Từ đó tạo ra các chuỗi giá trị hàng hóa toàn cầu, trong đó hàng hóa không chỉ được thựchiện giá trị tại một quốc gia mà có khi là hai quốc gia, ba quốc gia hoặc nhiều hơn nữa.Mỗi quốc gi
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa đang là xu hướng tất yếu trong thời đại ngày nay khi các rào cảnđối với các dòng chảy về thông tin, ý tưởng, các nhân tố về vốn và lao động có kỹ năngcùng với kỹ thuật và hàng hóa đã và đang được giỡ bỏ Điều này làm cho ranh giớigiữa các quốc gia dần bị xóa mờ, tạo cơ hội cho các nước tham gia sâu và rộng hơn vàoquy trình sản xuất các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho lợi ích chung của con người Mỗinước, với ý thức về tiềm năng và năng lực của mình đã chuyên môn hóa, tập trung vàolĩnh vực có lợi thế so sánh để có thể thu lại lợi ích nhiều nhất từ quá trình hội nhập Từ
đó tạo ra các chuỗi giá trị hàng hóa toàn cầu, trong đó hàng hóa không chỉ được thựchiện giá trị tại một quốc gia mà có khi là hai quốc gia, ba quốc gia hoặc nhiều hơn nữa.Mỗi quốc gia thực hiện một hoặc một số khâu như thiết kế, sản xuất, chế biến, phânphối,…trong quy trình thực hiện giá trị trước khi đến tay người tiêu dùng cuối cùng
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 xuất phát từ khủng hoảng tài chính
Mỹ đã tác động tới tất cả các mặt của kinh tế toàn cầu cũng như các khâu của quá trìnhthực hiện giá trị trong các chuỗi toàn cầu Trong đó, hàng nông sản cũng không phải làngoại lệ, đặc biệt khi việc sản xuất nông sản chủ yếu được thực hiện tại các quốc giađang phát triển-những nước yếu thế và thường chịu thiệt thòi hơn khi tham gia vàothương mại tự do toàn cầu Nông sản Việt Nam, vốn có vị trí thấp trong chuỗi giá trịtoàn cầu cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ cuộc khủng hoảng có quy mô và tầm ảnhhưởng mạnh mẽ lớn nhất từ trước tới nay trong lịch sử loài người Cũng nhờ đó, nhữngyếu kém của việc tham gia và chuỗi giá trị toàn cầu của hàng nông sản Việt Nam mớiđược bộc lộ một cách rõ ràng hơn bao giờ hết, cho thấy việc thụ động phụ thuộc vàodiễn biến thị trường thay vì chủ động tạo ra chỗ đứng cho mình trong chuỗi của cácdoanh nghiệp nước ta
Trang 2Trước những vấn đề đó, khóa luận này đã nghiên cứu vị trí của Việt Nam trongchuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản, đặc biệt là hai mặt hàng gạo và cà phê, những tácđộng của khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 tới nông sản Việt Nam và sau đó đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao vị thế của nước ta trong chuỗi giá trị toàn cầu đốivới mặt hàng này Khóa luận được chia thành ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về chuỗi giá trị toàn cầu;
Chương 2: Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007 - 2010 và vị
thế của hàng nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu;
Chương 3: Giải pháp nhằm xâm nhập chuỗi giá trị toàn cầu cho hàng nông sảnViệt Nam sau khủng hoảng kinh tế thế giới
Với lòng biết ơn thực sự, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy côgiáo đã truyền đạt kiến thức cho em trong suốt bốn năm học, đặc biệt là Th.s NguyễnThị Thu Trang – giáo viên đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luậntốt nghiệp này Bên cạnh đó, em cũng rất cảm ơn những người thân trong gia đình vàbạn bè đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình nghiên cứu
Dù đã cố gắng nỗ lực hết mình song với vốn kiến thức còn hạn chế của tác giả vàthời gian nghiên cứu không nhiều, khóa luận này chắc chắn không thể tránh khỏi saisót Vì vậy rất mong các thầy cô cùng các bạn đóng góp ý kiến để em hoàn thiệnnghiên cứu của mình hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Tú Anh
Trang 3CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỀM VÀ CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁTRỊ TOÀN CẦU
1.1.1 Khái niệm:
Giá trị
Theo quan niệm của C.Mác trong bộ Tư bản, quá trình sản xuất hàng hóa tư bảnchủ nghĩa, về thực chất là quá trình sáng tạo ra giá trị và thực hiện giá trị Quá trình sảnxuất hàng hóa có thể hiểu được theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, sản xuấthàng hóa là quá trình kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất (công cụ laođộng và đối tượng lao động) và sức lao động để tạo ra sản phẩm Theo nghĩa rộng, sảnxuất hàng hóa là quá trình tái sản xuất mở rộng bao gồm bốn khâu: sản xuất – phânphối – trao đổi – tiêu dùng; trong đó, vị trí, vai trò của các khâu trong quá trình tái sảnxuất đó không như nhau Sản xuất là khâu quyết định còn các khâu sau chịu sự chi phốicủa sản xuất mặc dù chúng có tác động ngược lại như tiêu dùng hợp lý sẽ tạo điều kiện
đế sản xuất có hiệu quả cao hơn Khâu phân phối và trao đổi là những khâu trung giankết nối sản xuất với tiêu dùng Cách tiếp cận nghiên cứu của C.Mác là dựa trên phươngpháp trừu tượng hóa và có tính khái quát cao, chủ yếu đề cập đến quá trình sáng tạo giátrị từ trong lưu thông Có thể nói sản xuất là điều kiện cần còn thực hiện hàng hóa làđiều kiện đủ C.Mác cũng đã mô phỏng mô hình tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất
mở rộng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cấu tạo kỹ thuật (tỷ lệ vốn/lao động hay c/v) không thay đổi Thực chất, mô hình này là việc xây dựng một quytrình tạo ra được giá trị sử dụng hay công dụng Giá trị được tạo ra trong sản xuất chỉmới là giá trị cá biệt và khi hàng hóa được thực hiện thì giá trị đó mới là giá trị xã hộitức là giá trị đích thực của hàng hóa
Cũng theo quan niệm của C.Mác, quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình tạo ragiá trị theo cơ cấu: C + V + M; trong đó, C là tư bản bất biến, V là tư bản khả biến, M
Trang 4là giá trị thặng dư Mức độ phân bố giá trị vào các thành phần của chuỗi giá trị này có
sự khác nhau tùy theo đặc điểm của ngành
Trong mô hình với giả định nền kinh tế không có ngoại thương, C.Mác đã trừutượng hóa nền kinh tế tư bản trong giai đoạn toàn cầu hóa hoàn toàn, không còn sự chiacắt và tách biệt giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới Vì vậy, quá trình táisản xuất được mở rộng trên phạm vi toàn cầu và giá trị được sản xuất và thực hiệncũng trên phạm vi toàn cầu Quá trình tái sản xuất được mở rộng trên phạm vi toàn cầulàm hình thành nên mạng sản xuất toàn cầu mà trên thực tế, đây là hiện tượng xảy rakhi có sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia kéo theo sự hình thành mạng lướisản xuất quốc tế là một trong những điều kiện quyết định sự ra đời của nền kinh tế thếgiới hay nói cách khác nền kinh tế thế giới, về thực chất, là tập hợp của các chuỗi giátrị toàn cầu của các ngành sản xuất hoặc tổ hợp của các chuỗi sản phẩm và dịch vụ
Chuỗi giá trị
Có ba luồng nghiên cứu chính về chuỗi giá trị, đó là:
i) Filièle (Chuỗi):
Phương pháp Filièle (filièle có nghĩa là chuỗi, mạch) gồm các trường phái tư duy
và truyền thống nghiên cứu khác nhau Khởi đầu, phương pháp này được dùng để phântích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa củaPháp Phân tích chủ yếu là công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hoạt động sản xuấtnông nghiệp (đặc biệt là cao su, bông, cà phê và dừa) được tổ chức tại các nước đangphát triển Trong bối cảnh này, khung Filièle chú trọng đặc biệt đến các hệ thống sảnxuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâutiêu dùng cuối cùng
Khái niệm chuỗi (filièle) bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng
để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia và cáchoạt động Tuy nhiên, khái niệm chuỗi chủ yếu tập trung vào các vấn đề của các mối
Trang 5quan hệ vật chất và kỹ thuật định lượng, được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của cáchàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi Phương pháp phân tích Filièle có hai đặcđiểm nổi bật sau:
- Việc đánh giá chuỗi giá trị về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo
và phân phối thu nhập trong chuỗi hàng hóa, phân tích các chi phí cũng như thu nhậpgiữa các thành phần kinh doanh nội địa và quốc tế để nghiên cứu ảnh hưởng của chuỗiđến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP
- Phân tích chuỗi lấy sự phát triển của nông nghiệp làm trọng tâm nghiên cứu;quan tâm tới các vấn đề như sự tương tác lẫn nhau giữa các đối tượng tham gia, nhữngcản trở và kết quả thu được cho mỗi bên liên quan trong chuỗi, các chiến lược cá nhân
và tập thể cũng như các hình thái quy định Chẳng hạn ở châu Phi có bốn loại quy địnhliên quan đến chuỗi hàng hóa được phân tích gồm: quy định trong nước, quy định vềthị trường, quy định của nhà nước và quy định kinh doanh nông nghiệp quốc tế.Moustier va Leplaideur (1989) đã đưa ra một khung phân tích về tổ chức chuỗi giá trịhàng hóa, bao gôm lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, và hiệu suất về mặt giá
cả và tạo thu nhập, có tính đến vấn đề chuyên môn hóa của nông dân và thương nhânngành thực phẩm so với chiến lược đa dạng hóa
ii) Khung phân tích của Michael Porter
Luồng nghiên cứu thứ hai liên quan đến công trình của M.Porter (Havard
Busniess School) trong cuốn sách “Competitive Advantage: Creating and Sustaining
Superior Performance” (1985) về các lợi thế cạnh tranh M.Porter đã dùng khung phân
tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên cácthị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnhtranh khác
Theo M.Porter, chuỗi giá trị là chuỗi các hoạt động; sản phẩm đi qua tất cả cáchoạt động của chuỗi một cách tuần tự và tại mỗi hoạt động, sản phẩm sẽ tích lũy thêm
Trang 6một giá trị nào đó Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị giatăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại
Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với ýtưởng về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của mộtcông ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Mô hình chuỗi giá trị này là mộttập hợp của nhiều công đoạn hay nhiều khâu khác nhau và có mối quan hệ với nhaucùng tạo ra giá trị như thiết kế sản phẩm, logistics đầu vào, logistics đầu ra, sản xuất,marketing & bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và các hoạt động bổ trợ nhằm gia tăng giátrị cho sản phẩm như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt độngnghiên cứu,… Với góc độ nghiên cứu này, khái niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng trongkinh doanh của doanh nghiệp; do vậy, phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ cácquyết định quản lý và chiến lược điều hành của một doanh nghiệp, một công ty cụ thể
HÌNH 1: KHUNG PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CỦA M.PORTER
Nguồn: Michael Porter, 1985
Một cách khác để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm hệ thống giá trị,thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các hoạtđộng của công ty như một phần của chuỗi các hoạt động rộng hơn mà Porter gọi là hệ
Logistics đầu vào
Sản xuất
Logistics đầu ra
Marketing
& bán hàng
Dịch vụ
Cơ sở hạ tầng Quản trị nguồn nhân lực Phát triển công nghệ Mua sẳm
Trang 7thống giá trị Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty tham giatrong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên liệu thôđến phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trị rộnghơn so với khái niệm chuỗi giá trị của doanh nghiệp.
