Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thành lập theo quyết định số 218/1999/QĐ-TTg, ngày 09 - 11 - 1999 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức khai trương hoạt động từ ngày 07-7-2000. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là một tổ chức tài chính Nhà nước
Trang 1DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
ri – Lợi suất của tài sản i
ri* - Lợi suất trung bình của tài sản i
σi – Độ lệch chuẩn của ri
Sit – Giá tài sản i tại thời điểm t
βi – hệ số rủi ro tài sản i
βp – hệ số rủi ro danh mục P
Trang 2Mean – Trung bình
E – Kỳ vọng
Var – Phương sai
Se – Độ lệch tiêu chuẩn
Cov – Hiệp phương sai
V – Ma trận hiệp phương sai
M – Metric
Trang 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 1 Chỉ số tài chính của 28 ngân hàng thương mại cổ phần 63
Biểu 2 :Mô tả trung bình và phương sai các biến số 65
Biểu 3:Tỷ lệ giải thích của số thành phần chính 66
Biểu 4: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ giải thích trong trường hợp chọn 1, 2, 3, , 7
thành phần chính 67
Biểu 5 : Tọa độ các biến trên các trục chính 68
Biểu 6 : Vị trí các biến trên không gian 3 chiều tạo bởi các trục chính 69
Biểu 7 : Tọa độ các biến tên trục chính sau phép quay 70
Biểu 8: Hệ số tương quan giữa các biến số 71
Biểu 9: Hệ số tổ hợp của các biến để tạo thành vectơ nhân tố chính 72
Biểu 10: Tọa độ chiếu của các TCTD lên mặt phẳng ( factor1, factor2 ) 73
Biểu 11: Tọa độ các TCTD trên mặt phẳng chiếu ( factor 1, factor 3) 74
Biểu 12: Tọa độ các TCTD trên mặt phẳng chiếu ( factor 2, factor 3) 75
Biểu 13 : Vị trí của các TCTD trong không gian 3 chiều tạo bởi 3 trục chính ( factor 1, factor 2, factor 3) 76
Biểu 14: Tọa độ của mỗi tổ chức tín dụng trong không gian 3 chiều 77
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thành lập theo quyết định số 218/1999/QĐ-TTg, ngày 09 - 11 - 1999 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức khaitrương hoạt động từ ngày 07-7-2000 Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là một tổ chứctài chính Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Việc thành lập Bảohiểm tiền gửi Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửitiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và
sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính, Bảo hiểm tiền gửi ViệtNam là công cụ quan trọng của chính phủ trong việc thanh tra giám sát hoạtđộng của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng Nhằm đảm bảo thực hiện tốtvai trò đó, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam luôn đặt vấn đề phân loại các tổ chức tíndụng theo khả năng hoạt động lên hàng đầu, bởi vì có đánh giá, phân loại các tổchức tín dụng một cách chính xác thì Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam mới có thể cónhững biện pháp thanh tra, giám sát một cách thích hợp cho mỗi tổ chức tíndụng
Là sinh viên đang theo học chuyên ngành Toán tài chính tại trường Đạihọc kinh tế quốc dân, sau 4 năm học tập, được sự giới thiệu của PGS-TSNguyễn Quang Dong, em có cơ hội được thực tập tại Bảo hiểm tiền gửi ViệtNam.Sau một thời gian làm quen với các hoạt động của Bảo hiểm tiền tiềngửi, cùng với sự hướng dẫn của PGS-TS Nguyễn Quang Dong, sự giúp đỡnhiệt tình của các cán bộ tại Bảo hiểm tiền gửi, em đã dần hình thành đượcchuyên đề thực tập cho mình Nội dung chính của chuyên đề là sử dụng cácphương pháp toán học kinh tế trong việc đánh giá, phân loại các tổ chức tíndụng theo khả năng hoạt động Do kiến thức thực tế của em còn nhiều hạnchế nên chuyên đề của em sẽ còn nhiều thiếu sót Rất mong được sự chỉ bảogiúp đỡ của PGS-TS Nguyễn Quang Dong và các cán bộ tại Bảo hiểm tiềngửi Việt Nam để em hoàn thành tốt chuyên đề thực tập của mình
Trang 5Em xin chân thành cảm ơn.
Tên chuyên đề thực tập : “Đánh giá hoạt động các tổ chức tín dụng bằng phương pháp phân tích nhân tố và phương pháp thành phần chính theo các chỉ tiêu tài chính của mô hình CAMELS”
Trang 6CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM
1.1 Tổng quan tình hình tài chính ngân hàng tại Việt Nam
1.1.1 Hoạt động tài chính ngân hàng Việt Nam năm vừa qua
Chính sách tiền tệ trong năm 2006 về cơ bản, đã đạt được mục tiêu là
ổn định tiền tệ, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiềm chếlạm phát ở mức thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế Kết quả này thể hiện quamột số điểm:
- So với cuối năm 2005, lãi suất VND của các TCTD tăng nhẹ khoảng0,25%/năm Diễn biến này phù hợp với cung - cầu vốn thị trường, diễn biếnkinh tế - tiền tệ trong nước và lãi suất thị trường quốc tế
- Tỷ giá VND so với USD tăng dưới 1,5%, phù hợp với mục tiêu khuyếnkhích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư, cải thiện cán cânthanh toán, tăng dự trữ ngoại hối nhà nước Nhờ nguồn cung ngoại tệ dồi dào,nên có thời điểm, tỷ giá bán ra của các NHTM ở dưới mức trần cho phép Tỷgiá trên thị trường tự do cũng biến động theo xu hướng của tỷ giá trên thịtrường chính thức với mức chênh lệch thấp (từ 3 - 20 đ/1USD), ngoại trừ việctăng đột biến trong một vài ngày đầu tháng 5/2006 Tính đến ngày31/12/2006, tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng tăng 1,36% so vớicuối năm 2005, trong khi tỷ giá bán ra của các NHTM tăng 0,88%
- Dư nợ cho vay nền kinh tế đến ngày 31/12/2006 tăng 21,4% so vớicuối năm 2005, tương ứng với mức tăng của năm 2005, sát với mục tiêu đề ra
từ đầu năm
Pháp lệnh Ngoại hối ra đời đã tạo cơ sở pháp lý hết sức quan trọng chocông tác quản lý ngoại hối của NHNN trong điều kiện hội nhập quốc tế Đểkịp thời cụ thể hóa các nội dung quan trọng của Pháp lệnh, NHNN đã khẩn
Trang 7trương xây dựng, trình và được Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫnPháp lệnh Ngoại hối Đồng thời, NHNN tiếp tục bổ sung, chỉnh sửa các quyđịnh liên quan nhằm thực hiện tự do hóa các giao dịch vãng lai, như: hướngdẫn việc ủy quyền cho TCTD xem xét giải quyết nhu cầu mua, chuyển, mangngoại tệ ra nước ngoài của công dân Việt Nam thay cho cơ chế xem xét, cấpphép của NHNN trước đây; huỷ bỏ việc báo cáo thu, chi ngoại tệ trong ngàyđối với các ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối; cho phép triển khai thíđiểm cơ chế mua, bán ngoại tệ tiền mặt theo tỷ gá thỏa thuận tại các TCTDđược phép hoạt động ngoại hối.
Cùng với đổi mới các cơ chế chính sách khác, việc đổi mới, hoàn thiện
cơ chế, chính sách về quản lý ngoại hối theo hướng thông thoáng, đáp ứngyêu cầu hội nhập quốc tế đã có tác động tích cực đến đâu tư của nước ngoàivào Việt Nam (bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp), kéo theo dòngchảy của các luồng vốn và cải thiện đáng kể cung cầu ngoại tệ của Việt Nam Nhờ nguồn cung ngoại tệ dồi dào, nên lượng ngoại tệ NHNN mua đượclớn hơn nhiều so với lượng ngoại tệ NHNN bán ra, làm cho dự trữ ngoại hốinhà nước tăng đều và tương đối ổn định, góp phần thực hiện tốt mục tiêuchiến lược của ngành Ngân hàng từ nay đến năm 2010 là tăng nhanh dự trữngoại hối nhà nước Hiện nay, dự trữ ngoại hối nhà nước đã đáp ứng đượcnhu cầu ngoại tệ tương đương 12 tuần nhập khẩu (đạt mức tối thiểu theothông lệ quốc tế), giúp nâng cao khả năng thanh toán quốc tế và hệ số tínnhiệm quốc gia của Việt Nam Khác với những năm trước, trong năm 2006,ngoài các NHTM nhà nước, NHNN còn đáp ứng nhu cầu mua ngoại tệ củanhiều NHTM cổ phần
Năm 2006, NHNN đã tổ chức đánh giá toàn diện mô hình tổ chức, hoạtđộng, khung pháp lý, hạ tầng hỗ trợ hoạt động giám sát ngân hàng, đồng thờiđánh giá mức độ tuân thủ của hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng ViệtNam theo các nguyên tắc của Uỷ ban giám sát ngân hàng quốc tế (BASEL)
Trang 8Trên cơ sở đó, xác định những vấn đề còn hạn chế, bất cập làm giảm hiệu lực,hiệu quả công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, tạo cơ sở cho việc xây dựng
Đề án cải cách tổ chức và hoạt động thanh tra ngân hàng phù hợp với địnhhướng chiến lược phát triển thanh tra ngân hàng đến năm 2010; đến nay, việcxây dựng Đề án này đã bước đầu được hoàn thành Các nội dung quan trọngkhác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra ngân hàng đang đượcNHNN khẩn trương chỉ đạo xây dựng để triển khai trong thời gian tới
NHNN đã ban hành các quy định liên quan đến việc đổi mới cơ chếquản lý của các NHTM (công khai thông tin, kiểm toán, kiểm tra, kiểm soátnội bộ); tạo điều kiện để các ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh, kiểmsoát rủi ro và phát triển dịch vụ mới; cho phép một số NHTM cổ phần thíđiểm bán cổ phần cho đối tác chiến lược nước ngoài để thu hút công nghệ,trình độ quản lý và nâng cao uy tín của ngân hàng Năm 2006, 3 NHTM cổphần đã được NHNN chấp thuận cho niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứngkhoán (trong đó 2 ngân hàng đã niêm yết), 2 NHTM nhà nước cũng đượcphép niêm yết trái phiếu tăng vốn Để từng bước hình thành những ngân hàng
cổ phần có quy mô vốn lớn, NHNN đã phê duyệt Đề án cơ cấu lại NHTM cổphần nông thôn Đến nay, 5 NHTM cổ phần nông thôn đã được NHNN chophép chuyển đổi mô hình kinh doanh thành NHTM cổ phần đô thị, 3 ngânhàng được chấp thuận về mặt nguyên tắc chuyển đổi mô hình kinh doanh NHNN tiếp tục quan tâm chỉ đạo, bảo đảm cho loại hình TCTD nàyhoạt động an toàn, hiệu quả, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hộitrên địa bàn nông thôn Đến cuối năm 2006, hệ thống QTDND bao gồmQTDND Trung ương với 24 chi nhánh hoạt động trên địa bàn 54 tỉnh, thànhphố và 940 QTDND cơ sở (tăng 15 quỹ so với cuối năm 2005) Hoạt độngcủa hệ thống QTDND tiếp tục có bước tăng trưởng bền vững; các QTDNDphát triển ổn định, an toàn, hiệu quả, các chỉ tiêu cơ bản đều tăng trưởng khá
so với năm 2005, nhất là nguồn vốn huy động tiền gửi dân cư NHNN đã chỉ
Trang 9đạo các đơn vị chức năng xử lý dứt điểm các tồn tại và sai phạm mới phátsinh ở một số QTDND, trong đó, chú trọng đặc biệt đối với các QTDND yếukém thuộc diện phải thu hồi giấy phép hoạt động; tích cực đôn đốc đẩy nhanhtiến độ thanh lý các QTDND đã bị giải thể và tăng cường kiểm tra, giám sátthủ tục cấp giấy phép hoạt động đối với các QTDND thành lập mới.
