Tầm nhìn, Sứ mạng kinh doanh của DN : Tầm nhìn chiến lược : Công ty sản xuất và xuất khẩu cá tra hàng đầu Việt Nam Luôn có trách nhiệm với môi trường và cộng đồng Phát triển theo
Trang 1Chương 1 : Giới thiệu về công ty Cổ phần Việt An
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Việt An
Tên đầy đủ DN : Công ty Cổ phần Việt An
Tên giao dịch : Anvifish Joint-Stock Company
Tên viết tắt DN : Anvifish Co
Trụ sở : Quốc lộ 91, khóm Thạnh An, phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang
Ngày tháng năm thành lập : Tiền thân là “Công ty TNHH ANGIANG – BASA” thành lập
vào tháng 08 năm 2004, đến tháng 12 năm 2004 đổi tên thành “Công ty TNHH Việt An” và
Trang 2tháng 02 năm 2007, chính thức được chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang Công ty
Ngành nghề kinh doanh của DN
Khai thác, nuôi trồng thủy sản; Chế biến thủy hải sản; Mua bán thủy hải sản; Sản xuất thức
ăn gia súc; Mua bán thực phẩm; Kinh doanh lữ hành nội địa (tuân theo những quy định pháp luật về Luật Du lịch); Các hoạt động trợ giúp và trung gian tài chính; Đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng dân cư nông thôn và đô thị
Giấy CNĐKKD: số 1600720555, đăng ký lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch và Đầu tư An Giang cấp Đăng ký lại lần thứ 1: ngày 21/12/2009, đăng ký thay đổi lần thứ 3: ngày 26/08/2010
Mã số thuế : 1600 720 555
Xác định các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU) :
1-Xuất khẩu cá tra cá ba sa
2-Thuốc thú y thủy sản
3-Thức ăn thủy sản
1.2 Tầm nhìn, Sứ mạng kinh doanh của DN :
Tầm nhìn chiến lược :
Công ty sản xuất và xuất khẩu cá tra hàng đầu Việt Nam
Luôn có trách nhiệm với môi trường và cộng đồng
Phát triển theo chiều sâu
Phát huy các lợi thế sẵn có
Sứ mạng kinh doanh :
Trang 3Góp phần vào sự phát triển bền vững ngành nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu cá tra củavùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và của cả nước Việt Nam nói chung.
Anvifish từng bước đầu tư các vùng nuôi cá theo chuẩn GlobalGAP - thực hành nôngnghiệp tốt toàn cầu - đã được tổ chức quốc tế SGS cấp giấy phép chứng nhận đạt tiêu chuẩn,điều đó giúp cho công ty tăng 20% giá trị xuất khẩu và là giấy thông hành để đưa sản phẩm đikhắp thế giới
1.3 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản :
Sau 6 năm tham gia vào lĩnh vực chế biến xuất khẩu, kết quả năm 2009 của Anvifish nằmtrong vị trí dẫn đầu các công ty xuất khẩu cá tra ở Việt Nam Thực tế, kim ngạch xuất khẩu củaAnvifish tăng từ 32 triệu USD năm 2007 lên 47 triệu USD năm 2008, rồi 57,9 triệu USD năm2009; với lợi nhuận sau thuế năm 2009 là hơn 74 tỷ đồng
Trang 5CHƯƠNG 2:PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI :
2.1 Ngành kinh doanh của doanh nghiệp :
Đến tháng 02 năm 2007, Công ty chính thức được chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữuhạn sang công ty cổ phần
Năm 2008, Anvifish thành công trong vụ kiện chống phá giá tại thị trường Mỹ, được côngnhận không bán chống phá giá mặt hàng cá Tra vào thị trường này và được áp mức thuế là 0%,tạo cho Anvifish có lợi thế rất lớn so với các Doanh nghiệp trong ngành, trong khi đó cácDoanh nghiệp khác tại Việt Nam phải chịu mức thuế là 63,88%
Kết quả năm 2009 của Anvifish nằm trong vị trí dẫn đầu các công ty xuất khẩu cá tra ởViệt Nam Thực tế, kim ngạch xuất khẩu của Anvifish tăng từ 32 triệu USD năm 2007 lên 47triệu USD năm 2008, rồi 57,9 triệu USD năm 2009; với lợi nhuận sau thuế năm 2009 là hơn
2.2 Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành :
Từ sau năm 1954, xác định được khả năng đóng góp mà nghề cá có thể mang lại cho nềnkinh tế quốc dân, cùng với quá trình khôi phục và bước đầu phát triển kinh tế ở miền Bắc,Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng phát triển nghề cá
Năm 1976, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Bộ Hải sảnđược thành lập Năm 1995, Việt Nam gia nhập các nước ASEAN và ngành thuỷ sản Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức nghề cá Đông NamÁ SEAFDEC, cùng với việc mở rộngthị trường xuất khẩu đã tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản có chiềuhướng phát triển tốt Chất lượng sản phẩm thuỷ sản không ngừng được nâng cao do các cơ sởchế biến ngày càng hiện đại, công nghiệp tiên tiến, quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế
Đến năm 2008, đã có 544 doanh nghiệp chế biến thủy sản quy mô công nghiệp, trong đó
410 cơ sở sản xuất, kinh doanh thủysản đạt tiêu chuẩn ngành về điều kiện an toàn vệ sinh thựcphẩm, 414 doanh nghiệp đã áp dụng các quy phạm GMP, SSOP, HACCP, ISO 14001 , đạttiêu chuẩn sản xuất sạch hơn, được phép xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ, EU, NhậtBản, Hàn Quốc, Liên bang Nga, Từ 18 doanh nghiệp năm 1999, đến nay đã có 269 doanhnghiệp chế biến được cấp phép xuất khẩu vào thị trường EU
Sự phát triển của ngành đang trong giai đoạn tăng trưởng bởi nhu cầu tiêu thụ thủy sản
trong nước cũng như thị trường xuất khẩu đang ngày càng gia tăng
Trang 6Tiêu dùng thủy sản toàn cầu đã tăng mạnh từ mức trung bình 9,9 kg trong thập kỷ 1960 lên14,4 kg trong thập kỷ 1990 và 16,7 kg trong năm 2006
Theo FAO, nhu cầu sử dụng thủy sản dùng làm thực phẩm được dự báo sẽ đạt 183 triệu tấnvào năm 2015, tăng 40 triệu tấn so với năm 2010 và tiêu thụ thủy sản theo đầu người sẽ đạt14,3kg thay cho 13,7kg năm 2010
2.3 Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô (Mô hình PESTEL) :
a Môi trường kinh tế
Cơ hội
Một số loài cá mới cũng được tiêu thụ rất thành công ở Châu Âu như cá tra, ba sa (catfish)của Việt Nam và cá rô sông Nile với khối lượng tiêu thụ đang tăng lên nhanh chóng Nhữngloài thủy hải sản mới này được người tiêu dùng Châu Âu ưa chuộng do có mùi vị trung tính vàgiá thấp.Cá phi lê đang giành lại thị phần từ cá nguyên con trên toàn EU do người tiêu dùngđòi hỏi sự thuận tiện hơn khi mua hải sản
Các doanh nghiệp xuất khẩu còn được hưởng lợi từ chênh lệch tỷ giá giữa Việt Nam đồng
và đồng ngoại tệ, như USD, Yên Nhật, Euro Trong năm 2009, đồng Việt Nam có xu hướng
Doanh nghiệp
Nhân tố chính trị
Nhân tố kinh tế
Nhân tố văn hóa – xã hội
Nhân tố công nghệ
Trang 7yếu đi so với các đồng ngoại tệ khác Điều này có lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu khiquy đổi doanh thu sang Việt Nam đồng
Việt Nam có 1 bộ phận đông đảo lao động trong nông nghiệp nông thôn, tay nghề khôngcao, không có kỹ năng nhưng chi phí tiền công rẻ, là yếu tố góp phần làm tăng sức cạnh tranhcủa hàng thủy sản Việt Nam
b Môi trường chính trị- pháp luật
Cơ hội
Mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam không thuộc nhóm 5 mặt hàng bị đánh thuếchống bán phá giá tại EU
EU đang có xu hướng nới lỏng cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, cải cách về chính sách do
đó trong những năm tới thủy sản Việt Nam sẽ phải cạnh tranh hết sức khốc liệt với sản phẩmthủy sản của các nước khác như Trung Quốc
Thách thức
Thị trường EU là thị trường có nhiều quy định kỹ thuật khá khắt khe với mục đích là bảo
vệ tốt nhất sức khoẻ con người, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững Để có thể xuất khẩuvào thị trường EU, hàng hóa của Việt Nam trước hết phải vượt qua 5 rào cản về các tiêuchuẩn, đó là: chất lượng vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người tiêu dùng, bảo vệ môi trườngsinh thái, vấn đề sử dụng lao động
Năm 2009, Luật Hoá chất Reach đã có hiệu lực, việc sử dụng bất kỳ hoá chất nào đều phảiđăng ký và nghiên cứu tác động của hoá chất
Quy định về IUU (chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không quản lý) cũngđã được áp dụng từ tháng 6/2009, từ ngày 1-1-2010, bắt đầu có hiệu lực,yêu cầu giấy phépđánh bắt với các sản phẩm hải sản, tạo thêm thủ tục hành chính cho việc xuất khẩu
Áp dụng các quy định mới trong năm 2009 vừa qua, Ủy ban Châu Âu (EC) cũng đẩymạnh việc kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm vào nhóm hàng thuỷ sản, nông sản, mật ong,kiểm tra xuất sứ hàng Việt Nam, điều tra gian lận thương mại Luật vệ sinh thực phẩm đãđược nhóm thành luật mới bao gồm thêm một quì định là tất cả các nước thứ ba xuất khẩu thựcphẩm vào EU phải có hệ thống HACCP kể từ ngày 1/112006
c Môi trường văn hóa – xã hội
Cơ hội
Trên thế giới hiện nay, xu hướng người dân chuyển sang dùng thủy sản thay thế cho thịtKhó khăn thứ nhất đó là thị hiếu, phong cách tiêu dùng, ngôn ngữ, văn hoá kinh doanh củamỗi nước, mỗi vùng khác nhau, trong khi đó hàng hoá vào thị trường EU lại được lưu thôngtrên toàn bộ 27 nước Như vậy, việc tạo ra một sản phẩm và đưa sản phẩm vào được một nước
Trang 8và phải thích ứng với 26 nước còn lại là một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệpViệt Nam.
Thách thức
Thu nhập tăng và dân trí cao khiến người dân ở đây quan tâm hơn đến những mặt hàngchất lượng cao, đặc biệt thể hiện được tính cá thể, họ muốn mình là trung tâm, sản phẩm phảiphục vụ nhu cầu và đề cao tính cá nhân của họ Các yếu tố khác cũng được quan tâm nhiềunhư việc kết nối về thông tin sản phẩm và trách nhiệm xã hội của sản phẩm và nhà cung cấp,sản xuất
Việt Nam luôn trong tình trạng thiếu thông tin thị trường, năng lực quản lý yếu kém, kinhnghiệm và kiến thức, cách tiếp cận thị trường cũng như khả năng phát triển hệ thống kinhdoanh và phản ứng với sự thay đổi chính sách còn chậm
d Môi trường công nghệ
Cơ hội:
Tại Việt Nam , một số doanh nghiệp thủy sản đã được tiếp cận khung giải pháp truy xuấtthực phẩm bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin tạo ra chuỗi cung ứng thủy sản an toàn.Khung giải pháp này giúp doanh nghiệp tiếp cận một cách tổng thể với chuỗi cung ứng thựcphẩm dựa trên công nghệ số, vì mỗi thành tố của chuỗi cung ứng sẽ được gắn một thiết bị theodõi duy nhất Đó có thể là một thẻ nhận dạng bằng tần số vô tuyến (RFID) gắn với một con cá,một mã vạch gán cho một bao bì sản phẩm, hay một số hiệu đặt riêng cho một ao tôm Sảnphẩm thủy sản sau đó có thể được đưa vào máy quét và chuyển dữ liệu cho đơn vị yêu cầuthông tin, từ nhà phân phối cho đến người nhập khẩu và người tiêu dùng Giải pháp này giúpcác cơ sở hạ tầng của chuỗi cung ứng được kết nối chặt chẽ với nhau hơn nhờ có sự trao đổithông tin thông suốt giữa những người cung cấp dịch vụ và người yêu cầu dịch vụ
Thách thức
Hạ tầng thủy lợi phục vụ cho nuôi trồng thủy sản; hệ thống cầu, cảng, khu neo đậu, tránhtrú bão còn nhiều hạn chế; công tác quy hoạch còn nhiều bất cập
Đối với ngành chế biến thì hầu như chưa có quá trình tự động hóa trong sản xuất
2.4 Đánh giá cường độ cạnh tranh
Tồn tại các rào cản ra nhập ngành :
Yêu cầu đáp ứng tốt những quy định kỹ thuật của thị trường xuất khẩu và quản lý hệthống từ nuôi trồng đến chế biến thủy sản
Công nghệ chế biến, đánh bắt thủy sản
Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu lớn
Quyền lực thương lượng từ phía các nhà cung ứng : CAO
Hiện, người dân nuôi trồng thuỷ sản phải vay vốn ngân hàng với lãi suất cao (trên1%/tháng), thậm chí nếu vay ở ngoài có lúc lên tới 2%/tháng, bối cảnh do không tiếp cận đượcnguồn vốn vay ngân hàng cho nên vùng ĐBSCL tiếp tục có nguy cơ tái diễn hiện tượng treo
Trang 9ao,thiếu nguyên liệu, vấn đề cốt lõi của ngành thủy sản Việt Nam từ nhiều năm nay được coi lànỗi lo lớn nhất của doanh nghiệp Thiếu nguyên liệu trong nước để sản xuất xuất khẩu trongkhi thuế nhập khẩu ở mức cao 10- 20%( Trung Quốc, các nước ASEAN đều áp dụng thuếnhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản bằng 0-0,2%), trong nhiều năm qua Việt Nam đã nhập nguyênliệu thuỷ sản từ hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ với giá trị không hề nhỏ, từ 200 - 250 triệuUSD mỗi năm Riêng năm 2007, tổng sản lượng nhập nguyên liệu và bán thành phẩm các loạixấp xỉ 122.196 tấn, chiếm hơn 3% tổng sản lượng thuỷ sản của Việt Nam (4,16 triệu tấn).
Quyền lực thương lượng từ phía khách hàng : CAO
EU có hệ thống phân phối phức tạp Do đó các siêu thị, các công ty bán lẻ hay các cửahàng ở thị trường EU không mua hàng trực tiếp từ nhà xuất khẩu nước ngoài mà thông qua cáctrung tâm thu mua lớn ở EU
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành : CAO
EU nhập khẩu thủy sản từ hơn 180 quốc gia trên thế giới Theo Vasep, hiện diện tíchnuôi cá tra tại các nước trong khu vực đang tăng đáng kể như Bangladesh, Philippines, TháiLan, Ấn Độ, Indonesia Hiện các nước này đều có những chiến lược đầu tư lâu dài cho việcphát triển cá tra tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Nên chắc chắn những nước trên sẽ là những đốithủ cạnh tranh đối với cá tra Việt Nam trong tương lai không xa
Cho tới năm 2011, tổng cộng có 330 doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được phép xuấtkhẩu sang thị trường EU
Tăng trưởng ngành
Xuất khẩu thủy sản từ 1993 - 2011
Đe dọa từ các sản phẩm thay thế :
Trang 10 Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành.
Sự đe dọa chủ yếu của sản phẩm thay thế là khả năng đáp ứng nhu cầu so với các sản phẩm trong ngành, thêm vào nữa là các nhân tố về giá, chất lượng , các yếu tố khác của môi trường như văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới sự đe dọa của sản phẩm thay thế
Đối với nhóm ngành thủy sản thì có rất nhiều mặt hàng thủy sản khác thay thế như cá rô phi,
cá pollack
• Sản phẩm thủy sản của Việt Nam chưa có lợi thế cạnh tranh nổi trội so với các sảnphẩm thủy sản của các nước khác và giá thành lại ở mức loại trung nên mức độ thay thế sảnphẩm là rất cao
Đe dọa từ các ra nhập mới : CAO
Đặc thù của ngành thủy sản là bán hàng trả chậm làm cho các doanh nghiệp không thuhồi vốn nhanh để phục vụ sản xuất tiếp, nên các doanh nghiệp này đa số huy động vốn lưuđộng từ các ngân hàng, chính vì thế nên tài sản ngắn hạn chiếm tỷ lệ lớn trong nguồn vốn
Chi phí tài chính, đặc biệt là chi phí lãi vay chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí sau giá vốnhàng bán
Đánh giá : ngành xuất khẩu thủy sản là một ngành hấp dẫn và có cường độ cạnh tranh
trung bình
2.5 Xác định các nhân tố thành công chủ yểu trong ngành (KFS) :
Những kỹ năng và tài sản cần thiết mà tất cả các doanh nghiệp trong ngành này phải sở hữunhằm đứng vững trước những tác động của môi trường bên ngoài là:
Kỹ thuật chế biến nuôi trồng thủy sản
Quản lý tốt các hoạt động từ khâu nuôi trồng, đánh bắt đến việc sơ chế hoặc chế biến xuất khẩu
Vốn đầu tư ban đầu
Trang 11CHƯƠNG 3 : PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG
3.1 Sản phẩm chủ yếu :
Các sản phẩm chính là cá tra fillet, cá tra cắt khúc, cá tra nguyên con cấp đông các loại.Trong đó, riêng sản phẩm cá tra fillet cũng khá đa dạng và được phân loại theo nhiều tiêuchuẩn khác nhau như màu sắc, kích cỡ, trọng lượng theo yêu cầu của khách hàng và thịtrường xuất khẩu Sản phẩm hiện đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng của những thịtrường khó tính nhất Các sản phẩm khác như cá cắt, portion, cá cuộn… chỉ chiếm tỷ trọng nhỏtrong doanh thu Trong quá trình chế biến còn có một số phụ phẩm khác như đầu cá, mỡ cá,xương, da cá Doanh thu từ các phụ phẩm này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanhthu
Về cơ cấu sản phẩm, Anvifish có 04 sản phẩm chủ lực là cá tra fillet T1, T2, T3, T4.Trong đó, T1 và T2 chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ và EU (T1 chiếm 35-50%doanh thu, T2 chiếm 40-55%) còn T3 và T4 (có thể cả T2) được xuất sang thị trường LB Nga.Thứ phẩm và phụ phẩm chủ yếu bán cho các đơn vị chế biến nội địa với giá trị thấp
* Các sản phẩm từ cá fillet :
+ Fillet cuộn bông hồng
+ Fillet cắt miếng
+ Fillet cắt miếng xiên que
+ Cá tra fillet tẩm bột xù vàng chiên sơ
+ Cá tra fillet tẩm bột xù trắng
+ Cá tra Fillet tẩm gia vị “Cajun”
…………
* Các sản phẩm từ cá Tra :
+ Cá tra tẩm bột tempura chiên sơ
+ Cá tra cắt khoanh
+ Cá tra cắt miếng tẩm gia vị “Lemon Spicy”
+ Cá tra cắt miếng tẩm bột xù vàng chiên sơ
+ Cá tra tẩm bột tempura chiên sơ
…………
* Các sản phẩm từ cá Basa :
+ Da cá Basa
+ Basa cắt khoanh
+ Cá Basa nguyên con
Trang 12+ Lươn cắt khúc.
+ Lươn nguyên con
………
* Một số hình ảnh về sản phẩm của công ty :
Fillet cắt miếng xiên que
Cá tra cắt miếng tẩm bột xù vàng chiên sơ.
Trang 13Ớt đỏ nhân Basa.
3.2 Thị trường :
Nhìn chung sản phẩm của công ty đều có mặt ở hầu hết các thị trường trường lớn trên thếgiới như : thị trường Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương
* Thị trường Châu Á.
Tỷ lệ xuất khẩu các sản phẩm vào thị trường này là 11%, gồm các quốc gia như: Taiwan,Korea, Singapore, Lebanon…Châu Á là thị trường đầy tiềm năng, nếu so với thị trường Châu
Âu thì thị trường Châu Á dễ hoạt động hơn vì có vị trí địa lý gần nhau, nền văn hóa gần giốngnhau và không bị nhiều rào cản kỹ thuật như Châu Âu.Do đó chi phí sản xuất và bán sản phẩmtrên thị trường này không như ở thị trường Châu Âu.Sản phẩm của công ty đã đạt chứng nhậnHALAL và các chứng nhận về công nghệ, chất lượng.Vì vậy công ty nên tận dụng những lợithế trên để xâm nhập vào các quốc gia còn lại ở Châu Á nhằm tăng doanh thu
* Thị trường Châu Âu.
Châu Âu là thị trường rộng lớn gồm 48 quốc gia với trên 700 triệu dân, là thị trường có nhucầu rất đa dạng và phong phú về hàng hóa.Người Châu Âu có thu nhập và mức sống rất cao do
đó chất lượng và đảm bảo về an toàn thực phẩm là tiêu chuẩn hàng đầu.Châu Âu được xem làthị trường hấp dẫn đối với hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Tỷ lệ xuất khẩu vào thị trường này là 78%, gồm các quốc gia như: Poland, Germany,Spain, France, Belgium, Italy, Holland, Malta.Trong đó Germany là một thị trường đầy triểnvọng và có thể phát triển mạnh hơn nữa.Bên cạnh đó Belgium, Italy, Holland, Malta…lànhững nhà nhập khẩu lớn nhưng không đều đặn.Do đó công ty phải mất nhiều thời gian để mởrộng đầu tư và giữ vững các thị trường này
* Một số thị trường khác như : Châu Mỹ, Châu Đại Dương.
+ Thị trường Châu Mỹ
Trang 14Tỷ lệ xuất khẩu là: 5.5%, gồm các quốc gia như: Canada, USA.Trong đó Canada là thịtrường lớn nhất.Gần đây hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam ( VASEP) cho biếtBộ Thương Mại Mỹ ( DOC) đã quyết định kết quả sơ bộ đợt xem xét hành chính thuế chốngbán phá giá đối với mặt hàng cá tra nhập khẩu từ Việt Nam giai đoạn 1/8/2008-31/7/2009.Theo đó nhiều doanh nghiệp Việt Nam bị áp mức thuế đến 4,22 USD/1 kg phi lêđông lạnh.Trong thời gian tới nếu DOC không thay đổi quyết định thì việc đưa cá tra vào thịtrường này vô cùng khó khăn không chỉ riêng Agifish mà toàn bộ các doanh nghiệp xuất khẩu
cá tra của Việt Nam
Cho đến nay, Bộ Thương mại Mỹ công bố kết quả xem xét sơ bộ vụ kiện chống bán phá giá phi lê cá tra đông lạnh tại thị trường Mỹ lần thứ 7 đối với 13 doanh nghiệp xuất khẩu cá traViệt Nam vào Mỹ Theo đó, thông qua việc xem xét lợi nhuận của doanh nghiệp từ
ngày01/08/2009 đến 31/07/2010:
Công ty Cổ Phần Vĩnh Hoàn (MCK: VHC) tiếp tục được hưởng mức thuế suất 0% 12 doanh nghiệp còn lại theo danh sách đính kèm như : Công ty TNHH Thực phẩm QVD Đồng Tháo, Công ty Cổ Phần Thương mại Thủy sản A Châu, Công ty TNHH Thủy sản Biển Đông, Công
ty Cổ phần Việt An ( Anvifish)… có mức thuế suất là 15% tương ứng 0,56USD/kg
+ Châu Đại Dương: tỷ lệ xuất khẩu là: 5.5%, gồm các quốc gia như: Switzerland,Australia
3.3 Đánh giá các nguồn lực, năng lực dựa trên chuỗi giá trị của DN
3.3.1 Tự chủ về nguyên liệu
Anvifish là một trong những doanh nghiệp đi tiên phong của Ngành phát triển các vùngnuôi cá nguyên liệu và được nhận chứng chỉ Global Gap cho các ao nuôi do Công ty sở hữu.Hiện diện tích vùng nuôi đạt tiêu chuẩn Global Gap của Anvifish là 37 ha, chỉ đứng sau CTCPXNK Thủy sản Bến Tre (43,5 ha) và CTCP Vĩnh Hoàn (40 ha)
Anvifish đang sở hữu 01vùng nuôi và 05 vùng liên kết đạt tiêu chuẩn SQF 1000 của tổchức SGS Các vùng nguyên liệu này hiện đáp ứng khoảng 40% nhu cầu nguyên liệu cho hai
xí nghiệp của Anvifish Dự kiến năm 2011, Anvifish sẽ mở rộng thêm 02 vùng nuôi, nângkhả năng chủ động kiểm soát nguồn nguyên liệu lên trên 50% nhu cầu, hướng tới chuẩn hóacác trại nuôi cá, kể cả các vùng nuôi liên kết Hiện tại, Anvifish có 02 vùng nuôi đạt tiêu chuẩnGlobal Gap Nhờ đó, sản phẩm cá tra của Anvifish đã đáp ứng tốt hơn các yêu cầu khắt khe vềchất lượng VS ATTP của nhiều thị trường nhập khẩu khó tính, tăng thêm 20% mức thặng dư
về giá trị xuất khẩu, khẳng định “Sạch từ con giống, vùng nuôi, sản xuất chế biến đến bàn ăncủa mọi người”
Trang 15Anvifish chủ động tạo dựng mối quan hệ thân thiết, gắn bó lâu dài với các chủ ao thôngqua việc thành lập câu lạc bộ nuôi cá Qua đó, Anvifish được ưu tiên mua gom nguyên liệu cá
và kiểm soát nguồn nguyên liệu đầu vào Hệ quả là, Anvifish vẫn kiểm soát tốt nguyên liệuđầu vào bên cạnh vùng nguyên liệu hiện có, góp phần giảm đáng kể sự biến động thườngxuyên về sản lượng và giá trong thời gian qua
LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA ANVIFISH
3.3.2 Sản xuất
Về công suất chế biến: Hai nhà máy của Anvifish có công suất chế biến thuộc loại trungbình ngành Tuy nhiên, để kiểm soát tốt vấn đề VS ATTP trong tất cả các khâu từ nuôi trồngcho tới xuất khẩu, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế và yêu cầu của các thị trường tiêu thụ,Anvifish là đơn vị đầu tiên phát triển phòng thí nghiệm kiểm dịch vi sinh, kháng sinh đạt tiêuchuẩn quốc tế ISO/EIC 17025 : 2005 (Mã số VILAS 241)
Trang 17Dây chuyền sản xuất của công ty Anvifish