1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số vấn đề lí luận về tội giết người trong bộ luật hình sự việt nam năm 1999 thực trạng tại huyện hoa lư, tỉnh ninh bình trong giai đoạn 2010 – 2012

65 834 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 159,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khái niệm tội phạm quy định trong BLHS, tôi xin đưa ra khái niệm tôi phạm dưới góc độ của một sinh viên ngành luật như sau:“Tội phạm là hành vi có tính trái pháp luật hình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRONG GIAI ĐOẠN 2010 - 2012

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT TƯ PHÁP

Nghệ An, tháng 5 năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRONG GIAI ĐOẠN 2010 - 2012

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT TƯ PHÁP

Giảng viên hướng dẫn : Đặng Thị Phương Linh

Sinh viên thực hiện : Đinh Thị Thắm

Mã số sinh viên : 0955031170

Nghệ An, tháng 5 năm 2013

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớntrong các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa và xã hội Tiêu biểu như: ViệtNam trở thành thành viên tiêu biểu của tổ chức thương mại thế giới WTO; làủy viên không thường trực của hội đồng bảo an liên hiệp quốc; kinh tế ổnđịnh và có những bước tăng trưởng nhanh; đời sống nhân dân ngày càngđược nâng cao và được cải thiện hơn trước; an ninh chính trị - an toàn xã hộiđược đảm bảo… Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nước ta cũng phảiđối mặt với nhiều khó khăn thử thách lớn như sự chống phá của các thế lựcthù địch; sự suy thoái, khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu; sự gia tăngcủa các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm Cũng như nhiều quốc gia khác, vấnđề tội phạm gia tăng đang là một vấn nạn ở Việt Nam Trong những nămgần đây ở Việt Nam, tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp, có sựgia tăng nhanh về số lượng các vụ phạm tội Tội phạm hoạt động có tínhchất côn đồ, tính tổ chức, tính băng nhóm, tính liều lĩnh cao hơn trước cùngvới việc sử dụng các loại hung khí nguy hiểm để phạm tội Điển hình cho sựgia tăng đó là sự gia tăng các tội phạm về ma túy; tội phạm xâm phạmquyền sở hữu; tội phạm xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm của con người Như chúng ta đã biết, quyền được sống là quyềnthiêng liêng, quyền bất khả xâm phạm của con người được quy định tại cácđiều ước quốc tế, tại hiến pháp của nước cộng hòa XHCN Việt Nam vàBLHS Hiện nay, ở nước ta đang liên tục xảy ra các vụ giết người có tínhchất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng - đó là hồi chuông cảnh báo vềtình trạng bạo lực, sự coi thường tính mạng, sức khỏe của con người cũngnhư sự coi thường pháp luật Từ thực tế đó, thiết nghĩ việc nghiên cứu về tộiphạm giết người là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấutranh phòng chống loại tội phạm này

Trang 4

Để góp phần cùng địa phương thực hiện hiệu quả công tác đấu tranh

phòng chống tội phạm giết người, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số

vấn đề lí luận về tội giết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 Thực trạng tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2010 – 2012” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể nói, tội giết người là một đề tài luôn thu hút được sự quan tâm,chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Điều đó thể hiện ở việc đã có nhiều côngtrình khoa học nghiên cứu về đề tài này Trong đó, có thể kể đến một số côngtrình nghiên cứu như:

Thượng tá, Tiến sĩ - Nguyễn Minh Đức, phó giám đốc trung tâm nghiêncứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm học của Viện kiểm sát nhân dân,

Nguyên nhân và điều kiện gia tăng tội phạm giết người.

Hoàng Công Huân (1997), Tội giết người theo Luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng chống tội phạm giết người, Nxb Hà Nội.

Đỗ Đức Hồng Hà (2007), Tội giết người trong Luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, Luận văn tiến sĩ luật

học, Hà Nội

Như vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đề tàinày Các công trình kể trên được các tác giả tập trung nghiên cứu ởnhững phương diện và góc độ khác nhau như: Tội phạm học, hình pháphọc Tuy nhiên, trên địa bàn huyện Hoa Lư nói riêng và trên địa bàntỉnh Ninh Bình nói chung chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đề tàinày Chính vì thế, tôi đã lựa chọn đề tài này làm đề tài khóa luận tốtnghiệp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của khóa luận là tìm hiểu các quy định của BLHS Việt Namnăm 1999 về tội giết người Đồng thời tìm hiểu thực trạng về tội giết người tạihuyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

Trang 5

Qua đó người viết đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng caohiệu quả của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm giết người.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với các mục đích nêu trên, khóa luận tập trung các nhiệm vụ nghiên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lí luận về quy định của Bộluật hình sự năm 1999 về tội giết người; thực trạng về tội giết người trên địabàn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi các quy định của BLHS ViệtNam năm 1999 về tội giết người cùng với thực trạng về loại tội phạm này tạihuyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2010 - 2012

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau Trong đó, có một số phương pháp nghiên cứu cụthể sau: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp điều travà phương pháp tổng hợp

6 Ý nghĩa của đề tài

Khóa luận là công trình đầu tiên nghiên cứu về thực tiễn tội giết ngườitrên địa bàn huyện Hoa Lư trong giai đoạn 2010 - 2012 Trên cơ sở phân tíchnhững quy định trong BLHS Việt Nam năm 1999 về tội giết người, phân tích

số vụ giết người trên địa bàn huyện Hoa Lư… Từ đó, rút ra những nhận xét

Trang 6

về điểm mới trong Điều 93 BLHS năm 1999, nguyên nhân, giải pháp gópphần nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội giết người.Ngoài ra, kết quả của khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo tronghọc tập, trong xây dựng kế hoạch, chính sách, đường lối thực hiện công tácđấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội giết người nói riêng trên địabàn huyện Hoa Lư.

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần danh mục từ viết tắt, phần mở đầu, phần kết luận, phầndanh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 2 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội giết người trong Bộ luật hình

sự Việt Nam năm 1999

Chương 2: Thực trạng tội giết người tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

trong giai đoạn 2010 - 2012

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999

1.1 Khái niệm và đặc điểm của tội giết người

a) Khái niệm

Để tìm hiểu khái niệm tội giết người, trước tiên chúng ta phải hiểu thếnào là tội phạm? Khái niệm này dùng để chỉ tất cả các hành vi được luật quốcgia hoặc luật quốc tế xác định mà chủ thể thực hiện phải chịu biện phápcưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt Tuy nhiên, sự ghinhận khái niệm này trong luật hình sự của các nước cũng như quan điểm củacác nhà khoa học về tội phạm là không hoàn toàn giống nhau

Một số quốc gia ghi nhận khái niệm tội phạm trong điều luật cụ thể Cóthể kể đến như:

Theo quy định tại Điều 3 BLHS Philipines thì tội phạm được hiểu là:

“Hành vi hành động hoặc hành vi không hành động bị trừng trị về mặt hình

sự theo quy định của luật thì gọi là tội phạm” [18; 40].

Theo Điều 40 BLHS Malaysia thì tội phạm được hiểu là: “Bất cứ hành

vi nào bị Bộ luật này hoặc các đạo luật có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi coi là phải chịu hình phạt” [18; 49].

Khoản 1 Điều 8 BLHS Việt Nam quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế

độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.

Trang 8

Theo cuốn Bình luận BLHS, tội phạm còn được định nghĩa như sau:

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS thực hiện, có lỗi được quy định trong BLHS”.

Trên cơ sở khái niệm tội phạm được quy định tại Khoản Điều 8 BLHS

thì khái niệm tội phạm còn được định nghĩa ngắn gọn như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, có tính trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt”.

Từ khái niệm tội phạm quy định trong BLHS, tôi xin đưa ra khái niệm

tôi phạm dưới góc độ của một sinh viên ngành luật như sau:“Tội phạm là hành vi có tính trái pháp luật hình sự, do người có năng lực TNHS thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, có tính nguy hiểm cho xã hội và phải chịu hình phạt”

Có thể nói khái niệm tội phạm là khái niệm cơ bản nhất, có ý nghĩa là

cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể trong phần các tộiphạm cụ thể của Bộ luật hình sự Đồng thời, khái niệm tội phạm còn thể hiệnnhững nguyên tắc cơ bản của BLHS Việt Nam và là cơ sở để quy định khunghình phạt cho các tội phạm cụ thể

Xuất phát từ khái niệm tội phạm, các tội xâm phạm tính mạng đượchiểu là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS thựchiện, có lỗi, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng củangười khác

Các tội xâm phạm tính mạng, bao gồm: tội giết người, tội giết con mớiđẻ, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, tội bức tử…

Hiện nay, trong Luật hình sự của nhiều quốc gia, khái niệm tội giếtngười cũng như những quy định về loại tội phạm này là không thống nhất Cónhững quốc gia mô tả cụ thể những dấu hiệu của tội giết người nhưng có quốcgia lại chỉ quy định tội danh và nêu hình phạt trong luật Có thể kể đến như:

Điều 248 BLHS Philippines quy định: “Người nào có hành vi tước đoạt tính mạng của người khác thì phạm tội giết người và phải chịu hình phạt

tù chung thân nếu có một trong các tình tiết sau: Nhờ người khác có hung khí

Trang 9

hỗ trợ; giết thuê; bằng cách phóng hỏa, bỏ thuốc độc; lợi dụng hoàn cảnh thiên tai; bằng thủ đoạn tàn ác”

Điều 288 BLHS Thái Lan quy định: “Người nào có hành vi giết người thì bị phạt tử hình hoặc phạt tù từ 15 năm đến 20 năm”

Từ thực tiễn xét xử: “Tội giết người được hiểu là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác”

Theo cuốn Bình luận BLHS quy định: “Tội giết người được hiểu là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật”

Có thể thấy khái niệm về tội giết người đang tồn tại dưới nhiều quanđiểm khác nhau, mỗi quốc gia có cách định nghĩa khác nhau cũng như có quyđịnh khác nhau về tội giết người Tuy nhiên, các quan điểm đều tập trungnhấn mạnh tội giết người là hành vi trái pháp luật và nhằm tước bỏ tính mạngcủa người khác.Trong BLHS Việt Nam, việc quy định về tội giết người chỉdừng lại ở việc nêu tội danh mà không mô tả những dấu hiệu pháp lí cụ thểcủa tội giết người Trong khi đó, BLHS Philipines lại mô tả cụ thể những dấuhiệu pháp lí của tội giết người

Trên cơ sở khái niệm tội phạm, khái niệm tội giết người trong cuốn

Bình luận BLHS người viết xin đưa ra khái niệm về tội giết người như sau:

“Tội giết người được hiểu là hành vi trái pháp luật, do người có năng lực TNHS thực hiện với lỗi cố ý nhằm tước bỏ tính mạng của người khác theo ý muốn hoặc không theo ý muốn của nạn nhân”.

b) Đặc điểm của tội giết người

Mỗi tội phạm gồm có bốn đặc điểm chính là: tính nguy hiểm cho xãhội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính phải chịu hình phạt Trên cơ sở cácđặc điểm của tội phạm, tội giết người cũng mang bốn đặc điểm chính đó Tuynhiên, các đặc điểm của tội giết người có tính đặc trưng sau:

Thứ nhất, tính nguy hiểm cho xã hội

Tính nguy hiểm cho xã hội được hiểu là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệthại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Các quan hệ xã hộiđó bao gồm: quan hệ sở hữu,tính mạnh sức khỏe, nhân phẩm…

Trang 10

Tính nguy hiểm cho xã hội là một trong những đặc điểm cơ bản và quantrọng nhất của tội phạm Quyết định những thuộc tính khác của tội phạm nhưtính trái pháp luật hình sự bởi những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạmnhưng tính chất nguy hiển cho xã hội không đáng kể thì không phải là tộiphạm và được xử lí bằng các biện pháp khác (Khoản 4 Điều 8 BLHS) Đây làmột trong những căn cứ, cơ sở để đánh giá mức độ nghiêm trọng cho xã hộicủa hành vi phạm tội Cũng như để xác định hành vi phạm tội đó có phải làhành vi nguy hiểm cho xã hội hay không thì cần phải căn cứ vào các tình tiếtkhác như: Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại, động cơ và mục đích củangười có hành vi phạm tội, mức độ thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho cácquan hệ xã hội bị xâm hại, nhân thân của người có hành vi phạm tội…

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm luôn ở mức cao hơn so với các

vi phạm pháp luật khác Đây cũng là đặc điểm quan trọng để phân biệt tộiphạm với các loại vi phạm pháp luật khác (vi phạm hành chính, vi phạm trongdân sự)

Tuy nhiên, không phải khi nào một người thực hiện hành vi phạm tộithì thì cũng đồng nghĩa với việc hành vi đó có tính chất nguy hiểm cho xã hội.Bên cạnh các hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội thì cũngphải nhắc đến các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội (những tình tiếtlàm mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại nên được quyđịnh trong luật hình sự để xác định những trường hợp bình thường là tội phạmnhưng không bị coi là tội phạm khi được thực hiện trong điều kiện kèm theonhững tình tiết đó).Trong BLHS Việt Nam quy định hai tình tiết loại trừ tínhnguy hiểm cho xã hội đó là phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết Bêncạnh đó còn có một số tình tiết khác cũng có tính chất tương tự nhưng chưađược quy định trong BLHS Việt Nam như tình tiết cưỡng bức (phạm tội do bịngười khác cưỡng bức, ép buộc), tình tiết rủi ro (phạm tội vì do rủi ro thiêntai, các rủi ro bất ngờ nằm ngoài dự kiến, tầm kiểm soát của người phạm tội),tình tiết thi hành lệnh cấp trên (vì thi hành lệnh cấp trên dẫn đến phạm tội)…

Trang 11

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội giết người được thể hiện ở chỗ nó cóthể tước đoạt đi tính mạng và chấm dứt sự sống của người khác Hoặc nócũng có thể gây thương tích cho nạn nhân, ảnh hưởng đến sức khỏe của nạnnhân khi người đó phạm tội giết người trong trường hợp phạm tội chưa đạt.Như chúng ta đã biết, tính mạng con người, quyền được tôn trọng và bảo vệtính mạng của con người là một trong những khách thể quan trọng hàng đầuđược pháp luật hình sự bảo vệ Bởi, suy cho cùng thì mọi khách thể mà phápluật hình sự hướng tới đều là để bảo vệ con người mà muốn bảo vệ con ngườithì pháp luật phải bảo vệ quyền được sống, bảo vệ tính mạng, sức khỏe chocon người trước khi bảo vệ các quyền và lợi ích khác của con người Trườnghợp giết người do phòng vệ chính đáng thì tính nguy hiểm cho xã hội bị loạitrừ và không phải là tội phạm Giết người trong trường hợp phòng vệ chínhđáng là trường sự hợp được sự cho phép của pháp luật khi mà người phạm tộivì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đángcủa mình hoặc của người khác mà giết người đang có hành vi xâm phạm cáclợi ích nói trên Còn trường hợp giết người trong tình thế cấp thiết thì vềnguyên tắc Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận thiệt hại về tính mạngtrong tình thế cấp thiết và thiệt hại này chỉ được chấp nhận trong nhữngtrường hợp thật đặc biệt.

Thứ hai, tính có lỗi

Lỗi được hiểu là trạng thái tâm lí bên trong của người thực hiện hành viphạm tội, được thể hiện dưới hình thức lỗi vô ý hoặc cố ý Trong lỗi vô ý lạibao gồm: lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả Còn trong lỗi cố ý thìbao gồm: lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp

Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấyhành vi của mình có thể gây nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó

sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây rahậu quả nguy hại đó (Điều 10 BLHS)

Lỗi vô ý do cẩu thả là trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quảnguy hại cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước hành vi của mình

Trang 12

có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù phải thấy trước hậu quả và có thể thấy trướchậu quả (Điều 10 BLHS).

Một người bị coi là có lỗi khi người đó thực hiện hành vi gây thiệt hạicho xã hội nếu hành vi đó là kết quả của sự lựa chọn và quyết định của họtrong khi họ có đủ điều kiện để thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của

xã hội

Tính có lỗi là một trong những căn cứ quan trọng để quyết định hìnhphạt, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các tình tiết tăng nặng hay giảmnhẹ TNHS Tuy nhiên, cũng có một số tình tiết loại trừ tính có lỗi đó là sựkiện bất ngờ, chưa đủ tuổi chịu TNHS, không có năng lực chịu TNHS

Một người thực hiện hành vi phạm tội luôn bị đe dọa phải áp dụng biệnpháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt Mục đích củahình phạt theo Luật hình sự Việt Nam không chỉ nhằm trừng trị mà còn để cảitạo, giáo dục họ Chính vì thế mục đích của hình phạt chỉ có thể đạt được nếuhình phạt được áp dụng đối với những cá nhân có lỗi khi thực hiện hành viphạm tội Còn trong trường hợp, hình phạt được áp dụng đối với những cánhân không có lỗi thì mục đích của hình phạt sẽ không phát huy được hiệuquả của của nó

Đối với tội giết người, lỗi của người phạm tội chỉ có thể là lỗi cố ý màkhông phải là lỗi vô ý Trong đó có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý giántiếp Sở dĩ, trong tội giết người không tồn tại lỗi vô ý là vì khi thực hiện hành

vi khách quan của tội giết người, bản thân người phạm tội rõ ràng nhận thứcđược hành vi của mình có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng của ngườiđó và họ cũng mong muốn hậu quả chết người xảy ra Hoặc tuy hậu quả chếtngười là điều mà người phạm tội không mong muốn nhưng để đạt được mụcđích của mình thì họ lại có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra Trường hợpngười đó thực hiện hành vi làm chết người do lỗi vô ý thì người đó sẽ phảichịu TNHS về tội vô ý làm chết người chứ không phải là tội giết người

Trang 13

Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự

Tính trái pháp luật hình sự được hiểu là: “Làm trái những quy định của pháp luật hình sự, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ”

Có thể nói, tính trái pháp luật hình sự là một trong những thuộc tính bắtbuộc phải có trong các thuộc tính của tội phạm Giữa tính trái pháp luật vàtính nguy hiểm cho xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, mối quan hệgiữa nội dung và hình thức Trong đó, tính trái pháp luật là dấu hiệu về mặthình thức còn tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu về mặt nội dung Tuynhiên tính trái pháp luật vẫn có tính độc lập tương đối so với tính nguy hiểmcho xã hội và là cơ sở quan trọng bảo đảm cho đường lối đấu tranh phòngchống tội phạm được thống nhất, bảo đảm quyền dân chủ của công dân cũngnhư thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp thời sửa đổi, bổ sung luật cho phù hợp vớinhững biến đổi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Bên cạnh đó cũngkhông được quá coi trọng thuộc tính tính nguy hiểm cho xã hội hoặc thuộctính trái pháp luật Nếu quá coi trọng tính nguy hiểm cho xã hội mà bỏ quatính trái pháp luật hình sự thì sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong việc xácđược thống nhất Nhưng ngược lại nếu quá coi trọng tính trái pháp luật hình

sự mà bỏ qua tính nguy hiểm cho xã hội thì sẽ dẫn đến tình trạng xác định tộimột cách máy móc, hình thức và thiếu tính chính xác giữa các cơ quan tiếnhành tố tụng và người tiến hành tố tụng

Hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái phápluật được hiểu là hành vi giết người không được sự cho phép của pháp luậthoặc vượt quá giới hạn cho phép của pháp luật Hành vi đó dù có theo ý muốncủa nạn nhân thì vẫn bị coi là hành vi giết người, có tính trái pháp luật hình sựtheo quy định trong BLHS Việt Nam

Thứ tư, tính phải chịu hình phạt

Tính phải chịu hình phạt cũng là một trong những đặc điểm quan trọngcủa tội phạm Hình phat được hiểu là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhấtđược nhà nước áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội nhằm mục

Trang 14

đích trừng trị, giáo dục, cải tạo họ đồng thời đảm bảo sự công bằng của xãhội, sự nghiêm minh của pháp luật.

Tùy thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng cho xã hội của hành viphạm tội, nhân thân người phạm tội mà mỗi tội phạm có hệ thống hình phạtkhác nhau

Như vậy, tính phải chịu hình phạt là một thuộc tính của tội phạm vì nóđược xác định bởi những thuộc tính khách quan của tội phạm Điều đó cũngcó nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội nào, do tính nguy hiểm cho xã hội cũngđều bị đe dọa phải chịu hình phạt là biện pháp cưỡng chế của nhà nước cótính nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế nhà nước

Tội giết người thuộc loại tội phạm có tính chất nghiêm trọng và đặc biệtnghiêm trọng nên trong hệ thống hình phạt mà người phạm tội phải đối mặtcó thể là tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình và một số hình phạt bổ sungkhác (trong trường hợp hình phạt bị áp dụng không phải là tù chung thân hoặchình phạt tử hình)

Như vậy với tư cách là một tội phạm cụ thể trong các tội xâm phạm tínhmạng, tội giết người cũng mang bốn đặc điểm của tội phạm Từ bốn đặc điểmcủa tội phạm giúp ta hiểu hơn bản chất của tội giết người cũng như đặc điểmkhác biệt giữa tội giết người và các tội xâm phạm tính mạng khác

1.2 Dấu hiệu pháp lí

Dấu hiệu pháp lí của tội phạm: Là tập hợp các yếu tố để cấu thành nênmột loại tội phạm nào đó Để một hành vi bị coi là một tội phạm nào đó vàkhác với hành vi không phải là tội phạm thì nó phải thỏa mãn các dấu hiệupháp lí của tội phạm đó

Cũng như các loại tội phạm cụ thể khác, khi nói đến dấu hiệu pháp lí sẽbao gồm các yếu tố cấu thành: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, kháchthể của tội phạm

Trang 15

1.2.1 Mặt khách quan của tội giết người

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm baogồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giớikhách quan

Mặt khách quan của tội giết người: Là mặt bên ngoài, những biểu hiệncủa tội giết người diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Mặtkhách quan của tội giết người bao gồm các yếu cấu thành: Hành vi kháchquan, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả

a) Hành vi khách quan của tội giết người

Hành vi khách quan tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái phápluật tính mạng của người khác Hành vi tước đoạt tính mạng của người

khác được hiểu là: Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ Hành vi khách quan của tội giết người có những

đặc điểm sau:

Thứ nhất, hành vi khách quan của tội giết người được thể hiện dướidạng hành động hoặc không hành động Cụ thể:

Hành động: hành động đâm, chém, vật, bắn…

Không hành động: là việc chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện công việcnhất định phải có những hành động nhất định để đảm bảo sự an toàn về tínhmạng của người khác nhưng họ đã không hành động, không làm những côngviệc, nghĩa vụ đó dẫn đến hậu quả chết người

Ví dụ 1: A và B cãi nhau, A bực mình rút dao thủ sẵn trong người để đâm B dẫn đến hậu quả B bị chết tại chỗ do bị đâm trúng tim Như vậy hành

vi khách quan của tội giết người mà A đã thực hiện được thể hiện dưới dạng hành động, qua hành động rút dao đâm B.

Ví dụ 2: A là cha ruột của B A thường xuyên đau ốm, bệnh tật nên nằm liệt giường B ghét bỏ cha mình thường xuyên bỏ đói A dẫn đến hậu quả A chết vì bị bỏ đói Như vậy, hành vi khách quan của tội giết người mà B đã thục hiện dược thể hiện dưới dạng không hành động, qua việc B đã không thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng A và bỏ đói A dẫn đến hậu quả A chết.

Trang 16

Thứ hai, hành vi khách quan của tội giết người là hành vi có tính tráipháp luật hình sự.

Những trường hợp tước bỏ tính mạng của người khác nhưng được sựcho phép của pháp luật, thì những hành vi đó không phải là hành vi kháchquan của tội giết người Đó là các trường hợp phòng vệ chính đáng, thi hànhbản án tử hình

Hành vi tự tước đoạt tính mạng của bản thân mình không phải là hành

vi khách quan của tội giết người mà là hành vi tự sát

Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác theo ý muốn của nạn nhâncũng là hành vi khách quan của tội giết người (Theo quy định của pháp luậthình sự Việt Nam)

Thứ ba, hành vi khách quan của tội giết người được thể hiện dưới hìnhthức dùng vũ lực hoặc không dùng vũ lực

Dưới hình thức sử dụng vũ lực: là trường hợp người phạm tội thực hiệnhành vi phạm tội của mình bằng cách sử dụng sức mạnh vật chất để tác độnglên than thể của nạn nhân.Việc dùng vũ lực được thể hiện dưới hình thức thựchiện trực tiếp như dùng tay chân để đấm, bóp cổ, đè lên người nạn nhân hoặcthực hiện gián tiếp thông qua các phương tiện vật chất như dùng súng để bắn,dùng dao để chém hoặc đâm nạn nhân…

Ví dụ: A và B là sinh viên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội, lại trọ cùng phòng Vì B hay nói xấu A với mọi người trong xóm nên A rất bức xúc Tối chờ cho B ngủ say, A đè lên người B bóp cổ B cho đến khi B không còn giãy giụa nữa thì A mới bỏ ra B tử vong vì ngạt thở.

Dưới hình thức không dùng vũ lực: Không dùng vũ lực có nghĩa làngười phạm tội thực hiện hành vi giết người của mình bằng cách dùng cácthủ đoạn chứ không sử dụng sức mạnh vật chất để tác động lên thân thể củanạn nhân

Ví dụ như: dùng thuốc độc để đầu độc nạn nhân, giăng bẫy điện để nạn nhân bị điện giật chết.

Thứ tư, hành vi giết người có hoặc không có sử dụng vũ khí, hung khí

Trang 17

Trường hợp không sử dụng vũ khí, hung khí: Trong trường hợp nàyngười phạm tội không sử dụng vũ khí, hung khí mà sử dụng sức mạnh của cơthể mình để tác động lên cơ thể nạn nhân hoặc dùng các thủ đoạn để đẩy nạnnhân vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng như là đẩy nạn nhân xuốngnước mà nạn nhân không biết bơi, đẩy nạn nhân từ trên cao xuống

Trường hợp sử dụng vũ khí, hung khí: Trong trường hợp này ngườiphạm tội sử dụng các vũ khí, hung khí để tước đoạt đi tính mạng của nạnnhân Đó có thể là hành vi dùng dao để giết nạn nhân, dùng điện để chích lên

cơ thể nạn nhân cho đến khi nạn nhân chết

Như vậy, hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt tráipháp luật tính mạng của người khác được thể hiện dưới hình thức dùng vũ lựchoặc không dùng vũ lực, hành động hoặc không hành động, có sử dụng vũkhí, hung khí hoặc không sử dụng vũ khí, hung khí… Hành vi khách quan củatội giết người là một trong những yếu tố cấu thành quan trọng trong mặtkhách quan của tội giết người

Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP tội giết người.Tuy nhiên trong trường hợp vì nguyên nhân khách quan mà hậu quả chếtngười không xảy ra thì người thực hiện hành vi phạm tội vẫn bị truy cứu vềtội giết người trong trường hợp phạm tội chưa đạt

Ví dụ 1: A đánh nhau với B và làm B chết Trong trường hợp này hậu quả là B chết, A có đủ năng lực TNHS, A sẽ bị truy tố về tội giết người.

Ví dụ 2: A xích mích với B, A quyết định lập kế hoạch để giết B cho bõ tức A ra chợ mua 2 gói thuốc chuột để đầu độc B Trưa đó A sang nhà B lén

bỏ 2 gói thuốc vào trong nồi cơm của B Tuy nhiên, do A mua phải thuốc giả

Trang 18

nên ý định giết B của A thất bại Trong trường hợp này, tuy hậu quả chết người chưa xảy ra nhưng A vẫn sẽ bị truy cứu TNHS về tội giết người nhưng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

c) Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả của tộiphạm là mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng Trong đó, hiện tượng này(nguyên nhân) là nguyên nhân làm phát sinh hiện tượng kia còn hiện tượngphát sinh (hậu quả) là kết quả tất yếu của hiện tượng đó

Việc xác định mối quan hệ nhân quả này có ý nghĩa quan trọng trongtội giết người bởi người thực hiện hành vi phạm tội chỉ phải chịu TNHS khihành vi khách quan họ thực hiện là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quảchết người; đồng thời hậu quả chết người là kết quả tất yếu do hành vi kháchquan mà họ thực hiện gây ra

Trong nhiều trường hợp, hậu quả chết người không có mối quan hệnhân quả với hành vi khách quan.Tức là hành vi khách quan không phải lànguyên trực tiếp gây ra hậu quả chết người mà hậu quả chết người là do cácnguyên nhân khác thì người đó sẽ không thể bị truy cứu TNHS về tội giếtngười Trong trường hợp này, người đó sẽ bị truy cứu TNHS về tội danh khácnhư tội cố ý gây thương tích…

Ví dụ: Anh An và chị Ba xảy ra mâu thuẫn, anh An bị chị Ba dùng dao chém 1 nhát vào chân nhưng không nguy hiểm đến tính mạng Do anh An không cẩn thận nên vết thương bị nhiễm trùng dẫn đến hậu quả anh An bị tử vong Trong trường hợp này, chị Ba không thể bị truy cứu TNHS về tội giết người vì giữa hành vi chém 1 nhát dao vào chân anh An của chị Ba và hậu quả anh An bị tử vong không có mối quan hệ với nhau.Nguyên nhân anh An

tử vong là do anh An không cẩn thận nên vết thương bị nhiễm trùng Tóm lại, giữa hành vi khách quan mà chị Ba thực hiện với hậu quả anh An chết không

có mối quan hệ nhân quả với nhau Do đó chị Ba không thể bị truy cứu TNHS

về tội giết người.

Trang 19

Như vậy, mặt khách quan là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành tộiphạm giết người nói riêng và tội phạm nói chung Không có mặt khách quanthì sẽ không có các yếu tố khác của tội phạm và do vậy sẽ khoongc ó tộiphạm Việc xác định chính xác mặt khách quan có ý nghĩa quan trọng trongviệc định tội, định khung hình phạt trong các trường hợp phạm tội cụ thể.

1.2.2 Mặt chủ quan của tội giết người

Mặt chủ quan được hiểu là là trạng thái tâm lý bên trong của ngườiphạm tội bao gồm lỗi, mục đích và động cơ

a) Lỗi

Lỗi: Là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xãhội của mình và đối với hậu quả cho hành vi đó gây ra được biểu hiện dướihình thức cố ý hoặc vô ý

Trong tội giết người chỉ có lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp màkhông có lỗi vô ý Bởi theo định nghĩa về tội giết nguời thì đó là hành vi cố ýtước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác

Lỗi cố ý trực tiếp: Là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội, thấy trước hậu quả đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra (Khoản 1Điều 9 BLHS)

Lỗi cố ý trực tiếp của người phạm tội giết người: là trường hợp ngườiphạm tội thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra nhưng mong muốn hậuquả đó xảy ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội

Dấu hiệu của lỗi cố ý trực tiếp trong tội giết người bao gồm yếu tố lí trívà yếu tố ý chí

Về yếu tố lí trí: Người phạm tội nhận thức rõ được hành vi của mìnhthực hiện là nguy hiểm cho xã hội Đồng thời, người phạm tội cũng thấy rõhậu quả chết người do hành vi phạm tội của mình gây ra Trong đó ngườiphạm tội nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội có nghĩa là họ nhận thứcđược tính chất gây thiệt hại cho xã hội vi họ đang thực hiện trên cơ sở nhậnthức những tình tiết khách quan cuả nó - những tình tiết tạo nên tính gây thiệthại của hành vi (đối tượng tác động của hành vi phạm tội là con người) Thấy

Trang 20

trước hậu quả chết người của hành vi đó có nghĩa là sự dự kiến của ngườiphạm tội về sự phát triển của hành vi mà mình thực hiện Tội giết người làloại tội phạm có CTTP vật chất nên khi thực hiện hành vi giết người, ngườiphạn tội không những nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành

vi mình thực hiện mà họ còn thấy trước được hậu quả chết người sẽ xảy rahoặc có thể xảy ra Trong yếu tố lí trí của tội giết người việc nhận thức rõ tínhchất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và thấy trước hậu quả chết người là hainội dung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thấy trước hậu quả chết người là

sự cụ thể hóa sự nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi còn việcnhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là cơ sở cho việcthấy trước hậu quả của hành vi

Về yếu tố ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh

Người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh có nghĩa là hậu quảchết người mà người phạm tội đã thấy trước hoàn toàn phù hợp với mụcđích của họ

Ví dụ: Anh X và anh Y là hai anh em cùng cha khác mẹ.Để độc chiếm tài sản của cha mình anh X đã lập kế hoạch để giết B Biết B không biết bơi nên A đã rủ B ra sông tắm Trong lúc tắm, lợi dụng B không để ý A đẩy chiếc phao của B ra xa dẫn hậu quả B bị chết đuối.Như vậy, trong trường hợp này, lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp vì A nhận thức rõ được rằng hành vi đẩy chiếc phao của B ra xa có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của B vì B không biết bơi.Hơn nữa hậu quả B chết hoàn toàn phù hợp với mục đích của A muốn B chết để độc chiếm tài sản của cha.

Lỗi cố ý gián tiếp: Là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội thấy trướchậu quả của hành vi tuy không mong muốn cho hậu quả xảy ra nhưng có ýthức để mặc cho hậu quả xảy ra (Điều 9 BLHS)

Lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người là trường hợp người phạm tộinhận thức được hành vi của mình có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạngcủa người khác, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra nhưng để đạt

Trang 21

được mục đích phạm tội của mình thì người pham tội lại có ý thức để mặc chohậu quả đó xảy ra.

Dấu hiệu của lỗi cố ý gián tiếp bao gồm:

Yếu tố lý chí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xãhội của hành vi mà mình thực hiện, thấy trước hành vi đó có thể gây nguyhiểm cho xã hội

Yếu tố ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả chết ngườixảy ra, hậu quả chết người không phù hợp với mục đích mà họ đã đặt ra trướckhi thực hiện hành vi phạm tội Nhưng để đạt được mục đích đã đặt ra thì họlại chấp nhận hậu quả chết người xảy ra

Như vậy, trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi giếtngười của mình với lỗi cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp thì về cơ bản yếu tốlí trí của người phạm tội đều tương đồng như nhau Điểm khác biệt cơ bảntrong yếu tố lí trí giữa hai loại lỗi này là trong trường hợp lỗi cố ý trực tiếp

sự thấy trước hậu quả chết người của người phạm tội có thể là thấy trướchậu quả đó tất nhiên phải xảy ra hoặc có thể là thấy trước hậu quả đó có thểxảy ra Còn ở trường hợp cố ý gián tiếp thì thấy trước hậu quả chết người chỉcó thể là thấy trước hậu quả đó có thể xảy ra mà không có trường hợp ngườiphạm tội thấy hậu quả đó tất nhiên xảy ra Về yếu tố ý chí, trong trường hợp

cố ý trực tiếp người phạm tội mong muốn hậu quả chết người xảy ra còntrong trường hợp lỗi cố ý gián tiếp người phạm tội lại không mong muốnhậu quả chết người xảy ra, hậu quả chết người đó không phù hợp với mụcđích của họ nhưng để đạt được mục đích của mình thì họ lại có ý thức đểmặc cho hậu quả đó xảy ra

Ví dụ: A và B là đôi bạn thân thiết của nhau Một hôm A rủ B vào rừng

chặt củi A vốn khỏe mạnh nên chỉ một lúc là đã chặt được cả xe củi trong khi

B vốn tính chậm chạp nên chỉ chặt được bằng một phần ba số củi của A A buông lời nói mỉa B: “Mày là đàn ông mà làm yếu như sên thế à” Nghe A nói thế, B thấy bực mình nên đã vung dao chém bừa vào người A làm A chết Như vậy, khi thực hiện hành động vung dao chém bừa vào người A thì bản

Trang 22

thân B nhận thức được hành vi của mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội,

có thể gây chết người Nhưng do B đang bực tức nên B cứ làm, mặc cho hậu quả như thế nào cũng được Bản thân B không hề có ý định giết A, nhưng A

có chết thì B cũng chấp nhận.

b) Mục đích và động cơ

Mục đích của tội phạm là kết quả mà người phạm tội mong muốn đạtđược khi thực hiện hành vi phạm tội đó

Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành

vi phạm tội của mình

Mục đích của người phạm tội giết người là nhằm tước bỏ đi mạng sốngcủa nạn nhân, chấm dứt sự sống của họ Mục đích không phải là dấu hiệu bắtbuộc phải có trong cấu thành tội giết người song trong một số trường hợp nólại là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt chủ quan để làm căn cứ phân biệtvới một số trường hợp sau:

Thứ nhất, trường hợp gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người.Trong trường hợp này, nếu người phạm đó thực hiện hành vi với mục đíchgiết người thì người đó sẽ bị truy cứu TNHS về tội giết người Nhưng nếungười đố thực hiện hành vi đó nhưng không có mục đích giết người thì ngườiđó sẽ bị truy cứu TNHS về tội cố ý gây thương tích

Thứ hai, trường hợp nạn nhân bị tấn công bằng hung khí nguy hiểm vàocác vị trí hiểm yếu như ngực, bụng, đầu… nhưng chỉ bị thương tích Trongtrường hợp này nếu người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với mục đíchgiết người thì sẽ bị truy cứu TNHS về tội giết người nhưng thuộc trường hợpphạm tội chưa đạt Còn nếu không có mục đích giết người thì sẽ bị truy cứuTNHS về tội cố ý gây thương tích

Thứ ba, trường hợp nạn nhân bị vướng bẫy điện dẫn đến tử vong.Trong trường hợp này, nếu người phạm tội thực hiện việc bẫy điện vớimục đích là chống trộm thì người đó sẽ bị truy cứu TNHS về tội giếtngười Còn nếu người đó bẫy điện với mục đích chống sự phá hoại của

Trang 23

các con vật như của chuột thì người đó sẽ bị truy cứu TNHS về tội vô ýlàm chết người

Động cơ thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội có thể làvì động cơ đê hèn, do muốn cướp tài sản của nạn nhân, giết người để thựchiện hoặc che giấu tội phạm khác

Động cơ và mục đích của tội giết người là căn cứ để định khung hìnhphạt Trong tội giết người có một số động cơ là tình tiết định khung tăng nặnghình phạt như giết người vì động cơ đê hèn, giết người để lấy bộ phận cơ thểcủa nạn nhân, giết người vì lí do công vụ…

Ví dụ: A và B cùng học tại trường đại học X Hai người yêu nhau chưa được bao lâu thì dọn về sống chung Sau một thời gian, A và B thường xuyên cãi vã vì A có thói trăng hoa B có bầu và bắt A phải cưới gấp.Để chối bỏ trách nhiệm của mình A đã dùng dao đâm liên tiếp 9 nhát lên B dẫn đến hậu quả B chết tại chỗ Như vậy, động cơ thúc đẩy A thực hiện hành vi giết B xuất phát từ việc A muốn chối bỏ trách nhiệm của mình, không muốn B làm phiền mình Động cơ phạm tội của A là động cơ đê hèn - là một trong các tình tiết định khung tăng nặng trong tội giết người.

1.2.3 Chủ thể của tội giết người

Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật địnhvà đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể

Chủ thể tội giết người: Là người có năng lực trách nhiệm hình sự đạt độtuổi luật định và đã thực hiện hành vi giết người

Điều 12 BLHS Việt Nam quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”.

Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệtnghiêm trọng”

Tội giết người thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêmtrọng nên người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi sẽ vẫn phải chịutrách nhiệm hình sự về tội giết người

Trang 24

Như vậy điều kiện để trở thành chủ thể của tội giết người baogồm: Có năng lực TNHS (người có khả năng này nhận thức và điềukhiển hành vi phạm tội của mình) đạt đủ độ tuổi do luật định, đã thựchiện hành vi giết người.

Ví dụ: A là giáo viên dạy toán ở trường V Một hôm đang ngồi uống bia

ở quán giải khát H thì gặp B là bạn học cùng trường hồi cấp 3 A, B ngồi nói chuyện với nhau được một lúc thì hai bên lời qua tiếng lại Lúc đó cả hai đều chưa say, B cầm mấy vỏ trai bia đập liên tiếp vào đầu A A gục xuống và tử vong trên đường đi cấp cứu Như vậy, chủ thể của tội giết người trong tình huống này là B B có đủ điều kiện để trở thành chủ thể của tội giết người: có

đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, đã đạt độ tuổi luật định và B cũng là người đã thực hiện hành vi giết người.

1.2.4 Khách thể của tội giết người

Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sựbảo vệ và bị tội phạm xâm hại Khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu

tố cấu thành tội phạm, có vị trí đặc biệt với ý nghĩa là những quan hệ xã hội bịtội phạm gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại

Khách thể của tội giết người là quyền sống, quyền được tôn trọng vàbảo vệ tính mạng của con người - đó là quyền cơ bản nhất của con ngườiđược quy định trong Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa XHCN ViệtNam và được pháp luật hình sự bảo vệ

Đối tượng tác động của người phạm tội giết người là con người cònsống Thời gian người đó có thể bị hành vi phạm tội xâm hại bắt đầu từ khingười đó được sinh ra và kết thúc khi người đó chết đi Trước thời điểm sinh

ra người đó chưa tồn tại về mặt pháp lí do đó hành vi phạm tội chưa thể xâmhại người đó được Ngược lại khi người đó chết đi thì sẽ chấm dứt về mặtpháp lí cũng như về mặt thực tế Như vậy, đối tượng tác động của tội giếtngười là con người còn sống Các hành vi xâm hại bào thai, xâm hại thi thể,hài cốt… sẽ bị truy cứu về tội khác chứ không phải tội giết người

Trang 25

1.3 Hình phạt

Theo Điều 26 BLHS quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền lợi ích hợp pháp của người phạm tội”.

Đối với tội giết người, người phạm tội có thể bị áp dụng các hìnhphạt chính là tù hoặc tử hình và các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệmchức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, phạt quản chế hoặccấm cư trú

1.3.1 Hình phạt chính

a) Khung tăng nặng (Khoản 1 Điều 93 BLHS)

Tình tiết định khung hình phạt là những tình tiết của tội phạm phù hợpvà thỏa mãn dấu hiệu định khung hình phạt của những tội phạm cụ thể trongBLHS Đây là khung có các tình tiết định khung tăng nặng của điều luật, quyđịnh về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức phạt tù từ 12 năm đến 20năm,tù chung thân hoặc tử hình

Hình phạt tù được hiểu là giam người bị kết án phạt tù vào trại giam,cách li người đó ra khỏi xã hội trong khoảng một thời gian nhất định hoặc vôthời hạn nhằm trừng phạt họ, đảm bảo công lí và công bằng xã hội

Hình phạt tử hình: Là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống cáchình phạt nhằm tước bỏ quyền sống của người phạm tội, loại trừ vĩnh viễnngười đó ra khỏi xã hội Như vậy, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối vớingười phạm tội giết người trong các trường hợp pháp luật quy định phải ápdụng hình phạt tử hình Và cũng theo quy định, người phạm tội giết người màlà người chưa thành niên, phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 thángtuổi thì sẽ không áp dụng hình phạt đi tử hình điều này thể hiện tinh thần nhânđạo của pháp luật hình sự Việt Nam

Khung tăng nặng này được áp dụng trong trường hợp người phạm tộikhi thực hiện hành vi phạm tội của mình có một hoặc nhiều các tình tiết địnhkhung tăng nặng như: giết nhiều người; thuê giết người hoặc giết người thuê,giết phụ nữ mà biết là có thai, giết người một cách man rợ…

Trang 26

Giết nhiều người

Giết nhiều người là trường hợp người phạm tội giết từ 2 người trở lên

Ví dụ: Vụ thảm án giết hại cả gia đình người yêu ở Thái Bình vào đêm 23/12/2012

Giết phụ nữ mà biết là có thai

Đây là trường hợp người phạm tội giết người phụ nữ đang có thai vàbản thân người phạm tội biết được rằng người phụ nữ đó có thai

Trong trường hợp, người phạm tội giết người phụ nữ có thai nhưng bảnthân người phạm tội không biết nạn nhân đang mang thai thì đây không đượccoi là tình tiết định khung tăng nặng

Trường hợp người phạm tội có sự lầm tưởng người phụ nữ đó có thai và

sự lầm tưởng đó là có căn cứ thì khi giết người phụ nữ đó thì người phạm tộicó bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này hay không? Vấn đề này cũngchưa được pháp luật đề cập đến Tuy nhiên theo ý kiến của Ths Đinh VănQuế thì trong trường hợp này người phạm tội vẫn bị áp dụng tình tiết giết phụnữ mà biết là có thai [17]

Ví dụ: Vụ án chồng dùng khẩu súng tự chế bắn chết vợ là Huệ đang mang bầu 8 tháng tại thôn Nham Tràn, xã Thanh Tân, Thanh Niêm, Hà Nam xảy ra vào ngày 28/12/2012.

Giết trẻ em

Trong trường hợp này, nạn nhân bị tước đoạt mạng sống là trẻ em theo

Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.

Như vậy, nạn nhân là trẻ em phải dưới 16 tuổi, hành vi giết trẻ được coilà một tình tiết định khung tăng nặng cho người có hành vi giết người bởi trẻ

em là đối tượng cần được quan tâm, chăm sóc, bảo vệ đặc biệt của gia đình,nhà trường và toàn xã hội

Ví dụ: Vụ án mạng thương tâm xảy ra ở Sơn Tây, Hà Nội vào ngày 28/07/2012 khi hung thủ Đặng Trần Hoài lẻn vào nhà một người dân để

Trang 27

thực hiện hành vi hiếp dâm cháu H sinh năm 2004 và giết chết em gái của H mới 4 tuổi.

Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lí do công vụ của nạn nhân Công vụ là: “Công việc mà cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho người thực hiện” Trong trường hợp này, nạn nhân là người có nghĩa vụ

thi hành công vụ Động cơ thúc đấy người phạm tội thực hiện hành vi giếtngười của mình là nhằm ngăn chặn việc thi hành công vụ hoặc vì lí do côngvụ mà giết chết người đó

Trong trường hợp này, người phạm tội không những xâm phạm đếntính mạng con người mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, cản trở hoạtđộng chung của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an cũngnhư đời sống chung của nhân dân

Ví dụ: Giết người đang thi hành công vụ Theo cáo trạng, 10h sáng ngày 07/07/2009 anh Phùng Tuấn Anh là thành viên tổ công tác của đội thanh tra giao thông vận tải huyện Thanh Trì – Hà Nội trong khi đang làm nhiệm vụ, khi yêu cầu xe ô tô của Trần Danh Tuyên dừng lại để kiểm tra vì xe của Tuyên có dấu hiệu trở quá tải, nhưng Tuyên đã không dừng xe lại mà tiếp tục đâm thẳng vào anh Tuấn Anh dẫn đến việc anh Tuấn Anh bị thương nặng

và tử vong tại bệnh viện quân y 103.

Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình

Nạn nhân trong trường hợp này có thể là ông, bà, cha mẹ, người nuôidưỡng, thầy giáo, cô giáo của người phạm tội giữa nạn nhân và nạn nhânđược nuôi dưỡng, dạy dỗ, giáo dục Trong đó, trường hợp giết người nuôidưỡng của mình thì có quan điểm cho rằng, cứ giết người đã hoặc đang nuôidưỡng mình dù quan hệ nuôi dưỡng này không được pháp luật thừa nhận thìngười phạm tội vẫn bị áp dụng tình tiết này Nhưng cũng có quan điểm lại chorằng, để áp dụng tình tiết này thì phải thỏa mãn hai điều kiện là nạn nhân đãhoặc đang là người nuôi dưỡng người phạm tội Đồng thời, quan hệ pháp luật

này phải được nhà nước bảo hộ Nếu theo đạo lí truyền thống “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”của dân tộc Việt Nam, thì người phạm tội phải kính trọng biết ơn

Trang 28

họ, đặc biệt đối với cha mẹ, ông bà thì người phạm tội còn phải có nghĩa vụchăm sóc, phụng dưỡng Nhưng người phạm tội lại đi ngược lại đạo lí đó,nhẫn tâm tước đoạt đi sự sống của chính những người đã nuôi dạy, sinh thành

cô tắt thở Còn cháu Hoàng Anh cũng bị Minh đâm nhiều nhát Sau đó Minh lên tầng lục lọi tất cả các phòng để lấy đi toàn bộ số nữ trang bằng vàng và 1 chiếc xe máy atila màu trắng.

Ngày 13/07/2007, tòa án nhân dân tinh Ninh Bình đã mở phiên tòa xét

xử bị cáo Minh “tội giết người cướp tài sản” với mức hình phạt cao nhất là

Giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác

Mục đích giết người là để thực hiện một tội phạm khác hoặc vì muốnche giấu tội phạm khác mà người đó đã thực hiện hành vi giết người

Ví dụ: A muốn trộm chiếc xe máy nhà B, để trộm được chiếc xe máy A

đã giết chết B Hay, A trộm chiếc xe máy của B nhưng đang trộm thì bị B phát hiện Sợ B sẽ nói với G (là người yêu của A), A đã giết chết B để che giấu hành vi phạm tội của mình.

Trang 29

Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân

Bộ phận cơ thể của nạn nhân có thể là tim, thận, gan Mục đích ngườiphạm tội là giết người đó để lấy các bộ phận cơ thể của nạn nhân đem bán chonhưng người có nhu cầu nhằm thu lợi nhuận

Có thể nói đây là một trong những hành vi thể hiện sự độc ác, vô nhântính chất của những người phạm tội khi họ biến những bộ phận cơ con ngườithể thành thứ hàng hóa để họ buôn bán kiếm lợi nhuận, đánh đổi tính mạngcủa người khác để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mình Điều đó khôngnhững thể hiện sự độc ác, không có tính người của người phạm tội mà nó cònthể hiện sự coi thường tính mạng, sức khỏe của con người, sự coi thườngpháp luật của người phạm tội Vì thế, việc quy định đây là một tình tiết địnhkhung tăng năng là rất hợp lí

Thực hiện tội phạm một cách man rợ

Đây là trường hợp người phạm tội tước đoạt đi tính mạng của nạn nhân,chấm dứt sự sống của nạn nhân một cách rất tàn ác, man rợ Với việc gây racái chết trong đau đớn cho nạn nhân Tính man rợ ở đây được thể hiện nhưviệc giết nạn nhân bằng cách hành hạ, tra tấn, gây ra cho người khác sự rùngrợn, kinh hãi: Chặt tay, chặt chân nạn nhân, sử dụng các hình thức tra tấn dãman thời trung cổ… Tuy nhiên, cũng cần phân biệt rõ ràng ranh giới giếtngười man rợ và thực hiện phi tang xác một cách man rợ

Thực hiện tội phạm bằng cách lợi dụng nghề nghiệp

Bất cứ ai cũng có thể trở thành hung thủ giết người nếu trong họ có ýđịnh giết người, có những nghề nghiệp mà họ dễ dàng lợi dụng nghề của mìnhđể thực hiện hành vi giết người như bác sĩ lợi dụng nghề nghiệp để giết bệnhnhân, công an lợi dụng nghề nghiệp của mình để giết phạm nhân…

Ví dụ: A là bác sĩ chuyên khoa tim Trong một lần thực hiện ca phẫu thuật cho bệnh nhân X A phát hiện X chính là người đã cướp mất người yêu của mình trong thời gian A đi du học ở Pháp A nhận thấy đây là cơ hội thuận lợi để giết X Trong quá trình mổ cho X, A đã cố tình tiêm nhầm thuốc

Trang 30

cho X, làm X chết Như vậy, trong tình huống này, A đã lợi dụng nghề nghiệp của mình để giết chết X.

Thực hiện tội phạm bằng phương pháp có khả năng chết nhiều người

Trong trường hợp này, hậu quả mà người phạm tội gây ra là rất nghiêmtrọng khi họ thực hiện hành vi phạm tội của mình bằng phương pháp có khảnăng làm chết nhiều người Phương pháp đó có thể là dùng bom mìn, dùngthuốc độc để đầu độc… Đây là một tình tiết định khung tăng nặng hình phạt,hậu quả chết nhiều người không bắt buộc phải có mà chỉ cần thỏa mãn điềukiện là có khả năng làm chết nhiều người

Ví dụ: A nổi tiếng là kẻ lưu manh, vô học trong làng M A và B vốn yêu nhau được hơn một năm thì gia đình B biết chuyện nên đã ngăn cản, cấm đoán B Do gia đình cương quyết ngăn cản, cấm đoán nên B đành chia tay với A A không đồng ý và dọa nếu B không nối lại tình cảm thì A sẽ giết cả nhà người yêu Đã nói là làm, A đi mua 2 quả lựu đạn và ném vào nhà B Hậu quả là làm bố mẹ B tử vong, em gái B bị thương nặng Như vậy, trong trường hợp này A đã thực hiện hành vi phạm tội của mình bằng phương pháp

có khả năng chết nhiều người Và thực tế, hậu quả làm 2 người tử vong.

Thuê giết người hoặc giết người thuê

Trong trường hợp này, người phạm tội muốn tước đi tính mạng củangười khác nhưng họ lại không tự ra tay mà bỏ tiền thuê người khác giết thuê.Còn giết người thuê là việc tước đoạt đi tính mạng của người khác theo sựthuê mướn của người thuê giết, sau khi giết người thuê xong họ sẽ nhận đượcmột khoản thù lao là vật chất hoặc lợi ích khác theo sự thỏa thuận của hai bên

Phạm tội có tính chất côn đồ

Phạm tội có tính chất côn đồ là trường hợp khi phạm tội người phạm tội

đã rõ ràng coi thường những quy tắc trong cuộc sống, có những hành vi ngangngược, càn quấy, bất chấp sự can ngăn của người khác chỉ vì những nguyên

cớ nhỏ nhặt nhưng cũng cố tình gây sự để phạm tội

Người phạm tội có những hành vi, những biểu hiện tính chất côn đồnhư sử dụng hung khí nguy hiểm, giết người vì nhưng nguyên nhân nhỏ nhặt

Trang 31

Tóm lại tính chất côn đồ thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tínhmạng, sức khỏe của người khác.

Ví dụ: A và B đang ngồi ăn cơm trong quán cơm bình dân H thì C đi vào A cho rằng C nhìn đểu mình nên đứng dậy gây sự với C, mặc mọi người trong quán can ngăn A rút dao thủ sẵn trong người đâm liên tiếp vào bụng

C C tử vong Như vậy, hành vi phạm tội của A thể hiện tính chất côn đồ rõ nét Chỉ vì một nguyên nhân nhỏ nhặt nhưng vẫn cố tình gây sự để phạm tội

Có tổ chức

Theo Khoản 3 Điều 20 BLHS quy định: “ Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”

Trường hợp này, giữa những người phạm tội giết người có mối quan hệchặt chẽ với nhau Để thực hiện hành vi giết người họ đã bàn bạc, lên kếhoạch cẩn thận trước khi hành động

Phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp người phạm tội đã bị kết án vềtội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng

do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặcbiệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lạiphạm tội do cố ý

Vì động cơ đê hèn

Người phạm tội thực hiện hành vi giét người của mình bởi sự thúc đẩycủa động cơ đê hèn, động cơ có thể là sự ích kỉ, ghen tuông, sự phản trắc, bộibạc… Vì thực hiện tội phạm xuất phát từ động cơ đê hèn lên mức độ nguyhiểm cho xã hội của hành vi giết người đó sẽ cao hơn so với các hành vi giếtngười không xuất phát từ động cơ đê hèn

Như vậy, các tình tiết định khung tăng nặng trong tội giết người đượcchia thành bốn nhóm sau:

Trang 32

Nhóm 1: Các tình tiết phản ánh sự cần được tôn trọng và bảo vệ dặc

biệt đối với các đói tượng bị xâm hại, bao gồm các tình tiết: giết phụ nữ màbiết là có thai, giết con mới đẻ

Nhóm 2: Các tình tiết phản ánh tính chất của hành vi, mức độ gây ra

thiệt hại.Bao gồm các tình tiết: Giết nhiều người, bằng phương pháp có khảnăng làm chết nhiều người, bằng cách lợi dụng nghề nghiệp,…

Nhóm 3: Các tình tiết phản ánh tính chất của động cơ và mức độ lỗi của

người phạm tội Bao gồm các tình tiết: giết người đang thi hành công vụ hoặcvì lí do công vụ của nạn nhân, để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;, đểlấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, vì động cơ đê hèn…

Nhóm 4: Các tình tiết phản ánh đặc điểm nhân thân, khả năng giáo dục

cải tạo của người phạm tội Bao gồm các tình tiết: Giết người mà liền trướcđó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biêtnghiêm trọng, có tính chất côn đồ, tái phạm nguy hiểm

Việc phân loại các tình tiết định khung tăng nặng có ý nghĩa quan trọngtrong việc áp dụng các tình tiết đó vào các trường hợp phạm tội giết người cụthể Đảm bảo việc áp dụng chính xác các tình tiết đó, tránh các trường hợp ápdụng các tình tiết định khung tăng nặng một cách bừa bãi, thiếu khoa học

b) Khung cơ bản (Khoản 2 Điều 93 BLHS)

Đây là khung cơ bản của điều luật,quy định về tội phạm rất nghiêmtrọng có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm Áp dụng khi không thuộc cáctrường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 93 BLHS

1.3.2 Hình phạt bổ sung (Khoản 3 Điều 93 BLHS)

Ngoài các hình phạt chính nêu trên thì người phạm tội giết người có thểbị áp dụng các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hànhnghề hoặc làm công việc nhất định, phạt quản chế, cấm cư trú

Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn, sinh sống,cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chínhquyền và nhân dân địa phương

Ngày đăng: 12/08/2014, 23:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1992
2. Quốc hội (1985), BLHS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLHS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1985
4. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
5. Quốc hội (2004), Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
6. Quốc hội (2012), Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Luật phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
7. Công văn 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn 81/2002/TANDTC
8. Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986
12. Đỗ Đức Hồng Hà (2007), Tội giết người trong Luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, Luận văn tiến sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội giết người trong Luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Năm: 2007
15. PGS.TS Trần Xuân Sinh - PGS.TS Đoàn Minh Duệ (2009), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: PGS.TS Trần Xuân Sinh - PGS.TS Đoàn Minh Duệ
Nhà XB: Nxb Tư Pháp
Năm: 2009
16. Ths.Ts Đinh Thế Hưng - TS Trần Văn Biên (2010), Bình luận BLHS, Nxb. Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận BLHS
Tác giả: Ths.Ts Đinh Thế Hưng - TS Trần Văn Biên
Nhà XB: Nxb. Lao Động
Năm: 2010
17. Ths. Đinh Văn Quế (2002), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999, Nxb Thành phố Hồ chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Ths. Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ chí Minh
Năm: 2002
18. Ts. Phạm Văn Lợi (2010), Nghiên cứu, so sánh pháp luật hình sự của một số nước Asean, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, so sánh pháp luật hình sự của một số nước Asean, N
Tác giả: Ts. Phạm Văn Lợi
Năm: 2010
19. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình luật Hình Sự Việt Nam tập 1, Nxb Công An Nhân Dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Hình Sự Việt Nam tập 1
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công An Nhân Dân
Năm: 2009
20. Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình tội phạm học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tội phạm học
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2004
21. Trường Đại Học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
22. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
3. Quốc hội (1999), BLHS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
9. Nghị quyết của Chính phủ số 09/1998/NQ – CP ngày 31 tháng 7 năm 1998 về tăng cường công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới.CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC Khác
10. Báo cáo công tác xét xử của tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình năm 2010 - 2012 Khác
11. Báo cáo công tác xét xử của tòa án nhân dân huyện Hoa Lư năm 2010 - 2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số vụ phạm tội giết người trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và số vụ   phạm tội giết người trên địa bàn huyện Hoa Lư - một số vấn đề lí luận về tội giết người trong bộ luật hình sự việt nam năm 1999  thực trạng tại huyện hoa lư, tỉnh ninh bình trong giai đoạn 2010 – 2012
Bảng 1 Số vụ phạm tội giết người trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và số vụ phạm tội giết người trên địa bàn huyện Hoa Lư (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w