Nhận thấy đây là một vấn đề rất nóng tại Việt Nam hiện nay và trong những năm tới mà tôi đã chọn đề tài “Giải pháp huy động nguồn vốn tín dụng để phát triển cơ sở hạ tầng đô thị tại Việt
Trang 1Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học,độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và cónguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ THỊ HỒNG VÂN
Trang 2Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ VÀ NGUỒN
VỐN TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ 5
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG 5
1.1.1 Khái niệm đô thị và cơ sở hạ tầng đô thị 5
1.1.2 Đặc điểm cơ sở hạ tầng đô thị 6
1.1.3 Các nguồn vốn phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 7
1.2 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ 8
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm tín dụng và tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 8
1.2.2 Phân loại 13
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn tín dụng phát triển đô thị 16
1.3 KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC TRONG THU HÚT NGUỒN VỐN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ 19
1.3.1 Kinh nghiệm mở rộng tín dụng đô thị của Châu Âu 19
1.3.2 Nâng cao vai trò của các ngân hàng đầu tư phát triển 20
1.3.3 Tích cực phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư nhân trong huy động và phân phối tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 22
1.3.4 Đề cao vai trò tư vấn và trung gian thu xếp tài chính cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 23
1.3.5 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 25
Chương 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM 27
2.1 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM 27
2.2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ 30
2.2.1 Hiệu quả đầu tư thấp càng làm căn thẳng thêm tình trạng đói vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 31
2.2.2 Thực trạng cho vay ưu đãi của tín dụng nhà nước nhằm phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 34
2.2.3 Nguồn vốn ODA và cơ chế cho vay lại phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 38
Trang 32.2.6 Thực trạng huy động tín dụng thương mại cho phát triển cơ sở hạ tầng đô
thị Việt Nam 47
2.2.7 Hợp tác công - tư trong huy động tín dụng và các nguồn vốn khác cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 50
2.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 52
2.3.1 Những vấn đề đặt ra trong quá trình đô thị hoá 52
2.3.2 Những vấn đề đặt ra trong khu vực tín dụng nhà nước 54
2.3.3 Những vấn đề đặt ra trong khu vực tín dụng thương mại 58
2.3.4 Những vấn đề đặt ra trong khu vực tín dụng hỗn hợp 58
Chương 3 GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 60
3.1 DỰ BÁO XU HƯỚNG ĐÔ THỊ HÓA và nhu cẦU VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ GIAI ĐOẠN 2011-2020 60
3.1.1 Xu hướng đô thị hoá giai đoạn 2011 - 2020 60
3.1.2 Dự báo tổng nhu cầu vốn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 61
3.1.3 Dự báo nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị đến năm 2020 64
3.2 QUAN ĐIỂM 66
3.2.1 Quan điểm 1: Chính quyền địa phương chủ động tìm kiếm nguồn tài chính, không trông chờ vào ngân sách cấp trên 66
3.2.2 Quan điểm 2: Xây dựng mô hình thích hợp để huy động nguồn vốn tín dụng được nhiều nhất phù hợp với thực trạng Việt Nam 67
3.2.3 Quan điểm 3: Coi trọng phát triển tín dụng nhà nước nhưng không quên tín dụng thị trường cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 68
3.2.4 Quan điểm 4: Thúc đẩy, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 68
3.3 GIẢI PHÁP 69
3.3.1 Nhóm các giải pháp tăng cường huy động nguồn vốn tín dụng nhà nước
Trang 43.3.3 Đối với các cấp chính quyền địa phương 73 3.3.4 Nhóm các giải pháp tăng cường huy động nguồn vốn tín dụng ngân hàng
cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 77 3.3.5 Nhóm các giải pháp tăng cường huy động nguồn vốn tín dụng hỗn hợp
(nhà nước, doanh nghiệp, dân cư) cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 80
3.4 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN 86
3.4.1 Tiếp tục đẩy mạnh việc phân cấp quản lý kinh tế cho Chính quyền địa
phương 86 3.4.2 Hoàn thiện hệ thống khung pháp lý và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà
nước 87 3.4.3 Phát triển thị trường tài chính nhằm nâng cao khả năng luân chuyển và
huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 88 3.4.4 Ổn định kinh tế vĩ mô nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư
vào cơ sở hạ tầng đô thị 89
KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 5BIDV : Ngân hàng đầu tư và phát triển
CNH – HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoáDAĐT : Dự án đầu tư
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
ĐTPT : Đầu tư phát triển
UBND : Uỷ ban nhân dân
VDB : Ngân hàng phát triển Việt Nam WTO : Tổ chức thương mại thế giới
XDCB : Xây dựng cơ bản
Trang 6Bảng 2.1 Tốc độ đô thị hoá 29
Bảng 2.2 Hệ số ICOR ở Việt Nam 2001-2009 32
Bảng 2.3.Vốn điều lệ của các Quỹ Đầu tư phát triển địa phương đến 31/12/2009 44
Bảng 2.4: Vốn huy động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương 46
Bảng 3.1: Nhu cầu vốn cho CNH - HĐH đến năm 2020 63
Bảng 3.2: Nhu cầu vốn cho CSHT đô thị đến năm 2020 63
Bảng 3.3 : Tỷ lệ huy động vốn đầu tư so với GDP giai đoạn 1990 -2010 64
Bảng 3.4: Cơ cấu huy động vốn qua các thời kỳ 65
Bảng 3.5: Vốn cho phát triển CSHT đô thị theo từng nguồn 66
Bảng 3.6 - Ngành tài chính ở Việt Nam 78
Bảng 3.7 Trách nhiệm theo các phương án chủ chốt về sự tham gia của tư nhân .83
Trang 7Mô hình1.1: Mô hình cơ bản về tài chính phát triển đô thị 19
Mô hình 1.2: Vai trò của EIB đối với tài chính phát triển đô thị 21
Mô hình 1.3: Vai trò đồng tài trợ của EIB 22
Mô hình1.4 EIB là ngân hàng bán buôn 23
Mô hình1.5 Vai trò hỗ trợ kỹ thuật của EIB 24
Mô hình 1.6: Vai trò trung gian tài chính của EIB 25
Mô hình 2.1 Cơ chế bảo lãnh cho các dự án CSHTĐT vay vốn ngân hàng 36
Mô hình 2.2: Tài trợ vốn thông qua tín dụng ưu đãi 39
Đồ thị 2.1 - Cơ cấu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng 33
Đồ thị 2.2 Cơ cấu vốn đầu tư xã hội 37
Đồ thị: 2.3: Tăng trưởng tín dụng từ tháng 1/2009 đến T2/2010 49
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nền kinh tế Việt Nam đang trải qua hai quá trình chuyển đổi lớn chuyển đổi từ nền tảng nông thôn sang nền tảng đô thị và từ nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường Cả hai chiềuhướng này đang hỗ trợ và củng cố cho nhau Sự tăng trưởng kinh tế của ViệtNam trong tương lai phụ thuộc nhiều vào khả năng phát triển các lĩnh vựccông nghiệp và dịch vụ theo cơ chế thị trường mang tính cạnh tranh Đóchính là quá trình CNH - HĐH và chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệpsang công nghiệp định hướng xã hội chủ nghĩa, về cơ bản nước ta trở thànhnước CNH vào năm 2020 Trong quá trình đó, các đô thị Việt Nam đã đónggóp khoảng 70% tổng sản lượng kinh tế Những cơ hội kinh tế ở các khu đôthị đang làm gia tăng nhanh chóng dân số đô thị, trong đó có phần đáng kểdân di cư từ nông thôn ra thành thị Sự gia tăng dân số đô thị đó vừa tạo ratriển vọng tăng trưởng kinh tế vừa đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết về cơ
-sở hạ tầng đô thị
Hiện tại, Việt Nam đang ở vào một thời điểm rất quan trọng, thời điểm
mà quá trình phát triển liên tục và những tiến bộ đầy ấn tượng trong vấn đềxoá đói giảm nghèo phụ thuộc vào sự phát triển ổn định lâu dài của đất nước
Cơ sở hạ tầng đầy đủ là mấu chốt quan trọng cho xoá đói giảm nghèo, nângcao chất lượng cuộc sống và tạo đà phát triển kinh tế bền vững Phát triển đấtnước phụ thuộc vào quản lý hiệu quả quá trình đô thị hoá, phi tập trung hoámạnh mẽ hơn nữa, và phụ thuộc vào việc cung cấp các khả năng tiếp cận đếncác hạ tầng cơ sở cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và nâng cao chấtlượng cuộc sống cho người dân đô thị
Quá trình đô thị hoá có quan hệ biện chứng tích cực với tăng trưởng vàphát triển kinh tế xã hội Đô thị hoá được quản lý tốt và được thực hiện một
Trang 9cách có hiệu quả sẽ là cơ sở tốt nhất và bền vững nhất tạo ra tốc độ tăngtrưởng cao, thúc đẩy kinh tế xã hội tăng trưởng bền vững và ngược lại Nếu
cơ sở hạ tầng đô thị không có được quy hoạch tốt, không được đầu tư đúngmức thì tăng trưởng sẽ không bền vững, chất lượng cuộc sống không đượcđảm bảo, đồng thời phát triển kinh tế xã hội không được như mong muốn
Vì vậy, cần có một chính sách đô thị đúng đắn và thực tế để dung hoà tăngtrưởng và giải quyết những hậu quả của đô thị hoá Đối với Việt Nam,những thách thức đặc thù đã nảy sinh từ quá trình đô thị hoá thể hiện ởnhững điểm sau:
- Thực tế phát triển đô thị hoá ở Việt Nam cho thấy hầu hết các đô thịđều thiếu cơ sở hạ tầng cơ bản: Chỉ có khoảng 65% cư dân đô thị có nướcmáy dùng; rất ít thành phố có hệ thống xử lý nước thải và phương tiện xử lýchất rắn an toàn, dịch vụ giao thông rất hạn chế
- Môi trường các đô thị bị xuống cấp nghiêm trọng và các vấn đề sứckhoẻ nảy sinh do thiếu xử lý chất thải sinh hoạt và do đổ thải bừa bãi các chấtthải công nghiệp
- Sự gia tăng xe gắn máy và tắc nghẽn giao thông đang ảnh hưởngnghiêm trọng đến giao thông đô thị và làm gia tăng ô nhiễm không khí Điều
đó không những làm gia tăng chi phí xã hội mà còn làm giảm chất lượngcuộc sống
- Trên thực tế, tăng trưởng có quy hoạch cũng như không có quy hoạchđang bùng nổ ở các vùng ven đô, nơi thường chưacó đầy đủ các dịch vụ hạtầng Xây dựng cơ sở hạ tầng cho những công trình thiếu quy hoạch thườngtốn kém hơn rất nhiều so với việc xây dựng các cơ sở này ngay từ đầu, như làmột phần hợp nhất của công trình phát triển
Với tốc độ đô thị hoá như hiện nay thì tình trạng thiết hụt cơ sở hạ tầng
đô thị là một điều tất yếu tại hầu hết các địa phương trong cả nước Do vậy,
Trang 10một yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một cách đồng bộ có hệ thống các côngtrình cơ sở hạ tầng đô thị, các dịch vụ đô thị để đáp ứng nhu cầu của cư dân
đô thị Để làm được điều này cần huy động được tổng lực các nguồn vốntrong đó có nguồn vốn tín dụng cho phát triển CSHTĐT bởi nhu cầu vốn chophát triển CSHTĐT là rất lớn Nhận thấy đây là một vấn đề rất nóng tại Việt
Nam hiện nay và trong những năm tới mà tôi đã chọn đề tài “Giải pháp huy
động nguồn vốn tín dụng để phát triển cơ sở hạ tầng đô thị tại Việt Nam trong giai đoạn mới” làm luận văn tốt nghiệp khoá học Thạc sỹ kinh tế của
mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những vấn đề lý luận vàthực tiễn huy động vốn tín dụng để phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Việt Nam,đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút tối đa các nguồn tín dụngphát triển cơ sở hạ tầng đô thị Để đạt được mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về đô thị hoá và việc huy độngvốn tín dụng cho đô thị hoá
- Trên cơ sở mô tả tốc độ đô thị hoá hiện nay; tình trạng cơ sở hạ tầngtại các đô thị hiện tại để làm rõ vị trí, vai trò, sự cần thiết của việc huy độngvốn tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Việt Nam trong giai đoạn tới
- Đánh giá thực trạng huy động các nguồn vốn cho phát triển cơ sở hạtầng đô thị trong thời gian qua và xu hướng phát triển của các nguồn vốn nóichung và nguồn vốn tín dụng nói riêng trong thời gian tới dành cho phát triển
cơ sở hạ tầng đô thị
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường các nguồn vốn tín dụng pháttriển cơ sở hạ tầng đô thị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động huy động vốn tín dụng
Trang 11phát triển cơ sở hạ tầng đô thị trong quá trình đô thị hoá ở Việt Nam Trênthực tế, đối tượng nghiên cứu của đề tài là rất rộng bởi CSHT đô thị bao gồmrất nhiều lĩnh vực kể cả cơ sở hạ tầng “cứng” như giao thông, điện, cấp thoátnước, xử lý rác thải ; và cơ sở hạ tầng “mềm” như giáo dục, y tế, vệ sinh môitrường Hơn nữa quá trình đô thị hoá ở Việt Nam cũng đã bắt đầu từ lâu, diễn
ra trên tất cả 63 tỉnh thành phố trên cả nước Các hình thức tín dụng phát triển
cơ sở hạ tầng đô thị cũng rất đa dạng Do đó, trong khuôn khổ nghiên cứu củamột luận văn cao học không thể đi sâu nghiên cứu chuyên về một hình tíndụng cụ thể cho một loại cơ sở hạ tầng cụ thể được Bởi vậy, đối tượngnghiên cứu của đề tài cũng sẽ được giới hạn ở các nguồn vốn tín dụng pháttriển cơ sở hạ tầng đô thị nói chung ở Việt Nam, tầm nhìn 2020
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Về mặt lý luận: Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về đô thịhoá nói chung, và các nguồn vốn tín dụng có thể huy động được cho pháttriển cơ sở hạ tầng
Về mặt thực tiễn: Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng huy động cácnguồn tài chính cho cơ sở hạ tầng các đô thị Việt Nam trong những năm qua.Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm huy động được nhiều hơn cácnguồn vốn tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng đô thị trong giai đoạn 2011 - 2020
5 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài được trình bày theo
ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về cơ sở hạ tầng đô thị và nguồn vốn tín dụng đểphát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Chương 2: Thực trạng huy động nguồn vốn tín dụng phát triển cơ sở hạtầng đô thị tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp huy động nguồn vốn tín dụng để phát triển cơ sở
Trang 12hạ tầng đô thị tại Việt Nam.
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
VÀ NGUỒN VỐN TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN
CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG
Có nhiều khái niệm khác nhau về đô thị nhưng một cách chung nhất
“Đô thị” được hiểu là điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triểnkinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp, quy
mô dân số phải đạt được một mức độ nhất định với tỷ lệ lao động trong lĩnhvực phi nông nghiệp cao
Đô thị gồm: Thành phố, thị xã và thị trấn Song tuỳ từng nước sẽ cóphân loại khác nhau, có nước chia thành phố thành nhiều loại như thành phốđặc biệt, thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố trực thuộc tỉnh… Ngoài
ra việc phân loại đô thị còn phụ thuộc vào chính sách phát triển đô thị củaChính phủ trong từng thời kỳ
Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm: hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội
- Hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước
- Hệ thống quản lý các chất thải, vệ sinh môi trường
- Hệ thống nghĩa trang
- Các công trình hạ tầng kỹ thuật khác
Trang 13Hạ tầng xã hội đô thị bao gồm các công trình sau:
- Các công trình nhà ở
- Các công trình công cộng, dịch vụ, y tế, văn hoá, giáo dục, thể dục thểthao, thương mại và các công trình dịch vụ đô thị khác
- Các công trình quảng trường, công viên, cây xanh, mặt nước
- Các công trình cơ quan hành chính đô thị
- Các công trình hạ tầng xã hội khác
Để được gọi là đô thị thực sự thì đô thị đó phải hội tụ được đầy đủ cáccông trình và hạng mục nêu trên và việc đầu tư, xây dựng, hoàn thiện hệthống các công trình đô thị là phần cơ bản cốt lõi nhất quyết định chất lượnghiệu quả của việc đầu tư phát triển đô thị
Đầu tư phát triển đô thị nói chung hay đầu tư xây dựng các công trình
cơ sở hạ tầng nói riêng có những đặc điểm chủ yếu sau:
Một là: Đầu tư vào cơ sở hạ tầng đô thị đòi hỏi một lượng vốn rất lớn,
hơn nữa đầu tư vào lĩnh vực này là tạo ra một hoá công cộng, do vậy khi xemxét đầu tư vào các dự án này chính quyền địa phương thường đặt lợi ích kinh
tế xã hội lên trên, có tính đến lợi ích kinh tế Nghiên cứu đặc điểm này để cónhững phương pháp thích hợp nhằm đa dạng hoá các nguồn vốn huy độngphát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Hai là: Cơ sở hạ tầng đô thị thường là những công trình ngoài trời do
vậy chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố tự nhiên như địa chất, khí hậu…nên trong xây dựng các công trình thường phát sinh tăng các chi phí bất khảkháng, dẫn đến làm tăng tổng mức đầu tư, tăng giá công trình xây dựng Từđặc điểm này đòi hỏi phải chú ý nâng cao chất lượng khâu khảo sát, thiết kế,quy hoạch tăng cường giám sát chất lượng công trình để hạn chế thất thoát,
Trang 14lãng phí.
Ba là: Thời gian cần thiết để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng đô
thị thường kéo dài và phải thi công liên tục Tiến độ xây dựng công trìnhnhiều khi không ăn khớp với kế hoạch bố trí vốn, dễ làm phát sinh nợ xâydựng cơ bản, công tác quản lý trong quá trình đầu tư gặp nhiều khó khăn, dễlãng phí về vật tư, lao động và nguồn vốn Do vậy đòi hỏi các cơ quan Nhànước phải nghiên cứu để đưa ra các phương thức thanh toán thích hợp, nếukhông sẽ làm cho các đơn vị thi công dễ gặp phải rủi ro ngẫu nhiên theo thờigian như thời tiết, lãi suất, tỷ giá Trong công tác chỉ đạo thi công cần kiênquyết thực hiện đúng tiến độ xây dựng từng hạng mục công trình cũng nhưtoàn bộ công trình để nhanh chóng đưa công trình vào khai thác sử dụng
Bốn là: Đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng đô thị là hoạt động
đầu tư mang tính liên ngành Vì vậy, khi tiến hành hoạt động phải có sựliên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư.Mặt khác, phải quy định rõ phạm vi, trách nhiệm của các chủ thể tham giaquá trình đầu tư
Lý luận cũng như thực tiễn đều chỉ rõ các nguồn vốn có thể huy độngđược cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm:
NSNN cấp, bao gồm NSTW và NSĐP
Các nguồn ODA ngân sách vay ưu đãi từ nước ngoài về cho cácđịa phương hoặc các đơn vị có trách nhiệm phát triển cơ sở hạtầng đô thị vay lại để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Các nguồn tín dụng (thường là tín dụng ưu đãi) do nhà nướchoặc các cấp chính quyền địa phương huy động cho phát triển cơ
sở hạ tầng đô thị
Các nguồn tín dụng thường xuyên do các ngân hàng thương mại
Trang 15huy động và cho vay phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Nguồn tíndụng này thường được gọi là tín dụng thương mại, với các điềukiện vay và lãi suất thị trường
Các nguồn tín dụng do các doanh nghiệp huy động và sử dụngcho mục đích phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Các nguồn tín dụng hoặc đóng góp tự nguyện mang tính chất hỗnhợp giữa “khu vực công” và “khu vực tư” vì mục đích huy động
và sử dụng vốn phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Tùy từng hoàn cảnh điều kiện lịch sử khác nhau, tùy trình độ phát triểnKT-XH khác nhau, tùy theo bối cảnh từng nước từng địa phương, tùy thuộcquan điểm chính sách khác nhau của các cấp chính quyền mà từng nước, từngđịa phương có những chính sách và cơ chế huy động, phân phối và sử dụngmột hay nhiều nguồn vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị phù hợp với giaiđoạn lịch sử đó của mình
1.2 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN TÍN DỤNG PHÁT
TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
triển cơ sở hạ tầng đô thị
Khái niệm
Trong nền sản xuất hàng hoá, tín dụng được biểu hiện trước hết là sựvay mượn tạm thời một số vốn tiền tệ hay tài sản mà nhờ đó người đi vay cóthể sử dụng được một lượng giá trị trong một thời gian nhất định Sau mộtthời gian nhất định, theo thoả thuận, người đi vay hoàn trả lại một giá trị lớnhơn cho người cho vay Phần tăng thêm đó là lợi tức tín dụng Như vậy, quan
hệ tín dụng là một loại quan hệ xã hội biểu hiện mối liên hệ kinh tế, mà trướchết dựa vào lòng tin Tín dụng từ xa xưa vẫn dựa trên cơ sở lòng tin và ngày
Trang 16nay nó còn được pháp luật bảo hộ.
Hoạt động của tín dụng gồm hai quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tíndụng hay còn gọi là huy động vốn và cho vay
Quỹ tín dụng (quỹ cho vay) có đặc trưng cơ bản là:
- Mục đích sử dụng quỹ tín dụng là cho vay nhằm thoả mãn nhu cầuvốn tạm thời cho sản xuất và đời sống
- Biểu hiện vật chất của quỹ tín dụng vừa dưới hình thức hàng hoá,vừa dưới hình thức tiền tệ, trong đó hình thức tiền tệ là chủ yếu
- Vận động của quỹ tín dụng theo nguyên tắc hoàn trả và có lợi tức
Như vậy, có thể khẳng định Tín dụng là sự chuyển giao có thời hạn quyền sử dụng một lượng vốn, dưới hình thức hiện vật hoặc tiền tệ, từ người
sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn.
Như vậy, tín dụng chính là quan hệ vay - trả Trong quan hệ vay - trả
đó, có thể người sử dụng phải trả lãi hoặc không phải trả lãi nhưng phần gốcphải trả đủ cho chủ sở hữu
Tùy theo các điều kiện và phương thức vay - trả khác nhau mà thời hạn,cách thức, tiến độ, vay, lãi suất vay trả khác nhau
Tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng đô thị là một hình thức tín dụngnhằm mục đích huy động, phân phối và sử dụng vốn cho phát triển cơ sở hạtầng đô thị
Vì cơ sở hạ tầng đô thị có 2 đặc thù là chủ yếu phục vụ công cộng vàthời gian thi công, sử dụng lâu dài nên các nguồn vốn tín dụng phát triển cơ
sở hạ tầng đô thị thường là dài hạn, và ở trong một chừng mực phát triển nhấtđịnh thì thường được ưu đãi hơn các nguồn tín dụng khác
Đặc điểm tín dụng nói chung
Đặc điểm thứ nhất: Chuyển giao vốn trong quan hệ tín dụng chỉ
chuyển giao quyền sử dụng, không chuyển giao quyền sở hữu
Trang 17Đây là đặc điểm cơ bản nhất của tín dụng Hoạt động tín dụng nảy sinhlàm xuất hiện sự vận động độc lập tương đối giữa quyền sở hữu và quyền sửdụng vốn vay Nói cách khác, quan hệ tín dụng không bao hàm sự vận độngquyền sở hữu vốn vay, điều này quyết định tính hoàn trả của tín dụng Khingười sở hữu vốn vay (người cho vay) chuyển vốn vay cho người cho vay,người đi vay không được quyền sở hữu vốn vay mà chỉ được quyền sử dụngvốn vay trong một thời gian nhất định, sau đó phải hoàn trả lại số vốn đó chongười cho vay Vậy, khi vốn vay được chuyển giao cho người đi vay thì kèmtheo đó là sự chuyển quyền sử dụng vốn vay chứ không chuyển quyền sở hữuvốn vay Nói cách khác, quyền sở hữu vốn vay vẫn không thay đổi.
Đặc điểm thứ hai: Quan hệ tín dụng là quan hệ phân phối tài chính
nhưng đó là quan hệ phân phối tài chính mang tính chất hoàn trả
Đặc điểm bao trùm của tín dụng thể hiện ở chỗ quan hệ tín dụng làquan hệ phân phối tài chính nhưng phân phối của tín dụng mang tính hoàn trả
Tính hoàn trả của tín dụng thể hiện là lượng vốn được chuyểnnhượng phải được hoàn trả đúng thời hạn cả về thời gian và giá trị, baogồm cả gốc và lãi
Tính hoàn trả không tự nó xuất hiện mà dựa vào quá trình vận động và
sự kết thúc tuần hoàn vốn Quá trình vận động tín dụng được thể hiện qua cácgiai đoạn sau:
Phân phối tín dụng: Giai đoạn này vốn vay (hàng hoá hoặc tiền tệ)
chuyển từ người cho vay sang người đi vay kèm theo quyền sử dụng vốn vaychuyển từ người cho vay sang người đi vay
Sử dụng tín dụng: Sau khi nhận được vốn vay, người đi vay được
quyền sử dụng vốn vay theo mục đích nhất định để sản xuất hoặc tiêu dùng.Tuy nhiên người đi vay không có quyền sở hữu vốn vay mà chỉ được sử dụng
Trang 18tạm thời vốn vay trong một thời gian nhất định.
Hoàn trả tín dụng: Người đi vay phải hoàn trả lại người cho vay số vốn
vay ban đầu Đây là giai đoạn kết thúc vòng tuần hoàn của tín dụng Khiquyền sử dụng và quyền sở hữu vốn vay cùng thuộc về chủ thể cho vay thìvốn tín dụng hoàn thành một chu kỳ luân chuyển
Thời gian hoàn trả tín dụng (chu kỳ luân chuyển tín dụng) phụ thuộcvào mục đích, đặc điểm tuần hoàn vốn vay cũng như phụ thuộc vào điều kiệnvay vốn
Đặc điểm thứ ba: Chi phí sử dụng vốn vay chính là lãi suất tín dụng
Lãi suất là một loại giá cả đặc biệt trong hoạt động tín dụng
Vốn là một loại hàng hoá có giá trị và giá trị sử dụng được mua bántrên thị trường vốn Nhưng khác với hàng hoá thông thường, giá cả phản ánh
và xoay quanh giá trị của hàng hoá, giá cả của vốn tín dụng - lãi suất thì phảnánh giá trị sử dụng vốn trong khoảng thời gian nhất định Bởi vậy, giá cả củavốn tín dụng được coi là giá loại giá cả đặc biệt
Đặc điểm tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng đô thị không chỉ chứa đựng đầy đủcác đặc điểm phổ quát chung của tín dụng, mà còn có những đặc điểm mangtính đặc thù của tín dụng dành cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Thứ nhất: Nguồn vốn tín dụng để phát triển cơ sở hạ tầng đô thị là nguồn vốn
Trang 19vụ đối với ngân hàng là rất cao, đó là khả năng khách hàng không trả, khôngtrả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng Điều này có thể dẫn đến cáckhoản nợ khác chưa đến hạn cũng được coi là rủi ro, rất dễ xảy ra rủi ro vềthanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
Thứ ba: Điều kiện cấp nguồn vốn tín dụng để phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
thường được ưu đãi hơn so với các nguồn vốn tín dụng khác.
Để phát triển CSHT đô thị chính quyền tỉnh, thành phố thường có nhiềubiện pháp để thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư do vậy thường dành rấtnhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư khi họ tham gia vào lĩnh vực này Như ưu đãi
về lãi suất vay - hỗ trợ lãi suất cho vay hoặc cho vay lại vốn vay ưu đãi củanước ngoài, bảo lãnh cho các doanh nghiệp được vay vốn tại các tổ chức tíndụng mà không cần phải thực hiện các điều kiện đảm bảo theo quy định củangân hàng, ưu đãi về thời gian vay và trả nợ Những ưu đãi này được đưa ragiúp cho các nhà đầu tư có thể dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng,
Trang 20từ đó khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào lĩnh vực đầy rủi ronày, giảm bớt gánh nặng về tài chính cho chính phủ, cũng như chính quyềnđịa phương.
Thứ tư: Việc đánh giá hiệu quả nguồn vốn tín dụng để phát triển cơ sở hạ tầng
đô thị thường nhìn trên góc độ hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp và dài hạn.
Như đã nói ở trên nguồn vốn tín dụng để phát triển CSHT đô thị là dàihạn nên hiệu quả của nguồn vốn tín dụng này cũng chậm phát huy tác dụng.Hơn nữa, các dự án CSHT đô thị được đầu tư không thể định lượng được trựctiếp và chính xác lợi ích mà nó tạo ra nên cần đánh giá hiệu quả vốn đầu tưtrên góc độ hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp và dài hạn Khi đưa ra quyếtđịnh cho mỗi dự án đầu tư cần xem xét hiệu quả với một cách nhìn toàn diện,xem xét hiệu quả kinh tế cần đi đôi với hiệu quả xã hội Kết hợp lợi ích trướcmắt với lợi ích lâu dài, lợi ích cục bộ của từng bộ phận với lợi ích tổng thểcủa toàn xã hội Hiệu quả kinh tế xã hội luôn gắn liền với nhau, tác động trựctiếp đến chính sách huy động và sử dụng vốn
Có nhiều cách khác nhau để phân loại tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng
đô thị nhưng nhìn chung có thể phân loại theo các tiêu thức chủ yếu sau:
- Theo chủ thể cho vay vốn
- Theo hình thức vay vốn
- Theo mức độ ưu đãi
- Theo lãnh thổ
- Theo phân cấp quản lý
- Theo điều kiện vay vốn
- Theo thời hạn vay
Trang 21Tuy nhiên trong khuôn khổ của luận văn chỉ đi sâu vào tìm hiểu cácnguồn vốn tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng theo ba cách phân loại đầu
Theo chủ thể cho vay vốn có tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng và
tín dụng hỗn hợp giữa khu vực công và khu vực tư trong việc cung cấp nguồnvốn tín dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Vốn tín dụng nhà nước.
Tín dụng nhà nước là hoạt động vay trả giữa Nhà nước với các tác nhânhoạt động trong nền kinh tế, phục vụ cho mục đích quản lý vĩ mô nền kinh tếcủa Nhà nước Đặc điểm cơ bản của tín dụng nhà nước là điều kiện cấp tíndụng ưu đãi
Tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là các quan hệ vay mượn vốn tiền tệ phát sinh giữacác ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế theo các nguyêntắc của tín dụng Đặc điểm cơ bản của tín dụng ngân hàng là cho vay nhằmmục đích thu lợi, do vậy tín dụng ngân hàng không quan tâm đến lĩnh vực đầu
tư của chủ thể vay vốn mà chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế của dự án đầu tưcũng như năng lực kinh tế của chủ thể đầu tư
Tín dụng hỗn hợp.
Tín dụng hỗn hợp là nguồn tín dụng có sự tham gia đồng thời của Nhànước và khu vực tư nhân dựa trên một hợp đồng trong đó phân định rõ chứcnăng, quyền hạn cũng như trách nhiệm của mỗi bên
Đặc điểm cơ bản của tín dụng hỗn hợp là huy động được sự tham giacủa các thành phần kinh tế khác vào các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, cùngnhà nước chia sẻ những rủi ro, giảm bớt gánh nặng về tài chính cho nhà nướctrong lĩnh vực cơ sở hạ tầng
Theo hình thức vay: Xét theo tiêu chí này các cấp chính quyền Trungương và địa phương thường phát hành trái phiếu để thực hiện các kế hoạch
Trang 22huy động vốn tín dụng cho phát triển đô thị Hiện nay đang tồn tại các dạng:Trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình.
Trái phiếu chính phủ.
Là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắpthâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích hoặc làm công cụ điềutiết tiền tệ Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanhtoán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao
Trái phiếu thu nhập hay trái phiếu công trình.
Là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho những mục đích
cụ thể, thường là để xây dựng những công trình cơ sở hạ tầng hay công trìnhphúc lợi công cộng Trái phiếu này có thể do chính phủ trung ương hoặcchính quyền địa phương phát hành
Trái phiếu công trình có lãi và gốc được trả dựa theo thu nhập của côngtrình mà trái phiếu tài trợ, ví dụ dễ thấy nhất của loại trái phiếu này là tráiphiếu tài trợ cho các dự án về cầu đường có thu phí, các chương trình pháttriển nhà ở, mở rộng bến cảng, sân bay, các công trình cơ sở hạ tầng
Trái phiếu công trình là loại trái phiếu dài hạn và có những tính chấtchung của chứng khoán, đó là tính thanh khoản (chuyển nhượng, mua bán;tính rủi ro; và tính sinh lời) Với những tính chất này trái phiếu công trình trởthành công cụ rất có hiệu quả để các chính quyền địa phương và trung ươngthu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để phục vụ cho đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng của địa phương Điều quan trọng là chủ thể phát hành cần chủđộng xây dựng chiến lược phát hành trái phiếu có hiệu quả và phải chứngminh cho các nhà đầu tư về tính hiệu quả của dự án cần huy động vốn; đưa ramức sinh lời hấp dẫn mà trái phiếu tạo ra; tạo ra nhiều tiện ích đáp ứng đượcyêu cầu của nhà tài trợ
Theo tính mức độ ưu đãi
Theo cách phân loại này thì nguồn vốn tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng
Trang 23đô thị được chia thành: Tín dụng ưu đãi và tín dụng thương mại.
Tín dụng ưu đãi là khoản tín dụng được cấp cho đối tượng được hưởng
với lãi suất hoặc thời gian, hoặc điều kiện vay ưu đãi
Tín dụng ưu đãi gồm có: Tín dụng đầu tư và vay lại vốn vay ưu đãi củachính phủ
Tín dụng ưu đãi được cấp cho các đối tượng có danh mục đầu tư thuộclĩnh vực được nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển, thông thường lãi suấtcho vay của tín dụng đầu tư thường thấp hơn lãi suất cho vay của các ngânhàng hoặc các tổ chức tín dụng
Với đặc điểm là lãi suất của tín dụng ưu đãi thấp hơn lãi suất thị trường,hoặc các doanh nghiệp được bão lãnh vay vốn trên thị trường vốn mà khôngcần phải thế chấp, được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, tín dụng ưu đãi có tác dụngrất lớn trong việc thu hút được sự quan tâm của thành phần tư nhân vào lĩnhvực đầy khó khăn này, làm giảm gánh nặng cho NSNN, đảm bảo được sựphát triển ngày càng cao của các khu đô thị
Tín dụng thương mại là khoản tín dụng được cấp cho các đối tượng vay
vốn với điều kiện thị trường
Nguồn vốn tín dụng thương mại do các tổ chức tín dụng trong và ngoàinước, các tổ chức và chính phủ nước ngoài cấp cho các doanh nghiệp, chínhquyền địa phương có nhu cầu vay vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn tín
dụng phát triển đô thị
Chiến lược phát triển và quy hoạch đô thị.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể sẽ có chiến lược phát triển kinh tếcũng như chiến lược phát triển đô thị cụ thể Trong quá trình hoạch định chiếnlược, vấn đề đặt ra là phải hoạch định nhu cầu vốn đầu tư, tập trung nguồn lực
để thực thi cho được chiến lược phát triển đã vạch ra Do đó khi điều chỉnh
Trang 24hoặc chuyển hướng chiến lược phát triển kinh tế thì phải điều chỉnh phươnghướng, chiến lược huy động, đầu tư vốn cho phù hợp với tình hình mới.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã hoạch định chiến lượcphát triển đô thị Chiến lược đầu tư, tạo lập môi trường đầu tư, môi trườngpháp luật, ổn định chính trị- xã hội ở nước ta trong suốt thời gian qua là điềukiện thuận lợi cho các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn ra đầu tư Tất nhiên, ổn địnhchính trị mới chỉ là điều kiện cần để hấp dẫn các nhà đầu tư Điều kiện đủphải bao hàm tổng thể các nhân tố: Môi trường kinh doanh thuận lợi, môitrường pháp lý thông thoáng, tạo ra một sân chơi bình đẳng khuyến khích cácnhà đầu tư bỏ vốn đầu tư, thông qua đó làm tăng lượng vốn đầu tư vào cơ sở
hạ tầng đô thị, thực hiện mục tiêu phát triển đô thị đã đề ra Nếu chiến lược và
quy hoạch kém sẽ gây ra tình trạng lãng phí, đầu tư không hiệu quả do đó gây
khó khăn cho việc huy động vốn
Khả năng cung ứng của nền kinh tế.
Nhu cầu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng đô thị là rất lớn do vậy phải huyđộng vốn từ nhiều nguồn khác nhau mới có thể đáp ứng được yêu cầu Trênthực tế, nhu cầu vốn đầu tư thường được hoạch định theo ý muốn chủ quanchủ thể kinh tế Nhưng khả năng cung ứng của các nguồn vốn lại mang tínhchất khách quan, quyết định quy mô, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động.Trong trường hợp nhu cầu vốn lớn, mà khả năng cung ứng vốn hạn hẹp thì sẽkhông đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư và ngược lại
Theo các nhà kinh tế và thực tế ở nước ta cho thấy khả năng cung ứngmột nền kinh tế lại phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Tiềm năng của một quốc gia: Tiềm năng được thể hiện ở các nguồn lực
kinh tế (tài nguyên thiên nhiên, lao động, khoa học- công nghệ, các nguồn tài
Trang 25chính…), sự ổn định về chính trị- xã hội….Bằng sự tác động có mục đích củacác chủ thể kinh tế, tiềm năng của quốc gia sẽ vận động, biến đổi, chuyển hoáthành các luồng vốn đầu tư và hình thành tiềm lực kinh tế của quốc gia đó.
Quy mô và trình độ phát triển kinh tế của đất nước: Đây chính là nhân
tố cơ bản nhất, có tính chất quyết định khả năng huy động vốn đầu tư chophát triển cơ sở hạ tầng đô thị Nền kinh tế phát triển ở trình độ tiên tiến, tiềmlực kinh tế của các chủ thể kinh tế mạnh sẽ có điều kiện để duy trì được tốc
độ tăng trưởng nền kinh tế cao và ổn định, thúc đẩy tích luỹ nội bộ sẽ tăngcường huy động vốn đầu tư phát triển Và ngược lại, trình độ phát triển củanền kinh tế thấp rất khó duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và khôngthể đẩy mạnh được quá trình tích luỹ vốn đầu tư
Sự trưởng thành của hệ thống tài chính: Sự trưởng thành của hệ thống
tài chính không chỉ được coi là tiêu thức quan trọng đánh giá sự phát triển củanền kinh tế mà còn là nhân tố cơ bản thúc đẩy quá trình huy động vốn Một hệthống tài chính mạnh sẽ thực hiện nhiệm vụ “bơm- hút” có hiệu quả các luồngvốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng Ngược lại, hệ thống tài chính yếu kém sẽ hạnchế công tác huy động vốn
Như vậy, tiềm năng, quy mô và trình độ phát triển kinh tế của đất nước,
sự trưởng thành của hệ thống tài chính là những nhân tố trực tiếp, có tác độngmạnh đến khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế nói chung và phát triển cơ
sở hạ tầng đô thị nói riêng
Cơ chế, chính sách kinh tế vĩ mô.
Cơ chế và chính sách kinh tế vĩ mô đóng vai trò rất quan trọng trongphát triển cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng đô thị nói riêng Cơ sở hạtầng đô thị với những đặc điểm riêng có như vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tưxây dựng kéo dài, rất khó thu hồi chi phí, do vậy việc huy động các thànhphần kinh tế khác ngoài nhà nước đầu tư vào lĩnh vực này là rất khó nếu
Trang 26không có một cơ chế thích hợp Để thu hút được sự tham gia của khu vực tưnhân vào lĩnh vực này thì nhà nước bên cạnh việc đảm bảo lợi ích xã hội cầnphải tính đến lợi ích kinh tế của các dự án, đảm bảo cho doanh nghiệp khitham gia đầu tư vào lĩnh vực này có thể thu hồi được chi phí bỏ ra bằng cácphương thức như bảo lãnh hoặc trợ cấp cho doanh nghiệp Các chính sách đưa
ra cần phải đồng bộ và nhất quán để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệptrong quá trình đầu tư xây dựng
1.3 KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC TRONG THU HÚT NGUỒN VỐN
PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
Âu
Nhận thức được ý nghĩa to lớn của phát triển cơ sở hạ tầng đô thị vớiphát triển kinh tế- xã hội nên các nước trên thế giới đều rất quan tâm đếnchính sách tạo nguồn và huy động vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế,đặc biệt là trong cơ sở hạ tầng kinh tế đô thị Nói đến thành tựu đạt đượctrong lĩnh vực cơ sở hạ tầng đô thị, chúng ta không thể không kể đến cácnước Châu Âu Từ hệ thống giao thông, xe điện ngầm, hệ thống cây xanh,chiếu sáng, công viên, trường học… tất cả đều khiến chúng ta phải ngưỡng
mộ Vậy do đâu mà các nước châu Âu có được thành tựu to lớn như vậy Quanghiên cứu chúng ta thấy rằng chính quyền địa phương có vai trò quan trọngnhất trong việc đề xuất các dự án phát triển đô thị Việc giảm thuế trên địabàn và cắt giảm trợ cấp nhà nước buộc các chính quyền địa phương phải dựavào thị trường vốn Như ở Phần Lan và Italy chính quyền các thành phố có uytín rất lớn, cho phép họ huy động vốn trên thị trường để phát triển đô thị bằngcách phát hành trái phiếu đô thị
Mô hình1.1: Mô hình cơ bản về tài chính phát triển đô thị
Phía cung Phía cầu
Trang 27Tại Châu Âu, vai trò của chính quyền địa phương đang giảm dần do vaitrò của các cơ quan công tư hỗn hợp ngày càng tăng Những cơ quan này nổilên tại tất cả các nước, bao gồm cơ quan phát triển vùng, các công ty đô thị vàcông ty nhà ở công Tại Châu Âu trước đây, sở hữu tư nhân thường có vai tròhạn chế trong việc phát triển đô thị, nhưng ngày nay bắt đầu đóng vai trò tăngdần, nhất là trong việc tái thiết đô thị.
Ngược lại với trợ cấp nhà nước, các nguồn vốn cho vay và vốn tư nhânrất dồi dào, nên về nguyên tắc là không thiếu nguồn vốn cho phát triển đô thị,nhưng nguồn vốn này không sẵn sàng cung cấp.Kết quả nghiên cứu cho thấyphần lớn nguồn vốn cho phát triển đô thị là nguồn vốn nhà nước hoặc vốn vaynước ngoài Có sự khác nhau về tiêu chí đầu tư giữa các nguồn tài chính, giữacác cơ quan tài trợ nhà nước và tư nhân cũng như giữa các khoản vay, trợ cấp
và vốn góp Phần lớn nguồn tài chính cho phát triển đô thị là tài trợ nhà nước,được cung cấp dựa trên các mục đích yêu cấu phát triển kinh tế- xã hội và môitrường Nguồn vốn này có xu hướng ổn định hoặc giảm nhẹ tại 15 nước EUtrước đây và tăng dần tại những nước thành viên mới
triển
Chính quyền địa phương
Cơ quan công
Trợ cấp nhà nước
đô thị
Trang 28Để có được thành tựu như ngày hôm nay không thể không kể đến vaitrò của Ngân hàng Đầu tư châu Âu Ngân hàng đầu tư Châu Âu là một dạngngân hàng chính sách, EIB đóng vai trò kép trong việc thực hiện các chínhsách Cộng đồng và phối hợp với hệ thống ngân hàng khu vực Trên thực tếvai trò của EIB trong việc cấp vốn cho phát triển đô thị tùy thuộc vào phạm viquốc gia, quy mô và loại dự án, tính chuyên nghiệp và trình độ của các cán bộxúc tiến dự án, các hình thức tài trợ, thời hạn và điều kiện cấp vốn tín dụng.Theo mô hình 1 trên đây về mô hình tài trợ phát triển đô thị thì EIB có các vaitrò sau đây.
Trên thực tế, EIB là ngân hàng tài trợ hàng đầu cho phát triển CSHT đô
thị tại Châu Âu Trong nhiều thập kỷ qua là nhà tài trợ hàng đầu, EIB có thể
cấp tín dụng cho những lĩnh vực mới hoàn toàn Do EIB không có ý địnhcạnh tranh với những trung gian tài chính khác nên EIB đã đóng góp rất lớncho phát triển thị trường vốn đô thị, mặc dù thị trường này chưa phát triểnđúng mức thậm chí còn sơ khai Nhờ đó, EIB là ngân hàng cho vay chuẩnmực và tạo ra sự thay đổi - thu hút những nguồn tài chính khác và khuyếnkhích các đối tác tài chính cùng tham gia
Mô hình 1.2: Vai trò của EIB đối với tài chính phát triển đô thị
Phía cung Phía cầu
Trang 29EIB có một số lợi thế, bao gồm thời hạn và điều kiện thích hợp, chovay dài hạn, điều kiện hoàn trả vốn vay linh hoạt, khả năng đảm bảo chấtlượng của các dự án Đối với người vay thiếu năng lực trả nợ, EIB chỉ có thểcấp tín dụng nếu có đối tác tin cậy đứng ra bảo lãnh Thí dụ, tín dụng cho dự
án đường xe điện Alicante được cung cấp dưới sự bảo lãnh của Chính quyềnValencia EIB cũng đã ký hợp đồng cung cấp tín dụng cho một số dự án,nhưng sau đó không sử dụng đến Tuy nhiên, chính sách của EIB là không ápdụng hình phạt hay các khoản lệ phí liên quan đến trường hợp không giảingân, đây là một trong những thuận lợi đối với người vay
tư nhân trong huy động và phân phối tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Không những là nhà tài trợ chính, EIB còn đóng vai trò phối hợp vớinhững định chế công và tư khác, chẳng hạn với KfW trong dự án BremenHemelingen (CHLB Đức), phối hợp với HBOS và RBS trong việc cấp tíndụng cho dự án cải tại thành phố Glasgow (VQ Anh) Đối với các nước thànhviên mới, EIB phối hợp trong việc cung cấp tài chính xây dựng hạ tầng thànhphố Brno (CH Séc)
Việc sử dụng vốn đồng tài trợ của EIB có một số lợi thế, bao gồm thời
Các NHTM nhà nước
Trợ cấpnhà nước
Thị trường vốn phát triển đô thị
Các hiệp hội nhà ở
EIB
Nhu
cầu
đầu tư
Trang 30hạn và điều kiện thích hợp, cho vay dài hạn, điều kiện hoàn trả vốn vay linhhoạt, khả năng đảm bảo chất lượng của các dự án.
Mô hình 1.3: Vai trò đồng tài trợ của EIB
Phía cung Phía cầu
Ngoài ra, EIB còn hoạt động như ngân hàng bán buôn đối với những dự
án phát triển CSHT đô thị quy mô nhỏ bằng cách cung cấp tài chính thôngqua các trung gian tài chính chứ không trực tiếp cấp tín dụng Phần lớnnghiệp vụ này được thực hiện thông qua các khoản tín dụng toàn cầu, cácngân hàng công và ngân hàng thương mại đều sử dụng dịch vụ ngân hàng bánbuôn của EIB Tại CHLB Đức, các khoản tín dụng toàn cầu dành cho pháttriển đô thị đóng vai trò quan trọng đặc biệt EIB cũng đóng vai trò tương tựđối với dự án Agenzia Torino phục vụ Thế vận hội Mùa đông thong qua ngânhàng OPI Tại Budapest VIII – dự án Corvin Szigony, các khoản vay đượccung cấp qua Volskbank
Việc sử dụng dịch vụ ngân hàng bán buôn của EIB có những lợi thếkhác nhau, nổi bật là thời hạn và điều kiện cho vay dài hạn EIB đảm bảorằng, tối thiểu các bên hưởng thụ phải tự chuyển giao ưu những đãi về thờihạn và điều kiện vay vốn cho các dự án
Chính quyềnđịa phương
Cơ quan công
tư hỗn hợp
Các cơ quan
tư nhânCác NHTM
Các NHTM nhà nước
Trợ cấpnhà nước
Nhu
cầu
đầu tư
Thị trường vốn phát triển
đô thị
Các hiệp hội nhà ở
EIB
Trang 31Mô hình1.4 EIB là ngân hàng bán buôn
Phía cung Phía cầu
chính cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Ngoài việc đóng vai trò của bên cung trên thị trường tài chính, EIB cònđại diện cho bên cầu, chủ yếu trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn hỗ trợ xúctiến dự án Hoạt động này bắt nguồn từ kinh nghiệm của EIB trong việc đánhgiá tính khả thi và đề ra các giải pháp quản lý tài chính
Chính quyềnđịa phương
Các hiệp hội nhà ởCác cơ quan
Trợ cấpnhà nước
Thị trường vốn phát triển
Trang 32Mô hình1.5 Vai trò hỗ trợ kỹ thuật của EIB Phía cung Phía cầu
EIB Thịtrường vốnphát triển
đô thị
Việc sử dụng dịch vụ hỗ trợ của kỹ thuật của EIB có những lợi thế rấtlớn do EIB giúp chuyển dịch vốn đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính và làkênh cung cấp thông tin về những dự án có thể cấp tín dụng cũng như xâydựng thẩm quyền của các nước thành viên, các cơ quan trung gian ở địaphương và khu vực, kể cả các chính quyền thành phố
Với tư cách là một trung gian tài chính, EIB là có vai trò thu xếp tàichính, đề xuất nhu cầu và nhiều nguồn cung ứng khác nhau - không cần phải
sử dụng vốn của EIB Hoạt động này bao gồm cả việc trực tiếp quản lý cácquĩ phát triển đô thị tại từng quốc gia và thị trường, là những hoạt động màtrước đây EIB chưa tham gia
Việc sử dụng dịch vụ của EIB như một trung gian tài chính có nhữnglợi thế quan trọng nhờ danh tiếng của EIB, đó là một đối tác tin cậy đối vớicác ngân hàng chính phủ và ngân hàng tư nhân Tuy nhiên, EIB không có đủkinh nghiệm vi mô (cấp địa phương) cần thiết để có thể quản lý các quĩ pháttriển đô thị
Các hiệp hội nhà ởCác cơ quan
Trợ cấpnhà nướcCác NHTM nhà nướcCác NHTM
Cổ phần
tư nhân
EEIB
Thị trường vốn phát triển đô thị
Trang 33Mô hình 1.6: Vai trò trung gian tài chính của EIB
Phía cung Phía cầu
Việc mở rộng tín dụng phải dựa trên qui hoạch phát triển đô thị vàchính sách của nhà nước Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Châu Âutrong việc huy động nguồn vốn tín dụng phát triển CSHT đô thị ta có thể rút
ra được bài học cho Việt Nam như sau
Thứ nhất: Đề cao vai trò của VDB trong việc cung cấp tín dụng theo
các hình thức tín dụng cho phát triển CSHT địa phương Thay vì cung cấp tíndụng trực tiếp, VDB sẽ cung cấp tài chính thông qua các trung gian tài chính,
và các trung gian tài chính này sẽ chịu trách nhiệm giám sát khoản tín dụngcủa VDB nhưng theo những điều kiện ưu đãi hơn
Thứ hai: Cần tăng thêm phạm vi và quyền hạn cho VDB như cho VDB
được tham gia tư vấn, thu xếp tài chính, cung cấp các dịch vụ tư vấn hỗ trợxúc tiến dự án cho phát triển CSHT đô thị, đề xuất nhu cầu và nhiều nguồncung ứng khác nhau
Thứ ba: Chú trọng xây dựng mô hình công tư hỗn hợp, tạo điều kiện
huy động các nguồn tín dụng và các nguồn vốn cho phát triển CSHT đô thị
Chính quyềnđịa phương
Các hiệp hội nhà ởCác cơ quan
Trợ cấpnhà nước
Nhu
cầu
Cơ quan công
tư hỗn hợp
Trang 34Thứ tư: Xác định rõ các cấu phần của CSHT đô thị từ đó phân loại các
loại nguồn vốn tín dụng khác nhau sẽ tài trợ cho loại nào của CSHT thì hiệuquả như nguồn tín dụng nhà nước thì tài trợ cho loại công trình nào, tín dụngthương mại thì nên tài trợ cho loại nào, tín dụng hỗn hợp thì tài trọ cho loạinào, từ đó xây dựng nên các cơ chế huy động vốn thích hợp cho từng loại tạođiều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư khi bắt tay vào hoạt động
Trang 35
Chương 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN
TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG
ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM
2.1 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM.
Đô thị hoá có thể hiểu theo hai cách sau, một là: Đô thị hoá là sự mở
rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đôthị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Hai là, đô thịhoá cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếutính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hoá; còn theo cáchthứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hoá
Ở các nước phát triển (như tại Châu Âu, Mỹ, hay Úc) thường có mức
độ đô thị hoá cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (nhưViệt Nam hay Trung Quốc) (khoảng 20-30%) Đô thị các nước phát triểnphần lớn đã ổn định nên tốc độ đô thị hoá thấp hơn nhiều so với trường hợpcác nước đang phát triển
Đô thị hoá có tác động không nhỏ đến sinh thái và kinh tế khu vực Đôthị học sinh thái cũng quan sát thấy dưới tác động đô thị hoá, tâm lý và lốisống của người dân thay đổi Sự gia tăng quá mức của không gian đô thị sovới thông thường được gọi là “sự bành trướng đô thị”, thông thường để chỉnhững khu đô thị rộng lớn mật độ thấp phát triển xung quanh thậm chí vượtngoài ranh giới đô thị Những người chống đối xu thế đô thị hoá cho rằng nólàm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phí đầu tư hạ tầng kỹ thuật và
có tác dụng xấu đến sự phân hoá xã hội do cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm
Trang 36đến các khó khăn của khu vực trong đô thị.
Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nướcmới chỉ có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm
2000 con số này lên 649 đô thị và tính đến cuối năm 2009 có 731 đô thịtrong đó có 2 thành phố loại đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ ChíMinh, 4 thành phố loại 1; 13 thành phố loại 2, 43 thành phố loại 3, 38thành phố loại 4; 631 thành phố loại 5 Hệ thống các thành phố được phân
bổ một cách không thống nhất
Tốc độ tăng dân số đô thị cao được xem là yếu tố chính thúc đẩy đầu tư
cơ sở hạ tầng trong tương lai Hiện nay dân số của Việt Nam chủ yếu sống ởnông thôn, phản ánh trình độ phát triển hiện tại của đất nước (năm 2009 tỷ lệdân số sống ở đô thị là 29,6%; tỷ lệ dân số sống ở nông thôn là 70,4%)
Theo các dự báo chính thức, tổng dân số Việt Nam sẽ tăng từ 85 triệungười năm 2009 lên 103 triệu người vào năm 2020 với tỷ lệ gia tăng chậm(1,2%) Nhưng, dân số ở các thành phố sẽ tăng hơn gấp đôi, từ 18 triệu người(năm 2000) lên 46 triệu người (năm 2020), với tốc độ tăng trung bình là 5%.Trong trường hợp này, TP Hồ Chí Minh có thể sẽ có 20 triệu dân và Hà Nội
có 9 - 10 triệu dân Ước tính cứ sau 3 năm TP Hồ Chí Minh lại có thêm 1triệu dân Những dự báo này được đưa ra sau khi tham khảo số liệu của cácnước từng có tốc độ phát triển tương tự như Việt Nam Xu hướng phát triểncủa các thành phố lớn là tất yếu và tạo ra nhiều nhu cầu: Diện tích đất đô thịcần tăng 7,5 lần (từ 6.000ha năm 2000 lên 450.000ha năm 2020), đường giaothông phải chiếm 20- 30% quỹ đất đô thị (hiện nay là 10%), tất cả các hộ giađình cần được cung cấp nước sạch (hiện chỉ có 45%), xử lý nước thải và rácthải… Ngay bây giờ các thành phố, thị trấn của Việt Nam đã chiếm khoảng
Trang 3770% tổng sản lượng kinh tế, và phần lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướngtới các thành phố Các cơ hội kinh tế ở vùng thành thị hiện đang thu hútkhoảng một triệu người di cư từ vùng nông thôn mỗi năm Vì vậy dân số đôthị đang tăng ở tốc độ 2,9% một năm, so với tốc độ tăng dân số nói chung là
1,2%( Nguồn WDI 2007) Các ước tính của Chính phủ cho thấy dân số đô thị
sẽ tăng theo cấp số nhân trong 15 năm tới, đuổi kịp mức đô thị hoá của TrungQuốc vào năm 2020, khi số người sinh sống ở đô thị theo ước tính sẽ chiếmkhoảng 45% dân số Việt Nam
Trên cơ sở phân loại đô thị theo các tiêu chí do Chính phủ quy định
(phụ lục 1 )bộ xây dựng phân loại các trung tâm đô thị ra thành sáu nhóm dựa
trên các tiêu chí về điều kiện vật chất, dân số, mật độ dân số, mức độ và bảnchất hoạt động kinh tế, GDP và cơ sở hạ tầng, qua đó xác định được tốc độ đôthị hoá cho từng loại đô thị như bảng 2.1 dưới đây
Bảng 2.1 Tốc độ đô thị hoá.
Phân loại đô thị
Số thànhphố
% dân số
đô thị
Số thànhphố
Qua bảng thể hiện tốc độ đô thị hoá ta có thể thấy dân cư có xu hướng
di dời ra sinh sống và làm việc ở những đô thị lớn hơn Đối với Thành phốloại đặc biệt và loại I, nếu như năm 1998 chỉ có 5 thành phố chiếm 46% dân
số thì 11 năm sau đã lên 6 thành phố với tỷ lệ dân số là 49% Trong khi đó
Trang 38các đô thị loại 4 (cấp huyện) bị giảm cả về số lượng cũng như tỷ lệ dân số đó
là do một số đô thị loại 4 được nâng cấp lên loại 3 Các đô thị loại V tăng về
số đô thị (từ 612 lên 631) nhưng lại giảm về tỷ lệ dân số đô thị cho thấy cónhiều đô thị mới được thành lập, nhưng cũng có nhiều đô thị được nâng cấp
2.2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN CƠ
Sự phát triển của đô thị không có kế hoạch và đầu tư không đồng bộ,liên hệ với hệ thống giao thông đô thị tại các đô thị ta thấy tình trạng tắcnghẽn luôn xảy ra, chất lượng và số lượng giao thông công cộng tại các đô thịlớn thì nghèo nàn, không thích hợp, không đáp ứng được nhu cầu của ngườidân Như hai thành phố loại đặc biệt là Thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minhchỉ có một hệ thống giao thông công cộng là xe buýt với số lượng chỉ đạt 15-20% nhu cầu Phương tiện giao thông chủ yếu tại các đô thị là xe máy Côngsuất của các nhà máy nước hiện nay ước đạt khoảng 4 triệu m3 ngày đêm;công suất khai thác đạt khoảng 85% công suất thiết kế; ước tính đạt 32% nhucầu sử dụng của người dân Hầu hết các đô thị đều có chung hệ thống thoátnước cho cả nước mưa và nước thải; phần lớn nước thải đều chưa qua xử lýhoặc xử lý chưa đạt yêu cầu; các đô thị đều thiếu hệ thống thu thập và xử lýrác thải
Chiến lược của chính phủ là thúc đẩy đô thị hoá các huyện thị vàmột vài vùng nông thôn như là một cách đề giảm bớt sự di cư ra các thành
Trang 39phố lớn Nhưng các dự báo về đô thị hoá cho thấy tỷ lệ dân cư đô thị sống
ở các trung tâm huyện và huyện thị loại IV và loại V sẽ giảm, do vậy nhucầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng đô thị trong tương lai chủ yếu tập trung vàoloại I, II, và III
Đô thị hoá đặt ra một loạt các thách thức cho hệ thống quy hoạch Nhucầu chung của dân số đô thị tăng cao chắc chắn sẽ đòi hỏi phải có tăng mạnh
về số tiền đầu tư ở đô thị Hiện tại chỉ có hơn một nửa cư dân đô thị được tiếpxúc với nước máy, mới có một số thành phố lớn có hệ thống xử lý nước thải,
và giao thông đô thị đang bị đe doạ tắc nghẽn hơn nữa Để giải quyết các vấn
đề cơ sở hạ tầng đồng thời chăm lo cho các dân cư đô thị mới cần huy độngnguồn vốn lớn
tình trạng đói vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Trọng tâm của chính sách cơ sở hạ tầng trong thập niên qua tập trungvào việc triển khai cơ sở hạ tầng mới Tuy nhiên nhiệm vụ tiếp cận còn lâumới hoàn thành xong Nhưng khi số lượng cơ sở hạ tầng tăng lên, có thể diễn
ra quy luật lợi ích giảm dần đối với các đầu tư cơ sở hạ tầng, chắc chắn nhucầu bảo dưỡng sẽ tăng lên và khi nhiệm vụ đảm bảo tiếp cận phổ cập đi đếnhoàn thành thì cần hướng sự chú ý tới việc đảm bảo các cơ sở hạ tầng đã lắpđặt được vận hành và bảo dưỡng hiệu quả Lợi suất xã hội cao khi cung cấpmạng lưới cơ sở hạ tầng lần đầu Tỷ suất hồi vốn kinh tế của bốn dự án cơ sở
hạ tầng đã hoàn thành của Ngân hàng thế giới ở Việt Nam trong giai đoạn
2006 - 2009 là 35,2%, nhưng tới một thời điểm nhất định chắc chắn sẽ xảy ralợi suất cận biên giảm dần Ví dụ, làm đường đá dăm cho một thôn làng lầnđầu tiên sẽ đem lại lợi ích cận biên cao nhờ cải thiện tiếp cận thị trường Sau
Trang 40đó việc cải rải nhựa con đường có thể tạo thêm những lợi ích bổ sung, nhưng
có lẽ không được nhiều bằng lợi ích cận biên ban đầu Tỷ suất hoàn vốn kinh
tế trung bình của các dự án cơ sở hạ tầng của Ngân hàng thế giới trong cả khuvực Đông Nam Á giai đoạn 1994 - 2004 là 21% có thể là bằng chứng về mứclợi suất thấp hơn ở những nơi mà hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển hơn
Có thể diễn giải hệ số ICOR tăng cao của Việt Nam (xem bảng 2.2) là
bằng chứng về lợi suất giảm dần của đầu tư cơ sở hạ tầng Chúng ta biết rằngICOR được tính bằng mức đầu tư hàng năm chia cho mức tăng tổng sản phẩm(GDP) hàng năm Với các yếu tố khác không đổi, đầu tư càng có hiệu quả thìmức tăng tổng sản phẩm nhờ một đơn vị đầu tư càng lớn, và hệ số ICOR càngnhỏ Việc hệ số ICOR cao có thể xem như là dấu hiệu bất lợi suất đầu tư giảmdần, trong đó đầu tư cơ sở hạ tầng là một phần lớn Đầu tư cơ sở hạ tầng dànhtrực tiếp cho việc cung cấp tiếp cận cơ sở hạ tầng sẽ có xu hướng cho lợi suấtcao, nhưng hệ số ICOR tăng cho thấy rằng cần xem xét kỹ lưỡng hơn vớinhững đầu tư nào không gắn liền với tạo tiếp cận
Bảng 2.2 Hệ số ICOR ở Việt Nam 2001-2009
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Hệ số ICOR 5,14 5,28 5,31 5,22 4,85 5,04 5,38 6,66 8,2
Qua việc phân tích hệ số ICOR của nước ta trong giai đoạn 2001 - 2009
ta có thể rút ra kết luận sau:
Việt Nam cần tăng hiệu quả trong khâu lựa chọn nhà đầu tư, và một khi
đã có đầu tư, cần tăng hiệu quả của việc quản lý dịch vụ cơ sở hạ tầng Có thểxác định được một cách dễ dàng các đầu tư tăng tiếp cận dịch vụ cơ sở hạtầng (chỉ cần tìm những nhóm dân cư chưa được tiếp cận) và những đầu tưnày có lợi suất xã hội cao Một khi đã đạt được tiếp cận phổ cập, sẽ càng ngàycàng khó xác định nên đầu tư vốn vào dự án nào Sẽ cần phải có các quy trìnhquy hoạch tốt hơn để đảm bảo nguồn vốn hạn chế được dung cho những dự