iii) Phương pháp tiếp cận toàn cầu
Khái niệm các chuỗi giá trị được Gary Gereffi (Duke University, Mỹ) lần đầu tiên
áp dụng để phân tích toàn cầu hoá, tìm hiểu cách thức mà các công ty và các quốc giahội nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàncầu
Sau đó, Raphael Kaplinsky đã đưa ra những khái niệm về chuỗi giá trị như sau:
Theo nghĩa hẹp (giản đơn): Chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động cần có để
sản xuất ra một sản phẩm hoặc dịch vụ từ giai đoạn xây dựng khái niệm, qua các giaiđoạn khác nhau của sản phẩm (bao gồm sự kết hợp của sự biến đổi tự nhiên với đầuvào của các dịch vụ sản xuất đa dạng), cho tới phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng,dịch vụ hậu mãi và việc vứt bỏ sản phẩm sau khi sử dụng
HÌNH 2: MÔ HÌNH CHUỖI GIÁ TRỊ ĐƠN GIẢN
Nguồn: Raphael Kaplinsky and Morris, 2002
Theo nghĩa rộng: Chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều người
tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân,người cung cấp dịch vụ…) để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ.Chuỗi giá trị rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các
THIẾT KẾ
SẢN XUẤT
Logistics đầu vào Sản xuất Logistics đầu ra Đóng gói MARKETING TIÊU THỤ
Trang 8mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong các hoạt động như kinh doanh, chế biến,lắp ráp…
Mỗi sản phẩm được tạo ra đều có giá trị bao gồm một xâu chuỗi mắt xích nhiềugiá trị kết nối tạo nên Trong thời đại toàn cầu hóa, các mắt xích tạo nên giá trị cuốicùng của một sản phẩm đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia - lãnh thổ khi các chi tiếtcủa nó được thiết kế ở một nước, sản xuất ở một nước khác, lắp ráp ở nước thứ ba, vàtiêu thụ ở nước thứ tư… hoặc, một sản phẩm thuần túy ra đời tại một địa phương cụthể nhưng vẫn mang giá trị toàn cầu Vì vậy, trong thời đại toàn cầu hóa xuất hiện kháiniệm chuỗi giá trị toàn cầu
Chuỗi giá trị toàn cầu
Mọi sản phẩm mới - từ phân mềm cho tới đồ dùng - đều phải trải qua một chu kỳ,bắt đầu bằng nghiên cứu cơ bản rồi nghiên cứu ứng dụng, thời kỳ ấp ủ, phát triển, thửnghiệm, sản xuất, triển khai, hỗ trợ và mở rộng kỹ thuật để cải tiến Mỗi khâu trên đềuđược chuyên môn hóa và có tính đơn nhất Các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ,Trung Quốc và Nga đều không đủ nhân lực và năng lực để đảm nhiệm toàn bộ chu kỳsản phẩm cho một công ty đa quốc gia lớn ở Mỹ hay các nước phương Tây phát triển.Song các nước đang phá triển trên đang dần nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triểncủa họ để có thể đảm nhiệm nhiều khâu hơn Quá trình này tiếp tục diễn ra sẽ đánh dấu
sự kết thúc của mô hình cũ – khi một công ty đa quốc gia tự tiến hành tất cả các khâucủa chu kỳ phát triển sản phẩm bằng nguồn lực riêng của mình Từ đó tạo ra các chuỗigiá trị toàn cầu (GVC-Global Value Chain) là chuỗi giá trị cho phép các công đoạn củachuỗi đặt tại những địa điểm (quốc gia) có khả năng mang lại hiệu quả cao nhất với chiphí thấp nhất
Trong khuôn khổ chuỗi giá trị, các mối quan hệ thương mại quốc tế được coi làmột phần của các mạng lưới các nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và bán lẻ, trong đótri thức và quan hệ được phát triển để tiếp cận được các thị trường và các nhà cung cấp
Trang 9Ở bối cảnh hiện nay khi khái niệm chuỗi giá trị không còn mới đối với hầu hết cácquốc gia thì sự thành công của các nước đang phát triển và của những người tham giathị trường ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào khả năng tiếp cận các mạng lướinày
1.1.2 Đặc điểm
a) Quản trị chuỗi
Định nghĩa (Humphrey & Schmitz, 2002): Quản trị chuỗi là mối quan hệ giữa cácbên tham gia và các cơ chế thể chế thông qua đó các hoạt động điều phối phi thị trườngđược thực hiện Quản trị chuỗi giúp trả lời bốn câu hỏi quan trọng: Sản xuất cái gì? Sảnxuất như thế nào? Khi nào thì sản xuất? Số lượng là bao nhiêu?
Gary Gereffi, John Humphrey, và Timothy Sturgeon, trong nghiên cứu “Các cáchquản trị của chuỗi giá trị toàn cầu”, 2005 đã đưa ra năm mô hình quản trị khác nhauGVC như sau:
- Thị trường: là hình thức đơn giản nhất của quản trị GVC Cơ chế quản trị
trung tâm là giá cả Các mối liên kết giữa các hoạt động chuỗi giá trị không chặt chẽ vìcác thông tin được trao đổi và kiến thức được chia sẻ là tương đối đơn giản Do đó, chiphí để chuyển sang các đối tác khác là thấp cho các tác nhân trong chuỗi
- Chuỗi giá trị kiểu mẫu: các nhà cung cấp trong kiểu quản trị này cung cấp sản
phẩm hoặc dịch vụ theo các chỉ dẫn chi tiết của khách hàng Tuy vậy, khi cung cấp cácdịch vụ “chìa khóa trao tay”, các nhà cung cấp có xu hướng chịu trách nhiệm hoàn toàn
về quy trình công nghệ và thường sử dụng các loại máy móc phổ biến để thu hồi đầu tư
từ một lượng khách hàng lớn Điều này giữ chi phí chuyển đổi thấp và giới hạn đầu tưvào các giao dịch cụ thể, ngay cả khi quan hệ giữa người mua và nhà cung cấp là phứctạp Các liên kết trong kiểu quản trị này chặt chẽ hơn kiểu quản trị thị trường giản đơn
vì khối lượng thông tin luân chuyển trong liên kết giữa các công ty lớn hơn
Trang 10- Chuỗi giá trị quan hệ: trong mô hình quản trị mạng lưới GVC có sự phụ thuộc
lẫn nhau quy định bởi danh tiếng, và quan hệ xã hội gần gũi, gia đình và các quan hệràng buộc khác Các ví dụ rõ ràng nhất của quản trị mạng theo kiểu này là trong cáccộng đồng đặc biệt, hoặc "quận công nghiệp", nhưng những ảnh hưởng do lòng tin vàdanh tiếng cũng có thể có tác dụng trong các mạng lưới không gắn kết Vì lòng tintưởng và sự phụ thuộc lẫn nhau trong kiểu quản trị này cần nhiều thời gian để xâydựng, và các quan hệ xã hội gần gũi bị giới hạn bởi một số công ty tương đối nhỏ nêncác chi phí chuyển đổi sang các đối tác mới thường cao hơn
- Chuỗi giá trị phụ thuộc: trong kiểu quản trị chuỗi này, nhà cung cấp nhỏ có xu
hướng phụ thuộc vào những người mua lớn và người mua chi phối Việc phụ thuộc vàomột công ty đầu ngành làm tăng chi phí chuyển đổi đối với các nhà cung cấp Trong mạng lưới có kiểu quản trị này, các công ty dẫn đầu thường đóng vai trò kiểm soát vàgiám sát chặt chẽ các hoạt động trong toàn chuỗi Quan hệ quyền lực bất cân xứngtrong chuỗi buộc các nhà cung cấp liên kết với khách hàng chặt chẽ hơn và do đó chiphí chuyển đổi cũng cao hơn
- Cấp bậc: mô hình quản trị này là đặc trưng của hội nhập theo chiều dọc (tức là
các giao dịch diễn ra bên trong một công ty duy nhất) Hình thức quản trị chi phối làkiểm soát việc quản lý, theo thứ tự từ người quản lý tới nhân viên hoặc từ trụ sở tớicông ty con và chi nhánh
BẢNG 1: CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH TỚI QUẢN TRỊ CHUỖI
Dạng quản
trị
Mức độ phức tạp của giao dịch
Khả năng hệ thống hóa giao dịch
Năng lực cung ứng
Mức độ bất cân xứng quyền lực
Trang 11Cấp bậc Cao Thấp Thấp Cao
Nguồn: Gary Gereffi, John Humphrey, Timothy Sturgeon, 2005
Dưới đây là bảng các nhân tố quyết định tới quản trị chuỗi, dựa trên các tiêu chí
về mức độ phức tạp của các giao dịch, khả năng hệ thống hóa giao dịch, năng lực cungứng cũng như mức độ bất cân xứng quyền lực trong các các quản trị chuỗi khác nhau
b) Nâng cấp chuỗi giá trị
Nâng cấp trong chuỗi giá trị là quá trình các chủ thể kinh tế, quốc gia, doanhnghiệp, người lao động chuyển từ hoạt động tao ra giá trị thấp sang những hoạt động
có giá trị cao hơn trong mạng lưới sản xuất toàn cầu Khả năng nâng cấp đề cập tới sựchuyển dịch mà một hay một nhóm các hãng thực hiện để nâng cao vị trí của mìnhtrong chuỗi
Trong nâng cấp chuỗi giá trị, vấn đề then chốt là khả năng sáng tạo để có được sựđổi mới không ngừng trong sản phẩm cũng như cả quy trình; sự đổi mới đó phải đảmbảo không chậm hơn các đối thủ cạnh tranh nhằm duy trì thị phần và giá trị gia tăngthu về Việc đầu tiên là tập trung vào giá trị cốt lõi (“core competence”), các doanhnghiệp cần phải kiểm tra năng lực của mình để quyết định xem sẽ tạo ra giá trị gì chongười tiêu dùng cuối cùng, và sẽ thu lại giá trị gì?
Có bốn loại nâng cấp chuỗi giá trị chính:
- Nâng cấp quy trình: Nâng cao hiệu quả của các quy trình nội bộ để có các hoạtđộng tốt hơn đối thủ cạnh tranh, cũng như các liên kết trong mắt xích của chuỗi (nhưtăng số vòng quay hàng tồn kho, giảm phế liệu) và các liên kết giữa các mắt xích trongchuỗi (giao hàng thường xuyên hơn, khối lượng nhỏ hơn và đúng thời hạn hơn)
Trang 12- Nâng cấp sản phẩm: Giới thiệu sản phẩm mới hoặc cải tiến sản phẩm cũ nhanhhơn các đối thủ Việc này bao hàm cả thay đổi quy trình phát triển sản phẩm mới ởgiữa các liên kết bên trong của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị và trong mối quan hệvới các liên kết chuỗi khác.
- Nâng cấp chức năng: Làm tăng giá trị gia tăng thông qua thay đổi các hoạtđộng được quản lý trong doanh nghiệp hoặc chuyển các hoạt động sang các liên kếtkhác nhau trong chuỗi giá trị
- Nâng cấp toàn chuỗi: Chuyển sang một chuỗi giá trị mới dựa trên những kỹnăng, kinh nghiệm học hỏi từ trước do tham gia một chuỗi giá trị có liên quan Chẳnghạn, các doanh nghiệp Đài Loan chuyển từ sản xuất đài bán dẫn sang máy tính, tivi,màn hình máy vi tính rồi sau đó là máy tính xách tay và giờ đây là điện thoại WAP
Việc nâng cấp chuỗi giá trị thường được thực hiện theo trình tự từ nâng cấp quytrình tới nâng cấp sản phẩm, nâng cấp chức năng và nâng cấp chuỗi (Bảng 2)
BẢNG 2: CÁC QUY TRÌNH NÂNG CẤP CHUỖI GIÁ TRỊ
Nâng cấpquy trình
Nâng cấp sản phẩm
Nâng cấp chức năng
Nâng cấp chuỗiTrình tự
Chuyển sangchuối giá trị mới
Mức độ độc lập
với người mua
nước ngoài
Giá trị gia tăng thu về tăng dần
Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2002
Kinh nghiệm từ thành công của các nước Đông Á đã cho thấy một quy trình nângcấp chuỗi giá trị từ sản xuất OEA (lắp ráp thiết bị chính) tạo ra ít giá trị sang nhà sảnxuất thiết bị chính đến cung cấp các sản phẩm mang nhãn mác của người mua, rồi
Trang 13ODM (sản xuất có thiết kế) và giờ đây là OBM (sản xuất có thương hiệu cho riêngmình) Đó cũng là quy trình mà người sản xuất dần dần thoát khỏi sự phụ thuộc vàongười mua toàn cầu trong việc thiết kế, tạo dựng thương hiệu cho chính mình và nhờ
đó thu lại nhiều giá trị gia tăng từ sản phẩm
1.1.3 Phân loại
Trong cuốn sách “A Commodity Chains Framework for Analyzing GlobalIndustries”, Gary Gereffi dựa vào nhân tố chi phối chuỗi đã chỉ ra có hai loại chuỗi giátrị khác nhau cơ bản, đó là chuỗi giá trị do người bán chi phối và chuỗi giá trị do ngườimua chi phối
Chuỗi giá trị do người bán chi phối (“Producer-driven commodity chain”) là
chuỗi trong đó các công ty, chủ yếu là các công ty đa quốc gia đóng vai trò trung tâmtrong việc kết hợp hệ thống sản xuất (bao gồm cả liên kết xuôi chiều và ngược chiều).Đây là đặc điểm của ngành sản xuất chiếm dụng nhiều tư bản và đòi hỏi hàm lượngcông nghệ cao như điện thoại, máy bay, sản phẩm bán dẫn và máy móc công nghiệp
Chuỗi giá trị do người mua chi phối (“Buyer-driven comodity chain”) là chuỗi
trong đó những nhà bán lẻ lớn và các nhà sản xuất uy tín đóng vai trò then chốt trongviệc thiết lập hệ thống sản xuất phi tập trung tại các nước đang phát triển, mà đặc biệt
là tại các nước thuộc thế giới thứ ba Loại chuỗi này phổ biến ở các ngành sử dụngnhiều lao động, hàng tiêu dùng như hàng dệt may, giày dép, đồ chơi, đồ gia dụng, đồđiện tử và các loại đồ thủ công
Ngoài ra, có những chuỗi giá trị lại kết hợp của hai kiểu quản trị chuỗi theo địnhhướng người mua và người bán Chẳng hạn, trong ngành quần áo, GAP là một ví dụ vềmột hãng hoạt động không có nhà máy sản xuất và là đại diện điển hình cho loại chuỗi
do người mua chi phối, trong khi đó Levi-Strauss lại quản trị một chuỗi giá trị hội nhậpdọc Trong ngành sản xuất ô tô, Ford đang chuyển dần sang chuỗi do người mua chiphối trong khi Toyota và các nhà sản xuất khác vẫn tiếp tục hoạt động trong chuỗi giátrị do người bán chi phối Trong ngành sản xuất vật liệu bán dẫn, Intel kiểm soát chuỗi
Trang 14do người sản xuất chi phối còn ARM lại sử dụng silicon để thỏa mãn nhu cầu củakhách hàng.
BẢNG 3: SO SÁNH CHUỖI GIÁ TRỊ DO NGƯỜI BÁN VÀ NGƯỜI MUA CHI PHỐI
Các tiêu chí Chuỗi do người bán
chi phối Chuỗi do người muachi phốiHoạt động chi phối Sản xuất công nghiệp Thương mại
Năng lực cốt lõi Nghiên cứu và phát triển, Sản xuất Thiết kế, Marketing
Rào cản gia nhập Lợi thế kinh tế theo quy mô Lợi thế kinh tế theo đặc thùNgành hàng Hàng tiêu dùng lâu bền, sản phẩm cấp
trung, tư bản phẩm
Hàng tiêu dùng không lâu bền
Các ngành điển hình Điện thoại, máy tính, máy bay Hàng may mặc, giày dép, đồ
chơiChủ thể hữu các
công ty sản xuất
Các công ty xuyên quốc gia Các công ty nội địa, chủ yếu
ở các nước đang phát triểnNhững liên kết hệ
Kết cấu hệ thống Theo chiều dọc Theo chiều ngang
Nguồn: G Gereffi, A Commodity Chains Framework for Analyzing Global Industries
Các dạng của chuỗi giá trị
Mô hình chuỗi giá trị có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau Trướchết, có thể nhận dạng sự phân bố hay mật độ giá trị trong các ngành sản xuất khác nhau
có sự khác nhau đáng kể và nó còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học –công nghệ, trình độ tổ chức và sản xuất, tư duy kết nối toàn cầu và mức độ mở cửa củacác nền kinh tế, các thị trường đầu vào và đầu tư Chuỗi giá trị khác nhau ở từng tổchức cụ thể và mỗi tổ chức là một chuỗi giá trị đặc thù Tuy nhiên, có thể mô phỏngmức độ phân bố giá trị của các khâu trong GVC của một số mặt hàng cụ thể qua cácdạng dưới đây:
Trang 15là khâu tiêu thụ được coi là khâu phức tạp nhất trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh
tế thị trường bao gồm các hoạt động thiết kết kênh tiêu thụ, quảng bá, xây dựng quan
hệ công chúng, chiến lược giá cả, khuếch trương,… Nguyên nhân là do sự thay đổicủa ngành sản xuất và sản phẩm với sự xuất hiện của các sản phẩm tinh xảo, có độphức tạp cao trong thiết kế hoặc sản phẩm đáp ứng nhu cầu cao của một nhóm kháchhàng khó tính trong sử dụng Chẳng hạn, trong GVC ngành dệt may, khâu đầu tiênchiếm tới 35% giá trị, khâu tiêu thụ chiếm tới khoảng 35 – 40% giá trị Còn khâu sảnxuất chỉ chiếm khoảng 20 – 25% giá trị thậm chí còn thấp hơn Cả khâu đầu và khâucuối tập trung vào các nước công nghiệp phát triển như các nước Bắc Mỹ, EU và NhậtBản,… còn khâu sản xuất ở giữa – khâu trực tiếp tạo ra giá trị, lại được đặt ở các nước
có nguồn lao động dồi dào và giá lao động rẻ như Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh,
…
(2) Dạng parabol “úp”
Dạng chuỗi giá trị này phù hợp với quá trình sản xuất các sản phẩm đơn giản vềthiết kế và có khả năng tiêu thụ dễ dàng Vì thế khâu sản xuất trở thành khâu tạo giá trịcao nhất hay có mật độ tập trung giá trị cao nhất trong chuỗi giá trị Những nước xuấtkhẩu sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế đặc biệt là các hàng nông sản sơ chế thường cóhình dạng chuỗi giá trị này hoặc các nền kinh tế mới công nghiệp hóa sơ khai như thời
kỳ chủ nghĩa tư bản do cạnh tranh có tính đặc trưng tương tự chuỗi giá trị các sảnphẩm Lúc này, vấn đề thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng như tiêu thụ khôngphải là một vấn đề khó khăn, hoạt động marketing chưa phải là hoạt động đóng vai tròquyết định trong việc thực hiện giá trị
(3) Dạng đường thẳng
Dạng này phản ánh mật độ phân bố giá trị đều đặn và như nhau đối với các khâutrong chuỗi giá trị Dạng này gần như đóng vai trò cân bằng hai dạng chuỗi giá trị trên(parabol “ngửa” và parabol “úp”) Về nguyên tắc, đây cũng là một dạng của chuỗi giá
Trang 16trị; tuy nhiên, đây là dạng chuỗi giá trị có tính đặc thù cao nên khó xuất hiện dạngchuỗi này trong thực tế.
Các dạng phân bố mật độ giá trị của các khâu trong chuỗi giá trị có thể mô phỏng
ở Hình 3 Các dạng này có mối quan hệ với nhau và có sự bổ sung lẫn nhau Mỗi dạngphân bố mật độ giá trị trong chuỗi giá trị gắn liền với một trình độ phát triển nhất địnhcủa đất nước hoặc phù hợp với một giai đoạn phát triển nhất định Vị trí của quốc giatrong chuỗi giá trị cũng là căn cứ để đánh giá vị thế của quốc gia đó trong nền kinh tếthế giới
HÌNH 3: CÁC DẠNG CỦA CHUỖI GIÁ TRỊ
Trong giai đoạn sản xuất hàng hóa ở trình độ thấp, sản phẩm được sản xuất rakhá đơn giản và hầu như được tiêu thụ một cách dễ dàng, dạng của GVC là dạng (2).Trong giai đoạn nền kinh tế đã đạt trình độ kinh tế cao, trình độ tiêu dùng cao, mức độcạnh tranh gay gắt để tiêu thụ hàng hóa trên phạm vi thế giới, dạng của chuỗi giá trị làdạng (1) Trong các nền kinh tế sản xuất và nhu cầu đơn giản tối đa, dạng của chuỗi giá
Trang 17trị là (3) Hiện nay, thị trường thế giới và những giá trị mang tính toàn cầu sẽ là độnglực cơ bản để phát triển các giao dịch tạo ra giá trị toàn cầu.
1.2 MỤC ĐÍCH PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU MẶT HÀNG NÔNG SẢN
Sản xuất hàng nông sản là một lĩnh vực sản xuất nhạy cảm trong cơ cấu kinh tếcủa mỗi nước do có những đặc điểm riêng biệt so với các ngành khác như cung cấplương thực, thực phẩm nuôi sống con người, sử dụng nhiều lao động, lại chịu nhiều tácđộng từ thiên nhiên, Do đó, chuỗi giá trị nông sản rất phức tạp, bao gồm các quá trình
có những tính chất hoàn toàn khác nhau: quá trình sản xuất (sản xuất nông nghiệp), quátrình chế biến nông sản (sản xuất công nghiệp) và quá trình xuất khẩu hàng hóa(thương mại) Vì vậy, GVC đối với hàng nông sản có sự khác biệt với GVC hàng côngnghiệp ở các điểm sau:
- Khâu thiết kế nằm trong khâu R&D và khâu sản xuất tách thành hai khâu làtrồng trọt và chế biến;
- Giá trị gia tăng được tạo ra trong khâu chế biến cao hơn so với khâu trồng trọt;
- Sự phân bố địa điểm trồng trọt phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu và tựnhiên;
- Tính không đồng đều giữa các tác nhân tham gia vào chuỗi và độ lớn của mỗichuỗi bị hạn chế do các rào cản khi tham gia
Phân tích chuỗi giá trị giúp xem xét hoạt động kinh tế của ngành nông sản bằngcách chia nhỏ hoạt động này thành các bộ phận nhỏ, qua đó có thể xác định vị thế của
Trang 18nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu từ đó có các biện pháp nâng cao vị thế
đó và thâm nhập sâu hơn vào chuỗi
1.2.1 Lập sơ đồ một cách hệ thống các đối tượng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ngành nông sản
Để hiểu được chuỗi giá trị cần phân tích có thể dùng mô hình, bảng biểu, số liệu,biểu đồ và các hình thức tương tự để nắm bắt và hình dung bản chất của chuỗi Trong
đó, lập sơ đồ là cách thức giúp cho việc tiếp cận chuỗi giá trị được thực hiện dễ dàngnhất và cụ thể, chi tiết nhất, qua đó có thể thấy được một cách hệ thống các khía cạnhkhác nhau của chuỗi đó Thông qua sơ đồ chuỗi giá trị:
- Giúp xác định các mạng lưới để nắm bắt được về kết nối giữa các tác nhân vàcác quy trình trong chuỗi,
- Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau, mối tương quan giữa các tác nhân và các quytrình trong chuỗi,
- Cung cấp cho các bên liên quan những hiểu biết ngoài phạm vi tham gia củariêng họ trong chuỗi giá trị
Mỗi chuỗi giá trị, có rất nhiều khía cạnh cần được nghiên cứu: dòng sản phẩmthực tế, số tác nhân tham gia, giá trị tích lũy được,…Dưới đây là các dạng sơ đồ chínhthường được lập để phân tích chuỗi giá trị:
+ Sơ đồ các quy trình cốt lõi
Sơ đồ này giúp xác định các quy trình cơ bản trong chuỗi và qua đó có thể thấyđược những quy trình khác nhau mà nguyên liệu thô luân chuyển qua trước khi đếngiai đoạn tiêu dùng cuối cùng Các quy trình cốt lõi trong chuỗi thường là thiết kế, sảnxuất, marketing, tiêu thụ được thực hiện theo thứ tự sau:
Thiết kế Sản xuất Chế biến Marketing Tiêu thụ
Trang 19+ Sơ đồ những người tham gia chính vào các quy trình
Tùy thuộc vào mức độ phức tạp mà việc lập sơ đồ muốn lập được để phân biệtgiữa những người tham gia Cách phân biệt trực tiếp nhất là phân loại những ngườitham gia theo nghề nghiệp chính của họ Có thể phân loại bổ sung theo các hình thứcnhư: tình trạng pháp lý, quy mô, số lượng,…
Hình 4 là ví dụ về lập sơ đồ những người tham gia (theo chức năng) trong chuỗigiá trị tiêu thụ mật ong của Mexico từ vùng Calakmul vào thị trường nội địa Trongchuỗi giá trị này có những người tham gia là người sản xuất (người nuôi ong đơn lẻ,hiệp hội những người nuôi ong); người thu mua, chế biến (người thu mua, doanhnghiệp chế biến, trung gian); người xuất khẩu; người phân phối (người bán buôn,người bán lẻ) và khách hàng
HÌNH 4: SƠ ĐỒ NHỮNG NGƯỜI THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ MẬT ONG MEXICO
Nguồn:A.Springer – Heinze, GTZ 2005
+ Sơ đồ dòng sản phẩm, thông tin và kiến thức
Lý do tồn tại chính của một chuỗi giá trị là hàng hóa, dịch vụ hoặc thông tin đượcluân chuyển giữa những người tham gia khác nhau Do đó, phải xác định được trongchuỗi giá trị đó có những luồng sản phẩm, thông tin và kiến thức nào? Đó cũng là
Người nuôi ong
đơn lẻ
Hiệp hội những
người nuôi ong
Người thu mua Trung gian
Doanh nghiệp chế biến Người xuất khẩu Người bán lẻ
Người bán buôn
Khách hàng
Trang 20những dòng chảy trong luân chuyển trong chuỗi giá trị Chúng có thể hữu hình hoặc vôhình: các sản phẩm, hàng hóa, tiền, tín dụng, thông tin, dịch vụ, sản phẩm,…
Dưới đây là ví dụ về lập sơ đồ về chuỗi giá trị cây đậu nành ở Lào (Hình 5), đậunành này chủ yếu được xuất khẩu sang Trung Quốc để chế biến thành thức ăn gia súchoặc dầu ăn Tuy nhiên, theo những người tham gia trong toàn chuỗi giá trị, một trongnhững vấn đề chính là chất lượng đậu nành không đồng đều Nguyên nhân của hiệntượng này xuất phát từ những quan niệm về tiêu chuẩn chất lượng đậu nành của nhữngngười tham gia chuỗi (nông dân, người thu mua và trung gian xuất khẩu) là khônggiống nhau
HÌNH 5: SƠ ĐỒ DÒNG THÔNG TIN TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ ĐẦU NÀNH BẮC LÀO
Nguồn: GTZ, Thị trường đậu nành ở Bắc Lào, 2005
+ Sơ đồ khối lượng sản phẩm, số người tham gia và công việc
Một số phần trong sơ đồ chuỗi giá trị có thể lượng hóa Ngoài các số liệu về tàichính, một số yếu tố khác có thể định lượng được như: khối lượng sản phẩm, số lượngngười tham gia, số công việc
Trang 21Mục đích của việc này là để có cái nhìn tổng quát về quy mô của các kênh khácnhau trong chuỗi giá trị.
Hình 6 cho thấy khối lượng sản phẩm dịch chuyển trong chuỗi theo hai kênh khácnhau tới khách hàng trong hai thị trường 1 và 2 Theo đó, 20% tổng khối lượng sảnphẩm được tiêu thụ trên hai thị trường 1 và 2 có nguồn gốc là các sản phẩm trung bìnhban đầu được các công ty chế biến lớn mua từ nông dân, sau đó chế biến và phân phốitới thị trường 1 Còn 80% tổng khối lượng sản phẩm trên hai thị trường thì qua một chutrình khác: các sản phẩm nhỏ ban đầu (50% khối lượng) và sản phẩm nhập khẩu (30%khối lượng) được các công ty vừa và nhỏ thu gom, chế biến và bán cho các nhà bán lẻtrước khi tiêu thụ trên thị trường 2
HÌNH 6: SƠ ĐỒ KHỐI LƯỢNG SẢN PHẨM
+ Sơ đồ dòng luân chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ về mặt địa lý
Một cách đơn giản để lập sơ đồ là lập một bản đồ địa lý thực tế và theo dấu sảnphẩm hoặc dịch vụ mà ta đang nghiên cứu Bắt đầu từ nơi bắt nguồn, nơi trồng và sau
đó vẽ sự dịch chuyển sản phẩm từ thương lái trung gian đến người bán buôn, người bán
lẻ và người tiêu dùng cuối cùng Sơ đồ này cho phép cho phép biết được một khía cạnh
Sản phẩm
trung bình
ban đầu
Công ty chế biến lớn
Khách hàng thị trường 2 Bán lẻ B
Bán lẻ A
SME công nghiệp
Trang 22của dòng luân chuyển sản phẩm: khối lượng, lợi nhuận biên trên một sản phẩm, sốngười tham gia,… và thấy được sự khác biệt về địa lý hoặc vùng.
Như vậy, một chuỗi giá trị có nhiều khía cạnh nghiên cứu khác nhau Việc lập sơ
đồ chuỗi cho từng khía cạnh đó sẽ giúp người nghiên cứu đưa ra những phân tích chitiết, cụ thể và rõ ràng về chuỗi đó tại mỗi khâu, ở mỗi mắt xích hay các liên kết Từ đó,bằng cách tổng hợp những sơ đồ đó lại sẽ giúp người nghiên cứu có các nhìn hệ thống
về toàn chuỗi giá trị
1.2.2 Xác định sự phân phối lợi ích của các bên tham gia chuỗi giá trị ngành nông sản
Kaplinsky và Morris (2002) đã đưa ra nhận định rằng trong quá trình toàn cầuhóa, có nhận thức (trong phần lớn các trường hợp) rằng khoảng cách trong thu nhậptrong và giữa các nước tăng lên Từ việc phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thíchquá trình này:
Thứ nhất, bằng cách lập sơ đồ một loạt những hoạt động trong chuỗi, một phân
tích chuỗi giá trị giúp phân tích tổng thu nhập của chuỗi giá trị thành những khoản màcác bên khác nhau trong chuỗi giá trị nhận được
Thứ hai, một phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các công ty, vùng và
quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào Cách phân tích lồng ghépnày cho phép xác định ở mức độ rộng hơn các kết quả phân tích phân phối của các hệthống sản xuất toàn cầu và năng suất mà các nhà sản xuất cá thể phải nâng cao hoạtđộng và do đó tự đặt mình vào con đường tăng trưởng thu nhập bền vững
BẢNG 4: THU NHẬP CỦA NHỮNG NGƯỜI THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ CHUA MỘC CHÂU, SƠN
LA Lợi nhuận/kg Sản lượng/năm Thu nhập/năm
Trang 23Nông dân Mộc Châu trong HTX 0,06 14,29 3340 1,16 203,18 2,79
Người thu mua ở Mộc Châu (đến
HN)
Nguồn: Making value chains work better for the poor, www.markets4poor.org
Trong số những người tham gia khác nhau của chuỗi, những người mua và nhàbán lẻ tại các cửa hàng rau quả là những người có thu nhập cao nhất do số lượng lớn càchua được tiêu thụ, mặc dù lợi nhuận trên một kg ít hơn so với những người tham giakhác như hợp tác xã Vân Trì và hợp tác xã 19-5 (105 tấn/năm với người thu mua, 132tấn/năm đối với người bán buôn, 6 tấn/năm đối với công ty Bảo Hà, 13 tấn/năm đối với19-5 và 12 tấn/năm đối với Vân Trì) Nguyên nhân của sự khác biệt về số lượng càchua được tiêu thụ có thể là do mối quan hệ mua – bán lâu năm trong kinh doanh hoặc
do thực tế là hợp tác xã tin tưởng các nhà cung cấp về chất lượng sản phẩm hơn một sốnhà cung cấp với quy mô rộng khác
So với những người tham gia khác, các siêu thị có lợi nhuận tương đối thấp (íthơn 20% giá cuối cùng, trong khi lợi nhuận của nông dân là 25%)
Đối với người nông dân, việc bán hàng cho siêu thị không mang lại thu nhậpnhiều hơn so với bán hàng cho các cửa hàng bán rau an toàn, mặc dù giá bán lẻ caohơn 20%, sự khác nhau về giá cả được phân bổ cho lợi nhuận tăng đối với hợp tác xãVân Trì, công ty Bảo Hà, và đến lợi nhuận tăng cho siêu thị So với các cửa hàng bánrau an toàn, siêu thị đưa ra nhiều áp lực hơn cho các nhà cung cấp, đặc biệt là khả năngtrả lại hàng
Như vậy, phân tích chuỗi giá trị không chỉ giúp người nghiên cứu xác định thunhập được phân bổ trong các cấp và giữa các mắt xích khác nhau của chuỗi mà còn
Trang 24nắm bắt được tác động của hệ thống quản trị chuỗi tới sự phân phối đó Qua đó từngbước cải thiện thu nhập của các tác nhân yếu thế và đảm bảo vai trò bình đẳng của cáctác nhân trong chuỗi đó.
Các nhân tố ảnh hưởng đến phân phối thu nhập trong chuỗi giá trị là quản trịchuỗi giá trị, áp lực cạnh tranh, khả năng nâng cấp và các vấn đề về thể chế Việc xácđịnh được sự phân phối thu nhập trong chuỗi còn giúp cải thiện quản trị chuỗi tốt hơn,đưa ra các định hướng nâng cấp chuỗi và những yếu kém trong vấn đề thể chế tại đấtnước mà chuỗi đó thực hiện giá trị
1.2.3 Xác định các liên kết trong chuỗi từ đó đưa ra cách thức giúp các chủ thể kinh tế xâm nhập chuỗi giá trị
Một hoạt động trong chuỗi giá trị không biệt lập mà luôn có mối quan hệ trực tiếphoặc gián tiếp tới các hoạt động khác trong chuỗi đó Các mối quan hệ đó tạo thành cácliên kết giữa các mắt xích, các quy trình hay các khâu trong chuỗi Những liên kết này
có thể tồn tại giữa các hoạt động chính hoặc giữa các hoạt động chính và hoạt động bổtrợ trong chuỗi hay quan hệ có thể tồn tại giữa các mắt xích (người sản xuất và thươngnhân) hoặc trong cùng một (nông dân với nông dân)
Các mối quan hệ và liên kết giữa những người tham gia tương tự nhau về cơ bản
có thể được phân chia thành ba loại như sau:
- Các quan hệ thị trường tại chỗ hay “quan hệ trong tầm tay”: Những người thamgia thực hiện một giao dịch (gồm thỏa thuận giá cả, khối lượng và các yêu cầu khác)chỉ trong thời hạn và phạm vi của giao dịch cụ thể đó
- Các mối quan hệ mạng lưới bền bỉ: Khi những người tham gia muốn giao dịchvới nhau nhiều lần lặp đi lặp lại, chung ta gọi đó là mối quan hệ mạng lưới bền bỉ Loạiquan hệ này có mức độ tin cậy cao hơn và phụ thuộc vào nhau ở một mức độ nhất định,
nó có thể được chính thức hóa bằng hợp đồng song không cần thiết
Trang 25- Hội nhập theo chiều ngang (horizinal linkage): Cả hai bên cùng có sở hữu vềmặt pháp lý Một tổ chức tham gia vào nhiều quy trình khác nhau trong chuỗi giá trị có
cơ cấu sở hữu là toàn phần hoặc một phần
Ngoài ra giữa những các mắt xích của chuỗi giá trị còn có thể hình thành các liênkết dọc (vertical linkage): là liên kết giữa các tác nhân có quan hệ mua bán trong chuỗi,giúp cho việc thâm nhập thị trường trở nên dễ dàng hơn Ngoài ra, liên kết theo chiềudọc cho phép các công ty trao đổi kiến thức, thông tin và kỹ thuật, tài chính và dịch vụkinh doanh
Trong mọi tổ chức, sự tin tưởng đóng vai trò trung tâm cho sự kết nối các thànhviên và từ đó tạo lập tính thống nhất trong tổ chức đó Tương tự như vậy, các mắt xích
và các nhân tố trong chuỗi giá trị được kết nối bởi các mối quan hệ và lòng tin tưởng.Mức độ chặt chẽ trong các liên kết phụ thuộc vào mức độ tin tưởng giữa các nhân tố làcao hay thấp Dựa vào mức độ tin tưởng giữa các mắt xích của chuỗi, R Kaplinsky và
M Morris đã phân biệt hai loại chuỗi có mức độ tin tưởng cao và thấp như trong Bảng
5 dưới đây
Trong chuỗi tin tưởng cao, các mắt xích được kết nối bởi các môi quan hệ chặtchẽ, mức độ tin tưởng cao
BẢNG 5: SO SÁNH CHUỖI TIN TƯỞNG THẤP VÀ CHUỖI TIN TƯỞNG CAO
Độ lâu dài của quan
hệ buôn bán
Các thủ tục đặt hàng Mở thầu đặt hàng, giá cả được
thỏa thuận và đồng ý trước khiđặt hàng
Có thể không phải mở thầu; giá cảđược quyết định sau khi hợp đồngđược đặt ra
Mối quan hệ hợp
đồng
Nhà cung cấp chỉ bắt đầu sảnxuất khi nhận được hợp đồng
Nhà cung cấp linh hoạt hơn về cácchỉ dẫn, có thể bắt đầu sản xuấttrước khi có hợp đồng chính thức
tra
Trang 26Mức độ phụ thuộc Thấp Cao
Hỗ trợ kỹ thuật Kiến thức chuyên môn hiếm khi
có sẵn, chỉ hỗ trợ khi được trảtiền
Thường xuyên và thường khôngchính thức
Tín dụng mở rộng Gây khó khăn hoặc không có tín
dụng mở rộng
Dễ tiếp cận, thời gian trả tiềnchậm, điều khoản dễ dàng
Điều kiện thanh toán Trì hoãn trong việc thanh toán
cho các đại lý và những ngườisản xuất không chính thức
Trả tiền khi nhận được hàng hóa
Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2002
Việc phân tích chuỗi giá trị ngành nông sản không chỉ giúp xác định các mắt xích,những người tham gia nào chuỗi liên kết với nhau mà còn giúp tìm ra nguồn gốc củanhững liên kết này và liệu rằng các liên kết đó có mang lại lợi ích hay không Việcnhận biết lợi ích (hoặc không có lợi ích) có thể giúp tăng cường hoặc loại bỏ dầnnhững trở ngại trong các liên kết, từ đó tạo dựng lòng tin giữa những người tham giavào chuỗi giá trị nông sản
HÌNH 7: CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ HÀNG THỦ CÔNG
Nguồn: Hàng thủ công bằng cói ở Ninh Bình, SNV 2005
Nông dân Người thu gom Sản xuất tại gia đình
Nhà bán lẻ
Bán buôn Quan hệ lâu dài
Quan hệ thời điểm
Trang 27Qua việc xác định mức độ chặt chẽ của các liên kết trong chuỗi giá trị, các doanhnghiệp ngoài chuỗi có thể định hướng xâm nhập chuỗi đó tại mắt xích nào vào thờiđiểm nào là thích hợp.
Liên kết thị trường: là phương tiện để thúc đẩy dòng chảy của sản phẩm qua các
cấp độ của hệ thống marketing
Liên kết thị trường giúp cho các tác nhân trong chuỗi có thể tiếp cận thông tin thịtrường đầy đủ và nhanh nhậy Đây luôn là vấn đề quan trọng nhất của các doanhnghiệp khi muốn xâm nhập vào một GVC Dù các nước phát triển có dỡ bỏ các rào cảnthương mại đi chăng nữa thì các nhà sản xuất ở các nước đang phát triển cũng khôngthể tự động gia nhập thị trường một cách dễ dàng bởi vì các chuỗi giá trị thường bịkiểm soát bởi một số người mua nhất định
Bên cạnh đó, các mối quan hệ thương mại quốc tế cũng được coi là một phần củamạng lưới những nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và nhà bán lẻ, trong đó tri thức vàquan hệ được phát triển để tiếp cận thị trường và các nhà cung cấp Trong bối cảnhhiện nay, sự thành công của các nước đang phát triển và của những người tham gia thịtrường ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào khả năng tiếp cận mạng lưới nàythông qua việc tiếp cận các liên kết của chuỗi giá trị toàn cầu
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC THAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU HÀNG NÔNG SẢN
Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của một số quốc gia trong khu vực và trênthế giới cho thấy, tùy theo điều kiện cụ thể của từng nước, có thể phát triển một nềnnông nghiệp bến vững dựa trên các chiến lược cụ thể và thích hợp Qua đó giúp hàngnông sản của nước mình xâm nhập sâu rộng và GVC nhằm thu được giá trị gia tăng ởmức cao nhất có thể
Trang 28Trung Quốc và Thái Lan là hai quốc gia châu Á, có các điều kiện tự nhiên-xã hộitương đối giống Việt Nam song hai nước này lại đang xâm nhập mạnh vào GVC hàngnông sản và thu về nhiều giá trị gia tăng hơn so với Việt Nam Từ các kinh nghiệmthực tế của hai quốc gia này, Việt Nam có thể vạch ra những bước đi chiến lược chongành nông sản để nâng cao vị thế của nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầucũng như trên thị trường thế giới.
1 3.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu đời nhất thế giới, đồng thời làmột trong những chiếc nôi của nền nông nghiệp thế giới Do đó, nền nông nghiệpTrung Quốc đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thâm canh cổ truyền với một hệ thống công
cụ sản xuất thủ công phong phú, đa dạng, tận dụng nguồn lao động dồi dào ở nôngthôn, bảo đảm sản xuất nông nghiệp tự túc, tự cấp có hiệu quả cao Kinh tế nôngnghiệp Trung Quốc đã có sự chuyển dịch cơ cấu tích cực nhằm tạo ra năng suất câytrồng và hiệu quả lao động cao, sản xuất nhiều nông sản hàng hóa
Chỉ sử dụng 9 % diện tích đất trồng trọt toàn cầu, Trung Quốc không những đãđáp ứng nhu cầu của hơn 1,3 tỷ người về lương thực, thực phẩm và các nông sản khác
mà còn có thể xuất khẩu ra thế giới và đạt được nhiều thành tựu trong việc xâm nhậpchuỗi giá trị toàn cầu ngành nông sản Hiện nay Trung Quốc đứng thứ 8 trên thế giới
về xuất khẩu nông sản và đứng đầu ở châu Á, cung cấp 15% tất cả các nông sản nhậpvào Nhật – một trong những thị trường khó tính nhất trong khu vực và trên thế giới
Kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ thực tiễn của Trung Quốc sau có thể rút ra bài học cho Việt Nam như sau :
- Tăng cường hỗ trợ thông tin theo hướng cung cấp cập nhật, chính xácthông tin về thị trường nông sản cho nông dân;
Trang 29- Chính sách phát triển nông nghiệp nên hướng vào sản xuất những nông sản cólợi thế so sánh Khi không còn bảo hộ sản xuất cho một nông sản nào, cách tồn tại vàphát triển là phải phát huy những ngành có lợi thế so sánh hoặc tạo ra lợi thế so sánh đểtồn tại và phát triển;
- Coi trọng hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến Phát triển công nghiệp chếbiến tạo ra giá trị gia tăng cao, và tạo đầu ra ổn định hơn cho ngành trồng trọt Hơn nữaviệc chế biến nông sản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng đang thay đổi của thế giới sẽgiúp Việt Nam giành được thị phần cho hàng hóa của mình trên thị trường quốc tế;
- Hệ thống chính sách và quản lý liên quan tới nông nghiệp cũng cần có nhữngthay đổi kịp thời, định hướng cho nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu sản xuất, xuất khẩu;
- Tăng cường năng lực của các Hiệp hội ngành hàng Đây là đơn vị tập hợp vàtăng cường liên kết các doanh nghiệp kinh doanh nông sản nhằm gia tăng năng lựccạnh tranh trên thị trường quốc tế
1.3.2 Thái Lan
Thái Lan là một quốc gia thuộc khối ASEAN, có diện tích canh tác 19.620.000 hagấp 2,62 lần nước ta Trong khi đó, dân số của họ chỉ có 58,6 triệu người, bình quânđất canh tác trên đầu người gấp 4 lần Việt Nam Chính phủ Thái Lan xác định hướngchiến lược là xây dựng nền nông nghiệp với chất lượng cao, có sức cạnh tranh mạnh
Do đó, Thái Lan tập trung mũi nhọn phát triển mạnh hàng chế biến nông sản và côngnghiệp phục vụ nông nghiệp Hiện Thái Lan có tới hơn 1/4 số xí nghiệp gia công sảnphẩm được xây dựng ngay tại nông thôn, nhờ đó đã tạo dựng sự vững mạnh và ổn định
về kinh tế nông nghiệp Bên cạnh đó, Chính phủ còn chú trọng xây dựng các tổ chứcnông nghiệp và phát triển hệ thống điều hành nông nghiệp và nông thôn trên cơ sở sửdụng tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý hướng tới phát triển bềnvững
Thái Lan còn phát triển các ngành mũi nhọn như hàng nông, hải sản phục vụ xuấtkhẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước vàxuất khẩu sang các nước khác, nhất là các nước công nghiệp phát triển Hiện nay,
Trang 30ngoài mặt hàng xuất khẩu truyền thống như gạo, ngô, cao su, đường, nông nghiệp TháiLan còn có nhiều mặt hàng xuất khẩu mới như hải sản đông lạnh, gia cầm, hoa quả tươi
và chế biến rau xanh và sắn củ Nhờ có chính sách khuyến khích nông nghiệp pháttriển mạnh, Thái Lan đã đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo (khoảng 5 triệu tấn/năm),
là nước xuất khẩu thực phẩm mạnh nhất khu vực Đông - Nam Á
Điểm đáng chú ý là trái cây và nông sản của Thái Lan sản xuất theo quy trìnhGAP (thực hành nông nghiệp tốt) nên được người tiêu dùng ưa chuộng Ở Thái Lan, đa
số nông dân được chính phủ hướng dẫn và hỗ trợ cặn kẽ quy trình sản xuất theo tiêuchuẩn GAP từ khâu chọn cây giống cho đến bón phân, thu hoạch, chế biến và bảo quảnsau thu hoạch Trong khâu tiêu thụ tại đây có sự kết hợp giữa các nhà bán lẻ với hệthống siêu thị rồi từ đó chia nhỏ ra thành những đại lý ở nhiều nơi để thu mua hàng hóatại nơi sản xuất
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ những chính sách và thành công trong phát triển kinh tế của Thái Lan có thểrút ra những bài học sau:
- Xác định đúng vị trí đặc biệt quan trọng của nông nghiệp; tập trung để pháttriển nông nghiệp thực hiện đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp; đầu tư đồng bộ chocông nghiệp chế biến; đổi mới công nghệ sinh học, bảo quản và đa dạng hóa sản phẩmđáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng;
- Phối hợp đồng bộ các chính sách và giải pháp để đạt mục tiêu đề ra trong từngthời kỳ, đặc biệt ngành hàng xuất khẩu được hỗ trợ bởi chương trình khoa học côngnghệ và vốn;
- Sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô để can thiệp gián tiếp và điều tiết sản xuấtnông nghiệp có hiệu quả;
- Chú trọng phát huy các lợi thế so sánh thực hiện chiến lược sản phẩm, quyhoạch, đầu tư đồng bộ cho các vùng sản xuất chuyên canh tập trung sản xuất hàng hóanhằm phát huy lợi thế về quy mô Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hạ giá
Trang 31thành sản phẩm, phản ứng nhanh nhẹn trước yêu cầu và thị hiếu của thị trường về hìnhthức chất lượng nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh;
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp;
- Tăng cường đổi mới hệ thống tiếp thị, phát triển các kênh sản xuất tiêu thụ xuấtkhẩu, coi trọng chữ tín để mở rộng và tạo lập thị trường mới Đồng thời chú trọng đàotạo nguồn nhân lực được xem là một trong những nhân tố quyết định sự thành công
Trang 32CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2007-2010 VÀ VỊ THẾ CỦA HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG CHUỖI
GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 2.1 KHÁI QUÁT VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA KHỦNG HOẢNG TỚI THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN
2.1.1 Nguyên nhân và tác động của khủng hoảng kinh tế:
2008 và lan rộng ra khắp thế giới đã làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành tài chính
Mỹ cũng như hệ thống tài chính toàn cầu Theo phân tích của nhiều chuyên gia kinh tếquốc tế, đây không chỉ là cuộc khủng hoảng tài chính mà là một cuộc tổng khủnghoảng, trên tất cả các phương diện tài chính, sản xuất, thương mại, dịch vụ tươngđương với các cuộc Ðại suy thoái 1873 và 1929 Về bản chất, đây là cuộc khủng hoảng
cơ cấu, khủng hoảng của mô hình phát triển theo chủ nghĩa tự do mới và cuối cùng, đó
là khủng hoảng chu kỳ của chủ nghĩa tư bản trên quy mô toàn cầu
Nguyên nhân cơ bản của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ có thể được tóm tắt theo
ba yếu tố chính sau:
(1) Sự hình thành các định chế tài chính do Nhà nước bảo trợ: hệ thống tài chính
Mỹ bao gồm hai định chế tín dụng - thế chấp bất động sản được nhà nước bảo trợ làFannie Mae (Federal National Mortgage Association) và Freddie Mac (The Federal
Trang 33Home Loan Mortgage Corporation) Hai tổ chức này mua lại các khoản thế chấp từ các
tổ chức tài chính khác cũng như trực tiếp tham gia vào hoạt động cho vay thế chấp đểduy trì dòng tín dụng lãi suất thấp, cho phép những hộ gia đình có thu nhập thấp có thểmua nhà Để thực hiện nhiệm vụ này, Freddie và Fannie được phép nhận tín dụng trựctiếp từ Cục dự trữ Liên bang (FED), được miễn thuế thu nhập và nằm ngoài sự giámsát của Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) Nhờ đó, Fannie Mae và Freddie Mac đã mởrộng hoạt động cho vay dưới chuẩn, tạo ra bong bóng bất động sản Hơn nữa, việc hai
tổ chức này được phép chứng khoán hóa các khoản vay thế chấp đó để bán ra ngoàicho các tổ chức tài chính khác, kéo theo rủi ro bong bóng bất động sản lan tỏa sangtoàn bộ hệ thống tài chính Mỹ
2) Chính sách nới lỏng tiền tệ 2001-2004: sự sụp đổ của hàng loạt các công ty
dot.com đầu những năm 2000 và cuộc khủng bổ 11-9-2001 đã khiến cho FED hạ lãisuất cơ bản từ 6,5% năm 2001 xuống mức 1% năm 2003, sau một năm duy trì mức lãisuất 1%, FED tăng dần và đưa ra mức 5,25% vào tháng 6-2006 Việc này làm cho cungtiền cơ sở tăng từ 5% lên 10% trong suốt giai đoạn 2001-2007 Việc duy trì mức lãisuất thấp không dẫn đến tăng CPI song lại là nguyên nhân chính dẫn tới sự đầu tư sailệch trong cơ cấu sản xuất Các nhà đầu tư bắt đầu đổ tiền vào các thị trường tài sảncũng như chứng khoán và bất động sản, khiến cho các thị trường này tăng trưởng nóng.Người dân Mỹ cũng vay tín dụng để mua nhà, ô tô và các vật dụng xa xỉ khác Nềnkinh tế do đó bị định hướng đầu tư sai lệch, tạo ra cấu trúc ngày càng méo mó Biểuhiện rõ nhất là tình trạng vay tiền để mua bất động sản tại Mỹ tăng gần gấp ba lần tronggiai đoạn 2000-2007
3) Chính sách đồng nhân dân tệ yếu của Trung Quốc: Để khuyến khích xuất khẩu
và hạn chế nhập khẩu từ bên ngoài, Trung Quốc đã áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ
và tỷ giá cố định, duy trì đồng nhân dân tệ yếu Vì vậy, năm 2007, dự trữ ngoại tệTrung Quốc lên tới 2 nghìn tỷ USD và sau đó Trung Quốc đã đầu tư ngược trở lại Mỹ
Trang 34bằng việc mua trái phiếu chính phủ Mỹ, gián tiếp khiến cho lãi suất của Mỹ thấp xuốngtrong giai đoạn 2000-2005
Trong vai trò là một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới, việc Mỹ lâmvào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng với hàng loạt các ngân hàng lớn cùng các tậpđoàn tài chính hàng đầu tuyên bố phá sản như Lehman Brothers, Morgan Stanley,Citigroup, AIG,… tiếp sau đó là ngành công nghiệp ô tô khổng lồ của nước này suysụp đã kéo theo sự sụp giá ở hàng loạt các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới nhưNew York, London, Paris, Tokyo,… Vì vậy kinh tế toàn cầu cũng rơi vào tình trạngkhủng hoảng nghiêm trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay
b) Tác động của cuộc khủng hoảng đến kinh tế thế giới:
Bắt nguồn từ trung tâm tài chính Wall Street song quy mô và phạm vi ảnh hưởngcủa khủng hoảng tài chính lại vượt ra ngoài lãnh thổ Mỹ và lan ra toàn cầu, trở thànhmột trong những cuộc khủng hoảng gây ra hậu quả nghiêm trọng nhất cho thế giới dotiến trình gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế và theo đó là sự lệthuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc giữa các nền kinh tế, tác động của cuộc khủng hoảng
đã mang đặc tính phổ biến, lây lan rộng khắp và không loại trừ bất kỳ quốc gia nào.Đồng thời, tốc độ tăng trưởng của các quốc gia trung tâm âm và thấp kéo dài, trong khicác quốc gia ngoại vi, nhất là ở các nền kinh tế đang phát triển - nơi có độ mở thịtrường cao, lệ thuộc mạnh vào xuất khẩu và FDI, đã trở thành những nước bị tác độngnặng nề và sâu sắc hơn Bên cạnh sự diễn ra của khủng hoảng chu kỳ, khủng hoảng cơcấu và khủng hoảng thể chế, còn là sự bùng nổ đồng thời và nghiêm trọng của các cuộckhủng hoảng về năng lượng, nguyên liệu, lương thực và môi trường và đã làm nảy sinh
vô số những khó khăn về kinh tế, cũng như các vấn đề về chính trị, xã hội cho tất cảcác quốc gia trên thế giới
Trang 35Từ Bảng 6 trên ta có thể thấy, kinh tế thế giới bắt đầu sụt giảm tăng trưởng từnăm 2008, và khủng hoảng nghiêm trọng vào năm 2009; trong năm này, các nước pháttriển tăng trưởng âm, trong khi các nước đang phát triển thì khựng lại và có xu hướngsuy giảm kéo theo việc giảm sút tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu Năm 2009 đồngthời cũng là năm khủng hoảng kinh tế thế giới chạm đáy khi các khu vực kinh tế đềusụt giảm so với những năm giai đoạn 2004-2007.
BẢNG 6: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP TOÀN CẦU 2004-2009
Đông Á và Thái Bình Dương 6,9 8,0 6,8
Châu Mỹ Latin và khu vực Caribbean 6,9 3,9 -2,6
Nguồn: Tổng hợp từ World Bank và United Nations, *: ước tính
Ngân hàng Trung ương Anh (Bank of England) đã đưa ra ước tính về mức độthiệt hại của cuộc khủng hoảng tài chính đối với kinh tế thế giới, trong đó cho rằngkinh tế thế giới có thể bị mất từ 60.000 tỷ tới 200.000 tỷ USD kể từ năm 2007 đến
2010, con số này được tính từ những thiệt hại vĩnh viễn về sản lượng tiềm năng của cácnền kinh tế trên thế giới, cũng như những phí tổn trực tiếp để hỗ trợ các ngân hàngvượt qua khủng hoảng
Bên cạnh đó, hoạt động thương mại trên thế giới đã giảm sút nghiêm trọng vàonăm 2008 và đặc biệt vào năm 2009 lần đầu tiên xuất nhập khẩu toàn cầu tăng trưởng
âm Theo số liệu của, năm 2009 giá trị nhập khẩu thế giới giảm 13,3% so với năm
Trang 362008, xuất khẩu giảm 8,9% làm cho tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thế giới giảmnghiêm trọng ở mức 11,4% - mức thấp nhất từ năm 2000 đến nay.
HÌNH 8: BIỀU ĐỒ KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU THẾ GIỚI 2000-2009
Nguồn: Tổng cục Thống kê
2.1.2 Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới tới thị trường nông sản
Thị trường nông sản thế giới
Cũng như các hàng hóa khác, giá các mặt hàng nông sản trên thế giới được hìnhthành theo quy luật cơ bản của thị trường: quy luật cung - cầu, ngoài ra do tính chất đặcbiệt của nông sản là được sản xuất theo thời vụ, phụ thuộc vào thời tiết cũng như cácyếu tố về khí hậu nên giá loại hàng hóa đặc biệt này còn chịu tác động của các yếu tốngoài thị trường này cùng với các nhân tố khác như lượng tồn kho hoặc các yếu tố liênquan như tỷ giá hối đoái, giá dầu mỏ, nhu cầu tiêu thụ ethanol
Hình 9 đưa ra các nhân tố ảnh hưởng tới giá cả nông sản trên thị trường thế giới.Trong đó, cung và cầu là hai yếu tố trực tiếp hình thành nên giá nông sản; các nhân tốgián tiếp tác động tới giá cả là điều kiện thời tiết, các chính sách của các chính phủ về
Trang 37thuế, tỷ giá hối đoái hay tình hình dân số, thu nhập, thị hiếu, các sản phẩm bổ sung haygiá xăng dầu tại các nước nhập khẩu và các nước xuất khẩu.
HÌNH 9: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI GIÁ NÔNG SẢN THẾ GIỚI
Sản xuất nội địa
- Tỷ giá hối đoái
- Hàng rào phi thuế quan
Nhu cầu tại nước nhập khẩu Con người Động vật
Dự trữ
Sản xuất nội địa Nhập khẩu
Giá thành tại nước nhập khẩu
Chi phí đầu vào, thời tiết, chính sách của chính phủ
Dân số, thu nhập, thị hiếu, giá sản phẩm bổ sung, giá sản phẩm thay thế, giá xăng dầu, chính sách của chính phủ…
Trang 38Cung nông sản thay đổi trong dài hạn chủ yếu xuất phát từ tiến bộ kỹ thuật, giúpgiảm chi phí, tăng năng suất Trước kia, tiến bộ công nghệ kỹ thuật làm giảm chi phí và
mở rộng sản xuất phát triển làm cho năng suất nông sản tăng với tốc độ lớn hơn tốc độtăng dân số và tăng thu nhập, dẫn đến một thời gian dài giá nông sản trên thị trường thếgiới không tăng, có những lúc còn giảm (giai đoạn 1990-2000) Nhưng một vài nămgần đây cầu nông sản có xu hướng tăng khiến cho giá nông sản tăng lên Giai đoạn2000-2009 thế giới đã chứng kiến sự biến động đột ngột và không ổn định của nôngsản, đặc biệt là trong hai năm 2008 và 2009
Theo FAO, chỉ số giá hàng nông sản danh nghĩa 2008 đã tăng gấp đôi so với
2002 Chỉ số giá nông sản bắt đầu tăng từ năm 2002 sau bốn thập niên sụt giảm và tăngmạnh vào năm 2006, 2007; đến giữa năm 2008, giá thực tế nông sản đã tăng 64% sovới năm 2002 Trong đó, giá thực vật cho dầu như vừng, lạc, cọ,… đã tăng gấp đôi kể
từ năm 2000, lúa mì tăng 61%, ngô tăng thêm 32%, và gạo tăng 29%
Có thể thấy một số nguyên nhân chính của việc giá nông sản tăng trong thập niênđầu của thế kỷ XXI như sau:
- Sản xuất và dự trữ giảm so với nhu cầu:
Do các ảnh hưởng của thời tiết và sâu bệnh và các yếu tố ngoại sinh khác, xuấtkhẩu ngũ cốc của các nước xuất khẩu chính trên thế giới đã giảm rõ rệt trong hai năm2005-2006, với mức giảm 4-7% Năm 2007, Mỹ đã tăng xuất khẩu ngô khi giá mặthàng này tăng; tuy nhiên do đất canh tác bị hạn chế nên sản lượng đậu nành lại giảmxuống rõ rệt
Ngoài ra, dự trữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp cân bằng thịtrường và ổn định giá cả Dự trữ giảm sẽ hạn chế khả năng phản ứng của thị trường khicầu tăng lên mà mức cung lại giảm Lượng dự trữ nông sản thế giới bắt đầu giảm từgiữa những năm 1990, với mức giảm trung bình 3,4% mỗi năm Đến năm 2008 dự trữ
Trang 39ngũ cốc của thế giới là 19,6%, thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình 24% trongvòng 5 năm từ 2002-2007 và là mức thấp nhất trong vòng 25 năm kể từ năm 1973 tới2008.
Mặt khác, kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ tăng trưởng mạnh làm tăng nhu cầu tiêu
thụ nông sản của hai quốc gia đông dân nhất thế giới này (với hơn 1/5 dân số thế giới),đặc biệt là sản phẩm chứa nhiều dinh dưỡng như thịt và dầu thực vật
- Tỷ giá hối đoái: trong vòng 1 thập kỷ trở lại đây, sự sụt giá USD so với Euro và
những đồng tiền chính khác đã kích thích tăng xuất khẩu nông sản, do các nước xuấtkhẩu nông sản chủ yếu thu về bằng đồng đô la Ngoài ra, đồng USD giảm làm cho cácnhà đầu cơ có xu hướng chuyển đầu tư từ nắm giữ đô la sang nắm giữ các hàng hóatrong đó có nông sản
- Giá nhiên liệu: giá dầu tăng mạnh làm cho chi phí sản xuất tăng, gây sức ép
tăng giá Giá dầu tăng cũng kéo theo xu hướng tăng cường sản xuất ethanol để thay thếdầu mỏ gây sức ép lên sản xuất lương thực
- Nhiên liệu sinh học: chính sách sản xuất ethanol từ ngô ở Mỹ (và nhiên liệu sinh
học từ dầu thực vật ở châu Âu) làm tăng nhu cầu tiêu dùng lương thực bù đắp cho mộtphần sản lượng ngô chuyển sang sản xuất ethanol Trong năm 2007, trong 40 triệu tấnngô tăng thêm so với năm 2006 thì có tới 30 triệu tấn được dùng để sản xuất ethanol
- Hoạt động đầu cơ: các nhà đầu cơ tìm thấy cơ hội từ một số mặt hàng nông sản
mang lại lợi nhuận cao hơn là đầu tư và chứng khoán hay bất động sản Từ những nămđầu thế kỷ IXX, sự sụp đổ của các công ty dot.com khiến cho một lượng không nhỏcác nhà đầu cơ chuyển sang thị trường nông sản nhằm đảm bảo thu lợi nhuận một cách
an toàn, khiến cho dòng tiền chảy vào thị trường này tăng lên Trong vòng 10 năm trởlại đây kết cấu thị trường nông sản đã có những sự chuyển mình mạnh mẽ, các quỹ đầu
tư tham gia thị trường ngày càng sâu rộng Hoạt động giao dịch toàn cầu của các loại
Trang 40chứng khoán options và futures tăng lên gấp đôi trong vòng 5 năm kể từ 2002 đến
2007 Riêng năm 2007, hoạt động giao dịch tại các sàn giao dịch nông sản trên thế giới
đã tăng 30% so với 2006 Luồng tài chính từ các quỹ này đã dần lớn đến mức chi phốicung cầu trên thị trường góp phần làm cho giá nông sản tăng lên trong vòng 10 năm từ
2000 đến 2009
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tới thị trường nông sản
Giá các mặt hàng nông sản thế giới giảm một cách nhanh chóng bắt đầu từ tháng7-2008 sau một thời gian dài tăng vọt và trở về gần bằng mức giá năm 2007 Nguyênnhân của việc giá nông sản giảm là do sự kết hợp của hai nhân tố cung và cầu Giá caothúc đẩy các nước xuất khẩu mở rộng sản xuất các mặt hàng ngũ cốc Bên cạnh đó, cầugiảm là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu manglại, khiến cho các hoạt động thương mại bị hạn chế Cầu giảm sút đã trực tiếp ảnhhưởng đến thị trường và giá cả của ngũ cốc và các loại nông sản là nguyên liệu phục vụcông nghiệp như cao su
Kể từ tháng 9/2008 giá nông sản trên thị trường thế giới giảm đột biến Điển hìnhnhất là giá cao su RSS2 cuối tháng 9 còn ở mức 4.100 USD/tấn đã giảm xuống còn
3000 USD/tấn, giảm 26,8% trong vòng một tháng
Đến giữa tháng 10/2008, giá cà phê thế giới sụt giảm xuống thấp nhất, thấp hơn
cả mức giá của tháng 1 Tại thị trường London là khoảng 1700 USD/tấn, là mức thấpnhất kể từ đầu năm (ngày 1/1/08 giá thế giới là 1903 USD/tấn)
Bên cạnh đó, giá các loại ngũ cốc cũng giảm nhanh chóng tuy với tốc độ chậmhơn giá các loại nông sản từ cây công nghiệp
Sự suy giảm giá trong năm 2008 có một số nguyên nhân chính sau với mức độảnh hưởng tùy theo mặt hàng: