1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực việt nam sau 2 năm gia nhập wto thực trạng và giải pháp

96 715 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO: Thực trạng và giải pháp
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Hồng Yến
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 527,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trường, đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì được mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững.* Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Theo tổ chức UNCTAD thuộc Liên hiệp

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 20 năm kể từ công cuộc đổi mới, sự đóng góp của ngànhnông nghiệp vào phát triển kinh tế nước ta đã đạt được những kết quả đáng

kể và đang ngày càng tăng lên Sản phẩm của ngành nông nghiệp khôngnhững đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà nhiều sản phẩm còn cókhả năng xuất khẩu ra nước ngoài và đạt được những vị thế cao trên thịtrường thế giới Ví dụ: gạo có khối lượng xuất khẩu đứng thứ 2 trên thịtrường thế giới trong nhiều năm: năm 2001, 2004…Năm 2001, thị phần xuấtkhẩu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới là 14%, năm 2004 là 16%(1) Càphê cũng có khối lượng xuất khẩu đứng thứ 2 trên thị trường thế giới liên tục

từ năm 2003 đến nay(2).

Tuy nhiên, mặc dù các hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam cókhối lượng lớn, xếp hạng cao trên thị trường thế giới nhưng tổng giá trị xuấtkhẩu thu được còn thấp Nguyên nhân chủ yếu của thực tế này là phần lớncác nông sản xuất khẩu của chúng ta là dưới dạng thô, sơ chế, tỉ lệ chế biếnnông sản thấp Tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn sản phẩm vẫn chưađáp ứng, thỏa mãn các tiêu chuẩn của các thị trường nhập khẩu lớn như Liênminh châu Âu, Hoa Kỳ

Với mục tiêu duy trì và nâng cao vị thế của hàng nông sản xuất khẩuđồng thời làm tăng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu, việc nâng cao năng lựccạnh tranh các mặt hàng nông sản Việt Nam là một điều hết sức cần thiết

Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa như trên, em lựa chọn đề tài:

“Năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam sau 2

1 Theo báo cáo “Các nước xuất khẩu gạo hàng đầu giai đoạn 1994-2004” của Bộ Nông nghiệp Mỹ.

2 Theo báo cáo “Tổng khối lượng sản xuất của các nước xuất khẩu từ năm 2003 đến năm 2008” từ Tổ chức

cà phê thế giới (“Total production of exporting coutries crop years commencing: 2003 to 2008” from International Coffee Organization).

Trang 2

năm gia nhập WTO: Thực trạng và giải pháp” làm khóa luận tốt nghiệp

của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích và làm rõ năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu;

- Đánh giá thực trạng chung các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực hiệnnay;

- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩuchủ lực trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các mặt hàng nông sản xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam Trong số 9 mặt hàng nông sản xuất khẩu chủlực(3), đề tài giới hạn phân tích năng lực cạnh tranh của 3 mặt hàng, đó là:gạo, cà phê và chè, trong khoảng thời gian là từ năm 2000 đến nay.

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận sử dụng một số phương phápsau: phương pháp kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, phương pháp thống

kê, so sánh, trong đó việc phân tích sẽ được bám sát trên hệ thống lí luậnchung Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp phân tích dự báonhằm đưa ra một số giải pháp trong tương lai

Trang 3

Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam trong thời gian tới

Trong khuôn khổ có hạn của một bài khóa luận tốt nghiệp, bài viếtkhông thể tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được những ý kiếnđóng góp của các thầy cô và các bạn đọc

Em xin chân thành cảm ơn TS Phạm Thị Hồng Yến đã tận tìnhhướng dẫn em trong quá trình hoàn thành bài khóa luận này

Trang 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CHỦ LỰC

1 Năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực

1.1 Năng lực cạnh tranh

1.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một tất yếu khách quan vàkhông ngừng diễn ra giữa các chủ thể trong nền kinh tế từ ở cấp độ giữa các

cá nhân đến các doanh nghiệp và cho đến các quốc gia Trong quá trình cạnhtranh với nhau, nhằm giành được lợi thế về phía mình, các chủ thể phải ápdụng nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển lợi thế của mình trên thịtrường Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể, đượcgọi là năng lực cạnh tranh

Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trên phạm vitoàn cầu nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm nănglực cạnh tranh Nguyên nhân là, thứ nhất, do phạm vi tiếp cận quá lớn, nănglực cạnh tranh có thể là của sản phẩm, doanh nghiệp hoặc quốc gia Thứ hai,mục tiêu của từng đối tượng là khác nhau Ví dụ, đối với doanh nghiệp, mụctiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận còn đối với quốc gia là nângcao mức sống và phúc lợi nhân dân Như vậy, khi nghiên cứu năng lực cạnhtranh, chúng ta cần phải nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau như năng lựccạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lựccạnh tranh của sản phẩm

* Năng lực cạnh tranh của quốc gia:

Hiện nay, có nhiều quan điểm về khái niệm năng lực cạnh tranh củaquốc gia Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đưa ra năm 1997, năng lựccạnh tranh của quốc gia là khả năng đạt được và duy trì được tốc độ tăng

Trang 5

trưởng kinh tế cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối vàcác đặc trưng khác(4) Khái niệm cạnh tranh dựa trên tốc độ tăng trưởng kinh

tế của quốc gia là khá đơn giản vì nó mới chỉ nói lên khía cạnh tiền tệ củanền kinh tế mà không nói lên được các khía cạnh về giá trị gia tăng, chẳnghạn như: tiến bộ về giáo dục, khoa học và công nghệ… là những vấn đềđược coi là tiềm năng tăng trưởng dài hạn của đất nước

Theo quan điểm của Michael Porter đưa ra năm 1990(5), cho rằng

“khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động”(6) Ông cho rằng năng lực cạnh tranh của một quốc gia là một

hệ thống gồm nhiều yếu tố có liên quan với nhau, có tác động qua lại và bổsung cho nhau Các yếu tố này là nền móng, chỗ dựa cho các công ty, giữvai trò quyết định, cho phép các công ty sáng tạo và duy trì lợi thế cạnhtranh trên một lĩnh vực cụ thể

Theo Fagerberg (1988) đã định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc gia làkhả năng của một đất nước trong việc nhận thức rõ mục đích của chính sáchkinh tế tập trung, nhất là đối với tăng trưởng thu nhập và việc làm, mà khônggặp phải các khó khăn trong cán cân thanh toán” Đây là khái niệm vừamang tính kinh tế vĩ mô, vừa mang tính ngẫu nhiên, bởi vì, khi tính cạnhtranh được xác định như là năng lực để duy trì thị phần có khả năng tạo ralợi nhuận thì năng lực này lại có triển vọng chưa rõ ràng và mang tính ngẫunhiên

Trên cơ sở các khái niệm trên đây ta có thể đưa ra một khái niệm

chung nhất về năng lực cạnh tranh của quốc gia như sau: năng lực cạnh tranh của quốc gia là khả năng đáp ứng đước các yêu cầu thay đổi của thị

4 Theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF

5 Michael Porter là nhà kinh tế học Hoa Kỳ

6 Theo sách “ Lý thuyết năng lực cạnh tranh của quốc gia” của M Porter

Trang 6

trường, đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì được mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững.

* Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

Theo tổ chức UNCTAD thuộc Liên hiệp quốc cho rằng: năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp là năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vữnghoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc hay năng lực hạ giá thànhhoặc cung cấp sản phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp

Theo dự án VIE 01/025(7), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được

đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu được lợi nhuận của doanhnghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước

Trên cơ sở các quan điểm trên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

có thể được định nghĩa như sau:

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp

có thể tự duy trì vị trí của mình một cách lâu dài và bền vững trên thị trườngcạnh tranh bằng cách tạo ra các sản phẩm có chát lượng cao, giá thành hợp

lý, cách bán thuận tiện và thu được lợi nhuận mong muốn

* Năng lực cạnh tranh của sản phẩm:

Khi nói đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm là nói đến sự thể hiệntính trội hơn, ưu việt hơn của sản phẩm đó về chất lượng và cơ chế vận hànhcủa nó trên thị trường tạo nên sự hấp dẫn và thuận tiện cho khách hàng trongquá trình sử dụng Nét đặc trưng của năng lực cạnh tranh được thể hiện trêncác mặt: chất lượng sản phẩm, khối lượng và thời gian giao hàng; tính chất

và sự khác biệt của hàng hóa, dịch vụ nước này so với hàng hóa, dịch vụnước khác nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng

Có nhiều quan điểm về năng lực cạnh tranh sản phẩm, nhưng nóichung thì năng lực cạnh tranh của sản phẩm có thể được hiểu như sau:

7 Dự án “Hỗ trợ cải cách phát triển quản lý kinh doanh” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế

Trang 7

Năng lực cạnh tranh sản phẩm là khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì… vượt trội so với những sản phẩm cùng loại.

Bản chất của năng lực cạnh tranh sản phẩm là sự chuyển hóa lợi thếcủa sản phẩm thành hiện thực, mà những lợi thế này có được một mặt, do lợithế so sánh tạo nên, mặt khác do tác động của chính sách hay các quy địnhcủa Chính phủ tạo ra Những đặc điểm, ưu thế của sản phẩm biểu hiện sứccạnh tranh bao gồm: chi phí, giá thành sản xuất, chất lượng, giá bán sảnphẩm, sự khác biệt hóa của sản phẩm và dịch vụ… của nhà sản xuất trongnước so với các nhà cạnh tranh quốc tế

Lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sảnphẩm có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không phái lợi thế so sánh nàocũng trở thành lợi thế cạnh tranh và cũng không phải lợi thế cạnh tranh nàocũng là lợi thế so sánh Một sản phẩm có lợi thế so sánh nhưng không đượckhai thác hiệu quả sẽ không tạo nên năng lực cạnh tranh, trong khi đó mộtsản phẩm tuy lợi thế so sánh kém hơn so với đối thủ cạnh tranh nhưng nhờ

có chính sách hỗ trợ hợp lý của Nhà nước nên vẫn có thể có lợi thế cạnhtranh là lợi thế nảy được hiện thực hóa thành năng lực cạnh tranh sản phẩm

Vì vậy, chúng ta cần phân biệt và nhận rõ đâu là lợi thế so sánh để khai thác

và phát huy có hiệu quả hơn là chỉ tác động vào những sai biệt về giá cả để

có năng lực cạnh tranh “ảo” của sản phẩm nhờ chính sách vĩ mô

1.1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đánh giá bởi 2 nhóm chỉ tiêu,gồm: nhóm chỉ tiêu định tính và nhóm chỉ tiêu định lượng

_Nhóm chỉ tiêu định tính, bao gồm các chỉ tiêu: chất lượng sản phẩm,mẫu mã, vệ sinh an toàn sản phẩm, thương hiệu

Trang 8

_ Nhóm chỉ tiêu định lượng, bao gồm các chỉ tiêu: doanh thu, thịphần, giá cả.

* Nhóm chỉ tiêu định tính

_ Chất lượng sản phẩm: Chất lượng là một trong các tiêu chí quantrọng nhất khi người mua lựa chọn sản phẩm Chất lượng của sản phẩm phụthuộc vào nhiều yếu tố như nguyên liệu sản xuất (nguyên liệu, phụ liệu),trình độ công nghệ và kỹ thuật của công nhân Một sản phẩm tốt khôngnhững đảm bảo các yếu tố bên trong mà quan trọng hơn cả là phải thỏa mãnđúng thị hiếu của khách hàng ở từng thời điểm, từng khu vực

_ Mẫu mã: Mẫu mã là kiểu dáng, hình thức bên ngoài của sản phẩm,

là cái tạo ra sự ấn tượng của khách hàng trước khi tiêu dùng sản phẩm Mẫu

mã càng đẹp sẽ càng khiến khách hàng chú ý tới sản phẩm, quan tâm và biếtđến sản phẩm nhiều hơn Từ đó, sản phẩm sẽ tiếp cận đến với người tiêudùng dễ dàng hơn

_Thương hiệu: Thương hiệu chính là tài sản quý giá đối với bất kỳmột doanh nghiệp nào Thương hiệu là đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộdưới hình thức nhãn hiệu hàng hóa Thương hiệu chính làm cho tin tưởngkhách hàng khi lựa chọn hàng hóa của doanh nghiệp bởi vì hàng hóa cóthương hiệu thì đã được xây dựng và kiểm chứng trên thị trường nên đượcphần lớn người tiêu dùng tin cậy

*Nhóm chỉ tiêu định lượng:

Các chỉ tiêu thuộc nhóm này thể hiện năng lực cạnh tranh của sảnphẩm dưới các con số Nếu số càng cao thì sản phẩm đó càng có năng lựccạnh tranh và ngược lại

Trang 9

1.2 Hàng nông sản xuất khẩu chủ lực

Tóm lại, hàng nông sản là các sản phẩm thu được từ ngành nôngnghiệp Khi Việt Nam tham gia WTO, hàng nông sản là đối tượng chịu sựtác động các quy định của Hiệp định Nông nghiệp

1.2.2 Hàng xuất khẩu chủ lực:

Theo quan điểm chung hiện nay thì cơ cấu mặt hàng xuất khẩu củamột quốc gia có thể chia ra làm 3 nhóm hàng chính, đó là: hàng xuất khẩuthứ yếu, hàng xuất khẩu quan trọng và hàng xuất khẩu chủ lực

Hàng xuất khẩu thứ yếu gồm nhiều loại, kim ngạch xuất khẩu thườngnhỏ

Hàng xuất khẩu quan trọng là hàng không chiếm tỷ trọng lớn trongkim ngạch xuất khẩu, nhưng đối với từng thị trường, từng địa phương lại có

vị trí quan trọng

Hàng xuất khẩu chủ lực là hàng chiếm vị trí quyết định trong kimngạch xuất khẩu do có thị trường nước ngoài và điều kiện sản xuất trongnước thuận lợi

8 Theo sách: “Việt Nam-WTO, những cam kết liên quan đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn và doanh nghiệp”, trang

Trang 10

Như vậy khái niệm mặt hàng xuất khẩu chủ lực được đưa ra nhằm chỉmột nhóm hàng trong cơ cấu hàng xuất khẩu của một quốc gia, phân biệt vớihàng thứ yếu và hàng quan trọng.

Sự phân loại này chỉ dựa trên tính chất tỷ trọng giá trị xuất khẩu củamặt hàng trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng tỷ trọng này cụ thể là baonhiêu để coi là hàng xuất khẩu chủ lực lại không được thống nhất giữa cácquốc gia Tùy từng quốc gia khác nhau, tùy từng giai đoạn khác nhau, mà tỷtrọng này được chia ra khác nhau

Có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về mặt hàng xuất khẩu chủlực như sau:

Mặt hàng xuất khẩu chủ lực là mặt hàng xuất khẩu có khả năng tổ chức sản xuất trong nước một cách có hiệu quả, có thị trường tiêu thụ ngoài nước rộng lớn, tương đối ổn định trong thời gian dài và đóng góp kim ngạch lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước.

Vị trí của mặt hàng xuất khẩu chủ lực không phải là vĩnh viễn Mộtmặt hàng này ở thời điểm này có thể được coi là hàng xuất khẩu chủ lực,nhưng ở thời điểm khác thì có thể là hàng xuất khẩu quan trọng, thậm chí làhàng xuất khẩu thứ yếu Vì vậy, từng theo từng giai đoạn khác nhau màchúng ta có danh sách các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác nhau

Một mặt hàng trở thành hàng xuất khẩu chủ lực phải có 4 yếu tố cơ

bản sau: Thứ nhất là, phải tận dụng được lợi thế so sánh của đất nước; thứ hai là, có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định và luôn cạnh tranh được trên

thị trường đó (điều kiện về cầu); thứ ba là, có nguồn lực để tổ chức sản xuất

và xuất khẩu với chi phí tương đối thấp để thu được lợi trong buôn bán (điềukiện về cung); và cuối cùng là, có khối lượng kim ngạch lớn trong tổng kimngạch xuất khẩu của đất nước

Trang 11

1.2.3 Hàng nông sản xuất khẩu chủ lực

Từ khái niệm hàng nông sản và hàng xuất khẩu chủ lực ở trên, chúng

ta có thể hiểu hàng nông sản xuất khẩu chủ lực như sau:

Hàng nông sản xuất khẩu chủ lực là những mặt hàng được sản xuất

ra từ lĩnh vực nông nghiệp, dùng để xuất khẩu, có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn và thị trường tiêu thụ ổn định trong một thời gian dài.

Hiện nay, Nhà nước ta đã 9 nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ lựcgồm: lúa gạo; rau; đậu các loại; cà phê; cao su; cao su; hồ tiêu; điều; chè;cây ăn quả và ca cao.(9) Đây là nhóm hàng có lợi thế cạnh tranh và thị trườngxuất khẩu ổn định

1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực

1.3.1 Sản lượng và danh thu hàng nông sản xuất khẩu cao.

Trong các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuấtkhẩu thì tiêu chí mức doanh thu là tiêu chí dễ xác định và dễ nhận thấy nhất.Nếu hàng hóa có năng lực cạnh tranh cao thì sẽ dễ dàng bán được trên thịtrường, doanh thu sẽ tăng lên Ngược lại, hàng hóa có năng lực cạnh tranhyếu thì sẽ khó bán được trên thị trường, do đó doanh thu sẽ giảm xuống.Thông thường, khi doanh thu xuất khẩu của một mặt hàng nông sản đạt mứccao và tăng trưởng đều đặn qua các năm trên thị trường thì chứng tỏ sảnphẩm đó thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, được thị trường chấp nhận Mức

độ thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng phản ánh năng lực cạnh tranhcủa hàng hóa cao hơn Tăng sản lượng và doanh thu của một mặt hàng nôngsản phụ thuộc vào chất lượng, giá bán và quá trình tổ chức tiêu thụ của mặthàng

9 Theo “Chiến lược phát triển trồng trọt đến năm 2020” của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn”

Trang 12

Doanh thu của hàng nông sản tỉ lệ thuận với giá bán của nó, do đó vớisản lượng sản phẩm được tiêu thụ như nhau, mặt hàng nông sản có năng lựccạnh tranh cao thì giá bán của mặt hàng này đạt giá trị cao Trên thực tế,những mặt hàng nông sản có giá bán cao phải là những mặt hàng có chấtlượng tốt, tỉ lệ chế biến cao Việc tăng sản lượng và doanh thu của một mặthàng nông sản ngoài phụ thuộc vào giá bán, chất lượng còn phụ thuộc vàoquá trình tổ chức tiêu thụ của mặt hàng

1.3.2 Thị phần hàng nông sản xuất khẩu lớn.

Trên thị trường hàng nông sản, mỗi loại mặt hàng nào cũng có mộtcuộc cạnh tranh không ngừng diễn ra giữa các sản phẩm đến từ các nhà sảnxuất khác nhau, tranh giành khách hàng nhằm tăng số lượng sản phẩm tiêuthụ của mình Thị phần thị trường của sản phẩm lớn hay nhỏ thể hiện nănglực cạnh tranh của sản phẩm đó là mạnh hay yếu so với các đối thủ khác trênthị trường

Độ lớn của thị phần sản phẩm phản ánh năng lực cạnh tranh của sảnphẩm và vị thế của sản phẩm trên thị trường thế giới Một sản phẩm có thịphần lớn trên thị trường thì sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh cao và tiềmnăng cạnh tranh lớn Ngược lại, sản phẩm có thị phần nhỏ, hay giảm sút trênthị trường thì sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh yếu, dễ có khả năng bịloại ra khỏi trên thi trường

Khi một sản phẩm đảm bảo được các yếu tố bên trong như có chấtlượng sản phẩm tốt hơn, giá cả thấp hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩmtốt hơn,…sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm Một khi sản phẩmnày gặp cơ hội thị trường, công tác xúc tiến bán hàng hiệu quả, nhanh gọn sẽtăng số lượng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường, buộc các đối thủ cạnh tranhnhường lại thị phần đã từng nắm giữ, từ đó mở rộng thị phần Để có thểchiếm lĩnh và duy trì thị phần trên thị trường, sản phẩm phải có mặt kịp thời

Trang 13

trên thị trường để đáp ứng nhu cầu của khách hàng là yếu tố quan trọng nhất.

Sự có mặt kịp thời này phải thể hiện ở hai yếu tố:

- Yếu tố thời gian: đảm bảo hàng hóa được cung cấp trên thị trườngluôn đi trước các so với các đối thủ cạnh tranh

- Yếu tố không gian: đảm bảo sự lựa chọn thị trường xuất khẩu phùhợp, bao gồm một lượng khách hàng lớn có nhu cầu và thị hiếu tiêu dùngcủa họ phù hợp với sản phẩm nông sản của mình trên thị trường

Khi sự có mặt trên thị trường của sản phẩm đã đúng thời gian và địađiểm thì hình thức xuất hiện của sản phẩm phải thu hút được chú ý củakhách hàng Hình thức xuất hiện đó thể hiện ở việc tổ chức mạng lưới, chinhánh và sự trưng bày sản phẩm tại các cơ sở bán hàng, các cửa hàng tiêuthụ sản phẩm trên thị trường Vì vậy, vấn đề nghệ thuật tổ chức mạng lưới,chi nhánh và sự trưng bày sản phẩm tại các cơ sở bán hàng, các cơ sở tiêuthụ sản phẩm trên thị trường để thu hút được khách hàng là một nhân tố rấtquan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

1.3.3 Chi phí sản xuất và giá hàng nông sản xuất khẩu

a Chi phí sản xuất hàng nông sản xuất khẩu thấp

Cạnh tranh về chi phí sản xuất hàng nông sản là xuất phát điểm và làđiều kiện cần để một sản phẩm có thể duy trì được ở trên thị trường quốc tế.Thước đo của nó là chi phí và giá cả trên một đơn vị sản phẩm có tính đếnchất lượng của sản phẩm Nguồn gốc của khả năng cạnh tranh về chi phí củasản phẩm là lợi thế so sánh của đất nước trong quá trình sản xuất và tiêu thụsản phẩm đó Khả năng cạnh tranh về chi phí của sản phẩm sẽ phụ thuộc vàohiệu quả của tất cả các khâu, bao gồm sản xuất, thu mua, vận chuyển, chếbiến, kho bãi, cầu cảng, vận chuyển quốc tế để tạo ra và đưa sản phẩm đóđến thị trường quốc tế Sự bất cập, không hiệu quả trong bất cứ khâu nàocũng sẽ làm gia tăng chi phí và giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Khả

Trang 14

năng cạnh tranh về chi phí chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện

đủ đối với việc duy trì và mở rộng thị phần bởi vì năng lực cạnh tranh củasản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận thông tin, năng lực kinhdoanh của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu, năng lực marketing quốc

tế, khả năng đối phó rủi ro v.v… Như vậy, do chi phí thấp mới chỉ là khởiđầu của tính cạnh tranh, kinh doanh, vấn đề đặt ra là cần phải biết chuyển từlợi thế so sánh về chi phí thấp đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động xuấtkhẩu hàng nông sản Ngoài ra, từ khâu sản xuất đến khâu xuất khẩu hàngnông sản phải trải qua hàng loạt các khâu dữ trự, chế biến và tác động củamôi trường thể chế chính sách trong và ngoài nước v v…có ảnh hưởngkhông nhỏ đến năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu

Để đánh giá năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu dựa trêntiêu chí chi phí sản xuất, người ta dùng chỉ số chi phí nguồn lực trong nước(Dosmetic Resource Cost – DRC) của một sản phẩm là chỉ số thường dùng

để đo sức cạnh tranh của sản phẩm trong trường hợp không có những sailệch về giá cả do những can thiệp về chính sách Ý nghĩa của DRC phản ánhchi phí thực sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra một hàng hóa nào

đó DRC biểu thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụngtương ứng với 1 đôla thu được từ sản phẩm đem bán Do đó, DRC nhỏ hơn 1

có nghĩa là cần một lượng nguồn lực trong nước nhỏ hơn 1 để tạo ra được 1đồng giá trị gia tăng quốc tế, khi đó sản phẩm có lợi thế cạnh tranh DRClớn hơn 1 thì có nghĩa là cần một nguồn lực lớn hơn 1 để tạo ra được 1 đồnggiá trị gia tăng theo giá quốc tế, và như vậy sản phẩm không có lợi thế cạnhtranh

b Giá hàng nông sản xuất khẩu cao

Trong nền kinh tế thị trường, việc xác định giá của sản phẩm chịu sựtác động của nhiều nhân tố khác nhau như chi phí cho sản phẩm, nhu cầu thị

Trang 15

trường về sản phẩm, mức độ cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, cácquy định của chính phủ về luật pháp và thuế quan, cách tiếp thị và bán sảnphẩm v.v…Không hẳn với một loại sản phẩm cùng loại, chất lượng tươngđương, sản phẩm nào có giá thấp hơn sẽ có tính cạnh tranh cao hơn Giá cao

có thể biểu hiện sản phẩm được người tiêu dùng ưa thích và họ sẵn sàng trảgiá cao để tiêu dùng sản phẩm đó Vì vậy, giá cả của sản phẩm càng cao, thìthể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó càng lớn

1.3.4 Chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm hàng nông sản xuất khẩu cao.

Chất lượng của hàng nông sản thể hiện ở giá trị sử dụng và thời gian

sử dụng của sản phẩm Trong xã hột phát triển, yêu cầu đặt ra đối với mỗidoanh nghiệp, quốc gia là phải cung ứng những sản phẩm có chất lượng cao

để thỏa mãn nhu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng Người tiêudùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm, dịch vụ cùng loại nhưng

có chất lượng cao hơn Do vậy, chất lượng sản phẩm, dịch vụ là những tiêuchí quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định tới năng lực cạnh tranh của hàngnông sản xuất khẩu Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trườngthế giới, hàng nông sản sản xuất ra muốn tiêu thụ được đảm bảo được chấtlượng theo chuẩn mực và chất lượng vượt trội Hàng nông sản đó phải đảmbảo các tiêu chuẩn chất lượng chuẩn mực theo các tiêu chuẩn ISO quốc tế vàphải được các tổ chức quốc tế xét duyệt và cấp chứng chỉ ISO Chất lượngvượt trội được hiểu là sản phẩm phải luôn được đổi mới, cải tiến để tạo ra sựkhác biệt so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh trên thịtrường, là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của sản phẩm Đồng thời,

sự đổi mới của sản phẩm phải luôn gắn chặt với sự phù hợp sở thích và đảmbảo đủ độ tin cậy cho người tiêu dùng

Trang 16

Ngày nay, trên thị trường các nước phát triển, xu hướng cạnh tranhkhông chỉ bằng chất lượng mà còn gắn các yếu tố về môi trường và an toànsản phẩm, đặc biệt đối với hàng nông sản Để có thể cạnh tranh được trêncác thị trường lớn như EU, Mỹ và Nhật Bản, các mặt hàng nông sản vừaphải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, vừa phải thỏa mãn các yêu cầu liênquan đến đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm như dư lượng kháng sinh vàchất bảo vệ thực vật trong sản phẩm, các quy định về bảo vệ môi trường, cácđiều kiện tiêu chuẩn đối với cơ sở chế biến xuất khẩu v.v…

1.3.5 Thương hiệu và uy tín hàng nông sản xuất khẩu tốt

Thương hiệu và uy tín của hàng nông sản chính là sự tổng hợp cácthuộc tính của sản phẩm như chất lượng, lợi ích, mẫu mã, và dịch vụ của sảnphẩm Thương hiệu không những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sảnphẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác, mà nócòn là tài sản rất có giá trị của doanh nghiệp, là uy tín và thể hiện niềm tincủa người tiêu dùng đối với sản phẩm

Ngày nay, phần lớn các sản phẩm xuất khẩu trên thị trường quốc tếđều có gắn thương hiệu Thương hiệu của sản phẩm đã trở thành tài sản vôcùng quý giá và là vũ khí quan trọng trong cạnh tranh Thương hiệu của mộtmặt hàng nông sản nào càng nổi tiếng, mạnh thì sức cạnh tranh của hàng đócàng lớn Điều đó có nghĩa là, nếu một sản phẩm nào đó đã có được uy tín

và hình ảnh tốt đối với người tiêu dùng thì sản phẩm đó có một lợi thế cạnhtranh hơn hẳn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh Đó chính là giá trị

vô hình của thương hiệu hàng nông sản tạo ra sự khác biệt của sản phẩm đốivới khách hàng

Như vậy, trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh khốcliệt, không ngừng, muốn đứng vững được trên thị trường buộc các doanhnghiệp phải tạo dựng cho hàng nông sản của mình một thương hiệu mạnh,

Trang 17

một thương hiệu có tên tuổi trong lòng khách hàng Đó là một trong các tiêuchí quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh và sự tồn tại của hàng xuấtkhẩu trên thị trường.

1.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu

Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt khi nước ta đãchính thức là thành viên của WTO được 2 năm, việc nâng cao năng lực cạnhtranh hàng nông sản xuất khẩu của nước ta là hết sức cần thiết, bởi những lý

do chủ yếu sau đây:

1.4.1 Tạo động lực thúc đẩy phát triển ngành nông nghiệp và các ngành khác.

Sau những năm đổi mới, xuất khẩu nông sản tăng đã góp phần thúcđẩy sản xuất nông nghiệp phát triển liên tục và bền vững Với tốc độ tăngliên tục về giá trị sản xuất, sản xuất nông nghiệp đã chuyển mạnh từ nền sảnxuất tự cung tự cấp, thiếu lương thực tiêu dùng trong nước sang nền nôngnghiệp hàng hóa đa dạng Do nông sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kimngạch xuất khẩu của Việt Nam hiện nay nên nó thúc đẩy sự phát triển côngnghiệp chế biến Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến lại tạo cơ hộicho việc gia tăng xuất khẩu nông sản, tác động ngược lại với các ngành cungứng nguyên liệu Nó đặc biệt có hiệu quả nhờ vào quy mô sản xuất lớn làmgiảm chi phí sản xuất và làm tăng cạnh tranh trên thị trường thế giới Sự pháttriển của các ngành liên quan còn được thể hiện qua mối liên hệ gián tiếpthông qua nhu cầu hàng tiêu dùng của phần lớn lực lượng lao động có mứcthu nhập ngày càng tăng Điều này có nghĩa là sự phát triển của các ngànhliên quan đã tạo nhiều công ăn việc làm cho người, tăng thêm thu nhập chongười dân Khi thu nhập của người nông dân tăng lên, họ sẽ chi cho tiêu

Trang 18

dùng nhiều các sản phẩm hơn, vì vậy làm tăng nhu cầu tiêu dùng sản phẩmhơn.

1.4.2 Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân.

Theo mô hình cơ bản trong lý thuyết thương mại quốc tế củaHechscher – Ohlin, một quốc gia sẽ có lợi thế xuất khẩu những mặt hàngthâm dụng những nguồn lực dư thừa của nó Việt Nam vẫn là một quốc gianông nghiệp không có nguồn tài chính dồi dào, thế mạnh của Việt Nam lànguồn lực lao động sẵn có và giá lao động rẻ Theo số liệu thống kê hiệnnay, Việt Nam có khoảng 70% dân số cả nước sống ở nông thôn và làm sảnxuất nông nghiệp, xuất khẩu nông sản sẽ vừa tận dụng được lợi thế nguồnlao động rẻ vừa tạo công ăn việc làm cho nông dân và người lao động, gópphần làm tăng thu nhập quốc dân, cải thiện đời sống nhân dân, xóa đói giảmnghèo, tạo sự cân bằng giữa thành thị và nông thôn Nhờ tăng cường xuấtkhẩu nông sản ta thị trường thế giới, năm 1993, thu nhập một hộ nông dânmới chỉ 7,7 triệu đồng/1 năm, nhưng đến năm 2008, mức thu nhập này đãtăng gần 2,5 lần, đạt 16,8 triệu đồng/1 năm.(10)

1.4.3 Tạo nguồn ngoại tệ phục vụ cho sự phát triển kinh tế.

Xuất khẩu nông sản tạo ra nguồn thu ngoại tệ cơ bản và vững chắcnhất, góp phần quan trọng vào việc cải thiện cán cân thanh toán và tăng dựtrữ ngoại tệ của đất nước Trong điều kiện đất nước còn nghèo, đồng nội tệchưa có khả năng là đồng tiền có khả năng chuyển đổi trên thế giới, thì xuấtkhẩu nông sản có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra nguồn thu ngoại tệ đểnhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ và vật tư cần thiết cho sự phát triểnkinh tế đất nước Hơn nữa, việc hạn chế nhập khẩu một số sản phẩm lương

10 Theo Niêm giám thống kê 2008

Trang 19

thực, thực phẩm bằng việc phát triển và mở rộng sản xuất trong nước đã gópphần làm giảm gánh nặng ngoại tệ vốn khan hiếm đối với nước ta hiện nay

1.4.4 Góp phần mở rộng hợp tác quốc tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, đất nước tavới tư cách là một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ đang thúc đẩy liên kết mởrộng quan hệ thương mại với các nước trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợicùng nhau phát triển Trong ngành nông nghiệp, nhiều nước đã hợp tác đầu

tư, liên doanh liên kết với Việt Nam trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến vàxuất khẩu hàng nông sản

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và sự xuất hiện nhiều mặt hàng nông sảnnhư gạo, cà phê, chè…trong những năm vừa qua trên thị trường thế giới đãnói lên tầm quan trọng của hàng nông sản Việt Nam trong điều kiện hộinhập kinh tế thế giới Tuy nhiên, việc sản xuất, chế biến và xuất khẩu hàngnông sản hiện nay vẫn chưa xứng hết với tiềm năng của đất nước ta Vì vậy,nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu của Việt Namtrên thị trường thế giới là nhu cầu cần thiết đối với nước ta hiện nay

2 Kinh nghiệm của một số nước thành công trên thế giới

2.1 Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển caotrong số các nước có nền nông nghiệp phát triển trên thế giới Nền nôngnghiệp Hoa Kỳ là một nền nông nghiệp có năng suất và chất lượng cao Đếnnay, lực lượng lao động làm nghề nông của Hoa Kỳ chỉ chiếm 5% dân sốnhưng Hoa Kỳ là một trong những nước hàng đầu trên thế giới về xuất khẩunông sản và tạo được uy tín lớn đối với khách hàng Các giải pháp và chínhsách được Hoa Kỳ các áp dụng như sau:

Trang 20

2.1.1 Đầu tư phát triển công nghệ chế biến nông sản và quản lý chất lượng đồng bộ.

Việc sản xuất các hàng nông sản có giá trị cao được thực hiện quanhiều quá trình và công việc có liên quan mật thiết với nhau để tạo ra cácsản phẩm theo ý muốn Các loại nguyên phụ liệu được đưa vào các khâutrong quy trình chế biến được kiểm định chặt chẽ Các tiêu chuẩn, quy phạmsản xuất tiên tiến được áp dụng để không ngừng bảo đảm chất lượng sảnphẩm như tiêu chuẩn GMP (Good Manufacturing Practices), nguyên tắcphân tích và xác định các mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP(Hazard Analysis and Critical Control Point) Đầu tư phát triển mạnh côngnghệ sinh học là hướng quan tâm hàng đầu của Hoa Kỳ

2.1.2 Chính sách trợ cấp xuất khẩu nông sản

Chính phủ tiến hành các hoạt động trợ cấp cho các nhà sản xuất nôngsản trong trường hợp cần thiết để duy trì một mặt hàng nào đó trên thịtrường Quốc hội Hoa Kỳ có thể thông qua một đạo luật để trợ cấp và bảo hộcho hoạt động xuất khẩu nông sản của Hoa Kỳ Đồng thời, Chính phủ Hoa

Kỳ có chính sách bảo hộ khá tinh vi đối với hàng nông sản thông qua cáchàng rào kỹ thuật và hành chính như quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật nhưcấm các mặt hàng nông sản biến đổi gen, quy định về đăng ký nhãn hiệuhàng hóa, quy định chặt chẽ về bao bì đóng gói, ban hành đạo luật về bảo vệlợi ích người tiêu dùng…

2.1.3 Thực hiện hoạt động tài trợ xuất khẩu

Các hoạt động tài trợ xuất khẩu được thực hiện bao gồm tài trợ trướckhi giao hàng và tài trợ sau khi giao hàng Chính phủ Hoa Kỳ khuyến khíchcác ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng xuất khẩu ở mức lãi suất hợp lý.Trên thực tế, các hợp đồng bảo hiểm hay bảo lãnh do các cơ quan tín dụngxuất khẩu nhà nước cấp như: ngân hàng xuất - nhập khẩu được coi là khoản

Trang 21

đặt cọc chăc chắn để các ngân hàng thương mại cho các nhà xuất khẩu vaytiền với điều kiện ưu đãi Quỹ tài trợ xuất khẩu không chỉ có tác dụng duy trìgiá cả ổn định trong sản xuất, chế biến mà còn là sự trợ giúp cần thiết khicần đổi mới trang thiết bị để nâng cao mức độ chế biến, cải thiện chất lượng

và an toàn khi sử dụng, hỗ trợ thâm nhập thị trường mới hay phát triển mộtsản phẩm mới

2.1.4 Xây dựng thương hiệu, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng

Các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư rất lớn vào các hoạt động quảng básản phẩm và tuyên truyền sâu rộng trong công chúng để hình thành nhữngthói quen mới trong tiêu dùng hàng nông sản, đồng thời xây dựng thươnghiệu hàng nông sản theo hướng hình thành những thương hiệu nổi tiếng đểtăng giá hàng nông sản xuất khẩu

Ở Hoa Kỳ, lợi ích của người tiêu dùng được bảo vệ rất cao thông quacác đạo luật và các Hiệp hội bảo vệ lợi ích người tiêu dùng Khi hàng hóa bịngười tiêu dùng phản đối về chất lượng, doanh nghiệp phải có trách nhiệmbồi thường thiệt hại của người tiêu dùng một cách thỏa đáng Vì vậy, chấtlượng của các mặt hàng nông sản ở Hoa Kỳ được kiểm định rất chặt chẽ

2.2 Thái Lan

Thái Lan là một nước nằm trong cùng khu vực Đông Nam Á với ViệtNam, có diện tích đất canh tác 19,26 triệu ha, gấp 2,62 lần và bình quân diệntích đất canh tác trên đầu người gấp 4 lần Việt Nam(11) Cách đây hơn 30năm, Thái Lan là một nước nông nghiệp lạc hậu, nhưng đến nay Thái Lanđược coi là một trong những nước đang phát triển trong khu vực, có nềnnông nghiệp hoàn chỉnh với sự đa dạng hoá và chuyên môn hoá nhiều loạivật nuôi và cây trồng ở mỗi vùng, miền trong cả nước rất thành công trongxuất khẩu nông sản Hiện nay, 5 mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng

11 Theo sách: “Phát triển lợi thế cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam”

Trang 22

nhất của Thái Lan là gạo (luôn đứng đầu thế giới); sắn (nước xuất khẩunhiều nhất trên thế giới); ngô (hàng năm xuất khẩu 4-5 triệu tấn); cao su(đứng thứ 3 trên thế giới); rau quả (đứng thứ 2 khu vực châu Á – Thái BìnhDương, sau Trung Quốc).

Sự thành công xuất khẩu nông sản của Thái Lan chính là nhờ vàochính sách đổi mới của Thái Lan trên quan điểm phát triển nông nghiệp,nông thôn là xương sống của đất nước Các chính sách hỗ trợ phát triển nôngnghiệp nông thôn hướng về xuất khẩu của Thái Lan được thể hiện ở nhữngmặt sau:

2.1.1 Thực hiện đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, chú ý loại hình tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp.

Trong kế hoạch 5 năm 1977-1981, Chính phủ đã khuyến khích pháttriển chiến lược công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn, thực hiện chủtrương đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp hướng vào sản xuất sản phẩm xuấtkhẩu và chú ý loại hình tổ chức sản xuất quy mô lớn Việc thực hiện đa dạnghóa sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng vùngnằm trong quy hoạch đầu tư đồng bộ của Chính phủ Do vậy, tiềm năngtrong sản xuất nông nghiệp được khai thác và phát huy triệt để, sản xuất pháttriển nhanh chóng, xuất khẩu hàng đầu trên thế giới như gạo, sắn, cao su,v.v…

2.1.2 Chính sách thuế và tín dụng.

Để khuyến khích xuất khẩu hàng nông sản, chính phủ Thái Lan thựchiện các biện pháp khuyến khích xuất khẩu gạo như bỏ chế độ hạn ngạch,không thu thuế xuất khẩu, nhà xuất khẩu chỉ nộp thuế lợi tức nếu có, miễnthuế nhập khẩu máy móc thiết bị và chuyển giao công nghệ nước ngoài,giảm 5% thuế thu nhập của công ty trong 5 năm sau thời kỳ được miễn thuế,giảm gấp đôi thuế thu nhập về điện nước, giao thông vận tải trong 1 năm cho

Trang 23

các cơ sở chế biến kinh doanh xuất khẩu gạo Thái Lan áp dụng chính sách

hỗ trợ xuất khẩu gạo như cho nhà xuất khẩu vay vốn ngân hàng với lãi suất

ưu đãi, đặc biệt là vốn dài hạn với lãi suất thấp Ngoài ra, Nhà nước còn hỗtrợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo bằng nhiều hình thức khác nhau nhưmua lại gạo của các nhà xuất khẩu, chịu chi phí lưu kho, bảo quản, vậnchuyển khi giá gạo trên thế giới xuống thấp v.v…đồng thời Nhà nước cònđịnh hướng những thị trường chủ yếu, can thiệp để ký những hợp đồng lớn

2.2.4 Đầu tư phát triển công nghiệp chế biến và bảo quản sản phẩm.

Chính phủ Thái Lan rất nỗ lực trong việc đầu tư trang thiết bị dâychuyền công nghệ chế biến tiên tiến, đảm bảo điều kiện vận tải, kỹ thuậtđóng gói hiện đại Bên cạnh chính sách đầu tư trong nước, Chính phủ TháiLan còn có chính sách khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài như NhậtBản, Hoa Kỳ, Đức, Anh v.v…cho ngành chế biến Nhờ có sự đầu tư này mà

12 Theo: Sách “ Nâng cao giá trị gia tăng hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam”

Trang 24

các cơ sở của Thái Lan thường có quy mô lớn, trang thiết bị dây chuyềncông nghệ tiên tiến

2.2.5 Tổ chức khâu tiêu thụ, quảng bá và phát triển thương hiệu hàng hóa.

Hầu hết các hàng nông sản xuất khẩu của Thái Lan đều được bảoquản tốt, mẫu mã và bao bì hàng hóa được thiết kế đẹp, hấp dẫn người mua.Các doanh nghiệp Thái Lan chú trọng nhiều đến xây dựng, đăng ký vàquảng bá thương hiệu Ví dụ: gạo xuất khẩu của Thái Lan được đóng gói vớitrọng lượng từ 5-10 kg, bên ngoài có nhãn mác đầy đủ các nguồn gốc xuất

xứ, tên gọi bằng tiếng Anh, tiếng Thái và cả tiếng nước ngoài ở những vung

có nhiều người sử dụng sản phẩm Thái Lan

Ngoài ra, Cục Xúc tiến thương mại Thái Lan cung cấp các thông tin

về thị trường, về sản phẩm về khách hàng nhập khẩu cho các doanh nghiệptheo yêu cầu; cung cấp các số liệu thống kê thương mại trên mạng, xây dựngtin nhanh theo về xuất khẩu nông sản trên mạng, các trang web thương mại;phát triển nguồn nhân lực cho xuất khẩu hàng nông sản

2.3 Trung Quốc

Trung Quốc là một nước có đất tự nhiên rộng, nhưng diện tích đấtcanh tác ít (chiếm 10,9% tổng diện tích đất tự nhiên, bình quân diện tích đấtcanh tác trên đầu người 0,11 ha/người) Hiện nay, Trung Quốc là nước cósản lượng nông sản lớn trong khu vực châu Á và thế giới

2.3.1 Đa dạng hóa nông sản xuất khẩu và cải thiện chất lượng sản phẩm theo hướng toàn diện.

Đa dạng hóa sản phẩm nông sản xuất khẩu, cải thiện chất lượng vàhiệu quả được coi là định hướng cơ bản của Trung Quốc trong quá trình điềuchỉnh sản xuất nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâmnghiệp, và trồng cây ăn quả Trung Quốc đã có những chính sách khuyến

Trang 25

khích sản xuất nông nghiệp theo hướng xuất khẩu như tập trung sản xuất sảnphẩm có ưu thế như ngũ cốc, chè, chăn nuôi lợn Đưa ra những chinh sách

ưu tiên đặc biệt cho những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao như cácloại giống lai như lúa lai, ngô lai

2.3.2 Đầu tư trọng điểm cho khâu bảo quản và chế biến nông sản xuất khẩu.

Trung Quốc đã hướng vào việc nâng cao giá trị hàng nông sản xuấtkhẩu thông qua tăng đầu tư vào khâu bảo quản và chế biến bắt đầu từ nhữngnăm cải cách và mở cửa nền kinh tế Về lương thực, Trung Quốc đã xâydựng hơn 60.000 kho bảo quản lương thực với dung lượng tích trữ 1,6 tỷtấn, trong đó 78% là các kho có hệ thống điều khiển nhiệt, ẩm hiện đại Vìvậy tổn thất sau thu hoạch của ngũ cốc đã giảm từ 12-15% năm 1970 xuốngcòn 5-10% năm 1995 Năm 2005, tổn thất sau thu hoạch chỉ còn dưới 5% và

dự tính đến năm 2010 tổn thất còn dưới 3%

Bên cạnh đó, Trung Quốc đã xây dựng và phát triển mô hình xínghiệp Đầu rồng về chế biến nông sản Để thúc đẩy xí nghiệp Đầu rồng pháttriển, Nhà nước đã hỗ trợ về nhiều mặt như các ngân hàng khi xem xét phân

bổ vốn cho vay thì phải ưu tiên cho các xí nghiệp Đầu rồng vay vốn linhđộng để thu mua nông sản của nông dân Nhà nước miễn thuế nông nghiệp,thuế nông sản đặc sản trong 3 năm đầu làm ăn có lãi cho các xí nghiệp Đầurồng khai phá đất hoang để sản xuất Ngoài ra, Nhà nước còn miễn thuế thunhập công ty cho phần doanh thu có được từ chuyển giao công nghệ, tư vấn

Trang 26

khẳng định rằng con đường căn bản để phát triển nông nghiệp Trung Quốc

là lấy khoa học kỹ thuật làm vũ khí; lấy công nghiệp hiện đại làm chỗ dựa;lấy thị trường làm hướng dẫn chuyển từ nông nghiệp truyền thống sang nôngnghiệp hiện đại, từng bước giảm tỷ trọng dân số trong nông nghiệp, tận dụngtối đa đất khai thác và các nguồn lực khác, nâng cao sức lao động và giá trịsản phẩm

Một trong những chương trình thành công nhất là “Chương trình Đốmlửa” bắt đầu thực hiện từ ngày 24/07/1985, đã tạo ra nền tảng tiến bộ khoahọc kỹ thuật trong nông nghiệp và đã được Liên hiệp quốc đánh giá cao.Mục tiêu của chương trình này là nghiên cứu và phổ biến kỹ thuật nôngnghiệp hiện đại Tiếp theo “Chương trình Đốm lửa”, Trung Quốc tiếp tụcthực hiện “Chương trình Bó đuốc” Đây là những chương trình thể hiện sự

hỗ trợ to lớn và có hiệu quả của chính phủ Trung Quốc nhằm cải thiện cơbản nền nông nghiệp Trung Quốc theo hướng hiện đại hóa, quốc tế hóa vàphi nông nghiệp hóa trên cơ sở ứng dụng và phổ biến trên cơ sở việc ứngdụng và phổ biến các kết quả nghiên cứu và phát triển khoa học phù hợp vớiđiều kiện của Trung Quốc

2.3.4 Thực hiện chính sách ưu đãi với đội ngũ cán bộ khoa học

Chính phủ Trung Quốc đặc biệt đề cao vai trò của đội ngũ cán bộkhoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực với phương châm: thiết bị là phần

“cứng” công nghệ là phần “mềm” nhân lực có trình độ cao là phần “sống”,trong đó phần “sống” đóng vai trò quan trọng nhất Nếu thiếu phần “sống”thì cả hai phần còn lại đều không thể hoạt động và có hiệu quả được

Nhằm khuyến khích đội ngũ khoa học kỹ thuật thực sự làm việc tậntâm và có hiệu quả, Chính phủ quy định hệ số chênh lệch giữa tiền lươngkhởi điểm của cử nhân trong các cơ quan nghiên cứu va lương tối thiểu củanền kinh tế là 2,7 Ngoài ra, Chính phủ còn có rất nhiều khuyến khích khác

Trang 27

như: lương cho cán bộ khoa học chuyển về làm việc tại các vùng nông thôn,vùng sâu khó khăn được hưởng thêm với hệ số trung bình là 1,5 Các cơquan được phép ký hợp đồng không hạn chế mức lương với cán bộ nghiêncứu Về nhân sự, Trung Quốc áp dụng hai nguyên tắc: Thay thế chế độ tuyểndụng suốt đời sang chế độ tuyển chọn có thời hạn cho các vị trí quan trọng

và cho phép cán bộ khoa học kỹ thuật có thể dùng thời gian làm việc tronggiờ để nghiên cứu khoa học công nghệ

Trang 28

CHƯƠNG II: NĂNG LỰC CẠNH TRANH MỘT SỐ MẶT HÀNG NÔNG SẢN CHỦ LỰC VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA

NHẬP WTO

1 Thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam

1.1 Thực trạng xuất khẩu nông sản trước khi Việt Nam gia nhập WTO

1.1.1 Chính sách xuất khẩu nông sản của Việt Nam trước khi gia nhậpWTO

Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đang áp dụng các chính sách vềxuất khẩu nông sản sau: các biện pháp về hỗ trợ sản xuất nông sản xuất khẩu

và về hỗ trợ xuất khẩu nông sản

* Nhóm chính sách hỗ trợ xuất khẩu nông sản

_ Hỗ trợ trực tiếp cho người xuât khẩu nông sản

+ Trợ giá xuất khẩu nông sản:

Nhà nước đã thực hiện trợ giá xuất khẩu cho một số nông sản nhưgạo, dứa, cà phê,…Theo Chính sách này, các doanh nghiệp được giao nhiệm

vụ gạo tạm trữ cho xuất khẩu gạo sẽ được Bộ Tài Chính hỗ trợ phần lỗ nếumua tạm trữ xuất khẩu trên 1 triệu tấn gạo với giá mua thực tế, nếu cácdoanh nghiệp thực sự còn bị lỗ thì được bù lỗ Các doanh nghiệp xuất khẩu

cà phê được Chính phủ trợ giá xuất khẩu trực tiếp thông qua bù lỗ chonhững doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này theo Quyết định số 933/QĐ-TTg ngày 28-1-1999, Quyết định số 540/QĐ-TTg ngày 8-6-2000 Doanhnghiệp mua tạm trữ cà phê xuất khẩu năm 2000 cũng được hỗ trợ 70% lãisuất vay ngân hàng trong 9 tháng năm 2000

+ Thưởng xuất khẩu:

Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đang áp dụng quy chế xét thưởngxuất khẩu và hai quyết định bổ sung cho quy chế này là 116/2003/QĐ-BTM

Trang 29

và 02/2002/QĐ-BTM Quy chế xét thưởng xuất khẩu do Bộ Thương mại banhành nhằm quản lý sử dụng Quỹ thưởng xuất khẩu (được thành lập theoQuyết định 764/1998/QĐ-TTg ngày 24-8-1998) để khen thưởng các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đạt hiệu quả cao trong xuất khẩu.

Theo quy chế xét thưởng xuất khẩu, doanh nghiệp thuộc mọi thànhphần kinh tế được xét khen thưởng xuất khẩu nếu đạt một trong các tiêuchuẩn: 1) Xuất khẩu mặt hàng mới; 2) Xuất khẩu ở thị trường mới; 3) Xuấtkhẩu hàng có chất lượng cao; 4) Xuất khẩu hàng tiêu dùng nhiều nguyên liệu

và lao động trong nước; 5) Đạt kim ngạch xuất khẩu ngoài hạn ngạch cao

Chính sách trợ giá xuất khẩu giúp doanh nghiệp xuất khẩu bớt thuathiệt do giá xuất khẩu giảm, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn và tiếptục kinh doanh trong điều kiện kém thuận lợi Còn chính sách thưởng xuấtkhẩu theo kim ngạch xuất khẩu đã góp phần làm tăng lượng xuất khẩu củanhững mặt hàng đó Bên cạnh đó, nhiều mặt hàng được bổ sung vào danhmục hàng xuất khẩu của Việt Nam

_ Chính sách tín dụng xuất khẩu nông sản

Chính sách tín dụng xuất khẩu của Việt Nam áp dụng được quy định

rõ trong Quyết định số 133/2001/NĐ – TTg ngày 10-9-2001 của Thủ tướngChính phủ quy định: những doanh nghiệp tiêu thụ nông sản mang tính thời

vụ được vay vốn từ Quỹ Hỗ trợ xuất khẩu bằng hình thức tín chấp hoặc thếchấp tài sản hình thành vốn vay để vay vốn Không những được vay vốn đủ,kịp thời, các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản còn đượchưởng lãi suất ưu đãi, được giãn nợ và tiếp tục cho vay để thu mua nông sản

Chính sách tín dụng xuất khẩu nông sản đã giải quyết được vấn đềtiêu thụ nông sản cho nông dân, góp phần hạn chế giảm giá mua nông sảntrong thời vụ thu hoạch, góp phần hạn chế thua thiệt cho người sản xuất vàkinh doanh nông sản xuất khẩu

Trang 30

_ Chính sách bảo hiểm xuất khẩu nông sản

Đây là chính sách được áp dụng nhằm khuyến khích thành lập và tàitrợ cho Quỹ Bảo hiểm xuất khẩu ngành hàng Quỹ Bảo hiểm xuất khẩungành hàng do các hiệp hội ngành hàng thành lập, hoạt động theo nguyên tắckhông vì mục tiêu lợi nhuận, hỗ trợ lẫn nhau giữa các hội viên trong hiệphội, góp phần khắc phục và hạn chế rủi ro, ổn định sản xuất, đẩy mạnh xuấtkhẩu hàng hóa Quyết định này cũng quy định những lĩnh vực hỗ trợ cụ thểcủa Quỹ Bảo hiểm xuất khẩu ngành hàng

Trong thực tế, chính sách này chưa thực sự phát huy hiệu quả vì cácdoanh nghiệp lúc bấy giờ chủ yếu mong chờ sự hỗ trợ của Nhà nước nên họchưa thực sự quan tâm tới việc tham gia lập Quỹ

_ Chính sách xúc tiến thương mại hàng nông sản xuất khẩu

Chính sách xúc tiến thương mại được quy định rõ trong các Quyếtđịnh số 15/2006/QĐ-BTM, số 21/2006/QĐ-BTM, số 30/2006/NĐ-BTM, số39/2006/QĐ-BTM Nội dung cơ bản của các chính sách này là hiệp hộingành hàng được Chính phủ hỗ trợ kinh phí tổ chức nghiên cứu khảo sát thịtrường xuất khẩu nông sản, nâng cấp mạng lưới thông tin, thu thập thông tinkinh doanh nông sản xuất khẩu, tổ chức hội chợ triển lãm, tuyên truyềnquảng bá sản phẩm nông sản xuất khẩu của Việt Nam, đào tạo cán bộ nghiệp

vụ marketing, phát triển thương hiệu quốc gia, kỹ năng ứng dụng sàn giaodịch điện tử… Các hiệp hội được hỗ trợ xúc tiến thương mại gồm Hiệp hội

cà phê – ca cao, chè, điều, cao su, hồ tiêu, trái cây, lương thực, Tổng công tyrau quả Việt Nam…

* Nhóm chính sách hỗ trợ sản xuất nông sản xuất khẩu

_ Chính sách trợ giá đầu ra cho người sản xuất:

Đây là chính sách nhằm hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất sản phẩm thuộcnhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của nền kinh tế, nếu gặp khó khăn do đổi mới

Trang 31

công nghệ và mới bắt đầu sản xuất thì được xét trợ giá, đảm bảo sản xuấtkhông bị lỗ Chính phủ đã duy trì các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp

để thay đổi giá nông sản thông qua các điều chỉnh về chính sách thương mạinội địa và chính sách xuất nhập khẩu nhằm duy trì mức giá thích hợp đối vớisản xuất nông sản Cụ thể là, từ năm 2000 đến nay, do giá nông sản trên thịtrường thế giới giảm mạnh, Chính phủ đã chỉ đạo các tỉnh, các doanh nghiệpnhà nước thu mua nông sản (gạo, cà phê, đường,…) tạm trữ để xuất khẩutheo giá sàn do Nhà nước quy định, duy trì giá sàn trong thời kỳ thu hoạch,đảm bảo thu nhập cho nông dân

_ Chính sách trợ giá đầu vào cho người sản xuất:

+ Chính sách trợ giá giống: Từ năm 1997, sau Nghị định 07/CP (năm

1996), Nghị định số 14/CP (năm 1996), Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg(năm 1999), chính sách hỗ trợ giống nông sản, đặc biệt là giống nông sảnxuất khẩu đã phát huy hiệu quả mạnh mẽ Nhà nước đã đầu tư khoảng 3000

tỷ đồng cho Chương trình giống cây trồng vật nuôi và giống cây lâm nghiệptrong giai đoạn 2000-2005 Một trong những mục tiêu chính sách hỗ trợgiống này là không chỉ chọn tạo, nhập khẩu giống có năng suất cao, mà còn

là tạo ra sự chuyển biến lớn về chất lượng nông sản xuất khẩu

+ Chính sách trợ giá phân bón và thuốc trừ sâu: Nhà nước không trợ cấp

cho hai đầu vào này Tuy nhiên, Nhà nước đã có chính sách ổn định và giảmgiá phân bón, thuốc trừ sâu thông qua áp dụng mức thuế nhập khẩu O%,hoàn thuế giá trị gia tăng cho phân bón và thuốc trừ sâu, hỗ trợ một phầnhoặc toàn bộ lãi suất vốn vay ngân hàng cho các doanh nghiệp kinh doanhvật tư nông nghiệp mua dự trữ

Trang 32

_ Chương trình khoa học, công nghệ và chính sách khuyến nông phục vụ sảnxuất nông sản xuất khẩu.

+ Chính sách khoa học, công nghệ phục vụ sản xuất nông sản xuất khẩu:

Nhà nước ta đã sớm nhận thức về tầm quan trọng của khoa học côngnghệ đối với sản xuất nông nghiệp Vì vậy, chính sách nghiên cứu khoa học,công nghệ cho thời kỳ 1998-2010 được nhấn mạnh rõ trong Nghị quyết số06-NQ/TW ngày 10-11-1998 Nghị quyết nhấn mạnh các lĩnh vực cần ưutiên cho nông nghiệp, hỗ trợ và khuyến khích nghiên cứu công nghệ sau thuhoạch, giống mới… Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn hoàn thiện đề án “Chương trình công nghệ sinh học”

và phối hợp các bộ, ngành và các tỉnh có liên quan xây dựng đề án về côngnghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến nhằm nâng cao chất lượng gạo và càphê

+ Chính sách khuyến nông phục vụ sản xuất nông sản xuất khẩu:

Chính sách khuyến nông được Nhà nước xem là một giải pháp quantrọng thúc đẩy sản xuất nông sản xuất khẩu Theo Nghị quyết số09/2000/NĐ-CP, Chính phủ chỉ rõ: tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chấtlượng công tác khuyến nông, khuyến lâm đến tận cơ sở và hộ nông dân,nhằm giúp nông dân hiểu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để nângcao năng suất, chất lượng và hạ giá thành nông sản

1.1.2 Thực trạng xuất khẩu nông sản trước khi Việt Nam gia nhập WTO

Sau 20 năm đổi mới từ năm 1986 đến 2006, Việt Nam đã đạt đượcnhững bước tiến lớn trong xuất khẩu nông sản Từ chỗ Việt Nam hầu nhưkhông xuất khẩu nông sản cho tới năm 2006, Việt Nam đã trở thành xuấtkhẩu gạo và cà phê đứng thứ hai trên thế giới và cũng là nước đứng trongnhóm quốc gia hàng đầu về xuất khẩu các mặt hàng nông sản như: gạo, cao

su, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè…

Trang 33

Nhóm mặt hàng nông sản xuất khẩu của nước ta đã đóng vai trò quantrọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Kim ngạch xuất khẩutăng nhanh, tăng từ 2 894,4 triệu USD năm 2000 tới 7 000 triệu USD năm

2006 (tốc độ tăng bình quân là 19,75%) (bảng 1)

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản

Năm

Tổng kim ngạch XK (triệu USD)

Kim ngạch XKNS (triệu USD)

Tỷ lệ XKNS/

KNXK (%)

Tốc độ tăng XKNS (%)

7000 triệu USD năm 2006

Nhờ cải tiến trong sản xuất, năng suất các mặt hàng nông sản ViệtNam đều tăng, hầu hết các mặt hàng đều đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trongnước và có khả năng xuất khẩu Trừ mặt hàng gạo, là loại lương thực thiếtyếu, sản xuất tất cả các hàng nông sản chủ yếu đều hướng về xuất khẩu Tỷ

lệ xuất khẩu gạo chiếm khoảng 20% tổng sản xuất hàng năm, cà phê chiếm

Trang 34

khoảng 95%, chè chiếm 60%, cao su chiếm 85%, điều chiếm 90%, chèchiếm 60%, hạt tiêu 95% (13).

Trong giai đoạn năm 2001-2006, hầu hết kim ngạch xuất khẩu cácmặt hàng nông sản xuất khẩu đều tăng Trong đó, thủy sản là mặt hàng cótổng kim ngạch xuất khẩu cao nhất đạt 11000 triệu USD, tiếp đó là gạo(4429 triệu USD), gỗ và sản phẩm gỗ (3978 triệu USD), câ phê (2594 triệuUSD) và cao su (2202 triệu USD) Gỗ và sản phẩm gỗ có tốc độ tăng trưởngcao nhất, đạt hơn 47,1%, tiếp theo là cao su có tốc độ tăng trưởng đạt 36,5%,nhân điều (23,8%) và gạo (15,9%).(14) Nổi bật trong giai đoạn này là năm

2005, xuất khẩu nông sản của nước ta đã lập nhiều kỷ lục mới Hầu hết, cácmặt hàng xuất khẩu nông sản chủ lực như gạo, cà phê, cao su, hạt điều…đều tăng cả về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu nông sản Ví dụ, mặt hànggạo sau 17 năm tham gia thị trường thế giới, lần đầu tiên kim ngạch xuấtkhẩu gạo đạt 1,3 tỷ USD; xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt 1,54 tỷ USD, tăng52% so với năm 2004; xuất khẩu hạt điều đạt 495 triệu USD, tăng 40% sovới năm 2004 (đạt 400 triệu USD)(15)

Cùng với sự gia tăng về lượng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu hàngnông sản ngày càng được mở rộng và thay đổi hướng Cho đến năm 2006,hàng nông sản của nước ta đã có mặt khoảng 100 quốc gia và vùng lãnh thổ,trong đó có các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc Thịtrường xuất khẩu lớn nhất của nông sản Việt Nam hiện nay là thị trườngchâu Á, tiếp đó là thị trường châu Âu và thị trường châu Mỹ

1.2 Thực trạng xuất khẩu nông sản sau khi Việt Nam gia nhập WTO

1.2.1 Chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO

13 Theo: “Tổng kết xuất khẩu nông sản nước ta trước WTO”-Vụ Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương.

14 Theo: “Tổng kết xuất khẩu nông sản nước ta trước WTO”-Vụ Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương.

13 Theo: http://vietbao.vn/Kinh-te/Xuat-khau-nong-san-nam-2005-Nhung-ky-luc/40116009/87/.

15

Trang 35

1.2.1.1 Các quy định xuất khẩu nông sản trong WTO

Những quy định về xuất khẩu hàng nông sản trong WTO được quyđịnh cụ thể trong hiệp định Nông nghiệp (AoA) Hiệp định Nông nghiệp củaWTO có mục tiêu cải cách thương mại trong lĩnh vực này và củng cố vai tròcủa thị trường là yếu tố định hướng cho việc thực thi chính sách Các quyđịnh tập trung về bốn vấn đề sau: tiếp cận thị trường, trợ cấp xuất khẩu, hỗtrợ sản xuất trong nước và các tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn Các quy địnhđược áp dụng đối với các nước không giống nhau Các nước thành viên kémphát triển được ưu đãi đặc biệt thông qua lịch trình thực hiện cắt giảm thuếquan và trợ cấp kéo dài Còn đối với các nước phát triển và đang phát triển,Hiệp định Nông nghiệp có quy định riêng

* Về tiếp cận thị trường:

Các quy định về tiếp cận thị trường bao gồm các cam kết về thuế vàloại bỏ hàng rào phi thuế WTO yêu cầu tất cả các thành viên phải thuế hóacác biện pháp phi thuế quan thành các biện pháp thuế quan Do một số nướckhi thuế hóa các biện pháp phi thuế quan sẽ tào ra mức thuế quan rất cao ảnhhưởng đến cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, nên tại vòng đàm phánUrugoay, WTO đã ban hành biện pháp hạn ngạch thuế quan (TQR) TQRchỉ được phép áp dụng cho những sản phẩm đã thuế hóa và phải thông quađàm phán

* Về trợ cấp xuất khẩu:

Trợ cấp xuất khẩu là bất kỳ sự hỗ trợ nào gắn với tiêu chí xuất khẩu.Trợ cấp xuất khẩu là hình thức hỗ trợ có tính bóp méo nhiều nhất Vì vậy, vềnguyên tắc, WTO nghiêm cấm trợ cấp xuất khẩu, trừ phi chúng được nêu rõtrong cam kết của các nước thành viên Nếu nước nào có trợ cấp xuất khẩuthì phải cam kết giảm cả về mức trợ cấp và khối lượng hàng hóa xuất khẩu.Tại hội nghị Bộ trưởng Thương mại ở Hồng Công năm 2005, trong khuôn

Trang 36

khổ vòng đàm phán Đôha, các thành viên WTO mới đạt được thỏa thuận vềviệc cắt giảm, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp xuất khẩu nông sản vào năm2013.

Theo quy định của WTO, trợ cấp có 6 hình thức, bao gồm:

+ Trợ cấp trực tiếp cho người sản xuất hàng xuất khẩu;

+ Bán thanh lý hàng nông sản dự trữ cho xuất khẩu với giá rẻ hơn;+ Tài trợ các khoản chi trả cho xuất khẩu, kể cả phần được tài trợ từnguồn thu thuế, các khoản được để lại;

+ Trợ cấp nông sản dựa theo tỉ lệ xuất khẩu;

+ Trợ cấp để giảm chi phí tiếp thị, kể cả chi phí xử lý, nâng cấp, táichế sản phẩm, chi phí vận tải quốc tế, cước phí vận chuyển;

+ Ưu đãi về cước phí vận tải trong nước và quốc tế đối với hàng xuấtkhẩu hơn hàng nội địa

Trong giai đoạn thực hiện, các nước đang phát triển được phép ápdụng 2 loại trợ cấp cuối cùng

* Về hỗ trợ sản xuất trong nước:

Hỗ trợ sản xuất trong nước là các khoản hỗ trợ chung cho nôngnghiệp, cho sản phẩm hoặc vùng cụ thể, không nhất thiết là phải xuất khẩu.AoA phân loại các hỗ trợ trong nước đối với nông nghiệp thành những nhómkhác nhau căn cứ trên mức độ ảnh hưởng của các biện pháp này đối vớithương mại trong nông nghiệp, bao gồm:

_ Các biện pháp “hộp xanh lá cây” (green box) ảnh hưởng tới thươngmại ít nhất nên được WTO cho phép áp dụng Các biện pháp này bao gồmnhững dịch vụ được nhà nước đảm bảo nghiên cứu, y tế công cộng, cơ sở hạtầng và an nhinh lương thực Các biện pháp này cũng bao gồm những khoảnbồi thường được rót trực tiếp cho nông dân nhưng không nhằm mục đíchkhuyến khích sản xuất, ví dụ như một số hình thức hỗ trợ thu nhập, trợ cấp

Trang 37

cho việc cơ cấu sản xuất nông nghiệp và những khoản chi trả trực tiếp trongkhuôn khổ chương trình bảo vệ môi trường và hỗ trợ phát triển vùng.

_ Các biện pháp “hộp xanh lơ” (blue box): các chính sách hộp xanh lơ

là các khoản chi trả trực tiếp cho nông dân trong chương trình hàn chế sảnxuất, được tính dựa trên: diện tích sản xuất, đầu gia súc, và sản lượng nôngnghiệp Đây là những chính sách mà các nước phát triển thường áp dụng cho

để hỗ trợ cho nông dân Các chính sách thuộc biện pháp “hộp xanh lơ” cũngđược WTO cho phép áp dụng

_ Chương trình phát triển: là các chính sách hỗ trợ nhằm khuyếnkhích sản xuất Đây là các chính sách mà các nước đang phát triển đượcphép áp dụng mà không phải cắt giảm gì cả Đây là điều khoản đặc biệt dànhcho các nước đang phát triển và chậm phát triển

_ Các biện pháp “hộp vàng” (amber box) gồm trợ giá trực tiếp; cácthanh toán trực tiếp không phải là ngoại lệ; những biện pháp có ảnh hưởngthương mại trong nông nghiệp và yêu cầu phải cắt giảm nếu như các hỗ trợnày vượt quá một mức nào đó (gọi là mức tối thiểu – de minimis) Mức tốithiểu dành cho các nước đang phát triển là 10% giá trị sản lượng của sảnphẩm được hỗ trợ

* Về các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh và sức khỏe:

Hiệp định về biện pháp kiểm dịch vệ sinh dịch tễ (Sanitary andPhytosanitary Measures - SPS) của WTO xác định các nguyên tắc và quyđịnh về vệ sinh cũng như tiêu chuẩn, sản xuất khác đối với nông sản xuấtkhẩu WTO cho phép một nước có thể duy trì biện pháp SPS có mức bảo hộcao hơn mức độ bảo hộ của các tiêu chuẩn quốc tế và phải đưa ra bằngchứng khoa học nếu nước đó cho rằng mức độ bảo hộ cao hơn đó là phùhợp Mức độ bảo hộ phù hợp là phải dựa trên việc đánh giá rủi ro trong hoàn

Trang 38

cảnh nhất định, những bằng chứng về khoa học rõ ràng, các phương pháp vàquy trình sản xuất, sự hoành hành của sâu bệnh và dịch bệnh.

Những quy định của WTO về thương mại hàng nông sản đặt cơ sởcho việc xây dựng chính sách xuất khẩu nông sản của Việt Nam sau khi gianhập WTO Trong bốn vấn đề nêu trên, vấn đề đảm bảo tiêu chuẩn hóa cácsản phẩm nông sản Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc tế đang là vấn đề đặt racho chính sách xuất khẩu nông sản

1.2.1.2 Chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam sau khi sau khi gia nhập WTO

Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải tuân theo quy định chung củaWTO về xuất khẩu nông sản, cụ thể Việt Nam đã thực hiện các quy định nàynhư sau:

từ thời điểm gia nhập Thịt bò giảm từ 20% xuống còn 14% sau 5 năm

+ Biện pháp phi thuế: Tất cả các hàng rào phi thuế phải loại bỏ, trừ hạnngạch thuế quan áp dụng cho 4 nhóm sản phẩm là đường, trứng gia cầm, láthuốc lá và muối Việc quản lý xuất nhập khẩu các mặt hàng thuộc diện quản

lý chuyên ngành nông nghiệp (giống cây trồng, giống vật nuôi, thức ăn chăn

16 Theo sách “Cam kết về thuế quan và phi thuế quan trong nông nghiệp của Việt Nam gia nhập WTO”, trang 113.

Trang 39

nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệthực vật, lâm sản, động vật hoang dã và quý hiếm) đã phù hợp nên khôngphải điều chỉnh.

* Về hỗ trợ trong nước

Do phần lớn các chính sách hỗ trợ trong nước của ta trong thời gianqua đều nằm trong các nhóm được áp dụng (hộp xanh, chương trình pháttriển, nhóm hộp đỏ ở trong mức tối thiểu) nên cam kết về hỗ trợ trong nướccủa ta như sau:

- Nhóm hộp xanh: chúng ta được tự do áp dụng, không phải cam kết cắtgiảm

- Chương trình phát triển: chúng ta được tự do áp dụng, vì vậy cácchính sách khoa học, công nghệ và chính sách khuyến nông phục vụsản xuất nông sản hoàn toàn được phép duy trì sau khi gia nhập WTO

- Hộp hổ phách: cam kết áp dụng ở mức tối thiểu (10% giá trị sản lượngnông sản)

Vì vậy, các hình thức trợ giá đầu vào và đầu ra cho người sản xuấtnông sản xuất khẩu, chúng ta phải cam kết cắt giảm do các hình thức nàythuộc các hỗ trợ hộp hổ phách

* Về trợ cấp xuất khẩu

Nước ta cam kết không trợ cấp xuất khẩu ngay khi gia nhập, do vậycác hình thức hỗ trợ trực tiếp cho người xuất khẩu nông sản, gồm trợ giáxuất khẩu và thưởng xuất khẩu chúng ta phải xóa bỏ ngay lập tức Chúng tabảo lưu quyền được hưởng các ưu đãi đặc biệt và khác biệt dành cho cácnước đang phát triển trong lĩnh vực này, đó là hai hình thức trợ cấp cuốicùng trong 6 hình thức trợ cấp xuất khẩu theo WTO

Trang 40

Các chính sách xúc tiến thương mại để hỗ trợ xuất khẩu của chúng tatrước khi gia nhập WTO được phép áp dụng trong WTO, nên đây là nhữngbiện pháp trong tương lai cần tăng cường hơn nữa.

* Về quyền kinh doanh xuất khẩu

Ngoài các cam kết về mở cửa thị trường, trợ cấp xuất khẩu,… ViệtNam còn cam kết mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu, quyền phân phốicho các doanh nghiệp nước ngoài Riêng mặt hàng gạo, cam kết này sẽ đượcnới đến năm 2011 mới áp dụng Doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài khônghiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam vớiđiều kiện là phù hợp với thông lệ quốc tế Quyền xuất nhập khẩu chỉ làquyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu khôngbao gồm quyền phân phối trong nước

* Về vấn đề tiêu chuẩn an toàn vệ sinh và sức khỏe

Nước ta cam kết tuân thủ toàn bộ các quy định Hiệp định SPS kể từkhi gia nhập Đây là những cam kết đòi hỏi rất cao của các đối tác thươngmại Xét trong thực tế, chúng ta còn rất nhiều khó khăn trong việc thực hiệncam kết về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật (SPS) Vì chấtlượng sản phẩm nông sản chúng ta chưa đáp ứng được các tiêu chuẩnnghiêm ngặt theo quy định chung, thậm chí là tiêu chuẩn của chính ViệtNam, đặc biệt là trong lĩnh vực vệ sinh an toàn Công nghệ chế biến và thiết

bị sản xuất còn nghèo nàn, lạc hậu so với hệ thống sản xuất của các nướckhác trên thế giới

Trong các cam kết của Việt Nam với WTO, thì vấn đề về các tiêuchuẩn an toàn vệ sinh và sức khỏe là trở ngại khó khăn nhất đối với chúng

ta Vì các hỗ trợ chung cho nông nghiệp, cho sản phẩm hoặc vùng cụ thểkhông tính đến yếu tố xuất khẩu thì được tự do áp dụng (thuộc nhóm chínhsách “hộp xanh”) Ngay cả các chính sách liên quan đến trợ giá xuất khẩu bị

Ngày đăng: 12/08/2014, 22:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản - năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực việt nam sau 2 năm gia nhập wto thực trạng và giải pháp
Bảng 1 Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản (Trang 33)
Bảng 3: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam - năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực việt nam sau 2 năm gia nhập wto thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam (Trang 50)
Bảng 6: So sánh giá thành sản xuất chè  của Việt Nam với các đối thủ cạnh tranh - năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực việt nam sau 2 năm gia nhập wto thực trạng và giải pháp
Bảng 6 So sánh giá thành sản xuất chè của Việt Nam với các đối thủ cạnh tranh (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w