi hành hình phạt tử hình
Hình thức thi hành hình phạt tử hình là cách thức tước bỏ sự sống củangười bị kết án tử hình do cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền thực hiệntheo một trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, loài người đã thi hành nhiều hìnhthức tử hình Việc thi hành hình phạt tử hình nào cho phù hợp, phụ thuộcnhiều vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia GS.TS ngườiNga A.Ph.Kixthiacopxki đã dày công nghiên cứu về những hình thức thi hành
Trang 16hình phạt tử hình trong lịch sử và đưa ra 21 hình thức thi hành hình phạt nàychủ yếu đã được loại người áp dụng như sau: 1) Treo cổ; 2) Chặt đầu; 3) Đuntrong vạc dầu; 4) Dùng bánh xe cán chết; 5) Xé xác người bị kết án thànhnhững mảnh nhỏ; 6) Lột da cho đến chết; 7) Chôn sống; 8) Bóp cổ hoặc làmcho chết ngạt trong bao tải; 9) Thiêu chết; 10) Mổ bụng, moi ruột; 11) Chongồi lên cọc nhọn hoặc dùng cọc nhọn đâm thủng người; 12) Đốt cổ họngbằng chì đun sôi; 13) Đẩy người bị kết án từ đỉnh núi xuống vực; 14) Thắt cổ;15) Voi dày, ngựa xéo; 16) Quăng cho hổ báo ăn thịt; 17) Dùng đá ném đếnchết; 18) Cho chết đói chết khát; 19) Đầu độc chết; 20) Dùng gậy đánh chết;21) Xử bắn.
Hiện nay trên thế giới, pháp luật tố tụng hình sự các nước quy định bảyhình thức thi hành hình phạt tử hình như sau:
Xử bắn: Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình mang tính phổ biến
nhất Theo số liệu của Tổ chức ân xá quốc tế, có 86 quốc gia trên thế giới ápdụng hình thức này Việc xử bắn có thể do một người hoặc một nhóm ngườithi hành Trường hợp việc xử bắn do một người thi hành, thì người đó dùngsúng ngắn, bắn vào đầu người bị kết án ở cự ly ngắn, làm người đó chết ngay.Trường hợp xử bắn do một nhóm người thi hành thì cự ly bắn được thực hiện
xa hơn
Treo cổ: Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình bị tổ chức Ân xá
quốc tế cho là dã man và cần phải bãi bỏ, tuy nhiên vẫn còn 70 nước trên thếgiới áp dụng hình thức này như Singapore, Ấn Độ, Nhật Bản,…
Chém đầu: Đây là hình thức tử hình được 6 quốc gia áp dụng Cách
thức chém đầu có hai cách: dùng máy chém hoặc dùng kiếm Hiện nay,Vương quốc Ảrập Xê-út là quốc gia thường áp dụng hình thức này
Ném đá đến chết: Đây là hình thức tử hình vô nhân đạo nhất hiện nay,
trong đó người bị kết án bị chôn chỉ để hở đầu trên mặt đất, sau đó bị ném đácho đến chết Điều 119 BLHS Hồi giáo nước Cộng hòa Iran còn quy định:
“Các viên đá không được có kích thước lớn để người bị kết án không chết ngay sau khi ném 1, 2 viên; đồng thời cũng không được có kích thước nhỏ
Trang 17quá” [24, Tr 23] Hình thức thi hành hình phạt tử hình này còn được áp dụng
ở Xu Đăng và một số nước ở Trung Cận Đông
Ngồi ghế điện: Đây là hình thức thi hành hình phạt bằng cách cho dòng
điện chạy qua thân thể người bị kết án, lần đầu được thực hiện vào năm 1888tại Nữu Ước, Hoa Kỳ Trước khi hành hình bốn tuần lễ người bị kết án đượcchuyển đến khu giam giữ đặc biệt, được viết nguyện vọng về nơi chôn cất vàtài sản thừa kế Người ta thử ba lần ghế điện, chuẩn bị dung dịch Amoniacdùng làm chất cách điện, thấm vào một cái đệm để áp vào đầu người bị kết án(bị cạo trọc), chân phải người đó được bôi chất dẫn điện Người bị kết án bịbuộc vào ghế điện Hai cực điện đặt vào đầu, chân phải người bị kết án vàdòng điện mạnh 2500 vôn được đóng Việc cắm điện làm người bị kết án ngấtngay lập tức nhưng cái chết chỉ xuất hiện sau một thời gian nhất định, trongmột số trường hợp phải sau từ 10 đến 15 phút người bị thi hành án mới chết
Dùng hơi ngạt: Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình áp dụng từ
những năm 30 của thế kỉ XX Người bị kết án được buộc vào một chiếc ghếtrong một phòng được thiết kế hoàn toàn bằng thép, ở ngực người bị kết án,người ta gắn một ống nghe của bác sĩ và dây cao su dẫn tới phòng bên để bác
sĩ theo dõi nhịp tim của bị án Dưới ghế ngồi của bị án được đặt 16 viên thuốcđộc (Xianua) Khi cánh cửa thép được đóng lại, người ta cho chạy thiết bị làmnhững viên thuốc độc được hòa vào dung dịch axít, thuốc độc bốc thành khói,làm ngạt thở người bị kết án, từ đó dẫn đến tim ngừng đập Hình thức này bịcoi là phức tạp và khá tốn kém
Tiêm thuốc độc: Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình, trong đó
người bị kết án bị buộc vào một cái cáng, được đưa vào một phòng kín, rồi bịtiêm thuốc độc vào bắp thịt Hình thức này được áp dụng lần đầu tại Hoa kỳnăm 1977 Khi bị tiêm thuốc độc mạnh vào mạch máu, người bị kết án sẽ bịchết trong khoảng thời gian từ 32 giây đến một phút Tuy nhiên đã xảy ra một
số trường hợp người bị kết án không chết ngay do dụng cụ truyền chất độctrượt khỏi mạch máu hoặc thuốc độc không đủ mạnh khi pha chế Hình thức
tử hình này được coi là nhân đạo và tiết kiệm hơn cả, được 34 bang của Hoa
Trang 18Kỳ, Trung Quốc, Việt Nam và một số nướckhác trên thế giới áp dụng.
1.1.4 Ý nghĩa của chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chế định thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên được quy định trong
Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, sau đó là BLTTHS năm 2003
và LTHAHS năm 2010 của nước ta, có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức tolớn Nó đánh dấu sự trưởng thành về kĩ thuật lập pháp tố tụng hình sự củanước ta Việc nhận thức và áp dụng đúng đắn chế định thi hành hình phạt tửhình trong thực tiễn là hết sức quan trọng cho việc đảm bảo thực hiện nguyêntắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong lĩnh vực thi hành án hình sự,nhằm thi hành hình phạt tử hình đúng người, đúng tội, không để xảy ra oan,sai trong lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm này
Trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung, thi hành án hình sự nóiriêng, vấn đề thi hành hình phạt tử hình đóng vai trò hết sức quan trọng trongviệc bảo đảm hiệu quả đạt được của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự Vìvậy, việc quy định chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụnghình sự góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn,vững mạnh của chế độ XHCN, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tàisản của công dân Do đó, việc quy định một cách chặt chẽ chế định thi hànhhình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự thể hiện sự tôn trọng quyềncon người của Nhà nước ta, bảo đảm sự giám sát của nhân dân, xã hội tronghoạt động thi hành án hình sự nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng
Việc quy định trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình trong luật tốtụng hình sự, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp tố tụng hình sự, còn có ý nghĩanâng cao nhận thức của nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ phápluật nói riêng về sự cần thiết phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật
tố tụng hình sự trong lĩnh vực thi hành hình phạt tử hình Bên cạnh đó, việcquy định trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình là cơ sở quan trọng choviệc nghiên cứu, đề xuất các hình thức thi hành hình phạt tử hình tiết kiệm, dễ
áp dụng, "nhân đạo" nhất cho phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế và bản
Trang 19chất nhân đạo XHCN của Nhà nước ta.
Ngoài ra, chế định thi hành hình phạt tử hình, còn có ý nghĩa là cơ sởpháp lý cho một số ngành khoa học pháp lý có liên quan chặt chẽ với khoahọc luật tố tụng hình sự như tội phạm học, tâm lý học tư pháp, khoa học kỹthuật hình sự,
1.2 Các quy định về thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Kể từ khi BLTTHS năm 2003 ra đời, trước khi ban hành LTHAHS năm
2010, chế định thi hành hình phạt tử hình ở nước ta được điều chỉnh bởiBLHS Việt Nam 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) và BLTTHS năm 2003; nhìnchung hình thức thi hành án tử hình vẫn là xử bắn Hình thức xử bắn có tácdụng răn đe tội phạm, tuyên truyền và phòng ngừa tội phạm cao So với cáchình thức tử hình trước đây và một số phương thức tử hình hiện hành ở cácnước, xử bắn đã thể hiện sự tiến bộ và mang tính nhân bản hơn nhiều Tuynhiên, hình thức tử hình này không nhân đạo và khoan hồng ở chỗ làm cho thithể bị cáo không còn nguyên vẹn, và ảnh hưởng nhiều đến tâm lí, tư tưởngcán bộ thi hành án Số cán bộ, công an đã tham gia xử bắn nhiều hoặc xử bắncác bị cáo nữ, hoặc trực tiếp được giao trói, bịt mắt, nhét giẻ vào mồm bị cáo,hoặc được giao bắn viên đạn cuối cùng vào thái dương phạm nhân đều bị ảnhhưởng đến tâm lí rất nhiều
Trong phạm vi bài khóa luận của mình, tác giả xin phép chỉ phân tích rõchế định thi hành hình phạt tử hình đang được áp dụng ở nước ta hiện nay, kể
từ khi LTHAHS năm 2010 ra đời Vấn đề này được quy định trong BLHSnăm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLTTHS năm 2003, LTHAHS năm
2010 và các nghị định hướng dẫn thi hành Cụ thể như sau:
1.2.1 Điều kiện áp dụng và thi hành hình phạt tử hình
Theo quy định tại Điều 35 BLHS hiện hành: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi
Trang 20phạm tội hoặc khi bị xét xử.
Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Trong trường hợp này hình phạt tử hình được chuyển xuống tù chung thân” [2, Tr 64].
Như vậy, theo quy định trên, hình phạt tử hình được áp dụng khi đápứng đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với người phạm tội
đặc biệt nghiêm trọng do tính chất đặc biệt của hình phạt tử hình như đã phântích ở trên Tuy nhiên, không có nghĩa là bất kỳ người nào phạm tội đặc biệtnghiêm trọng thì cũng có thể áp dụng hình phạt tử hình Quy định này xuấtphát từ nguyên tắc của luật hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, đạt đượcmục đích cao nhất của hình phạt và tính khoan hồng, pháp luật quy định hìnhphạt tử hình chỉ áp dụng đối với những người phạm tội mà luật có quy địnhmức hình phạt cao nhất là tử hình Đồng thời, khi cân nhắc giữa hình phạt tửhình và tù chung thân mà cảm thấy băn khoăn chưa biết nên áp dụng hìnhphạt nào thì kiên quyết áp dụng hình phạt tù chung thân
Thứ hai, đối tượng áp dụng hình phạt tử hình không thuộc các trường
hợp: người chưa thành niên phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi condưới 36 tháng tuổi; đối tượng thi hành hình phạt tử hình không thuộc trườnghợp phụ nữ có thai hoặc phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi Sở dĩ, BLHSquy định những đối tượng trên không phải áp dụng hình phạt tử hình bởi vì:
* Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội
Xuất phát từ những nhận định về người chưa thành niên, khoa học luậthình sự Việt Nam quan niệm khi người chưa thành niên phạm tội, điều đókhông chỉ được quyết định bởi bản thân người chưa thành niên mà còn thểhiện đó là sản phẩm của môi trường sống, có nguyên nhân và điều kiện phátsinh thuộc về gia đình và xã hội Quan điểm đó chi phối chính sách hình sự là
“Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ
họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho
Trang 21xã hội” [2, Tr 85] (Điều 69 BLHS hiện hành) Cụ thể, về mức hình phạt quy
định cho người chưa thành niên bao giờ cũng thấp hơn người đã thành niênđối với người cùng một tội phạm Đặc biệt, đối với những loại hình phạt cótính chất quá nghiêm khắc, ít tạo cơ hội hoặc không có cơ hội để người bị kết
án sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người tốt sẽ không được áp dụng đốivới người chưa thành niên phạm tội
Hiện nay, một số vụ án giết người nghiêm trọng mà người thực hiệnhành vi đó là người chưa thành niên khiến dư luận bức xúc Tuy nhiên, từ góc
độ cá nhân, tác giả cho rằng không thể sửa luật để tử hình vì như thế là viphạm nguyên tắc pháp chế XHCN Theo luật định, việc xử lý người chưathành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm,phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Đây là nguyêntắc bao trùm mang tính chất chỉ đạo thể hiện chính sách hình sự của Đảng vàNhà nước Việt Nam lấy giáo dục làm nền tảng, trọng tâm trong quá trình xử
lý vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên
* Không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ
đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi
Việc kiểm tra các điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình đối vớiphụ nữ được thực hiện trước khi ra quyết định thi hành hình phạt tử hình vàtrước khi thi hành hình phạt tử hình Trường hợp khi xét xử Tòa án khôngphát hiện bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi,nên vẫn tuyên bản án tử hình đối với họ, nhưng trước khi thi hành án, Hộiđồng thi hành án lại phát hiện người bị kết án có các điều kiện quy định tạiĐiều 35 BLHS năm 1999, thì Hội đồng thi hành án hoãn thi hành án và báocáo Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dântối cao xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bịkết án Cơ sở lý luận của quy định này là đặc điểm tâm sinh lý của phụ nữ cóthai hoặc đang nuôi con nhỏ, ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và điềukhiển hành vi Mặt khác, nếu chúng ta xử bà mẹ tội chết thì đứa con cũngchấm dứt sự sống Như vậy quả là một việc làm không công bằng cho đứa
Trang 22trẻ Trong trường hợp người phụ nữ đang nuôi con nhỏ, nếu xử bà mẹ tộichết, mặc dù không tước đi mạng sống của đứa trẻ nhưng sẽ tước đi nguồnnuôi sống cơ bản của nó.
Ngoài việc nghiên cứu điều kiện áp dụng hình phạt tử hình chúng tacũng cần chú ý đến điều kiện thi hành án tử hình Theo quy định tại Khoản 1-
Điều 256 BLTTHS năm 2003 thì “Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản
án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản
án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án” [4, Tr 156-157] (Thời
hạn này trong BLTTHS năm 1988 quy định là 15 ngày) Pháp luật Tố tụnghình sự hiện hành không quy định thời hạn để Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm
ra quyết định thi hành án, bởi lẽ nó phụ thuộc vào việc Chủ tịch nước có bácđơn xin ân giảm án tử hình của người bị kết án hay không Bản án tử hình chỉđược thi hành khi:
Thứ nhất, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) không kháng nghị theothủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Thứ hai, trường hợp nếu người bị kết án có đơn xin ân giảm thì bản án
tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm Nếu đơnđược chấp thuận thì án tử hình chuyển thành tù chung thân
Pháp luật hình sự Việt Nam quy định điều kiện áp dụng và thi hànhhình phạt tử hình trên là xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Các cơ quan có nhiệm vụ thi hành hình phạt tử hình
Hiện nay ở nước ta, BLTTHS năm 2003 và LTHAHS năm 2010 chưaquy định cơ quan chuyên trách thi hành hình phạt tử hình mà nhiệm vụ nàyđược giao cho ba cơ quan: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơquan Công an
**Tòa án nhân dân: Là cơ quan có nhiệm vụ xét xử và tuyên án tử hìnhđối với người bị kết án, chỉ Tòa án nhân dân cấp tỉnh trở lên mới có thẩm
Trang 23quyền xét xử và tuyên án tử hình Đây là cơ quan có nhiệm vụ hết sức quantrọng trong việc thi hành hình phạt tử hình Theo quy định tại Điều 259
BLTTHS năm 2003: “Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành
án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình gồm đại diện các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát và Công an” [4, Tr 159] Vai trò này của Tòa án
trong thi hành hình phạt tử hình cũng được quy định tại các Điều 54, 55LTHAHS năm 2010 Theo quy định của LTHAHS năm 2010, Hội đồng thihành án tử hình (HĐTHATH) sẽ do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án đã
ra quyết định thi hành án tử hình làm chủ tịch Hội đồng Sau khi thành lậpHĐTHATH, ngoài việc đảm nhận vai trò chủ trì công tác chuẩn bị, Chủ tịchHĐTHATH còn phải triệu tập họp công bố các quyết định có liên quan đếnviệc thi hành án tử hình, quyết định thời gian thi hành án, những nội dung cầngiữ bí mật, các điều kiện đảm bảo việc tổ chức thực hiện kế hoạch thi hànhán; địa điểm mai táng đối với các trường hợp không được nhận hoặc không đềnghị nhận tử thi
**Viện Kiểm sát: Là cơ quan có nhiệm vụ rất quan trọng trong hoạtđộng thi hành án hình sự nói chung, thi hành án tử hình nói riêng Trong đó,vai trò trọng tâm của Viện kiểm sát ở đây là kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong toàn bộ hoạt động thi hành án tử hình của các cơ quan tham gia vào hoạtđộng thi hành án tử hình theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Chương IV,LTHAHS năm 2010 Bên cạnh đó, trong quá trình thi hành án tử hình, Việnkiểm sát phải cử đại diện là Viện trưởng hoặc Phó viện trưởng hoặc Kiểm sátviên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tham gia HĐTHATH Trong quá trìnhtham gia vào HĐTHATH, đại diện Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ kiểm sátviệc tuân theo pháp luật nhằm mục đích sau:
Thứ nhất, nhằm đảm bảo việc kiểm tra căn cước của người bị kết án
trước khi thi hành án Nếu người bị kết án là phụ nữ thì phải đảm bảo kiểm tracác tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành hình phạt tử hình quy địnhtại Điều 35 BLHS
Trang 24Thứ hai, nhằm bảo đảm các quyền của người bị kết án trước khi thi
hành án tử hình như cho người bị kết án được đọc các quyết định: Quyết địnhthi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC và Việntrưởng VKSNDTC, bản sao quyết định bác đơn xin ân giảm của Chủ tịchnước (nếu có gửi đơn xin ân giảm án tử hình) trước khi thi hành án tử hình;bảo đảm quyền được viết thư, ghi âm lời nói và gửi đồ vật về cho thân nhân…
Thứ ba, nhằm bảo đảm cho việc thi hành hình phạt tử hình được thực
hiện bằng hình thức tiêm thuốc độc
Thứ tư, bảo đảm biên bản thi hành án tử hình phản ánh đầy đủ, chính
xác mọi hoạt động thi hành án tử hình theo đúng quy định của pháp luật
Thứ năm, bảo đảm các quyết định hoãn thi hành án tử hình, tạm đình
chỉ, đình chỉ thi hành án tử hình là đúng căn cứ theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, sau khi kiểm sát hoạt động thi hành án tử hình Viện kiểmsát còn thực hiện chức năng báo cáo kết quả thi hành hình phạt tử hình lênVKSNDTC; đồng thời, lập hồ sơ kiểm sát thi hành hình phạt tử hình kèm cáctài liệu liên quan để lưu trữ
**Cơ quan Công an: Giám đốc hoặc Phó giám đốc Công an cấp tỉnhtham gia HĐTHATH quy định tại Điều 259 BLTTHS năm 2003 Sau khinhận quyết định thi hành án tử hình, giám đốc Công an tỉnh, thành phố phảichủ trì họp với lãnh đạo các đơn vị có liên quan về kế hoạch thi hành án tửhình, trong đó các đơn vị cụ thể được giao nhiệm vụ như sau:
Phòng hồ sơ Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ chuẩn bị hồ sơ vàvân tay lưu trữ của người bị kết án và lăn tay người bị thi hành án để PhòngKhoa học kỹ thuật hình sự giám định
Phòng Khoa học kỹ thuật hình sự có trách nhiệm giám định vân tay, kiểm tra căn cước của người bị thi hành án và so sánh với vân tay lưu trữ củangười bị kết án, chụp ba kiểu ảnh để lưu hồ sơ
Phòng Cảnh sát điều tra có trách nhiệm trưng cầu giám định pháp y về việc người bị kết án đã chết hay chưa sau khi tiêm thuốc độc và mời phiêndịch khi người bị kết án là dân tộc thiểu số hoặc người nước ngoài
Trang 25Trại tạm giam có trách nhiệm dẫn giải người bị thi hành án đến phòng làm việc của Hội đồng thi hành án, đến nơi thi hành án và các thủ tục khác; thông báo, trao trả di vật của người bị thi hành án cho thân nhân của họ.
Phòng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp có trách nhiệm xây dựngphương án bảo vệ, thành lập đội vũ trang thi hành án tử hình; tổ chức bảo vệHĐTHATH, phòng tiêm thuốc độc thi hành án tử hình.**
1.2.3.1 Trình tự, thủ tục xem xét bản án trước khi đưa người bị kết
án ra thi hành án tử hình
Do tính chất đặc biệt của hình phạt tử hình là loại trừ vĩnh viễn ngườiphạm tội ra khỏi đời sống xã hội nên khác với các hình phạt khác, pháp luậtquy định cần xem xét bản án trước khi đưa người bị kết án ra thi hành án tửhình theo một trình tự, thủ tục đặc biệt Theo quy định tại Khoản 1- Điều 258,BLTTHS năm 2003:
“Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ bản
án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước” [4, Tr 159].
Trang 26Như vậy, theo quy định trên, trình tự, thủ tục trước khi ra quyết định thihành án tử hình gồm các nội dung sau:
Thứ nhất, kiểm tra lại bản án tử hình Theo quy định chung, bản án và
quyết định của Tòa án khi có hiệu lực pháp luật thì được đưa ra thi hànhnhưng với bản án tử hình, sau khi có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phảiđược gửi ngay lên Chánh án TANDTC và bản sao bản án phải được gửi ngaylên Viện trưởng VKSNDTC Quy định này xác định rõ trách nhiệm cá nhâncủa Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC trong việc nghiên cứu hồ
sơ vụ án và bản án tử hình trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nhận được hồ
sơ, bản sao bản án để ra một trong hai quyết định: Quyết định kháng nghịhoặc quyết định không kháng nghị bản án tử hình theo thủ tục giám đốc thẩmhoặc tái thẩm Tuy nhiên, quy định thời hạn hai tháng để Chánh án TANDTC
và Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị bản án theo thủ tục giám đốc thẩmnày theo tác giả là bất hợp lí và mâu thuẫn với quy định về thời hạn kháng cáoquy định tại Điều 279 và Điều 295 BLTTHS năm 2003 Theo quy định tạiĐiều 279 và Điều 295 BLTTHS năm 2003, thời hạn kháng nghị theo thủ tụcgiám đốc thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án là một năm kể từngày bản án có hiệu lực pháp luật, theo hướng có lợi cho người bị kết án làkhông giới hạn về mặt thời gian; thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩmtheo hướng không có lợi cho người bị kết án là không quá một năm kể từngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện theohướng có lợi cho người bị kết án là không hạn chế
Thứ hai, về trình tự, thủ tục gửi đơn xin ân giảm và xét đơn xin ân
giảm: Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, trong thời hạn bảy ngày,người bị kết án có quyền gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước Tuy điềuluật này không quy định thời hạn xét đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước,nhưng việc quy định quyền gửi đơn xin ân giảm của người bị kết án đã khẳngđịnh trách nhiệm xét đơn của Chủ tịch nước
Đồng thời, bản án chỉ có thể thi hành sau khi có quyết định bác đơn xin
ân giảm của Chủ tịch nước Theo thông báo số 10/TB-VP ngày 25-3-1999 của
Trang 27Văn phòng Chủ tịch nước, hồ sơ trình Chủ tịch nước xét đơn xin ân giảm baogồm: Đơn xin ân giảm của người bị kết án viết trong thời hạn quy định hoặcđơn quá hạn có lý do chính đáng Về thể thức, đơn xin ân giảm phải là bảnchính, có chữ kí hoặc điểm chỉ của người bị kết án; phải có xác nhận của đơn
vị giam giữ người bị kết án Bên cạnh đó, phải có tờ trình của Chánh ánTANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; Quyết định không kháng nghị của Chánh
án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC; các bản án sơ thẩm, phúc thẩm;đơn xin ân giảm cho người bị kết án của các tổ chức xã hội, chính quyền địaphương và những người thân thích (nếu có) và các giấy tờ, tài liệu khác cóliên quan đến việc xem xét đơn xin ân giảm của người bị kết án như Huânchương, Huy chương,…
Trong trường hợp hết thời hạn kháng cáo mà Tòa án cấp sơ thẩm khôngnhận được đơn kháng cáo, không nhận được đơn xin ân giảm án tử hình củangười bị kết án thì Tòa án cấp sơ thẩm cần phối hợp với trại tạm giam nơiđang giam giữ người bị kết án xác minh xem họ có làm đơn kháng cáo hoặcđơn xin ân giảm án tử hình hay không Kết quả xác minh phải lập thành biênbản có chữ kí của cán bộ Tòa án, cán bộ trại giam và người bị kết án tử hình.Nếu qua xác minh cho thấy người bị kết án có làm đơn xin ân giảm, khônglàm đơn kháng cáo thì cho người đó viết đơn xin ân giảm án tử hình Biên bảnxác minh đơn xin ân giảm án tử hình và hồ sơ vụ án phải được gửi ngay choBan thư ký TANDTC Nếu kết quả xác minh cho thấy người bị xử phạt tửhình không làm đơn kháng cáo, không làm đơn xin ân giảm án tử hình thìtrong biên bản xác minh phải ghi rõ người bị kết án không kháng cáo, khônglàm đơn xin ân giảm án tử hình và gửi ngay biên bản cùng hồ sơ vụ án lênBan thư ký TANDTC
Như vậy, pháp luật Tố tụng hình sự chỉ quy định thời hạn kháng nghịcủa Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC theo thủ tục giám đốcthẩm hoặc tái thẩm mà không quy định thời hạn xét đơn xin ân giảm của Chủtịch nước, từ góc độ cá nhân, tác giả cho rằng đây là một điểm bất hợp lý Bởi
lẽ, trong thực tế có những trường hợp việc chấp nhận hay bác đơn xin ân giảm
Trang 28cho người bị kết án tử hình của Chủ tịch nước thường kéo dài hàng năm Vìvậy, sau khi có quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC và Việntrưởng VKSNDTC đối với bản án thì vẫn còn một khoảng thời gian rất dài đểchờ ý kiến của Chủ tịch nước Mặt khác, thời gian chờ xét đơn xin ân giảmkéo dài gây tốn kém chi phí cho Nhà nước, dễ dẫn đến tình trạng người bị kết
án tự tử trong thời gian tạm giam
Thứ ba, bản án tử hình chỉ có thể được đưa ra thi hành khi Chánh án
TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC không kháng nghị theo thủ tục giámđốc thẩm hoặc tái thẩm; Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm (nếu người bị kết
án có đơn xin ân giảm) Điều kiện thi hành bản án tử hình này đã được quy
định rõ trong Khoản 2- Điều 258, BLTTHS 2003: “Bản án tử hình được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm” [4, Tr 159] So với BLTTHS năm 1988, quy định này bảo đảm chặt chẽ
hơn Bởi lẽ, theo quy định tương ứng trong BLTTHS năm 1988 thì chỉ cầnkhông có kháng nghị của một trong hai người Chánh án TANDTC hoặc Việntrưởng VKSNDTC thì bản án đã được đưa ra thi hành Nhưng theo quy địnhcủa BLTTHS hiện hành thì cả Chánh án TANDTC và Viện trưởngVKSNDTC không kháng nghị thì mới được thi hành bản án tử hình Bên cạnh
đó, Khoản 2- Điều 258 BLTTHS hiện hành còn có quy định mới chặt chẽ hơn
về chế định thi hành hình phạt tử hình nhằm bảo đảm quyền của người bị kết
án trước khi ra quyết định thi hành án tử hình như sau: “Trong trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình thì Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm đơn xin ân giảm án tử hình” [4, Tr 159] Đây là điểm tiến bộ của BLTTHS năm
2003 nhằm đảm bảo quyền làm đơn xin ân giảm án tử hình của người bị kết
án trong trường hợp kháng nghị của Chánh án TANDTC, Viện trưởngVKSNDTC bị cấp có thẩm quyền không chấp nhận và giữ nguyên bản án
Trang 29Trong trường hợp người bị kết án gửi đơn xin ân giảm án tử hình tới Chủ tịchnước, nếu được Chủ tịch nước đồng ý thì chuyển hình phạt tử hình sang tùchung thân; nếu Chủ tịch nước ra quyết định bác đơn xin ân giảm thì ra quyết định thi hành án.
1.2.3.2 Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình
Như đã phân tích ở trên, do tính chất đặc biệt nghiêm khắc của hìnhphạt tử hình là tác động trực tiếp lên quyền sống của con người nên việc thihành hình phạt tử hình phải tuân thủ theo một trình tự, thủ tục hết sức nghiêmngặt và chặt chẽ Vấn đề này được quy định tại Điều 259, BLTTHS năm 2003
và quy định cụ thể tại Chương IV, LTHAHS năm 2010 Về cơ bản, Chương
IV, LTHAHS năm 2010 vẫn kế thừa các quy định trong Điều 259 củaBLTTHS năm 2003 Tuy nhiên, Chương IV của LTHAHS năm 2010 quyđịnh cụ thể, chi tiết hơn và có một số điểm mới bao gồm: Hình thức thi hànhhình phạt tử hình là tiêm thuốc độc thay cho hình thức xử bắn trong BLTTHSnăm 2003; đã giải quyết vấn đề cho thân nhân người bị thi hành hình phạt tửhình nhận hài cốt, tử thi; đồng thời quy định chi tiết hơn các trường hợp hoãnthi hành án tử hình
Theo quy định tại Điều 259 BLTTHS năm 2003, trình tự, thủ tục thihành hình phạt tử hình được thực hiện theo các bước sau:
Thứ nhất, ra quyết định thi hành án và thành lập HĐTHATH; kiểm tra
các điều kiện trước khi ra quyết định thi hành và trước khi thi hành án
Việc ra quyết định thi hành án và thành lập HĐTHATH thuộc thẩmquyền này của Chánh án Tòa án nhân dân đã xử sơ thẩm Hình thức và thủ tục
ra quyết định thi hành án được quy định rõ tại Điều 54, Điều 55, Điều 56 củaLTHAHS năm 2010 Theo quy định đó, về thể thức, quyết định thi hành án tửhình phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; bản án, quyết định được thihành; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án Đồngthời, Chánh án Tòa án đã ra quyết định này phải gửi quyết định cho các cơquan sau trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hànhán: Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp; trại tạm giam nơi
Trang 30người chấp hành án đang bị tạm giữ; Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết địnhthi hành án có trụ sở Về việc thành lập HĐTHATH, thời hạn để Chánh ánTòa án đã ra quyết định thi hành án ra quyết định thành lập HĐTHATH là 07ngày kể từ ngày ra quyết định thi hành án Về thể thức, quyết định này phảighi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người ra quyếtđịnh, căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ của người tham gia Hội đồng thihành án Thành phần tham gia HĐTHATH bao gồm: đại diện Tòa án, đại diệnViện kiểm sát và Công an HĐTHATH có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Quyết định kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện cho việc thi hành án;
tổ chức kiểm tra các điều kiện về người chấp hành án theo quy định củaBLHS, BLTTHS; ra quyết định hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án
đã ra quyết định thi hành án khi người bị kết án không đủ điều kiện để thihành án
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cầnthiết cho việc thi hành án; yêu cầu đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan, tổ chức
hỗ trợ bảo đảm an toàn việc thi hành án trong trường hợp cần thiết
- Điều hành việc thi hành án theo kế hoạch; thông báo kết quả thi hành
án cho cơ quan quản lí THAHS
- Hội đồng tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình
Để giải quyết các nhiệm vụ nói trên và thực hiện quyền hạn của HĐTHATH, Chủ tịch Hội đồng phải triệu tập họp và công bố các quyết định cóliên quan đến việc thi hành án tử hình, quyết định thời gian thi hành án,những nội dung cần giữ bí mật, các điều kiện bảo đảm việc tổ chức thực hiện
kế hoạch thi hành án; địa điểm mai táng
Về thủ tục kiểm tra các điều kiện thi hành án trước khi ra quyết định thihành và trước khi thi hành án được thực hiện như sau:
Trường hợp người bị kết án là phụ nữ, trước khi ra quyết định thi hành,trước khi thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải tổ chứckiểm tra các điều kiện không áp dụng, không thi hành hình phạt tử hình đượcquy định tại Điều 35 BLHS như đã trình bày về điều kiện thi hành án ở trên
Trang 31Nếu có căn cứ người bị kết án có các điều kiện được quy định tại Điều 35BLHS thì Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án vàbáo cáo Chánh án TANDTC để xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tùchung thân cho người bị kết án Sở dĩ, HĐTHATH ngoài việc kiểm tra căncước chỉ kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án thuộcđối tượng phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi mà không kiểmtra điều kiện không thi hành án thuộc đối tượng người chưa thành niên vì điềukiện này đã được kiểm tra khi xét xử và trước khi ra quyết định thi hành án;còn trường hợp phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì có thểxảy ra trường hợp trước khi ra quyết định thi hành án người bị kết án không
có các điều kiện này nhưng sau khi ra quyết định thi hành án mới phát sinhcác điều kiện đó trong thời gian tạm giam chờ thi hành án
Thứ hai, thủ tục trước khi thi hành án: Theo quy định tại Khoản 2- Điều
259 BLTTHS năm 2003 thì trước khi thi hành án phải giao cho người bị thihành án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh
án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC và nếu người bị kết án đã có đơnxin ân giảm án tử hình thì giao cho họ đọc bản sao quyết định của Chủ tịchnước bác đơn xin ân giảm Quy định này nhằm đảm bảo tính công khai, minhbạch trong quá trình thi hành án hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa người bị kết án tử hình
Thứ ba, các trường hợp hoãn thi hành án tử hình: Theo quy định tại
Khoản 2, khoản 5- Điều 259 BLTTHS năm 2003, các trường hợp hoãn Thihành án tử hình gồm: người bị kết án có điều kiện quy định tại Điều 35 BLHShoặc trong trường hợp có tình tiết đặc biệt Tiến bộ hơn một bước, Khoản 1-Điều 58 LTHAHS năm 2010 đã dành riêng một điều khoản quy định các
trường hợp hoãn thi hành án tử hình:
“… a) Người bị kết án thuộc trường hợp quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự;
b) Có lý do bất khả kháng;
Trang 32c) Ngay trước khi thi hành án người chấp hành án khai báo những tình tiết mới về tội phạm” [21, Tr.71]
Như vậy, có thể thấy quy định hiện hành về các trường hợp hoãn thihành án tử hình trong LTHAHS năm 2010 cụ thể, rõ ràng và dễ áp dụng hơnquy định tương ứng trong BLTTHS năm 2003
Thứ tư, về hình thức và trình tự thi hành án tử hình Hiện nay, hình phạt
tử hình được thi hành bằng hình thức tiêm thuốc độc được quy định tại Điều
59, LTHAHS năm 2010 thay thế cho hình thức xử bắn trước đây trong quyđịnh tương ứng của BLTTHS năm 2003 Việc quy định chuyển từ hình thức
xử bắn sang tiêm thuốc độc thể hiện thái độ khoan hồng trong chủ trương,đường lối của Đảng ta
Hình thức tiêm thuốc độc thể hiện tính khoan hồng vì không tạo ranhững cảnh man rợ như đầu rơi, máu chảy, phạm nhân không phải gào thét vìđau đớn Hình thức tử hình này được nhiều nước trên thế giới áp dụng vì đượccoi là một cách chết nhẹ nhàng giống như người tự sát uống thuốc ngủ chết
Nó ít gây đau đớn cho người bị thi hành án tử hình và ít ảnh hưởng đến tâm lícủa đội ngũ cán bộ thi hành án
Như vậy, chính sách hình sự nước ta đã đề cao lợi ích của người bị thihành án trong việc lựa chọn hình thức tử hình.Vấn đề này được quy định tạiKhoản 1- Điều 59, LTHAHS 2010 và cụ thể hóa trong Nghị định 82/2011/NĐ-CP của Chính Phủ Tại Nghị định 82/2011/NĐ-CP đã quy định rõ
về các quy trình thực hiện thi hành án tử hình như sau:
Thứ nhất, trình tự thi hành án tử hình phải thực hiện đúng theo các quy
định tại khoản 2,3,4- Điều 59 LTHAHS năm 2010.Trước khi bị đưa ra thihành án tử hình, người bị thi hành án được hưởng tiêu chuẩn ăn, uống bằng 5lần tiêu chuẩn của ngày lễ, tết quy định đối với người bị tạm giam và đượcviết thư, ghi âm lời nói gửi lại nhân thân Quy định này thể hiện tính nhân đạocủa pháp luật Việt Nam
Thứ hai, thuốc đưa ra để sử dụng cho thi hành án tử hình phải được
HĐTHATH kiểm tra, mở niêm phong và lập biên bản theo quy định
Trang 33Thứ ba, người bị thi hành án tử hình được cố định vào giường với tư thế
nằm ngửa, bảo đảm không làm cản trở sự lưu thông của máu Cán bộ trực tiếpthi hành án tử hình chịu trách nhiệm thực hiện theo trình tự sau:
Chuẩn bị đủ 3 liều thuốc (trong đó có 2 liều dự phòng)
Xác định tĩnh mạch để thực hiện tiêm: trường hợp không xác định đượctĩnh mạch thì báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án để yêu cầu bác sĩ hỗ trợxác định tĩnh mạch; cán bộ trực tiếp thi hành án tử hình chịu trách nhiệm thựchiện các bước sau:
* Bước 1: Tiêm 5grams Sodium thiopental (thuốc dùng để gây mê) Saumũi tiêm gây mê này, cán bộ chuyên môn thực hiện thi hành án tử hình phảitiến hành kiểm tra, nếu chưa bị mê thì tiếp tục thực hiện tiêm gây mê cho đếnkhi mê
* Bước 2: Tiêm 100 miligrams Pancuronium Bromide (thuốc để làm tê liệt thần kinh và hệ cơ bắp)
* Bước 3: Tiêm 100 grams Potassium chloride
Sau khi thực hiện các bước trên, cán bộ chuyên môn trực tiếp thi hành
án phải tiến hành kiểm tra hoạt động tim của người bị thi hành án tử hình quamáy điện tâm đồ Trường hợp sau mười phút mà người bị thi hành án tử hìnhchưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án để ralệnh sử dụng thuốc dự phòng, tiếp tục thực hiện tiêm lần thứ hai Trường hợp
đã tiêm hết hai liều thuốc mà người bị thi hành án vẫn chưa chết, thì Độitrưởng Đội thi hành án phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án ra lệnhtiêm lần thứ ba
Việc thực hiện các bước thi hành hình phạt tử hình bằng hình thức tiêmthuốc độc như trên có thể được tiến hành theo phương pháp tự động hoặc trựctiếp Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án, bác sĩ pháp y tiến hànhkiểm tra, xác định tình trạng của người bị thi hành án tử hình và báo cáo kếtquả cho Hội đồng Sau khi bác sĩ pháp y kết luận người bị thi hành án tử hình
đã chết, theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án, cán bộ thi hành án tửhình ngừng truyền và đưa kim tiêm, đường ống dẫn ra khỏi người bị thi hành
Trang 34Tại Điều 60, LTHAHS năm 2010 còn quy định trước khi thi hành án,thân nhân hoặc người đại diện của người bị xử tử được gửi đơn đến Chánh ántòa án đã xét xử sơ thẩm đề nghị cho nhận tử thi về mai táng Đây là mộtđiểm mới thể hiện tính nhân đạo trong chủ trương, chính sách mới của Đảngtrong giai đoạn cải cách tư pháp so với trước đây, khi thực hiện hình thức thihành án tử hình bằng xử bắn được quy định trong BLTTHS năm 2003 Đây làmột quy định mới thể hiện rõ tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam
về thi hành hình phạt tử hình
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu các quy định về thi hành hình phạt tửhình có thể thấy điểm mới nhất trong chế định thi hành án tử hình củaLTHAHS năm 2010 là việc thay đổi hình thức thi hành án tử hình Theo Luật,thay vì xử bắn, người chấp hành án tử hình sẽ bị tiêm thuốc độc Đây là hìnhthức thi hành án tử hình có nhiều ưu điểm hơn trong việc khắc phục nhữngbất cập thời gian qua đối với công tác thi hành án tử hình Ngoài ra, luật cũngquy định thêm vấn đề giải quyết cho thân nhân người bị thi hành án nhận tửthi và quy định chi tiết hơn về các trường hợp hoãn thi hành án tử hình Điều
đó khẳng định sự tiến bộ về kĩ thuật lập pháp hình sự của nước ta nói chung,
Trang 35trong chế định thi hành hình phạt tử hình nói riêng Đồng thời thể hiện tínhnhân đạo sâu sắc của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,ngay cả với những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
1.3 Các quy định về thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số nước trên thế giới
Do nền kinh tế, xã hội và thể chế chính trị cũng như trình độ lập pháp ởmỗi quốc gia khác nhau nên chế định thi hành hình phạt tử hình ở mỗi nước làkhác nhau Trong phạm vi bài khóa luận tốt nghiệp, tác giả chỉ đi sâu nghiêncứu, đối chiếu các quy định về thi hành án tử hình ở một số nước tiêu biểutrên thế giới hiện nay như Liên Bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản,… với cácquy định tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự và thi hành án hình sự ởViệt Nam Để từ đó, tìm ra những ưu điểm, hạn chế góp phần hoàn thiện chếđịnh thi hành hình phạt tử hình ở nước ta trong thời gian tới
Tử hình là hình phạt xuất hiện và tồn tại lâu đời nhất trong lịch sử loàingười, do đó trong pháp luật của một số nước còn áp dụng hình phạt tử hìnhquy định rất chi tiết về trình thự, thủ tục thi hành án tử hình
1.3.1 Chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự của Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Hiện nay, ở Trung Quốc BLHS hiện hành còn quy định 66 tội danh cóthể kết án tử hình Các tội danh này tập trung ở các nhóm tội: xâm phạm anninh quốc gia; xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác; xâm phạm trật
tự, an toàn công cộng; xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; cáctội về tham nhũng, các tội về ma túy
1.3.1.1 Hình thức thi hành hình phạt tử hình
Nếu như Luật Thi hành án hình sự của nước Cộng hòa XHCN ViệtNam chỉ quy định hình thức thi hành hình phạt tử hình duy nhất là tiêm thuốcđộc thì pháp luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lạicho phép lựa chọn các hình thức thi hành hình phạt tử hình khác nhau, nhưngphổ biến là hình thức xử bắn và tiêm thuốc độc Đây là một quy định mở tạođiều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ thi hành án
Trang 36tử hình một cách nhanh chóng, linh hoạt hơn
Bên cạnh đó, việc lựa chọn hình thức thi hành án tử hình của cơ quanlàm nhiệm vụ thi hành án này cũng phải tuân thủ theo những điều kiện nhấtđịnh trong Điều 344 Bộ Luật Tố tụng hình sự Trung Hoa:
“Việc tử hình được thi hành bằng cách xử bắn hoặc tiêm thuốc độc Nếu chọn phương pháp tiêm thuốc độc để thi hành án tử hình thì phải thi hành ở những nơi chỉ định hoặc trong trại giam Trình tự cụ thể phải dựa theo các quy định của pháp luật.
Nếu chọn các phương pháp khác, ngoài xử bắn, tiêm thuốc ra để thi hành án tử hình thì trước đó phải báo cáo xin Tòa án nhân dân tối cao phê chuẩn” [9, Tr 205]
Việc quy định điều kiện lựa chọn áp dụng hình thức thi hành hình phạt
tử hình cho thấy nhà làm luật đã dự liệu các trường hợp áp dụng hình thứcthi hành án tử hình một cách tùy tiện của cán bộ thi hành án Đây cũng làmột điểm tiến bộ trong pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc về chế định thihành hình phạt tử hình mà chúng ta cần nghiên cứu Tuy nhiên, so với quyđịnh tương ứng trong pháp luật thi hành án hình sự của Việt Nam thì quyđịnh này của Trung Hoa còn bộc lộ một số hạn chế, bởi việc quy định cơquan thi hành hình phạt tử hình có quyền lựa chọn hình thức áp dụng sẽ cókhả năng dẫn đến hiện tượng áp dụng tùy tiện nếu như các cơ quan quan cấptrên không quản lý quá trình thi hành án một cách triệt để, không đảm bảođược tính nghiêm minh của pháp luật và sự bình đẳng giữa những ngườichấp hành án
1.3.1.2 Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình
Thứ nhất, về cơ quan được giao nhiệm vụ thi hành hình phạt tử hình.
Nếu như BLTTHS năm 2003 và LTHAHS năm 2010 của nước Cộng hòaXHCN Việt nam quy định nhiệm vụ thi hành hình phạt tử hình thuộc về ba cơquan: Tòa án, Viện kiểm sát, Công an thì pháp luật tố tụng hình sự của NướcCộng hòa nhân dân Trung Hoa lại quy định nhiệm vụ này được giao cho Tòa
án TạijĐiều 154 BLTTHS của Cộng hòainhân dân Trung Hoa quyiđịnh:
Trang 37"Tòa áninhânidân cấp dưới phải thiihành án tử hình nộiitrong bảy ngày
kể từ nhận được lệnh của Tòa án nhân dân tốiicao” [9, Tr 110].
Điều 155 BLTTHS quy định: "Trướcikhi thi hành án tử hình, Tòa án nhân dân phải báo để Viện Kiểm sát nhân dân ngang cấp cử nhân viên
đến giám sát việc thi hành” [9, Tr 111]
Có thể thấy, nét nổi bật trong công tác thi hành án trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thông qua quy định này là các cơ quan thực hiệnnhiệm vụ thi hành án có sự phối hợp chủ yếu theo chiều ngang (Tòa án, Việnkiểm sát, Công an); còn trong pháp luật tố tụng hình sự Trung Hoa, các cơquan được thực hiện công tác thi hành án tử hình có sự phối hợp theo chiềudọc So với quy định tương ứng trong pháp luật thi hành án hình sự của ViệtNam, việc giao nhiệm vụ cho một cơ quan duy nhất là Tòa án có ưu điểm làđảm bảo sự thống nhất trong quá trình tổ chức thi hành án Tuy nhiên, nó còntồn tại một hạn chế là các cán bộ Tòa án phải thực hiện trọng trách quá lớn
mà chức năng cơ bản của Tòa án là xét xử
Thứ hai, về việc ra quyết định thi hành án, nếu như trong pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam nhiệm vụ này được giao cho Chánh án Tòa án tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương đã xét xử sơ thẩm thì pháp luật tố tụng hình
sự của Trung Hoa lại quy định nhiệm vụ này thuộc về Chánh án TANDTCthông qua việc ký lệnh thi hành những bản án tử hình mà mình đã xét xử, phêchuẩn So với quy định tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta thìquy định này bộc lộ một bất cập là TANDTC sẽ mang những trọng trách quánặng, hơn nữa Chánh án TANDTC không thể nắm rõ những điều kiện thihành ở một địa phương bằng Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh để từ đó, lựachọn hình thức thi hành hình phạt tử hình phù hợp nhất
Thứ ba, về thủ tục lập biên bản việc thi hành hình phạt tử hình,Điều 154
Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định:
“Sau khi thi hành xong án tử hình, thư ký phải ghi thành biên bản ngay tại pháp trường,Tòa án nhân dân có thẩm quyền thi hành án tử hình phảiibáo cáo tình hình thi hành án lên Tòa án nhân dân tối cao” [9, Tr 110].
Trang 38Giốnginhưiquyiđịnh tương ứng trong LTHAHS Việt Nam, sau khi lập biên bản thi hành án tử hình phải báo cáo lên Chánh án TANDTC nhằm đảmbảo cho quá trình thi hành hình phạt tử hình được thực hiện theo một trình tự,thủ tục chặt chẽ Tuy nhiên, khác với pháp luật THAHS Việt Nam là tráchnhiệm lập biên bản thuộc về Hội đồng thi hành án thì pháp luật tố tụng hình
sự Trung Hoa lại quy định trách nhiệm này thuộc về thư ký Tòa án Sự khácnhau này là xuất phát từ quy định cơ quan được giao nhiệm vụ thi hành hìnhphạt tử hình ở mỗi nước là khác nhau
Thứ tư, về vấn đề xin nhận hài cốt, tử thi của người bị thi hành án tử hình, tại Điều 154 BLTTHS Trung Hoa quy định: “Sau khi thi hành xong án
tử hình, Tòa án nhân dân có thẩm quyềnithiihànhián tử hình phải báo cho gia đình phạm nhân biết” [9, Tr 110] Cũng giống như pháp luật Việt Nam, pháp
luật Tố tụng hình sự Trung Hoa cho phép thân nhân người bị kết án tử hìnhnhận hài cốt, tử thi của người bị thi hành án Tuy nhiên, pháp luật thi hành ánhình sự Việt Nam quy định trình tự, thủ tục để được nhận chặt chẽ hơn Đây
là một quy định tiến bộ, mang tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc
Thứ năm, về các trường hợp hoãn thi hành án tử hình, Điều 341,
Chương Giải thích của TANDTC về một số vấn đề chấp hành luật tố tụnghình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 8-9-1998 quy định:
“ Tòa án nhân dân cấp dưới sau khi nhận lệnh thi hành án tử hình, nếu phát hiện có một trong những tình tiết sau đây, phải ngừng việc thi hành và lập tức báo cáo với Tòa án nhân dân đã phê chuẩn tử hình, để Tòa án nhân dân phê chuẩn tử hình ra quyết định:
1 Trước khi thi hành, phát hiện việc phán quyết có khả năng mắc sai lầm;
2 Trước khi thi hành, tội phạm khai báo sự thật quan trọng hoặc có biểu hiện lập công lớn khác, có thể cần thay đổi phán quyết;
3 Tội phạm đang mang thai” [9, Tr 200].
So với quy định tại Điều 58, LTHAHS năm 2010 thì các trường hợphoãn thi hành án tử hình trong pháp luật Việt Nam có phạm vi rộng hơn, baogồm cả trường hợp có lý do bất khả kháng và phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng