1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của ngân hàng thương mại trong hoạt động của thị trường chứng khoán

32 523 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của ngân hàng thương mại trong hoạt động của thị trường chứng khoán
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 201,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của ngân hàng thương mại trong hoạt động của thị trường chứng khoán

Trang 1

Lời mở đầu

Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nềnkinh tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nềnkinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó Ngân hàng thơngmại thờng chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lợng cácngân hàng

Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nềnkinh tế Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chứckinh tế xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng Ngân hàng đóng vai trò là ngời thủquỹ cho toàn xã hội Ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng và nhiều dịch vụngân hàng thuận tiện cho các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp.Ngânhàng thực hiện các chính sách kinh tế đăc biệt là các chính sách tiền tệ, vì vậy

là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của chính phủ Do đó có thểnói ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọngnhất

Ngân hàng thơng mại tham gia hoạt động trên thị trờng chứng khoán

từ rất lâu Ngày nay vai trò đó ngày càng đợc phát huy mạnh mẽ Trong giai

đoạn đầu hình thành thị trờng chứng khoán ở nớc ta, các ngân hàng thơng mại

đã tham gia với nhiều hoạt động có hiệu quả song vẫn cha khai thác hết tiềmlực tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ,trình độ, nghiệp vụ giao dịchcho thị trờng non trẻ này

Hoạt động của ngân hàng thơng mại và thị trờng chứng khoán là haimặt của một vấn đề phức tạp Nó có tác động mạnh mẽ và rất nhậy cảm lẫnnhau.Điều đó luôn đặt ra cho ngân hàng thơng mại phải thể hiện vai trò tíchcực trong việc điều hoà cung cầu chứng khoán, cung cấp thêm nhiều dịch vụ

để hạn chế những bất lợi nhằm phát triển thị trờng chứng khoán

Kết cấu đề tài

Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm hai phần chính:

Phần 1: Lý thuyết chung về vai trò của ngân hàng thơng mại trong hoạt động của thị trờng chứng khoán

Phần 2: Thực trạng về vai trò của ngân hàng thơng mại trong hoạt

động của thị trờng chứng khoán ở Việt Nam

Trang 2

Phần 1

vai trò của NHTM trên Thị trờng chứng khoán (TTCK)

1.1 Tổng quan về NHTM

1.1.1 Khái niệm và các hoạt động cơ bản của NHTM

Theo điều 20 luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có nêu “ Tổchức tín dụng là doanh nghiệp đợc thành lập theo quy định của luật này vàcác quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng,cung ứng các dịch vụ thanh toán”

Từ định nghĩa chung đó, căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động,luật chỉ rõ các loại hình ngân hàng gồm NHTM, Ngân hàng phát triển, Ngânhàng đầu t, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngânhàng khác

Ngời ta phân biệt NHTM với các tổ chức trung gian tài chính khác là

ở chỗ NHTM là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi không kỳhạn, chính từ hoạt động đó tạo cơ hội cho NHTM có thể làm tăng bội số tiềngửi của khách hàng trong hệ thống ngân hàng của mình Đó là đặc trng cơbản để phân biệt NHTM với các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác

Hoạt động kinh doanh trên thị trờng tài chính bao gồm nhiều loạihình tổ chức kinh doanh tiền tệ Chúng là những tổ chức trung gian và môigiới tài chính, hoạt động nh những chiếc cầu chuyển tải những khoản tiền tiếtkiệm - tích luỹ đợc trong xã hội đến tay ngời có nhu cầu đầu t Nhng giữachúng lại có sự khác nhau về tích chất cũng nh về đối tợng và phơng phápkinh doanh

Lịch sử của NHTM là lịch sử kinh doanh tiền gửi Các NHTM từ chỗnhận tiền gửi với t cách là ngời thủ quỹ, bảo quản tiền gửi cho chủ sở hữu đểnhận những khoản thù lao, đã trở thành những chủ thể kinh doanh tiền gửi

Điều đó có nghĩa là huy động tiền gửi không những miễn tiền gửi mà còn trảlãi cho khách hàng gửi tiền để làm vốn vay nhằm tối u hoá khoản lợi nhuậnthu đợc

Trong khi thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ cho vay sangngời đi vay các NHTM đã tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiềnlàm phơng tiện thanh toán Trong đó quan trọng nhất là tài khoản tiền gửikhông kỳ hạn thanh toán bằng séc một trọng những công cụ tài chính thay thếcho tiền làm phơng tiện thanh toán Thông qua quá trình đó, đa lại kết quả là

đại bộ phận tiền giao dịch trong giao lu kinh tế đều qua ngân hàng Do đóhoạt động của ngân hàng thơng mại gắn bó chặt chẽ với hệ thống lu thôngtiền tệ và hệ thống thanh toán trong nớc đồng thời có mối liện hệ quốc tế rộngrãi Mặt khác hoạt động của ngân hàng thơng mại đa dạng, phong phú và cóphạm vi lớn trong khi các tổ chức tài chính khác thờng hoạt động trong mộtvài lĩnh vực hẹp theo hớng chuyên môn sâu

Trang 3

1.1.2 Vị trí của NHTM trong hệ thống tài chính

Trong các trung gian tài chính thì NHTM là một tổ chức quan trọngnhất, nó nắm giữ khoảng 2/3 tài sản có trong hệ thống ngân hàng Chính vìvậy NHTM là tổ chức trung gian tài chính có vai trò quan trọng nhất trong tàichính gián tiếp, có khả năng chi phối hoạt động của hệ thống tài chính Vị trí,vai trò của nó đợc thể hiện qua hai biểu hiện chủ yếu sau:

Thứ nhất: NHTM là một trung gian tài chính có số lợng lớn nhất

trong hệ thống các tổ chức tài chính và thực hiện phần lớn hoạt động của các

tổ chức trung gian tài chính nói chung

NHTM tập trung và huy động vốn ngân hàng bằng cách nhận tiềngửi của dân chúng dới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn và tiềngửi tiết kiệm Với số vốn đó ngân hàng tiến hành cho vay các doanh nghiệp,cá nhân có nhu cầu về vốn Là một trung gian tài chính giữa nhà tiết kiệm vànhà đầu t, NHTM thu lợi nhuận thông qua chênh lệch lãi suất vay và lãi suấthuy động

Thứ hai: NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng đầy đủ

lợi ích của hệ thống tài chính NHTM cho phép tiết kiệm thời gian, chi phí đểthu nhập và xử lý thông tin cho những ngời cho vay cũng nh ngời đi vay Trêncơ sở đó hạ thấp chi phí sử dụng vốn

NHTM cho phép tiết kiệm đợc chi phí giao dịch giữa ngời đi vay vàngời cho vay Thông thờng một cá nhân đi vay hoặc cho vay trên thị trờng tàichính phải chịu chi phí giao dịch cao vì vậy đối với cả hai đều không có lợi

Sự có mặt của NHTM đã phần nào giải quyết đợc tình hình trên NHTM là tổchức thờng xuyên nhận tiền gửi và cho vay do đó chi phí giao dịch sẽ giảm đirất nhiều, đồng thời huy động đợc một lợng vốn lớn để phát triển kinh tế

Nh vậy, NHTM đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống tàichính, nó góp phần đẩy nhanh tốc độ lu chuyển vốn trên thị trờng, thúc đẩyphát triển kinh tế

1.1.3 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển kinh tế

1.1.3.1 Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

NHTM đứng ra huy động nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ởmọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế nh: vốn tạm thời nhàn rỗi trongquá trình sản xuất, vốn từ hoạt động tiết kiệm của cá nhân trong xã hội Bằngvốn huy động đợc trong nền kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng, NHTM sẽcung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịpthời cho quá trình tái sản xuất Nhờ hoạt động của hệ thống NHTM và đặcbiệt là hoạt động tín dụng mà doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất,cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinhtế

1.1.3.2 NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trờng

Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệpluôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thách thức đòi hỏi các doanh nghiệpphải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền, công nghệ, mở rộng

Trang 4

quy mô sản xuất một cách hợp lý, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý Những hoạt động này đòi hỏi một khối lợng vốn đầu t lớn nhiều khi vợt quákhả năng vốn tự có của doanh nghiệp Do đó để giải quyết khó khăn này cácdoanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn nhằm thoả mãn nhu cầu

đầu t của mình Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là cầu nối giữadoanh nghiệp và thị trờng Nguồn vốn của ngân hàng cho doanh nghiệp đã

đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lợng của quá trình sản xuất,

đáp ứng nhu cầu thị trờng và từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vữngchắc trong kinh doanh

1.1.3.3 NHTM là công cụ để nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệthống, các NHTM đã góp phần mở rộng khối lợng tiền cung ứng trong luthông Thông qua việc cung ứng tín dụng trong nền kinh tế, NHTM thực hiệnviệc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia nguồn vốn của thị trờng,

điều khiển chúng một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩmô “ Nhà nớc điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trờng”

1.1.3.4 NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế

Trong nền kinh tế thị trờng, việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gialuôn phải gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấuthành nên sự phát triển đó Vì vậy nền tài chính mỗi nớc cũng phải hoà nhậpvới nền tài chính quốc tế và NHTM cùng với hoạt động kinh doanh của mình

đã đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này Với cácnghiệp vụ kinh doanh nh nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp

vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác, NHTM đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoạithơng không ngừng đợc mở rộng Thông qua các hoạt động thanh toán kinhdoanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các NHTM nớc ngoài, hệ thống NHTM

đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nớc phù hợp với sự vận độngcủa nền tài chính quốc tế

1.2 Tổng quan về thị trờng chứng khoán ( TTCK )

1.2.1 Khái niệm

Khi mới thành lập, các NHTM huy động vốn bằng phát hành và cổphiếu là thích hợp nhất vì nó là con đờng ngắn nhất, tiện lợi và tiết kiệm nhấttrong việc tìm kiếm nguồn vốn để kinh doanh Mặt khác nó tạo ra hàng hoácung cấp cho TTCK Về phía các thành viên, thị trờng chứng khoán là nơidiễn ra các giao dịch mua bán , trao đổi các loại chứng khoán Chứng khoán

đợc hiểu là các loại chứng từ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sởhữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành hoặcquyền sở hữu Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứngkhoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng

Bản chất của TTCK là thị trờng thể hiện mối quan hệ giữacung và cầu vốn đầu t mà ở đó giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin

về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu t.TTCK là thị trờng phát triển bậc caocủa nền sản xuất và lu thông hàng hoá

Trang 5

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của thị trờng chứng khoán

1.2.2.1 Thị trờng sơ cấp: hay thị trờng cấp một là thị trờng phát hành các

chứng khoán, là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên Tại thị trờng nàygiá cả của các chứng khoán là giá phát hành Việc mua bán chứng khoán trênthị trờng sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành

1.2.2.2 Thị trờng thứ cấp:hay thị trờng cấp hai là thị trờng giao dịch mua

bán trao đổi những chứng khoán đã đợc phát hành nhằm mục đích kiếm lời,

di chuyển vốn đầu t hay di chuyển tài sản xã hội

Thị trờng thứ cấp làm tăng tính lỏng cho các chứng khoán đã pháthành, xác định giá của chứng khoán đã phát hành trên thị trờng sơ cấp Thị tr-ờng thứ cấp là thị trờng đánh giá công ty qua sự lên hay xuống của giá chứngkhoán công ty đó

Vị trí của TTCK trong thị trờng tài chính: TTCK là hình ảnh đặc trng của thị ờng vốn Trên TTCK giao dịch hai loại công cụ tài chính: công cụ tài chính trên thị trờng vốn và công cụ tài chính trên thị trờng tiền tệ TTCK là hạt nhân trung tâm của thị trờng tài chính, nơi diễn ra quá trình phát hành, mua bán các công cụ

tr-nợ và công cụ vốn ( các công cụ sở hữu )

1.2.3 Vai trò của thị trờng chứng khoán trong phát triển kinh tế

TTCK có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế

Thứ nhất: TTCK với việc tạo ra các công cụ tài chính có tính thanh

khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốnphù hợp với yêu phát triển kinh tế

Yếu tố thông tin và cạnh tranh trên thị trờng sẽ đảm bảo cho việcphân phối vốn một cách có hiệu quả

TTCK tạo một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị trờng tài chính, điềunày buộc các NHTM và các tổ chức tài chính phải quan tâm tới hoạt động củachính họ và làm giảm chi phí tài chính

Việc huy động vốn trên TTCK có thể làm tăng vốn tự có của cáccông ty và giúp họ tránh đợc các khoản vay có chi phí cao cũng nh sự kiểmsoát chặt chẽ của các NHTM khuyến khích tính cạnh tranh của các công tytrên thị trờng Hoạt động của thị trờng chứng khoán cũng là yếu tố quyết định

để thu hút vốn đầu t nớc ngoài Đây chính là các yếu tố đảm bảo cho sự phân

bổ có hiệu quả các nguồn lực trong một quốc gia cũng nh trong phạm vi quốctế

Thứ hai: TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn,

thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra côngchúng, giải toả sự tập trung quyền lực của tập đoàn song vẫn tập trung vốncho phát triển kinh tế

Thứ ba: TTCK tạo điều kiện tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanh

nghiệp Cơ chế thông tin hoàn hảo tạo khả năng giám sát chặt chẽ của TTCK

đã làm giảm các tác động tiêu cực trong quản lý, tạo khả năng kết hợp hài hoàgiữa lợi ích của chủ sở hữu và nhà quản lý

Thứ t: Việc mở cửa TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị

trờng quốc tế Điều này cho phép các công ty có thể huy động vốn rẻ hơn

Trang 6

đồng thời tăng khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng cơ hội kinh doanh củacác công ty trong nớc.

Thứ năm: TTCK tạo cơ hội cho chính phủ huy động các nguồn tài

chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việcthực hiện chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ

Thứ sáu: TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh

doanh trong tơng lai do việc thay đổi giá chứng khoán luôn có xu hớng đi trớcchu kỳ kinh doanh TTCK cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế

Bên cạnh đó TTCK cũng có những tác động tiêu cực nhất định.TTCK hoạt động trên cơ sở thông tin hoàn hảo Song ở thị thị trờng mới nổi,thông tin đợc chuyển tới nhà đầu t không đầy đủ và không giống nhau Việcquyết định giá cả, mua bán thông tin không dựa trên cơ sở thông tin và xử lýthông tin Nh vậy, giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bảncủa công ty và không trở thành cơ sở để phân phối một cách có hiệu quả cácnguồn lực

Một số tiêu cực khác nh hiện tợng đầu cơ, xung đột quyền lực làmthiệt hại cho các cổ đông thiểu số, mua bán nội gián, thao túng thị trờng

Nh vậy, vai trò của TTCK đợc thể hiện trên nhiều khía cạnh song vaitrò tích cực hay tiêu cực của TTCK có thực sự đợc phát huy hay hạn chế phụthuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia thị trờng và sự quản lý của Nhà nớc

1.2.4 Hàng hoá trên thị trờng chứng khoán

Hàng hoá trên TTCK gồm cổ phiếu, trái phiếu và thị trờng chứngkhoán phái sinh Trong đó cổ phiếu là sự xác nhận quyền sở hữu và lợi íchhợp pháp của ngời mua với tài sản của doanh nghiệp phát hành Trái phiếu làmột công cụ nợ, với ngời phát hành là ngời đi vay còn nhà đầu t là ngời chovay Trái phiếu gồm trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phơng,trái phiếu các NHTM và trái phiếu doanh nghiệp Chứng khoán phái sinh làloại chứng khoán gắn với một chứng khoán gốc, gồm hợp đồng quyền chọn,hợp đồng kỳ hạn và các quyền mua trớc

1.2.5 Các chủ thể trên thị trờng chứng khoán

1.2.5.1 Chủ thể phát hành là ngời cung cấp các chứng khoán –

hàng hoá trên thị trờng chứng khoán, gồm chính phủ, các doanh nghiệp, các

tổ chức tài chính, các quỹ đầu t

1.2.5.2 Nhà đầu t là những ngời có tiền, thực hiện việc mua bán

chứng khoán trên TTCK để tìm kiếm lợi nhuận Nhà đầu t có thể gồm hailoại: nhà đầu t cá nhân và nhà đầu t có tổ chức Nhà đầu t cá nhân là cá nhân

là cá nhân, hộ gia đình, những ngời có vốn nhàn rỗi tạm thời tham gia muabán chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Nhà đầu t có tổ chức làcác NHTM, Công ty chứng khoán, Công ty đầu t, Quỹ tơng hỗ

1.2.4.3 Các tổ chức có liên quan đến TTCK gồm cơ quan quản lý

và giám sát hoạt động chứng khoán ( Bộ Tài Chính, Uỷ ban chứng khoán nhànớc ), Sở giao dịch chứng khoán, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán,

tổ chức lu ký và thanh toán bù trừ, các tổ chức hỗ trợ, các công ty đánh giá hệ

số tín nhiệm

Trang 7

1.3 Vai trò của ngân hàng thơng mại trên thị trờng chứng khoán

1.3.1 NHTM tạo hàng hoá cho TTCK

1.3.1.1 Cổ phiếu và trái phiếu ngân hàng

Cổ phiếu ngân hàng là một loại chứng khoán vốn đợc phát hành dớidạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợppháp của ngời mua đối với tài sản hoặc vốn của ngân hàng Cổ phiếu là mộtcông cụ tài chính có thời hạn thanh toán là vô hạn

Trái phiếu ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị trờngvốn dới hình thức giấy nhận nợ do các tổ chức tín dụng phát hành để huy

động vốn, trong đó cam kết trả lãi và gốc cho ngời mua ( hoặc ngời sở hữu )sau một thời gian nhất định Về phía ngời mua trái phiếu ngân hàng là giấychứng nhận việc đầu t vốn và quyền đợc hởng thu nhập của ngời mua trên sốtiền mua trái phiếu ngân hàng

Sau khi xác định vốn điều lệ, từ đó mới tính đợc số cổ phần cần thiếtphát hành với mệnh giá là bao nhiêu Tổng mệnh giá phát đợc tính bằng vốn

điều lệ Tổng mệnh giá phát hành chia cho mệnh giá một cổ phiếu sẽ ra số l ợng cổ phiếu cần phát hành

-Khi mới thành lập, các NHTM huy động vốn bằng cách phát hành vàbán cổ phiếu là thích hợp nhất vì nó là con đờng ngắn nhất , tiện lợi và tiếtkiệm nhất trong việc tìm kiếm nguồn vốn để hoạt động Mặt khác nó tạo rahàng hoá cung cấp cho TTCK Về phía các thành viên tham gia mua cổ phiếu

có quyền lợi và trách nhiệm gắn liền với hoạt động của ngân hàng tuỳ theo cổphần mà họ nắm giữ

Tóm lại: Các NHTMCP đã tạo ra một khối lợng khá lớn chứngkhoán, nó nh một hoạt động thúc đẩy sự phát triển không ngừng của thị trờngchứng khoán

b, NHTMCP và Quốc Doanh phát hành cổ phiếu, trái phiếu để tăng vốn bổ sung cho quá trình hoạt động

Các NHTMCP và quốc doanh trong quá trình hoạt động, khi có nhucầu vốn để mở rộng quy mô và lĩnh vực kinh doanh có thể huy động vốn d ớicác hình thức:

1 NHTM dùng đòn bẩy lãi suất để thu hút tiền gửi từ công chúng

2 Thông qua việc quản lý các khoản tiền gửi của khách hàng

3 Các NHTMCP có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu dài hạn và các

Trang 8

Quốc doanh đợc phép phát hành trái phiếu

Trong các hình thức huy động vốn trên thì hình thức huy động bằngcách phát hành cổ phiếu và trái phiếu là phổ biến nhất trên thế giới hiện nay.Tại Việt Nam, chính phủ đã và đang khuyến khích các NHTM huy động vốnbằng cách phát hành trái phiếu Tuy nhiên tuỳ vào tình hình của thị trờngcũng nh tình hình kinh doanh của ngân hàng mà lựa chọn nên phát hành cổphiếu và trái phiếu vì mỗi loại đều có u nhợc điểm nhất định

Mặt khác các NHTM thờng xuyên phải tăng vốn điều lệ đảm bảo tỷ

lệ an toàn theo thông lệ quốc tế từ 8% trở lên Để tăng vốn điều lệ các NHTMphát hành cổ phiếu để huy động vốn

Với việc NHTMCP và Quốc doanh phát hành cổ phiếu và trái phiếu

để bổ sung vốn cho quá trình hoạt động đã làm tăng lợng cung chứng khoántrên thị trờng chứng khoán

Việc các NHTM phát hành cổ phiếu, trái phiếu có ý nghĩa quantrọng: một mặt nó góp phần tăng hàng hoá cho TTCK , mặt khác nó là mộtkênh dẫn vốn quan trọng cho các NHTM cho mục tiêu tăng trởng của nềnkinh tế

Các chứng khoán ngân hàng đã, đang và sẽ là một hàng hoá hấp dẫntạo sự sôi động cho TTCK do hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quảmang lại mức cổ tức, lãi suất cao cho các nhà đầu t

1.3.1.2 Ngân hàng là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc và hình thành các công ty cổ phần

Ngân hàng tham gia vào việc thành lập các công ty cổ phần hoặc cổphần các doanh nghiệp nhà nớc với một tỷ lệ cổ phiếu đáng kể, để có đủ điềukiện tham gia quản trị kinh doanh, tín nhiệm Công ty cổ phần dù mới thànhlập hay đã cổ phần hoá vốn vẫn còn hạn hẹp so với yêu cầu kỹ thuật và côngnghệ hiện đại, do đó ngân hàng phải là các trợ thủ đắc lực cho các công ty cổphần vay tín dụng Nh vậy, chính chế độ tín dụng của ngân hàng đã xã hội cácnguồn vốn, giải quyết mâu thuẫn trong sự vận động của các nguồn vốn giữacác thành phần kinh tế, xoá bỏ tính chất t nhân, cá biệt của nguồn vốn trongcông ty cổ phần Một doanh nghiệp có thể bắt đầu hoạt động kinh doanh củamình bằng một khoản vay nợ ngân hàng Các ngân hàng là ngời đầu tiên đãlập ra việc kiểm tra các hoạt động của công ty, họ quyết định có cho vay haykhông và có nên tiếp tục cấp tín dụng hay không? Một ngân hàng sẽ cung cấptín dụng nếu biết rằng một công ty thành công, cuối cùng có thể hoạt độngkinh doanh trên thị trờng chứng khoán Nh vậy kỷ cơng tài chính của ngânhàng sẽ đa công ty vào thị trờng chứng khoán, sau đó thị trờng chứng khoán

sẽ bổ sung một kỷ luật tài chính với công ty

1.3.1.3 NHTM với vai trò phân phối, bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ

Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức pháthành thực hiện các thủ tục trớc khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân

Trang 9

phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu saukhi phát hành Bảo lãnh phát hành bao gồm cả việc t vấn tài chính và phânphối chứng khoán Tổ chức bảo lãnh đợc hởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệhoa hồng nhất định.

Trái phiếu chính phủ do chính phủ hoặc những ngành đặc biệt

nh giao thông, bu điện, điện đợc chính phủ uỷ quyền phát hành Trái phiếuchính phủ là giấy nợ của chính phủ Trái phiếu chính phủ đợc đảm bảo chắcchắn bởi uy tín của chính phủ và tài sản của quốc gia, trái phiếu chính phủ cókhả năng cầm cố và chuyển nhợng

Tại một số thị trờng tài chính lớn trên thế giới, các trung giantài chính, trong đó các NHTM đóng vai trò quan trọng trên thị trờng tráiphiếu chính phủ với t cách là các đại lý sơ cấp hoặc bảo lãnh phát hành

Tại Việt Nam, bảo lãnh phát hành là phơng thức phổ biến nhất

đối với trái phiếu chính phủ Với độ tín nhiệm cao và tiềm lực tài chính mạnh,các NHTM có u thế khi tham gia bảo lãnh phát hành Bên cạnh đó, trái phiếuchính phủ còn đợc chào bán qua trung tâm giao dịch chứng khoán và bán lẻqua hệ thống kho bạc nhà nớc

1.3.1.4 NHTM thành lập các công ty chứng khoán hạch toán độc lập thực hiện vai trò bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các tổ chức phát hành

Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiệncác nghiệp vụ trên thị trờng chứng khoán

Tại Việt Nam theo quy định số 04/1998/QD-UBCK 3 ngày 3/10/1998của uỷ ban chứng khoán nhà nớc thì công ty chứng khoán là công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập hớp tại Việt Nam, đợc uỷ ban chứngkhoán nhà nớc cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanhchứng khoán

Một trong những nguyên tắc của thị trờng chứng khoán là nguyên tắctrung gian Nguyên tắc này yêu cầu nhà đầu t và nhà phát hành không đợcmua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán.Các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả ngời đầu t vàngời phát hành Và khi thực hiện công việc này, công ty chứng khoán đã tạo

ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trờng chứng khoán

Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra côngchúng, đòi hỏi các tổ chức phát hành phải cần đến các công ty chứng khoán tvấn cho đợt phát hành và thực hiện phân phối bảo lãnh chứng khoán ra côngchúng Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các công ty chứngkhoán và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thucủa công ty chứng khoán

Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán, tổ chức đó gửi yêucầu bảo lãnh phát hành đến công ty chứng khoán Công ty chứng khoán cóthể sẽ kí một hợp đồng t vấn quản lý để t vấn cho tổ chức phát hành về cácloại chứng khoán cần phát hành, số lợng chứng khoán cần phát hành, định giáchứng khoán và phơng thức phân phối chứng khoán tới nhà đầu t thích hợp

Để đợc cho phép bảo lãnh, phát hành, công ty chứng khoán phải đệ trình một

Trang 10

phơng án bán và cam kết bảo lãnh lên Uỷ ban chứng khoán nhà nớc Khi cácnội dung phát hành đợc Uỷ ban chứng khoán nhà nớc thông qua Công tychứng khoán có thể trực tiếp kí hợp đồng bảo lãnh hoặc thành lập các nghiệp

đoàn bảo lãnh để kí hợp đồng bảo lãnh giữa nghiệp đoàn và tổ chức pháthành

Khi Uỷ ban chứng khoán cho phép phát hành chứng khoán và đếnthời hạn giấy phép có hiệu lực, công ty chứng khoán (nghiệp đoàn bảo lãnh)thực hiện phân phối chứng khoán

Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phải giaotiền bán chứng khoán cho tổ chức phát hành Số tiền thanh toán là giá trịchứng khoán trừ đi phí bảo lãnh

Có hai cách phát hành hộ chứng khoán nh sau:

Cách một: Phát hành hộ chứng khoán để hởng phí hoa hồng

Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán và ngời phát hành

sẽ kí một hợp đồng Nếu ngân hàng không bán hết bất cứ một chứng khoánnào thì có thể trả lại cho ngời phát hành mà không bị phạt

Thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán có nhiều điểm lợi:

đảm bảo an toàn về vốn hoạt độngcủa mình, thu đợc hoa hồng Hoa hồng là tỷ

lệ phần trăm tiền doanh số bán, do đó phát hành càng nhiều chứng khoán thìcàng có thu nhập, phát hành đợc ít thì thu nhập có ít Công ty chứng khoánkhông chịu trách nhiệm về việc có bán đợc chứng khoán hay không? Thôngthờng lệ phí phát hành cổ phiếu cao hơn lệ phí phát hành trái phiếu và côngtrái nhà nớc bởi vì cổ phiếu có tính thanh khoản thấp hơn, khó bán đợc

Cách hai: Các công ty cổ phần sử dụng phơng thức phát hành cổphiếu để huy động vốn, đặc biệt phát hành cổ phiếu để thành lập công ty, họmuốn đợt phát hành cổ phiếu đảm bảo thành công nên thờng nhờ công tychứng khoán bao tiêu toán bộ cổ phiếu phát hành

Khi nhận bao tiêu các cổ phiếu đợc phát hành của một công ty nào

đó, công ty chứng khoán nhận mua toàn bộ chứng khoán của công ty pháthành Sau đó sẽ bán lại theo giá định sẵn cho ngời mua riêng biệt và đợc hởngphí bằng chênh lệch giữa giá bán và giá mua phải trả cho công ty phát hành,ngoài ra còn đợc hỏng một số quyền lợi nh đợc chia một số cổ phần sáng lậphoặc giữ một số ghế trong hội đồng quản trị hay đợc độc quyền về nghiệp vụtài chính của doanh nghiệp Công ty chứng khoán phải đảm bảo bán hết sốchứng khoán đảm bảo hoa tiêu, nếu không phải mua lại hết không đợc trả lạicho ngời phát hành

NHTM thực hiện bao tiêu chứng khoán phát hành thờng chịu nhiềurủi ro hơn là làm trung gian hởng hoa hồng.Để giảm bớt rủi ro các NHTM sửdụng các biện pháp: liên kết hai hay nhiều ngân hàng với nhau hình thànhnhóm bảo lãnh phát hành chứng khoán để phân tán rủi ro, tìm hiểu kỹ về tìnhhình của công ty trớc khi đảm bảo hoa tiêu

Số tiền phí mà các NHTM nhận đợc khi thực hiện nghiệp vụ bao tiêuphát hành chứng khoán thờng cao hơn phí hoa hồng

Trang 11

1.3.2 NHTM là cầu nối giữa nhà đầu t và thị trờng chứng khoán

1.3.2.1 NHTM với vai trò là ngời môi giới chứng khoán

Tại Việt Nam khi thành lập Sở giao dịch chứng khoán, có thểnói ngân hàng là ứng cử viên có nhiều u thế nhất vào chức danh ngời môi giớichứng khoán, bởi lẽ:

4 Ngân hàng là ngời hiểu biết khá tờng tận về các doanh nghiệp pháthành chứng khoán ( thông qua các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán của ngânhàng)

5 Ngân hàng là có sẵn các phơng tiện kỹ thuật cần thiết phù hợp vớiyêu cầu của ngời môi giới

6 Ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên có nghiệp vụ chuyên mônliên quan chặt chẽ và gần gũi với những nghiệp vụ về chứng khoán

Với vai trò là ngời môi giới chứng khoán, trên thực tế ngân hàng chỉthực hiện yêu cầu của khách hàng là lấy danh nghĩa của mình để mua hoặcbán chứng khoán cho khách hàng và đợc hởng một khoản hoa hồng theo thoảthuận Với chức năng này, ngân hàng không phải bỏ ra một đồng vốn kinhdoanh nào, mọi khoản chi phí do khách hàng chịu trách nhiệm cung cấp Hơnnữa, vì có quyền thay mặt và quyền không phải thông báo cho khách hàngbiết đã mua chứng khoán cua ai hoặc đã bán cho ai, ngân hàng có thể bánngay số chứng khoán của mình cho khách hàng hoặc mua luôn số chứngkhoán của khách hàng cho mình nếu thấy có lợi Chẳng hạn, khi một kháchhàng uỷ quyền cho ngân hàng mua cổ phiếu của một công ty nào đó với giá

“rẻ nhất” tại thời điểm quy định thì ngân hàng sẽ không nhất thiết phải mua

cổ phiếu đó tại sở giao dịch chứng khoán, mà có thể lấy chúng từ dự trữ củamình để bán cho khách hàng Tất nhiên trong các trờng hợp nh vậy, ngânhàng phải nắm vững tỷ giá chính thức để xác định mức giá bán cho kháchhàng

1.3.2.2 NHTM cung cấp các dịch vụ tạo thuận lợi cho các nhà đầu t trên TTCK

a, Dịch vụ lu giữ quản lý hộ chứng khoán

Tại pháp lệnh ngân hàng đã viết: “ NHTM có thể thực hiện cácnghiệp vụ về cất giữ, mua bán, chuyển nhợng, quản lý các chứng khoán vàcác giấy tờ có giá khác”

Chứng từ có giá ở đây là các cổ phiếu, trái phiếu nó có giá trị nhtiền nên cần đợc bảo quản và lu trữ cẩn thận Những nhà đầu t cầm chứngkhoán trong tay với khối lợng lớn sẽ không đảm bảo an toàn, họ có nhu cầunhờ ai đó quản lý hộ NHTM là một tổ chức rất có u thế về lĩnh vực này vì đãtừng thực hiện các nghiệp vụ quản lý hộ vàng bạc, đá quý và những tài sảngiá trị khác

Nghiệp vụ lu giữ, bảo quản chứng khoán cho khách hàng của NHTM

là dịch vụ cho thuê két sắt đối với những cá nhân, những công ty, xí nghiệp cónguồn chứng khoán lớn muốn tìm kiếm một nhu cầu an toàn hoặc đối với cácngân hàng nhỏ không đủ phơng tiện giữ chứng khoán cho khách hàng, có thểgửi chứng khoán tại ngân hàng lớn

Trang 12

Về phía ngân hàng thơng mại khi thực hiện dịch vụ lu giữ, bảo quản

hộ chứng khoán hộ khách hàng có ích lợi nh: NHTM có thể sử dụng chứngkhoán lu giữ, bảo quản hộ thế chấp cho một khoản vay của ngân hàng hoặc

mở rộng các dịch vụ khác cho khách hàng ( nhận lãi chứng khoán hộ, giaohoán và thanh toán chứng khoán ) theo sự uỷ quyền của khách hàng Khithực hiện dịch vụ này, ngân hàng thu đợc khoản phí dịch vụ từ khách hàng.Trong tơng lai dịch vụ này sẽ không ngừng đợc mở rộng, nó trở thành mộtnguồn lợi lớn cho khách hàng mà gần nh không bị rủi ro

Về phía khách hàng nhờ ngân hàng lu giữ chứng khoán giúp họ tiếtkiệm đợc chi phí, đảm bảo an toàn đồng thời đợc ngân hàng cung cấp cácdịch vụ khác có liên quan đến chứng khoán

b, Thực hiện thanh toán các chứng khoán.

Nghiệp vụ thanh toán nối tiếp dịch vụ quản lý chứng khoán đã nêutrên Ngân hàng có thể mở cho khách hàng của mình các tài khoản chứngkhoán để theo dõi việc mua, bán, chuyển nhợng chứng khoán cho kháchhàng, kể cả việc thu hồi lãi, thu cổ tức Rõ ràng, những tài khoản chứngkhoán sẽ giúp ích rất nhiều cho hoạt động mua bán chứng khoán trên thị tr-ờng của khách hàng Các nhà đầu t và kinh doanh chứng khoán, các trunggian môi giới không phải bận tâm với việc lu giữ và theo dõi việc mua bánmột số lợng khổng lồ các cổ phiếu, trái phiếu hàng ngày Ngân hàng sẽ đảmbảo cho khách hàng việc này Nhờ ngân hàng tổ chức thực hiện thanh toánchứng khoán, hoạt động mua, bán cổ phiếu, trái phiếu trên thị trờng chứngkhoán sẽ thực hiện nhanh chóng, dễ dàng hơn và không phải di chuyển qualại một số lợng lớn cổ phiếu, trái phiếu rất cồng kềnh và tốn kém

Chính nhờ có ngân hàng, mà phần lớn các giao dịch chứng khoánthực hiện bằng chuyển khoản qua hệ thống ngân hàng nên nhu cầu tiền mặtkhông lớn lắm

Mặt khác, các nhà đầu t, các nhà môi giới, các chuyên gia chứngkhoán phải thực hiện rất nhiều giao dịch trong ngày do đó để giản tiện ng ời ta

áp dụng việc thanh toán bù trừ để đơn giản hoá việc thanh toán Thanh toán

bù trừ chứng khoán là hoạt động luân chuyển chứng khoán trên các tài khoản

Trang 13

lu ký dới sự điều hành của trung tâm lu ký, thanh toán bù trừ chứng khoán.

Công tác thanh toán bù trừ đều do các ngân hàng đảm nhận, nếu côngtác này đợc tiến hành tốt sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành côngcủa TTCK Thanh toán và bù trừ đợc thực hiện theo các trình tự sau:

Ngời mua, ngời bán, nhà môi giới đều có tài khoản tại một ngânhàng Sau khi các lệnh mua bán đợc nhà môi giới thực hiện, lúc này sẽ có mộthoá đơn đợc lập để xác định việc mua bán ( về số lợng, giá cả) để gửi đếnngân hàng nhờ thanh toán hộ Căn cứ vào hoá đơn này, ngân hàng sẽ ghi nợcho ngời mua và ghi có cho ngời bán và những ngời đợc hởng hoa hồng, đây

là trờng hợp thanh toán đơn giản nhất Tất nhiên theo yêu cầu của khách hàngthì có thể đợc thanh toán ngay sau một thời gian nhất định, thờng thì sau từmột đến hai ngày vì không thể thực hiện đợc tất cả giao dịch chứng khoán đ-

ợc ngay Nếu khách hàng muốn thanh toán nóng thì phải trực tiếp tới ngânhàng còn thờng thì do ngời môi giới chuyển đến ngân hàng để thanh toán,khách hàng có thể nhận giấy báo nợ, báo có tại ngân hàng hay tại các công tychứng khoán

Ngời mua, ngời bán, ngời môi giới không mở tài khoản tại một ngânhàng, lúc này phải tham gia thanh toán bù trừ qua ngân hàng nhà nớc, các hoá

đơn mua bán đều đợc gửi về ngân hàng ngời mua và ngân hàng ngời bán mởtài khoản để thanh toán, sau đó ngân hàng bên mua và bán tham gia thanhtoán bù trừ, trong trờng hợp này thì phải mất từ hai đến ba ngày khách hàngmới có thể nhận các giấy báo nợ, báo có

Dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ của các NHTM hỗ trợ chohoạt động của TTCK diễn ra đều đặn, suôn sẻ Thanh toán chứng khoán thực

sự là một khâu quan trọng trong hoạt động mua, bán chứng khoán đặc biệt làtrên TTCK thứ cấp Ngân hàng có thể kết hợp với trung tâm giao khoán vàthanh toán chứng khoán để hoàn thiện hệ thống lu giữ và thanh toán chứngkhoán

d, Dịch vụ nhận lãi chứng khoán hộ khách hàng

Các chứng khoán khách hàng gửi ngân hàng bảo quản hộ có thể làtrái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu, cổ phiếu công ty Thông thờng các chứngkhoán này trả lãi vào cuối năm và các chủ chứng khoán nhờ ngân hàng nhận

hộ lãi khi đến kỳ hạn trả lãi Để thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng mở chokhách hàng một tài khoản tạm gọi là tài khoản lu giữ chứng khoán bên cạnhtài khoản tiền gửi và nếu ngời nhận lãi và ngời trả lãi ( các công ty cổ phần,kho bạc) đều có tài khoản tiền gửi tại một ngân hàng thì việc nhận và trả lãidiễn ra rất đơn giản cụ thể: ngân hàng chỉ việc trích số tiền từ bên nợ của tàikhoản tiền gửi của đơn vị trả lãi để trả cho ngời nhận lãi và ghi có tài khoảntiền gửi của ngời nhận lãi Nếu ngời trả lãi và ngời nhận lãi có tài khoản ở haingân hàng thơng mại khác nhau thì cũng không có gì phức tạp khi nớc ta đã

có hệ thống thanh toán liên ngân hàng và hệ thống thanh toán bù trừ khá hoànchỉnh

Ngoài ra ngân hàng còn thu hút đợc một khoản tiền gửi là lãi chứngkhoán, làm tăng thêm vốn của NHTM để cho vay Mặt khác nó góp phần làm

Trang 14

kích thích sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt.

Thông thờng, ngân hàng chỉ thực hiện các dịch vụ bảo quản và nhậnlãi chứng khoán hộ khách hàng có khối lợng chứng khoán lớn và không nhận

đối với khách hàng có số lợng chứng khoán nhỏ vì tốn tiền chi phí, đôi khi sốtiền nhận lãi chứng khoán không đủ để trả phí dịch vụ cho Ngân hàng

Ngân hàng quản lý chứng khoán hộ cũng tơng tự nh quản lý tiền gửicủa khách hàng, nghĩa là mọi nghiệp vụ liên quan đến chứng khoán đều dongân hàng thực hiện, nhng phải dựa trên cơ sở các lệnh của khách hàng đa rahoặc uỷ nhiệm hợp pháp của khách hàng

1.3.2.3 Hoạt động của công ty chứng khoán trực thuộc NHTM tạo cầu nối giữa nhà đầu t và TTCK

a, Nghiệp vụ môi giới chứng khoán

Công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giaodịch thông qua cơ chế giao dịch tại các sở giao dịch chứng khoán hoặc tại thịtrờng OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giaodịch của mình

Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển

đến cho khách hàng các sản phẩm, dịch vụ t vấn đầu t và kết nối giữa nhà đầu

t bán chứng khoán với nhà đầu t mua chứng khoán Và trong những trờng hợpnhất định, hoạt động môi giới sẽ trở thành ngời bạn, ngời chia sẻ những lo âu,căng thẳng và đa ra những lời động viên kịp thời để nhà đầu t có những quyết

định tỉnh táo

b, Nghiệp vụ tự doanh

Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch muabán chứng khoán cho chính mình Hoạt động tự doanh của công ty chứngkhoán đợc thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trờngOTC

Mục đích của hoạt động t doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chínhcông ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng Nghiệp vụnày hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao dịchcho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì vậy trong quátrình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiên giao dịch chokhách hàng và cho bản thân công ty Do đó, luật pháp của các nớc đều yêucầu tách biệt rõ ràng giữa nghiệp vụ môi giới và nghiệp vụ tự doanh, công tychứng khoán phải u tiên thực hiện lệnh của khách hàng trớc khi thực hiệnlệnh của mình Thậm chí luật pháp ở một số nớc còn quy định có hai loại hìnhcông ty chứng khoán là công ty môi giới chứng khoán chỉ làm chức năng môigiới và công ty chứng khoán có chức năng tự doanh

c, Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t

Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu t vàochứng khoán thông qua danh mục đầu t nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ

sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng Quản lý danh mục đầu t làmột dạng nghiệp vụ t vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu t, kháchhàng uỷ thác tiền cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu t

Trang 15

theo một chiến lợc hay những nguyên tắc đã đợc khách hàng chấp nhận hoặcyêu cầu ( mức lợi nhuận kỳ vọng, rủi ro có thể chấp nhận ).

d, Nghiệp vụ t vấn đầu t chứng khoán

Cũng nh các loại hình t vấn khác, t vấn đầu t chứng khoán là việccông ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đa ra các lời khuyên,phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khácliên quan đến phát hành, đầu t và cơ cấu tài chính cho khách hàng Nhà t vấnphải hết sức thận trọng trong việc đa ra các lời khuyên với khách hàng, vì vớilời khuyên đó khách hàng có thể thu về lợi nhuận lớn hoặc thu lỗ, thậm chíphá sản, còn ngời t vấn thu về cho mình khoản thu phí về dịch vụ t vấn ( bất

kể t vấn đó có thành công hay không )

e, Các nghiệp vụ phù trợ

- Lu ký chứng khoán: là việc lu giữ, bảo quản chứng khoán của khách

hàng thông qua các tài khoản lu ký chứng khoán Khi thực hiện dịch vụ này,công ty chứng khoán sẽ nhận đợc các khoản thu phí lu ký chứng khoán, phígửi, phí rút và phí chuyển nhợng chứng khoán

- Quản lý thu nhập của khách hàng ( quản lý cổ tức ): xuất phát từ

việc lu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ theo dõi tìnhhình thu lãi, cổ tức cuả chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chitrả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng

- Nghiệp vụ tín dụng: Đối với các TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp

vụ môi giới chứng khoán cho khách hàng để hởng hoa hồng, công ty chứngkhoán còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiệngiao dịch bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiệnnghiệp vụ mua ký quỹ Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của công tychứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thế chấp cho khoản vay

đó Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số còn lại sẽ do công ty chứngkhoán ứng tiền trớc thanh toán Đến kỳ hạn thoả thuận, khách hàng phải hoàntrả đủ số gốc vay cùng với lãi cho công ty chứng khoán Trờng hợp kháchhàng không trả đợc nợ, thì công ty sẽ phát mãi số chứng khoán đã mua để thuhồi nợ

- Nghiệp vụ quản lý quỹ: ở một số TTCK, pháp luật về TTCK còn cho

phép công ty chứng khoán đợc thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu t Theo

đó, công ty chứng khoán cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn

và tài sản cuả quỹ đầu t để đầu t vào chứng khoán Công ty chứng khoán đợcthu phí dịch vụ quản lý quỹ đầu t

1.3.3 Vai trò đầu t trực tiếp trên TTCK của NHTM

Danh mục đầu t chứng khoán của NHTM gồm:

7 Những chứng khoán đợc nắm giữ nhằm tạo ra thu nhập chính Mức

đầu t chứng khoán thờng xếp hàng thứ hai sau các khoản cho vay và có khi thaycho các khoản cho vay

8 Các chứng khoán nắm giữ nhằm tạo thanh khoản Phần lớn chứngkhoán mà các định chế tài chính mua vào đều có một thị trờng thứ cấp năng

động Nhờ vậy mà chúng dễ dàng bổ sung tính thanh khoản cho NHTM khi cần

Trang 16

thiết hoặc có thể chuyển đổi thành các dạng ngân quỹ trong tơng lai gần, trớckhi đến hạn thanh toán với mức rủi ro thấp và có sẵn tính khả thi.

Đầu t chứng khoán là loại hình phổ biến nhất trong tài sản có của cácNHTM ở các nớc đã phát triển Bản thân chứng khoán rất đa dạng về thể loại.Nhng chúng ta chỉ xem xét khái lợc về các chứng khoán dới giác độ nó là mộtloại đầu t của các NHTM Chứng khoán là một loại phiếu nợ đợc ghi trên giấydới hình thức một chứng từ Chứng khoán có hai loại: trái phiếu của chínhphủ hoặc các doanh nghiệp và cổ phiếu của các công ty cổ phần

Đầu t vào chứng khoán của chính phủ thờng chiếm bộ phận lớntrong các loại đầu t chứng khoán của NHTM Vì chứng khoán của chính phủ

đợc xem là loại tài sản an toàn nhất Dù rằng hầu hết các chính phủ trên thếgiới đều có mức thâm hụt ngân sách ngày càng tăng và phải liên tục vay mợncủa nhân dân bằng cách phát hành trái phiếu Nhng chính phủ luôn có khảnăng trả nợ đã vay qua phát hành trái phiếu vì khi cần thiết nó hoàn toàn cóthể ra lệnh cho ngân hàng trung ơng in tiền mặt để trả nợ mà chỉ tốn ít thờigian Thật ra không phải lúc nào cũng có thể và cũng nên in tiền mặt, nênchính phủ quyết định vay nợ của nhân dân bằng cách phát hành trái phiếu để

1.3.4 Hoạt động của ngân hàng thơng mại tạo tính thanh khoản cho TTCK

1.3.4.1 Giao dịch các sản phẩm phái sinh

Các NHTM có thể thực hiện các sản phẩm phái sinh nh: hoán đổi, kỳhạn, quyền chọn, hợp đồng tơng lai đối với trái phiếu, cổ phiếu trên thị trờng

Nh vậy, sự kết hợp liên thị trờng giữa thị trờng tiền tệ với thị trờng chứngkhoán sẽ cung cấp cho các nhà đầu t nhiều công cụ để kinh doanh ( đầu cơ )

và bảo hiểm rủi ro, đồng thời sẽ tăng tính thanh khoản của thị trờng

1.3.4.2 NHTM mở rộng cho vay cầm cố chứng khoán

Cầm cố là hình thức theo đó ngời nhận tài trợ của ngân hàng phải

Ngày đăng: 23/03/2013, 10:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng chia cổ tức của một số ngân hàng thơng mại - vai trò của ngân hàng thương mại trong hoạt động của thị trường chứng khoán
Bảng chia cổ tức của một số ngân hàng thơng mại (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w