Để đảm bảo cho các TCTD có đủ năng lực cạnh tranh trong bối cảnhmới, NHNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2006/NĐ-CPngày 22/11/2006 về danh mục mức vốn pháp định của các TCTD (thay thếNghị định số 82/1998/NĐ-CP), trong đó, đã nâng mức vốn pháp định mà cácTCTD phải đáp ứng đến năm 2008 và năm 2010; trình và được Chính phủphê duyệt Đề án về chủ trương thành lập ngân hàng mới và Đề án các tiêu chíthành lập ngân hàng mới tại Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.NHNN cũng đã ban hành kế hoạch sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quyđịnh nhằm tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng; đồng thời,khẩn trương chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung các quy định về phân loại nợ, xử lýrủi ro trong hoạt động ngân hàng để tiếp tục tiến dần đến các chuẩn mực quốc
tế tiên tiến nhất
Dự án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán giai đoạn 2 đangđược khẩn trương thực hiện theo đúng lộ trình và cơ bản đáp ứng tiến độ đãcam kết với Ngân hàng thế giới (WB) Hệ thống thanh toán điện tử liên ngânhàng được mở rộng với 65 ngân hàng thành viên và 270 chi nhánh tham gia,mỗi ngày thực hiện khoảng 12.000 - 13.000 giao dịch với giá trị giao dịchbình quân 8.000 tỷ đồng/ngày Trong năm 2006, NHNN đã triển khai thanhtoán bù trừ điện tử thêm ở 9 tỉnh, thành phố, nâng số lượng các tỉnh, thànhphố đã triển khai thanh toán bù trừ điện tử lên 33 tỉnh, thành phố
Với nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh, nhiều ngân hàng đã chú trọngphát triển, ứng dụng các công nghệ hiện đại vào việc thực hiện các dịch vụcủa ngân hàng mình, một số ngân hàng đã nối mạng trực tuyến trong nội bộ
Trang 10hệ thống nhằm phục vụ việc quản lý tập trung và giao dịch trực tuyến Bêncạnh dịch vụ thẻ, các nghiệp vụ mới đã được các TCTD chú trọng phát triểnnhư bao thanh toán, internet banking, sản phẩm tiền gửi bảo toàn vốn bằngngoại tệ gắn với biến động tỷ giá, sản phẩm đầu tư gắn với rủi ro tín dụng vàhoán đổi rủi ro tín dụng…
NHNN đã trình Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thanhtoán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm
2020, ban hành Nghị định thanh toán không dùng tiền mặt và đang trình Nghịđịnh về giao dịch điện tử trong lĩnh vực ngân hàng; đồng thời, ban hành nhiềuvăn bản hướng dẫn các TCTD và khách hàng sử dụng các công cụ thanh toán,như: Quy định về cung ứng và sử dụng séc, Quy định về nhờ thu hối phiếuqua người thu hộ, dự thảo sửa đổi Quy chế thẻ ngân hàng…
Tỷ trọng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán ngày càng giảm(ước cuối năm 2006 còn 18,8%, giảm so với tỷ lệ 21,4% của năm 2005) Dịch
vụ thẻ tiếp tục phát triển mạnh, trong năm 2006 tốc độ phát hành thẻ tăng30% so với cuối năm 2005, nâng tổng số thẻ phát hành lên 3,5 triệu thẻ vớigần 60 thương hiệu, 17 ngân hàng phát hành và trên 20 ngân hàng làm đại lýthanh toán Toàn hệ thống ngân hàng hiện có khoảng 2.154 máy ATM (tăng21% so với cuối năm 2005) và gần 17.000 thiết bị ngoại vi (tăng 17% so vớicuối năm 2005)
NHNN đã thành lập Ban soạn thảo Luật Ngân hàng gồm tiểu ban LuậtNHNN và tiểu ban Luật các TCTD, đồng thời xây dựng lộ trình cụ thể đểtriển khai việc tổng kết 2 Luật Ngân hàng Đến nay, Ban soạn thảo đã triểnkhai việc tổng kết 2 Luật Ngân hàng trong toàn hệ thống; đồng thời, đang xúctiến việc xây dựng Đề cương của 2 Luật Ngân hàng mới với sự hỗ trợ của các
tổ chức quốc tế, chuyên gia nước ngoài
Thực hiện lộ trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), trong năm 2006, NHNN đã tích cực phối hợp với các bộ, ngành tham
Trang 11gia đàm phán gia nhập WTO, xây dựng các phương án đàm phán, trả lời cácnội dung liên quan đến lĩnh vực ngân hàng do các nước thành viên đưa ra đểphục vụ cho việc cập nhật bản hiện trạng về chính sách thương mại thuộc lĩnhvực ngân hàng của Việt Nam; chủ động phối hợp với các bộ, ngành liên quantrình Chủ tịch nước và Quốc hội phê chuẩn ngay khi Việt Nam kết thúc đàmphán và phối hợp với các bộ, ngành xây dựng kế hoạch hành động hậu WTOcho ngành Ngân hàng.
Các mối quan hệ với các tổ chức quốc tế như: IMF, WB, ADB, các cơquan và Chính phủ các nước Châu Âu, Châu á, Châu Mỹ… tiếp tục đượcNHNN duy trì và mở rộng Tốc độ giải ngân các dự án vay vốn của WB vàADB nhìn chung diễn ra đúng kế hoạch và từng bước được cải thiện, các hoạtđộng nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực tài chính được tích cực triển khai
1.1.2 Định hướng nhiệm vụ ngân hàng trong các năm tới
_ Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngânhàng nhằm tạo điều kiện thông thoáng, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm trong hoạt động của các TCTD và phù hợp với các cam kết và chuẩnmực quốc tế Xây dựng 2 Luật Ngân hàng mới tạo cơ sở pháp lý cho mô hìnhNgân hàng Trung ương hiện đại và phát triển hệ thống TCTD trong giai đoạnmới
_ Điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt, kiểm soátlạm phát ở mức thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế bảo đảm mục tiêu ổn địnhtiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
_ Đáp ứng có hiệu quả các nhu cầu vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởngkinh tế, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng đảm bảo an toàn, hiệu quả vàphát triển bền vững của các TCTD
_ Đẩy nhanh chương trình tái cơ cấu, nâng cao năng lực hoạt động vàkhả năng cạnh tranh của các TCTD, tiếp tục hoàn thiện và phát triển hệ thốngQTDND Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các NHTM nhà nước (trừ Ngân
Trang 12hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam).
_Đẩy mạnh các hoạt động nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động củaThanh tra ngân hàng
_Tiếp tục hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, hệ thống thanh toán, hệthống thông tin ngân hàng
_Thực hiện tốt công tác điều hòa lưu thông tiền mặt, đáp ứng kịp thờinhu cầu của nền kinh tế cả về giá trị và cơ cấu mệnh giá Đẩy mạnh công tácphòng chống tiền giả
_Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về hội nhập kinh tế quốc
tế, đặc biệt là các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực dịch
vụ ngân hàng
1.2 Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam với hoạt động giám sát các Tổ chức tín dụng.
1.2.1 Giới thiệu về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Bảo Hiểm Tiền Gửi Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ năm
2000, là tổ chức tài chính do chính phủ thành lập
Bảo Hiểm Tiền Gửi Việt Nam hoạt động theo quy định riêng, không bịđiều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm Khungpháp lý hiện tại để điều chỉnh hoạt động của Bảo Hiểm Tiền Gửi Việt Nam làcác Nghị Định
Chức năng, nhiệm vụ của BHTGVN là: bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng
và sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng, là bộ phận cấu thànhcủa hệ thống giám sát tài chính quốc gia
Về tổ chức và quy mô hoạt động:
Gồm 6 chi nhánh khu vực :Hà Nội, Đông Bắc Bộ (trụ sở tại HảiPhòng), Bắc Trung Bộ ( trụ sở tại tp Vinh), Nam Trung Bộ (trụ sở tại NhaTrang), Thành Phố Hồ Chí Minh, Đồng Bằng Sông Cửu Long (trụ sở tại Cần
Trang 13Trụ sở chính của BHTGVN tại Hà Nội Giám sát 1001 định chế tàichính.Hội đông quản trị BHTGVN do chính phủ bổ nhịêm, bao gôm 5 thànhviên, trong đó 3 uỳ viên thường trực, 1 phó thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước,
1 Thứ Trưởng Bộ Tài Chính
Tổng giám đốc BHTGVN do chính phủ bổ nhiệm
Theo Quy chế về tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ của cácphòng , ban, bộ phận thuộc BHTGVN ban hanh kèm theo quyết định số241/2000/QĐ-BHTG ngày 3/10/2000 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm tiền gửiViềt Nam
- Tổ chức công bố, truyền đạt, theo dõi, đôn đốc, điều phối các ban,phòng, bộ phận thực hiện chương trình công tác và sự chỉ đạo của Ban lãnhđạo của BHTGVN;
- Xây dựng kế hoạch và thực hiện mua sắm, duy tu, bảo dưỡng các loạitài sản; có kế hoạch nâng cấp, phát triển cơ sở vật chất trong toàn hệ thốngBHTGVN Quản lý tài sản và phương tiện làm việc của BHTGVN;
Trang 14- Cung cấp văn phòng phẩm, phương tiện giao thông, thông tin liênlạc…phục vụ hoạt động của BHTGVN;
- Đảm bảo công tác an ninh, y tế, điện nước, vệ sinh môi trường và lễ tânkhánh tiết của BHTGVN;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao;
(2) Phòng tổ chức và phát triển nguồn nhân lực
- Nghiên cứu và xây dựng mô hình tổ chức của BHTGVN trong từnggiai đoạn phát triển phù hợp với tình hình thực tế;
- Nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực củaBHTGVN; cụ thể hoá và theo dõi việc thực hiện chế lược đó cho từng thời
kỳ, đặc biệt là công tác đào tạo cán bộ nhằm nâng cao chất lượng hoạt độngcủa BHTGVN;
- Giúp Tổng giám đốc trong việc lựa chọn, tuyển dụng, bố trí cán bộ;
- Phối hợp với phòng công nghệ và dịch vụ thông tin nghiên cứu xâydựng phương án ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý cán bộ
và phát triển nguồn nhân lực;
- Thực hiện các chế độ chính sách liên quan đến đội ngũ cán bộ theo quyđịnh của pháp luật;
- Tổ chức theo dõi công tác thi đua, khen thưởng;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao
(3) Ban tư vấn luật và chính sách
- Thực hiện các nhiệm vụ tư vấn pháp lý cho HĐQT, Ban Tổng Giámđốc và các ban, phòng, bộ phận thuộc BHTGVN và cho các tổ chức tham giabảo hiểm tiền gửi(nếu có);
- Chuẩn bị các văn bản pháp lý về bảo hiểm tiền gửi; soạn thảo các hợpđồng kinh tế của BHTGVN; xem xét tính pháp lý của các nghị quyết, quyếtđịnh của HĐQT, của Ban Tổng Giám đốc;
- Đại diện cho BHTGVN trước toà với tư cách là bên tham gia vào mối
Trang 15quan hệ với các bên đối tác khi tiếp nhận và thanh lý tài sản của tổ chức thamgia bảo hiểm tiền gửi bị chấm dứt hoạt động, khi có khiếu kiện…
- Nghiên cứu và xây dựng các văn bản về chính sách và nghiệp vụ vềbảo hiểm tiền gửi; dự thảo các kế hoạch và chiến lược hoạt động, chiến lượctài chính của BHTGVN;
- Làm đầu mối, chủ trì, phối hợp với các phòng chức năng trình phương
án chấm dứt bảo hiểm tiền gửi đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửitheo quy định;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao
(4) Phòng nguồn vốn và Đầu tư
- Theo dõi xây dựng phương án bảo đảm khả năng thanh toán thườngxuyên của BHTGVN;
- Xây dựng đề xuất trình HĐQT phương án về tiếp nhận nguồn vốn hỗtrợ và vay đặc biệt khi cần thiết; vay vốn của các tổ chức tín dụng và tổ chứckhác; cho vay hỗ trợ để chi trả tiền gửi được bảo hiểm; bảo lãnh cho cáckhoản vay đặc biệt để chi trả tiền gửi được bảo hiểm đối với tổ chức tham giabảo hiểm tiền gửi và mua lại nợ của tổ chức đó trong trường hợp khoản nợ đó
có tài sản bảo đảm;
- Đề xuất phương án đầu tư các nguồn vốn nhàn rỗi của BHTGVN;
- Tổ chức thực hiện theo dõi tình hình đầu tư vốn tạm thời nhàn rỗi, tìnhhình thực hiện các nghiệp vụ hỗ trợ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vàtình hình đi vay và trả nợ của BHTGVN;
- Thực hiện chế độ báo cáo tình hình thực hiện các mảng nghiệp vụ theoquy định;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao
(5) Phòng Tài chính Kế toán
Trang 16- Tổ chức mở sổ sách báo biểu kế toán, thực hiện công tác hạch toán kếtoán đảm bảo kịp thời, chính xác các nghiệp vụ phát sinh, lưu trữ chứng từ, sổsách theo đúng quy định của Nhà nước;
- Tiếp nhận, theo dõi, quản lý nguồn vốn ( theo điều lệ) của BHTGVN;Tham mưu cho Tổng giám đốc các vấn đề liên quan đến công tác tàichính, kế toán;
- Xây dựng các báo cáo định kỳ, đột xuất về tài chính, kế toán theo quyđịnh;
- Xây dựng các cơ chế quản lý nội bộ về tài chính và kế toán;
- Cung cấp các dịch vụ kế toán và ngân hàng;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng giám đốc giao
(6) Phòng Công nghệ và dịch vụ thông tin
- Nghên cứu, xây dựng chiến lược ứng dụng công nghệ thông tin vàohoạt động của toàn hệ thống;
- Phối hợp với các phòng, ban và bộ phận khác thuộc BHTGVN, xâydựng các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao hiệu quả hoạtđộng của toàn hệ thống;
- Nghiên cứu, triển khai viết các phần mềm ứng dụng (nếu có thể) hoạctrình HĐQT và Tổng Giám đốc mua các phần mềm ứng dụng cho hoạt độngcủa BHTGVN;
- Xây dựng kế hoạch lắp đặt, mua sắm bảo quản, bảo dưỡng hệ thốngmáy vi tính trong toàn bộ hệ thống; đảm bảo sử dụng có hiệu quả máy vi tínhđó;
- Đảm nhận công tác thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thôngtin đại chúng và tiếp xúc với công chúng;
- Đảm nhận việc liên lạc và quan hệ qua lại với các tổ chức và cơ quankhác;
- Đảm nhận việc thông tin, hướng dẫn và trợ giúp khác cho người gửi
Trang 17tiền tại các tổ chức tham gia bảo hiểm bị chấm dứt hoạt động;
- Tổng hợp thông tin và xây dựng Báo cáo thường niên và các báo cáotổng hợp khác của BHTGVN;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao
(7) Phòng Giám sát và Đánh giá
- Xem xét, đánh giá tư cách tham gia bảo hiểm tiền gửi của các tổ chứctham gia bảo hiểm tiền gửi Kiến nghị Ban điều hành để trình Hồi đồng quảntrị về vịêc chấp thuận bảo hiểm và cấp giấy chứng nhận bảo hiểm tiền gửi;
- Tiếp nhận các báo cáo, các thông tin liên quan tới hoạt động của các tổchức tham gia bảo hiểm để làm cơ sở đánh giá về các tổ chức này;
Nghiên cứu theo dõi các diễn biến kinh tế trong nước và nước ngoài cóthể gây ảnh hưởng hoạt động ngân hàng và hiệu quả hoạt động của các tổchức tham gia bảo hiểm tiền gửi;
- Kiểm tra đôn đốc vịêc tính và nộp phí bảo hiểm tiền gửi của các tổchức tham gia bảo hiểm tiền gửi;
- Giám sát việc các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trong việc chấphành các quy định về quảng cáo thông tin tuyên truyền về bảo hiểm tiền gửi;
và tuân thủ các chính sách hiện hành liên quan tới bảo hiểm tiền gửi , kiếnnghị các biện pháp xử lý vi phạm;
- Thực hiện và xây dựng cơ chế giám sát từ xa nhằm phát hiện và cảnhbáo kịp thời những khó khăn tài chính tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi;trình Ban điều hành kiến nghị Ngân hàng Nhà nước áp dụng các biện pháp xử
Trang 18bảo hiểm tiền gửi có vấn đề;
- Xây dựng các cơ chế và thực hiện cồng khai công tác kiểm tra tại chỗđối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gủi, kiểm tra việc tuân thủ các quyđịnh về bảo hiểm tiền gửim việc chấp hành các quy chế an toàn trong hoạtđộng kinh doanh tiền tệ của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quyđịnh của Luật các tổ chức tín dụng và kiến nghị các giải pháp thích hợp;
- Thực hiện các nhiệm vụ do Tổng Giám đốc giao
(8) Phòng Xử lý nợ, tiếp nhận và thanh lý tài sản
- Xem xét các sổ sách kế toán của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bịchấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản nhằm xácđịnh các khoản tiền gửi được bảo hiểm của người gửi tiền tại tổ chức đó;
- Xử lý, giải quyết các yêu cầu thanh toán và chi trả cho người gửi tiền;
- Theo dõi việc bán các tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vàtài sản thế chấp đối với tổ chức đó để thu hồi vốn;
- Tiếp nhận và xác nhận nợ của tổ chức tham gia bảo hiển tiền gửi bịđóng cửa;
- Đại diện cho bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trước toà án với tư cách làbên tiếp nhận và thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bịchấm dứt hoạt dộng; theo dõi, phối kết hợp với các bên liên quan giải quyếtcác thủ tục xử lý nợ và thanh lý tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị chấmdứt hoạt động;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao
(9) Phòng Kiểm soát và Kiểm toán nội bộ
- Theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện chức năng nhiệm vụ của Ban,phòng, bộ phận thuộc BHTGVN; tình hình và hiệu quả thực hiện các Nghịquyết, quyết định của Hội đồng quản trị, của Ban Giám đốc, của các phòngban, bộ phận thuộc BHTGVN;
Trang 19- Báo cáo định kỳ cho Tổng Giám đốc về các kết quả kiểm soát, kiểmtoán nội bộ và các khuyến nghị, biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạtđộng;
- Kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính, việc chấp hành chế độ kế toántài chính nội bộ;
- Kiểm tra tình hình thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng;
- Theo dõi giãi quyết công tác khiếu tố, khiếu nại trong BHTGVN;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao
- Theo dõi nắm bắt tình hình kinh tế xã hội và tình hình hoạt động củacác tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên địa bàn;
- Phối hợp và triển khai thực hiện các nhiêm vụ của BHTGVN
- Thực hiện công tác thông tin tuyên truyền đế công chúng về bảo hiểmtiền gửi
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao
Trang 20Ngân hàng Thương mại cổ phần 57,791 tỷ đồng chiếm 22,81% Công tyTài chính
83 triệu đồng chiếm 0,03% Ngân hàng liên doanh 444 triệu đồng chiếm0,18% Chi nhánh ngân hàng nước ngoài 1,748 tỷ đồng chiếm 0,69% Quỹ tíndụng nhân dân 7,869 tỷ đồng chiếm 3,11%
1.2.2 Các hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN
Cấp giấy chứng nhận bảo hiểm tiền gửi cho tất cả các tổ chức tín dụng
có nhận tiền gửi, cấp bổ sung lượng cần thiết và kịp thời theo yêu cầu của các
tổ chức để niêm yết công khai trước công chúng; thu hồi giấy chứng nhận bảohiểm tiền gửi đối với các tổ chức bị giải thể, sáp nhập Tổng số đã cấp bảnchính là 1.076, thu hồi 100, hiện còn 976 tổ chức đang tham gia bảo hiểm tiềngửi Tính đến nay Ngân hàng Chính sách-xã hội, Tiết kiệm Bưu điện, Ngânhàng phát triển và các tổ chức tài chính quy mô nhỏ chưa tham gia bảo hiểmtiền gửi
Cơ chế thu phí bảo hiểm tiền gửi hiện nay đang áp dụng mức phí đồnghạng 0,15%/ năm trong khi chưa có điều kiện đánh giá phân loại mức độ rủi
ro hoạt động của các tổ chức Tổng thu phí luỹ kế từ quý III năm 2000 đếnquý II năm 2005 đạt 680 tỷ đồng, tốc độ thu phí hàng năm tăng trên 20% Giám sát từ xa được triển khai ngay từ những ngày đầu BHTGVN đivào hoạt động bao gồm các hoạt động: kiểm soát các hồ sơ pháp lý tham giabảo hiểm tiền gửi, giám sát thực trạng hoạt động trên cơ sở nguồn thông tinbáo cáo, đánh giá theo định kỳ hàng quý đối với tất cả các tổ chức có quan hệbảo hiểm tiền gửi; giám sát việc chấp hành các quy định về bảo hiểm tiền gửi
và tuân thủ quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng; cảnh báocác rủi ro tiềm tàng và những sai phạm, yếu kém cần khắc phục
Kiểm tra trực tiếp định kỳ hàng năm trên diện rộng theo kế hoạch đượcHội Đồng Quản Trị phê duyệt và kiểm tra đột xuất theo kết quả báo cáo củagiám sát từ xa Đến cuối cuối năm 2004, BHTGVN đã tiến hành 107 cuộc
Trang 21kiểm tra các ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng, 1.422 cuộc kiểmtra quỹ tín dụng nhân dân.
Nghiệp vụ hỗ trợ tài chính theo quy định hiện hành chỉ giới hạn giảitoả tình trạng mất khả năng chi trả, chưa được thực hiện rộng rãi do năng lựctài chính của BHTGVN còn hạn chế và chưa có cơ chế xử lý rủi ro thoả đáng
Do đó nghiệp vụ này mới được triển khai thí điểm ở quỹ tín dụng cơ sở theo
2004 với mức chi trả tối đa theo quy định của chính phủ
Thu hồi nợ trong quá trình thanh lý đơn thuần là thực hiện các biệnpháp đôn đốc tận thu trong điều kiện có thể, pháp luật chưa cho phép có bất
kỳ sự can thiệp nào của BHTGVN đối với các quan hệ về quyền và nghĩa vụcủa tổ chức đó với khách hàng Với việc khẳng định quyền chủ nợ sau chi trảbảo hiểm, BHTGVN đã thu hồi 1,681 tỷ đồng từ hoạt động thanh lý
Đầu tư tài chính các khoản vốn nhàn rỗi hiện giới hạn ở đầu tư vào tráiphiếu chính phủ, giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi tạị cácngân hàng thương mại nhà nước Các khoản đầu tư đảm bảo an toàn, có thunhập đủ bù đắp chi phí hoạt động và tích luỹ phát triển
1.2.3 Một số định hướng hoạt động của BHTGVN trong thời gian tới.
Về hoạt động giám sát kiểm tra, mô hình giám sát mới của BHTGVNphải đạt được các mục tiêu:
Thống nhất chuẩn mực giám sát, phân định chức năng và hợp tác chia sẻthông tin giữa các cơ quan có chức năng giám sát, qua đó nâng cao hiệu quảcông việc và tránh chồng chéo khi thực hiện nhiệm vụ giám sát
Trang 22BHTGVN xây dựng các chuẩn mực giám sát theo mô hình CAMELS vàcác tiêu chí tài chính theo khuyến nghị của Uỷ ban BASEL nhằm phân loạiđánh giá các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở rủi ro.
BHTGVN xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho công tácgiám sát từ xa, và kiểm tra tại chỗ; hệ thống này giúp cho việc thu thập cácnguồn thông tin từ các kênh khác nhau tạo dựng cho kho dữ liệu tập trung, từ
đó tiến hành phân tích khai thác thông tin theo mô hình tập trung các dữ liệuvới các tiêu chí đánh giá về tình hình hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch
vụ tài chính theo các mặt liên quan như tín dụng, thanh khoản, thị trường vàhoạt động
Dựa vào các số liệu phân tích, BHTGVN và các cơ quan giám sát có thểđánh giá kịp thời và đưa ra các chính sách phù hợp cho các tổ chức được bảohiểm tiền gửi như cảnh báo, yêu cầu khắc phục, hỗ trợ tài chính, hoặc xử lýnhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia
Về hoạt động tiếp nhận xử lý, các tổ chức tiếp nhận tiền gửi được bảohiểm bị đổ vỡ được xử lý hiệu quả nhất phù hợp với quy định của pháp luật,tài sản tiếp nhận được quản lý và bán ra thị trường một cách hiệu quả với chiphí thấp nhất để thu hồi, tiền gửi và tài sản tiếp nhận kể cả các khoản nợ vànghĩa vụ khác được xử lý công bằng và hiệu quả
Về sản phẩm và dịch vụ và hệ thống quản lý, phát triển các sản phẩmdịch vụ và các phương pháp quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế, từng bước nângcao hiệu quả tài chính, thoả mãn yêu cầu quản lý Nhà nước, xây dựng hệthống quản lý thông tin khách hàng, qua đó xây dựng các dòng sản phâmphục vụ cho từng loại khách hàng
CHƯƠNG II HOẠT ĐỘNG THANH TRA VÀ GIÁM SÁT NGÂN HÀNG
Trang 232.1 Ủy ban Basel và hệ thống các nguyên tắc thanh tra giám sát hoạt động Ngân hàng
2.1.1 Giới thiệu về Ủy ban Basel
Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng là một Uỷ ban bao gồmcác chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập bởi một sốThống đốc Ngân hàng Trung ương vào năm 1975 Uỷ ban này bao gồm đạidiện cao cấp của các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng tại 10 quốc giatrên thế giới, bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan,Canada, Thụy Điển và Bỉ
Quan điểm của Basel là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của mộtquốc gia có thể ảnh hưởng tới sự ổn định về tài chính không chỉ trong phạm
vi quốc gia đó mà trên phạm vi toàn cầu Chính vì thế, đây là vấn đề cần được
cơ quan giám sát tại các quốc gia và Ủy ban Basel về Giám sát Nghiệp vụngân hàng đặc biệt quan tâm
Trong quá trình hoạt động, Uỷ ban đã xây dựng và xuất bản hai nhóm
ấn phẩm chủ yếu: 1) Bộ các nguyên tắc cơ bản cho việc giám sát hoạt độngcủa ngân hàng một cách có hiệu quả; và 2) Bộ sách hướng dẫn (được cập nhậtđịnh kỳ) với các khuyến nghị hiện nay của Uý ban Basel, các hướng dẫn vàtiêu chuẩn
2.1.2 Nhóm ấn phẩm nguyên tắc cơ bản của Ủy ban Basel
Bộ 25 nguyên tắc cơ bản Basel là tài liệu dành cho cán bộ thực hiện côngtác giám sát ở các quốc gia và cả trên phạm vi quốc tế Các nguyên tắc này đãđược thiết kế cho các chuyên gia giám sát, nhóm giám sát khu vực và thịtrường nói chung theo nguyên tắc dễ áp dụng và kiểm chứng Uỷ ban Basel sẽcùng với các tổ chức liên quan khác đóng vai trò nhất định trong việc giám sáttiến độ áp dụng các nguyên tắc trên đây của các quốc gia nhằm xây dựng hệ
Trang 24thống giám sát đủ mạnh Bộ nguyên tắc cơ bản bao hàm một số nhóm nộidung chủ yếu sau:
- Các Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về điều kiện tiên quyết cho việcgiám sát ngân hàng hiệu quả: cụm chủ đề này được thể hiện bởi nguyên tắc 1.Nguyên tắc chỉ ra điều kiện của một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hàng
có hiệu quả là: i) phải có một khung pháp lý phù hợp; ii) phân định mục tiêu,nguồn lực và trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan giám sát; iii) quy định vềchia sẻ và bảo mật thông tin
- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề cấp phép và cơ cấu: bao gồm từnguyên tắc 2 đến nguyên tắc 5, với các nội dung chính: i) xác định rõ ràng cáchoạt động tổ chức tài chính được phép làm và chịu sự giám sát; ii) quyền đưa
ra các tiêu chí và bác bỏ đơn xin thành lập nếu không đạt yêu cầu của cơ quancấp phép; iii) quyền rà soát và từ chối bất kỳ một đề xuất nào đối với việcchuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát ngân hàng hiện tại cho các bênkhác
- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về các quy định và yêu cầu thậntrọng: cụm chủ đề bao gồm từ nguyên tắc số 6 đến số 15 Nội dung chính củanhóm nguyên tắc là đưa ra các chuẩn mực mà các chuyên gia giám sát nghiệp
vụ ngân hàng được làm và nhất thiết phải biết xử lý trong hoạt động của mình
ví dụ như: yêu cầu về an toàn vốn cho các ngân hàng, xác định rõ những khuvực nào của vốn ngân hàng chịu rủi ro; đánh giá các chính sách, thực tiễnhoạt động, các thủ tục cho vay vốn, đầu tư, việc kiểm soát vốn vay hiện tại và
hồ sơ đầu tư của ngân hàng đó; đánh giá chất lượng tài sản và tính thích hợpcủa các điều khoản chống thất thoát và quĩ dự trữ thất thoát khoản vay
- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về giám sát nghiệp vụ ngân hànghiện nay: bao gồm từ nguyên tắc số 16 đến nguyên tắc số 20 Nhóm nguyêntắc này quy định yêu cầu đối với một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hànghiệu quả bao gồm cả các hình thức giám sát từ xa và giám sát tại chỗ Cơ
Trang 25quan giám sát cần thường xuyên liên hệ với Ban giám đốc ngân hàng để hiểu
rõ về hoạt động của NH, xây dựng phương pháp phân tích báo cáo thống kê
và có biện pháp thẩm định độc lập thông tin giám sát thông qua kiểm tra tạichỗ
- Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề yêu cầu về thông tin: chủ đề này có 1nguyên tắc số 21 chỉ ra cán bộ giám sát phải biết chắc mỗi ngân hàng có hệthống lưu trữ tài liệu phù hợp cho phép chuyên gia giám sát có thể tiếp cận vàthấy được tình hình tài chính thực tế của ngân hàng
- Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề quyền hạn hợp pháp của chuyên gia giámsát: cụm chủ đề này có 1 nguyên tắc số 22 chỉ ra các biện pháp giám sát bắtbuộc để có thể đưa ra được hành động can thiệp kịp thời khi ngân hàng khôngđáp ứng được những yêu cầu cơ bản (ví dụ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu khôngđảm bảo, năng lực quản trị điều hành yếu ) Trong trường hợp khẩn cấp, hoạtđộng can thiệp này bao gồm cả việc thu hồi giấy phép lập tức hoặc đề nghịthu hồi giấy phép hoạt động
- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề nghiệp vụ ngân hàng xuyên biêngiới: cụm chủ đề này bao gồm từ nguyên tắc số 23 đến nguyên tắc số 25 vớinội dung hướng dẫn giám sát đối với các nghiệp vụ giao dịch ngân hàng quốc
tế, yêu cầu các ngân hàng nước ngoài hoạt động theo đúng các tiêu chuẩn caobằng tiêu chuẩn của các ngân hàng trong nước và thiết lập quan hệ và hệthống trao đổi thông tin với các chuyên gia giám sát khác, đặc biệt là vớichuyên gia giám sát của nước sở tại
Bộ sách hướng dẫn được cập nhật tháng 6 năm 2006 (10 nguyên tắc) Tháng 6 năm 2006, Uỷ ban Basel đã phát hành tài liệu hướng dẫn vớinội dung “Đánh giá chính xác rủi ro tín dụng và định giá khoản cho vay” Tàiliệu bao gồm 10 nguyên tắc được chia làm 2 chủ đề chính: i) những vấn đềgiám sát liên quan đến đánh giá chính xác rủi ro tín dụng và định giá khoản
Trang 26cho vay và ii) vấn đề đánh giá rủi ro tín dụng các khoản cho vay về phía cơquan giám sát.
Về những vấn đề giám sát liên quan đến đánh giá chính xác rủi ro tíndụng và định giá khoản cho vay Phần này bao gồm 7 nguyên tắc đầu tiên vớicác vấn đề được đề cập như sau:
_ Ban giám đốc của ngân hàng phải có trách nhiệm bảo đảm ngân hàng
có trình tự đánh giá rủi ro tín dụng phù hợp và hệ thống kiểm soát nội bộ hiệuquả phù hợp với tính chất, quy mô và tính phức tạp của nghiệp vụ cho vaycủa đơn vị đồng thời phù hợp với chính sách, hệ thống kế toán và hướng dẫngiám sát của nước sở tại
_ Ngân hàng phải có một hệ thống phân loại khoản cho vay đáng tincậy dựa trên cơ sở rủi ro tín dụng
_ Chính sách của ngân hàng phải được mô hình đánh giá rủi ro tíndụng nội bộ nhất định phê chuẩn
_ Ngân hàng phải phê chuẩn và ban hành phương pháp quản lý tổnthất khoản cho vay hợp lý trong đó đề cập đến: quy trình, chính sách đánh giárủi ro tín dụng, quy trình kiểm tra lại và xác định những vấn đề về khoản chovay, hướng trích lập dự phòng một cách kịp thời
_ Khoản dự phòng trích lập phải đủ để có thể bù đắp những tổn thấtcho vay trong danh mục các khoản cho vay
_ Việc sử dụng phương pháp đánh giá tín dụng đã được kiểm chứng vàước lượng hợp lý là một phần cơ bản trong việc đánh giá tổn thất cho vay _ Quy trình đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng phải cung cấp chongân hàng những công cụ, trình tự và dữ liệu thích hợp để đánh giá rủi ro tíndụng
Về vấn đề đánh giá rủi ro tín dụng các khoản cho vay về phía cơ quangiám sát Phần này bao gồm 3 nguyên tắc, từ nguyên tắc số 8 đến nguyên tắc
số 10; cụ thể:
Trang 27_ Định kỳ, cơ quan giám sát phải đánh giá tính hiệu quả của chính sáchrủi ro tín dụng và đánh giá thực tế chất lượng khoản cho vay
_ Cơ quan giám sát phải xác nhận phương pháp tính dự phòng tổn thấtcho vay của ngân hàng là phù hợp
_ Cơ quan giám sát ngân hàng phải xem xét chính sách và thực tế ápdụng đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng khi kiểm tra mức đủ vốn củangân hàng
Thực trạng công tác giám sát tại Việt Nam và vấn đề áp dụng cácnguyên tắc Basel vào hoạt động giám sát Trong điều kiện Việt Nam đangtrong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàngtiềm ẩn nhiều rủi ro Tốc độ tăng trưởng tiền gửi, tín dụng nhanh là một tínhiệu khả quan, nhưng đồng thời cũng là nguy cơ khi năng lực quản trị điềuhành, khả năng cạnh tranh của các ngân hàng còn yếu kém
Với trách nhiệm đảm bảo an toàn hệ thống, Bộ máy giám sát tài chínhngân hàng tại Việt Nam chưa được xây dựng đồng bộ và hiệu quả để đảm bảogiảm thiểu rủi ro Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa đượcchuyển đổi hoạt động theo mô hình Ngân hàng Trung ương Thanh tra ngânhàng được giao thực hiện một số hoạt động giám sát an toàn hệ thống ngânhàng trong khi vẫn có chức năng thanh tra chuyên ngành như mọi cơ quanthanh tra trong các Bộ, cơ quan ngang bộ khác Đây là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến hạn chế việc thực thi có hiệu quả chính sách giám sátngân hàng Bên cạnh đó, việc phân định chức năng, phối hợp nghiệp vụ vàtrao đổi thông tin giữa các cơ quan thực hiện giám sát chủ yếu bao gồm:Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và Bộ Tài chínhchưa được quy định cụ thể gây khó khăn trong quá trình tác nghiệp, hoạt độngchồng chéo Phương pháp thanh tra giám sát đang từng bước được đổi mới
Trang 28nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý Kiểm tra tại chỗ, thanh tra tuânthủ vẫn là nội dung hoạt động chủ yếu, khả năng giám sát toàn bộ thị trườngtiền tệ, cảnh báo sớm và ngăn ngừa rủi ro còn yếu
Những vấn đề nói trên đặt ra yêu cầu phải đổi mới toàn diện hệ thốnggiám sát cả về tổ chức và phương pháp thực hiện Cải cách là tất yếu, nhưngnếu cải cách quá chậm sẽ khiến chúng ta phải gánh chịu chi phí cơ hội ngàycàng lớn và rủi ro đổ vỡ sẽ không chờ đợi bất kỳ ai, vì bất cứ nguyên nhân gì
Đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướngđến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định 112/2006/QĐ-TTg ngày 24tháng 5 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra lộ trình xây dựngkhung pháp lý quan trọng cho hoạt động ngân hàng như xây dựng Luật Ngânhàng Nhà nước Việt Nam (mới), Luật các Tổ chức tín dụng (mới), Luật Bảohiểm tiền gửi, Luật Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng Trong quá trìnhđổi mới hệ thống ngân hàng và hoạt động giám sát, Việt Nam cần nghiên cứucác quy trình, chuẩn mực quốc tế (Bộ các nguyên tắc Basel là một trong sốđó) để hoạt động giám sát thực sự là chốt chặn an toàn cho nền kinh tế
2.2 Thực trạng hệ thống thanh tra giám sát ngân hàng tại Việt Nam
Cho đến nay, có thể nói các cơ chế để thực thi việc giám sát, quản trị
hệ thống vẫn còn yếu, đặc biệt là giám sát các Ngân Hàng Thương Mại QuốcDoanh Bộ tài chính là người có vai trò thông báo tình hình hoạt động của cácNgân Hàng Thương Mại Quốc Doanh nhưng cơ chế để thực thi việc quản lýcác ngân hàng này còn yếu Cụ thể, Ban giám sát có đại diện của bộ tài chính
tỏ ra không hiệu quả trong vai trò giám sát từ xa cũng như với vai trò là cổđông Vụ tài chính ngân hàng trực thuộc Bộ tài chính là bộ phận có quyềnhướng dẫn ,kiểm tra và giám sát tài chính với toàn bộ hệ thống tài chính tronglĩnh vực ngân hàng và tín dụng nhưng trên thực tế bộ phận này chỉ thu thập
Trang 29một số thông tin về các khoản bù đắp rủi ro và các thông tin trong tương lai.Ngoài ra,lương của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc và cán bộ do Bộ laođộng thương binh xã hội quy định có sự tham gia của Bộ tài chính mà không
có sự liên hệ chặt chẽ với hoạt động tài chính của các Ngân Hàng ThươngMại Quốc Doanh và không tính đến khả năng xảy ra rủi ro lhi đánh giá đếnhoạt động chung Thực tế, Ngân hàng nhà nước mới có vai trò ảnh hưởng đếncác Ngân Hàng Thương Mại Quốc Doanh Theo luật ngân hàng hiện hành,Ngân hàng nhà nước được can thiệp vào hoạt động,quản lý và hầu hết cácthay đổi của Ngân Hàng Thương Mại Quốc Doanh Các thành viên Hội đồngquản trị, được bổ nhiệm bởi Thống đốc Ngân hàng nhà nước.Thủ tướngChính Phủ quyết định Hội đồng quản trị và tổng giám đốc trên cơ sở đề nghịcủa Thống đốc Ngân hàng nhà nước Như vậy luật phát hiện hành cho phépNgân hàng nhà nước được phép can thiệp về việc quản lý của hệ thống ngânhàng mnhiều hơn so với thường thấy trong hệ thống ngân hàng hoạt động trênthị trường Về phương diện vốn, do vốn của các Ngân Hàng Thương MạiQuốc Doanh đều do Nhà nước cấp và một phần không nhỏ hoạt động của cácngân hàng này được chính phủ bảo lãnh một cách gián tiếp về khả năng chitrả và thanh toán nên ít có động lực cho các ngân hàng này tạo lợi nhuận vàkhuyến khích các thành viên của các Ngân Hàng Thương Mại Quốc Doanhquản lý tốt tài chính của ngân hàng mình Điều này sẽ hạn chế khách hàngtiếp cận với các Ngân Hàng Thương Mại Quốc Doanh có tình hình tài chínhlành mạnh.Do vậy cần nâng cao quản trị tài chính của các Ngân Hàng ThươngMại Quốc Doanh để các ngân hàng này sử dụng có hiệu quả nguồn vốn củaChính phủ
Ngoài ra một số quy định hiện hành không phù hợp để các ngân hàngquản lý tài chính tốt như : Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc các thành viên Hộiđồng quản trị có thẻ đồng thời giữ chức Tổng giám đốc và chủ tịch ban giámsát trong khi đó luật Tổ chức tín dụng quy định phải tách biệt chức năng điều
Trang 30hành và chức năng giám sát Hội đồng quản trị có thể quyết định tăng lươngthưởng cho Tổng giám đốc nhưng điều này bị hạn chế bởi quy định tại điều
22 Nghị định 166 Cách tính lợi nhuận ít căn cứ vào tính hiệu quả của việc sửdụng vốn ngân hàng và sự ổn định về lợi nhuận trong dài hạn hay mức độ rủi
ro của ngân hàng Kiểm soát nội bộ để đảm bảo việc tuân thủ các chính sách,thủ tục và đảm bảo cho việc quản trị tốt thường được gộp với các chức năngkiểm toán nội bộ ĐIều này không phù hợp với vai trò kiểm toán nội bộ
Trên góc độ giám sát toàn bộ hệ thống tài chính thì hoạt động thanh travẫn còn nhiều bất cập Công tác giám sát từ xa của thanh tra chưa đáp ứngđược nhu cầu kịp thời nắm bắt thông tin và những vấn đề nổi cộm trong hoạtđộng của tổ chcs tín dụng, do đó chưa phát huy được tác dụng cảnh báo sớm
và phòng ngừa rủi ro đối với các tổ chức tín dụng.Hoạt động thanh tra tại chỗchưa có quy trình thanh tra thống nhất,chủ yếu thực hiện trên cơ sở thanh traviệc tuân thủ của các ngân hàng, đôi khi lại can thiệp quá sâu vào công việcnội bộ của tổ chức tín dụng hoặc mang nặng tính chữa cháy, thậm chí làmthay công việc của kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng mà chưa tập trungsâu phân tích đánh giá rủi ro tổng thể về tổ chức và hoạt động của tổ chức tíndụng Việc phối hợp giữa hoạt động thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa thờigian qua đã đạt được kết quả nhất định nhưng hiệu quả chưa cao Giám sát từ
xa chưa thực sự có tác dụng phân tích định hướng và chỉ điểm cho thanh tratại chỗ Về tổ chức, mô hình thanh tra hiện tại chưa cho phép thanh tra hoạtđộng độc lập với Ngân hàng nhà nước, vừa chịu sự quản lý của Ngân hàngnhà nước vừa chịu sự quản lý của thanh tra Nhà nước nên cơ chế điều hànhcòn chồng chéo, không kịp thời trong công tác chỉ đạo làm giảm tính hiệu quảhiệu lực trong hoạt động thanh tra Việc tuyển dụng quản lý đào tạo cán bộthanh tra còn hạn chế có biểu hiện tụt hậu so với nhu cầu hội nhập quốc tế vềngân hàng So với chẩn mực quốc tế, thì chức năng thanh tra còn phân tán ởnhiều Vụ, Cục, môi tỷường pháp lý chưa hoàn thiện mới dựa vào Pháp lệnh
Trang 31thanh tra, thiếu luật thanh tra và chế độ thông tin báo cáo nên trách nhiệm báocáo chưa cao, chưa xác định rõ tính độc lập của thanh tra để hoạt động hiệuquả Các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng còn chậm chỉnh sửa bổsung cho hợp vơí thông lệ quốc tế.
Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á cuối những năm 90 cho thấy hệthống tài chính có đủ mạnh mới cho phép nền kinh tế chống đỡ được những
cú sốc tài chính bên ngoài Thực trạng hệ thống tài chính nêu trên cho thấy hệthống tài chính của Việt Nam, đặc biệt là hệ thống ngân hàng còn non yếu về
cả phương diện tài chính,công nghệ thông tin, khả năng cạnh tranh, trình độquản lý rủi ro cũng như khả năng giám sát
Đặc biệt,hiện nay Ngân Hàng Thương Mại Quốc Doanh vẫn chiếm vaitrò chủ đạo trên thị trường tiền tệ do có lợi thế về quy mô kinh tế và sức mạnh
có được từ sự sở hữu của Nhà nước Tuy nhiên, trong thời gian tới khi gianhập tổ chức thương mại quốc tế và thực hiện và thực hiện các cam kết về tự
do hóa hoạt động ngân hàng thì vai trò này của các Ngân Hàng Thương MạiQuốc Doanh sẽ có xu hướng giảm dần Ngoài ra, do vốn của các Ngân HàngThương Mại Quốc Doanh thấp hơn nhiều so với mức huy động và cho vaycho thấy sự thiếu vốn của các ngân hàng này, do vậy, hệ số an toàn vốn của 4ngân hàng náy là thấp, ước tính 3,4% - 5% thấp hơn hệ số an toàn vốn theoyêu cầu quốc tế là 8% Điều này cho thấy thách thức đối với các ngân hàngnày trrong thời gian tới khi hội nhập kinh tế toàn cầu, từng bước tự do hoá cácgiao dịch vốn sẽ chứa đựng rủi ro khi có biến động của thị trường tài chínhquốc tế
Để chủ động hội nhập kinh tế toàn cầu, từng bước tự do hoá cán cânvốn, thì hệ thống tài chính, đặc biệt là hệ thống ngân hàng cần phải đổi mớinhiều mặt Trước hết các Ngân Hàng Thương Mại Quốc Doanh cần phải đượctăng cường vốn để đảm bảo chỉ tiêu an toàn vốn Nợ tồn đọng cần phải được
xử lý dứt điểm Các ngân hàng thương mại cần được trang bị các công nghệ
Trang 32thông tin hiện đại để kịp thời nắm bắt các thông tin, diễn biến trên thị trườngtrên toàn hệ thống Các cán bộ ngân hàng cần được nâng cao trình động vềquản lý rủi ro trên cơ sở tài sản nợ có Các Ngân hàng thương mại cần có cácchiến lược Ngân hàngằm nâng cao khả năng cạnh tranh để chuẩn bị khi cácNgân hàng nước ngoài thực hiện nhiều hơn các loại hình dịch vụ không bịthôn tính thực hiện phần Bên cạnh đó, các Ngân hàng thương mại cần nângcao công tác kiểm soát nội bộ để dự báo rủi ro Để giảm thiểu rủi ro trong quátrình hội Ngân hàngập trong bối cảnh còn nhiều lỗ hổng về thể chế, rủi ro cónhiều khả năng phát sinh do lợi nhuận thấp và thực hiệnếu vốn và với sự cạnhtranh mạnh mẽ của Ngân hàng nước ngoài khi mở rộng hơn hoạt động chocác Ngân hàng nước ngoài thì việc quản trị tài chính của các Ngân hàngthương mại quốc doanh cần phải được cải thiện đồng thời về phương diệnChính phủ mà người thay mặt là Ngân hàng nhà nước cần phải nâng cao khảnăng giám sát tài chính toàn hệ thống tài chính.
Để giám sát hiệu quả hệ thống tài chính, về phía Ngân hàng nhà nước,cần tăng cường công tác giám sát từ xa cũng như công tác thanh tra tại chỗ,xây dựng các chỉ tiêu giám sát theo CAMELS, thiết lập hệ thống xếp loại các
tổ chức tín dụng theo CAMELS, xây dựng hệ thống cảnh báo và hệ thốngthông tin quản lý để kịp thời trấn chỉnh hoạt động các tổ chức tín dụng cũngnhư hệ thống tài chính Bên cạnh đó, cần tài chính công tác phòng ngừa rủiro,đặc biệt là rủi ro ngoại hối cho toàn hệ thống Các hạn mức như trạng tháingoại hối tỷ trọng huy động và cho vay ngoại tệ dài hạn so với nguồn vốn huyđộng ngắn hạn, tỷ lệ đầu tư vào các cổ phần cổ phiếu ở nước ngoài của các tổchức tín dụng cần được điều chỉnh kịp thời để đặc biệt tính thanh khoản và antoàn của toàn hệ thống Chế độ thông tin báo cáo cần được cải thiện trênphương diện mẫu biểu cũng như hệ thống mạng hiện đại để đặc biệt Ngânhàng nhà nước có được các thông tin về hệ thống tài chính mmột cách kịpthời,chính xác.Có như vậy Ngân hàng nhà nước mới có đủ dữ liệu để phân
Trang 33tích và cảnh báo cho toàn hệ thống cũng như can thiệp khi cần thiết.
Về phía Chính phủ, khả năng các nước cho thấy cần thiết phải có luậtgiám sát thanh tra để hoạt động giám sát thanh tra được thực hiện theo luật và
để giám sát tốt hệ thống tài chính thì thanh tra cần có vai trò độc lập với hệthống tài chính, đặc biệt độc lập với Ngân hàng nhà nước để thanh tra có đủquyền lực giám sát hoạt động Ngân hàng Khi tự do hóa tài khoản vốn thìdoanh nghiệp cũng nhu hệ thống Ngân hàng đã được trao quyền tự chịu tráchnhiệm về hoạt động kinh doanh của mình đồng thời cũng tự chịu trách nhiệmtrước pháp luật về việc thực hiện đúng Pháp luật bao gồm trách nhiệm báocáo đầy đủ theo quy định Để việc thực thi báo cáo của doanh nghiệp và hệthống Ngân hàng có hiệu quả, cần ban hành luật thông tin báo cáo như kinhnghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc tránh tình trạng mặc dù đã có quy địnhnhưng Ngân hàng nhà nước vẫn không có thông tin báo cáo từ Ngân hàng vàdoanh nghiệp một cách đầy đủ như hiện nay Ngoài ra, Chính phủ nên cổphần hóa một số các Ngân hàng thương mại quốc doanh để các Ngân hàngnày sở hữu độc lập để khuyến khích các Ngân hàng này quản trị doanh nghiệptốt trên cơ sở lợi nhuận và dự phòng rủi ro và hạn chế bảo lãnh một cách giántiếp cho các Ngân hàng thương mại quốc doanh, cần xác định mục tiêu hoạtđộng rõ ràng cho đội ngũ quản lý của Ngân hàng thương mại quốc doanh,đảm bảo khả năng giám sát từ xa là độc lập với việc quản lý các Ngân hàngthương mại, tách chức năng thanh tra khỏi chức năng quản lý của Ngân hàngnhà nước
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, từng bước tự do hóa cáncân vốn, mức độ can thiệp của Chính phủ vào các giao dịch này sẽ ngày cànggiảm và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn Tuy nhiên, để duy trì sự ổn định chung củanền kinh tế vĩ mô, Chính phủ cần phải kiểm soát được toàn bộ các giao dịchcủa hệ thống tài chính bao gồm cả giao dịch vốn theo nghĩa nắm được mọidiễn biến, can thiệp một cách gián tiếp thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô
Trang 34để hạn chế hay khuyến khích các luồng vốn vào và ra Để làm được điều này,công tác thống kê phải được đặc biệt chú trọng Hệ thống báo cáo phải đảmbảo cung cấp những số liệu thống kê một cách chính xác, kịp thời để các cơquan quản lý tiền tệ có thể đánh giá đúng được xu hướng vận động của cácluồng vốn, phát hiện sớm những rủi ro và có biện pháp ứng phó thích hợp.Tuy nhiên, điểm hạn chế lớn nhất của hệ thống thống kê của Việt Nam hiệnnay là sự phối hợp lỏng lẻo giữa các cơ quan có trách nhiệm cung cấp số liệubởi chưa có một chế tài đủ mạnh nhằm bắt buộc thực hiện chế độ thông tinbáo cáo.Mặt khác, do khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tácthống kê còn hạn chế nên số liệu thống kê chưa đảm bảo tính cập nhật Dovậy, giám sát tốt hệ thống tài chính theo kinh nghiệm của Trung Quốc và một
số nước trong khu vực thì cần luật hóa chế độ báo cáo thống kê để nâng caotính hiệu lực thi hành báo cáo của Ngân hàng và doanh nghiệp Bên cạnh đó,
hệ thống báo cáo theo quy định 477 cần được trtiển khai sớm để thống nhấtmẫu biểu báo cáo qua kênh mạng thay vì chế độ báo cáo theo giấy tờ trướcđây Đầu mối thông tin cần tập trung tại tổng cục thống kê để tránh chồngchéo trong thu thập số liệu gây khó khăn cho Ngân hàng và doanh nghiệp.Tuy nhiên, cần tăng cường công tác phối hợp chia sẻ thông tin giữa các bộnghành, cụ thể là giữa tổng cục thống kê với Ngân hàng, bộ tài chính bộ kếhoạch và đầu tư
Về phía các tổ chức tín dụng, cần nâng cao hiểu biết về các rủi ro đikèm với các khoản tiền gửi,tín dụng, xây dựng các quy định kiểm soát rủi rotrên cơ sở tài sản nợ - có,xây dựng các hạn mức đầu tư, trạng thái ngoại hốiriêng của mình, cải thiện công tác kiểm soát nội bộ và tuân thủ các giới hạn
an toàn theo quy định của Ngân hàng nhà nước
Từ các khuyến nghị trên có thể đưa ra lộ trình cải tổ công tác giám sát
hệ thống tài chính trong thời gian sắp tới như sau :
Trang 35Trong ngắn hạn cần xây dựng đề án cải cách thanh tra giám sát phùhợp với chuẩn mực quốc tế về tổ chức,nghiệp vụ cơ chế điều hành giám sát
mà cụ thể là ban hành quy chế mới đánh giá, xếp hạng các tổ chức tín dụngtheo tiêu chuẩn CAMELS, bổ sung điều chỉnh quy chế kiểm toán độc lập chophù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế.Hoàn thiện quy định về
an toàn hoạt động Ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế, sửa đổi quy định
về vốn tự có, phân loại tài sản có, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro Trong trung hạn cần xây dựng khuôn khổ quy trình và phương phápthanh tra giám sát dựa trên cơ sở rủi ro, thiết lập hệ thống cảnh báo sớm đểphát hiện các tổ chức tín dụng đang gặp khó khăn thông qua giám sát từ xa vàxếp hạng tổ chức tín dụng, xây dựng sổ tay thanh tra tại chỗ các tổ chức tíndụng Việt Nam để các thanh tra viên sử dụng như cẩm nang thanh tra giámsát Ban hành quy định về tiêu chuẩn và yêu cầu tối thiểu đối với hệ thốngquản lý rủi ro hiệu quả tại tổ chức tín dụng, bao gồm hệ thống kiểm tra, kiểmtoán nội bộ, hệ thống quản lý tài sản nợ có và hệ thống quản lý rủi ro tín dụngrủi ro thanh khoản rủi ro thị trường đồng thời đảm bảo việc tuân thủ các quyđịnh này.Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và tham gia các hiệp ước, thỏa thuận quốc
tế về thanh tra giám sát Ngân hàng và an toàn hệ thống tài chính Tăng cườngtrao đổi thông tin với các cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng nước ngoài
để phối hợp hoạt động trong kiểm soát rủi ro và tranh thủ sự hỗ trợ kỹ thuậtcông nghệ thanh tra giám sát tiên tiến Phát triển đội ngũ cán bộ thanh tragiám sát đủ về số lượng và có trình độ nghiệp vụ cao, có phẩm chất chính trị
và đạo đức tốt, được trang bị kiến thức Pháp luật, quản lý và các công cụ thựcthi nghiệp vụ xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo ở trong và ngoài nướccác cán bộ thanh tra Ngân hàng về nghiệp vụ tài chính – Ngân hàng hiện đại,quản trị rủi ro và các phương pháp thanh tra giám sát tiên tiến
Trang 362.3 Hệ thống CAMELS trong giám sát hoạt động của các Ngân hàng.
Hệ thống CAMELS là hệ thống đánh giá hoạt động Ngân hàng toàndiện, được dùng phổ biến trên thế giới Để góp phần nâng cao hiệu quả thanhtra giám sát Ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Các thanh tra viên sử dụng báo cáo giám sát CAMELS để tiến hànhxếp hạng cho từng Ngân hàng dựa trên sự đánh giá của 6 cấu phần chính vềnăng lực và hoạt động của 1 Ngân hàng Sự xếp hạng sẽ cân đối với quy mô
và sự phức tạp của Ngân hàng, dặc trưng trong hoạt động và việc quản lý rủi
ro của Ngân hàng Việc xếp hạng sẽ được sử dụng để đánh giá thực trạng của
hệ thống Ngân hàng đua ra những hoạt động cần thiết cho thanh tra tại chỗ.Nội dung của toàn bộ hoạt động thanh tra tại chỗ sẽ dẫn đến những điều chỉnhcho việc xếp hạng tổng thể CAMELS Các cấu phần được đánh giá trên cáckhía cạnh sau :
- Vốn (C)
- Chất lượng tài sản có (A)
- Chất lượng quản lý và hoạt động (M)
- Thu nhập (E)
- Thanh khoản (L)
- Độ nhạy với lãi suất (S)
Việc tổng hợp xếp hạng được đánh giá dựa trên thang điểm từ 1 đến 5theo mức độ cần giám sát tăng dần Mức xếp hạng tổng hợp là kết quả củaviệc xếp hạng 6 cấu phần Xếp hạng 1 là mức xếp hạng cao nhất với ý nghĩa
là tổ chức tín dụng có hệ thống tốt nhất, đảm bảo chất lượng quản lý rủi ro,gắn liền với một mức độ giám sát ít nhất Xếp hạng 5 là mức xếp hạng xấunhất, tức là tổ chức tín dụng này có hoạt động yếu kém, không đảm bảo khả
Trang 37năng quản lý rủi ro và đòi hỏi hoạt động giám sát cao nhất cho tổ chức tíndụng này.
2.3.1 Đánh giá hoạt động
Ý nghĩa của việc xếp hạng cho từng mức như sau :
Xếp hạng 1 : Cho thấy tổ chức hoạt động tốt với mức cao hơn mứctrung bình chung
Xếp hạng 2 : Cho thấy tổ chức hoạt động ở mức chấp nhận được vớimức độ đánh giá trung bình hoặc trên trung bình không nhiều Điều này cũng
có nghĩa hoạt động của tổ chức tín dụng vừa đủ đảm bảo ở mức an toàn
Xếp hạng 3 : Cho thấy tổ chức hoạt động ở mức thấp hơn mức độ đượcchấp nhận, được đánh giá như mức độ hoạt động dưới mức trung bình
Xếp hạng 4 : Là mức độ cho rằng hoạt động của tổ chức là không đảmbảo, thấp hơn mức độ trung bình rất nhiều Nếu không được tiến hành kiểmtra thì tổ chức tín dụng này có thể dẫn đến nguy cơ mất năng lực hoạt động Xếp hạng 5 : Mức độ này cho thấy hoạt động của tổ chức tín dụng là rấtkém và đòi hỏi cần phải được chú ý giám sát ngay Hoạt động này thường đikèm với những yếu kém và nguy cơ mất năng lực hoạt động của tổ chức tíndụng
Việc xếp hạng cho từng cấu phần được tiến hành độc lập nhưng cũngcần xem xét mối quan hệ với các cấu phần khác Mức xếp hạng quá cao hoặcquá thấp cho một cấu phần có thể dẫn đến điều chỉnh tăng hoặc giảm xếphạng cho các cấu phần khác
Ví dụ, một Ngân hàng cho chỉ số xếp hạng cho cấu phần vốn được dựtính ở mức 1 nhưng nếu cấu phần chất lượng tài sản có lại được xếp hạng ởmức 4 thì mức xếp hạng của cấu phần vốn nên được điều chỉnh giảm xuống ítnhất là ở mức 2 hoặc thấp hơn nữa để cho thấy sự thiếu mức vốn đảm bảo cómối quan hệ với chất lượng tài sản xấu Tương tự đối với việc xếp hạng chocấu phần thu nhập và thanh khoản vì những cấu phần này cũng chịu những
Trang 38tác động tiêu cực khi chất lượng tài sản kém Trong một tình huống khác, việcxếp hạng cao cho cấu phần quản lý có thể dẫn đến không điều chỉnh thấp đicho các xếp hạng của các cấu phần khác bởi vì chất lượng của quản lý có thểgiúp tổ chức tín dụng vượt qua được những khó khăn tạm thời.
2.3.2 Xếp hạng cấu phần.
C – Mức đảm bảo vốn
Một ngân hàng cần duy trì một mức vốn đảm bảo chống đỡ với các loạirủi ro đặc trưng của ngân hàng và khả năng quản lý để xác định, đolường,kiểm soát và điều chỉnh những rủi ro này Những tác động của rủi ro tíndụng, rủi ro thị trường và các rủi ro khác đối với hoạt động của ngân hàng cóthể xem như thước đo đánh giá mức độ đủ vốn của ngân hàng Các loại hình
và mức độ rủi ro tác động đến hoạt động của một ngân hàng sẽ quyết định đếnmức vốn cần duy trì them trên mức vốn tối thiểu theo quy định để từ đó có thể
đề phòng những hậu quả xấu mà những rủi ro này có thể có đối với mức vốncủa ngân hàng
Mức đảm bảo vốn nên được xếp hạng dựa trên những yếu tố đánh giásau :
- Mức vốn, chất lượng vốn và khả năng tài chính tổng thể của ngân hàng
- Khả năng quản lý để có thể xác định những nhu cầu cho nguồn vốn bổsung
- Bản chất xu hướng và số lượng các tài sản có vấn đề, và mức độ đảmbảo dự phòng rủi ro cho các khoản mất nợ và các quỹ dự phòng khác
- Bảng tổng hợp cân đối tài sản bao gồm nội dung và số lượng các tài sản
vô hình, rủi ro thị trường, rủi ro tập trung và những rủi ro có lien quan đến cáchoạt động không mang tính truyền thống của ngân hàng
- Các rủi ro tiềm ẩn đối với hoạt động ngoại bảng của ngân hàng
- Mức thu nhập và sự hợp lý của cổ tức
Trang 39- Triển vọng và kế hoạch phát triển, cũng như việc đảm bảo kế hoạchtăng trưởng trong quá khứ.
- Khả năng tiếp cận với thị trường vốn và các nguồn vốn khác bao gồm
cả sự hỗ trợ vốn của các cổ đông hiện tại và cổ đông triẻn vọng trong tươnglai
Xếp hạng : Những ngân hàng có chỉ số vốn được xếp hạng ở mức 1hoặc 2 sẽ có đủ mức vốn mặc dù các chỉ số vốn của ngân hàng xếp hạng 1thông thường lớn hơn chỉ số của ngân hàng xếp hạng 2 Ngân hàng xếp hạng
3 là những ngân hàng mà mức vốn đảm bảo cho các tài sản có rủi ro , các tàisản có chất lượng ở mức tương quan thấp, tốc độ tăng trưởng của ngân hàng,
kế hoạch và triển vọng phát triển ; và tăng cường năng lực quản lý cũng đòihỏi vốn đảm bảo cho dù cấu phần quản lý được xem như là một nhân tố tácđộng tốt Trong phần lớn các trường hợp, những ngân hàng như vậy sẽ có cácchỉ số vốn nằm dưới mức trung bình của nhóm đồng hạng Ngân hàng xếphạng 4 hoặc 5 rõ ràng là những ngân hàng không đảm bảo được mức vốn cầnthiết, với mức xếp hạng 5 tức là ngân hàng đang đứng trước nguy cơ bị mấtnăng lực hoạt động và mất khả năng thanh toán Mức xếp hạng 5 cũng là mứcđòi hỏi ngân hàng phải có ngay một sự hỗ trợ từ các cổ đông hoặc từ cácnguốn hỗ trợ tài chính bên ngoài khác
A – Chất lượng tài sản có
Chất lượng tài sản có được đánh giá dựa trên mức độ, sự phân bổ và tìnhtrạng của các nhóm tài sản không tính cộng dồn và tài sản được giảm lãi suất;mức độ đảm bảo dph nợ,năng lực quản lý và điều hành việc xử lý và thu hồinhững khoản nợ có vấn đề Mức đảm bảo dự phòng nợ và khả năng có thể xử
lý và thu hồi các khoản nợ có vấn đề chính là yếu tố tác động tốt, ở một chừngmực nào đó, đến khả năng khắc phục những khó khăn có thể xảy ravới cácnhóm nợ Việc đánh giá chất lượng tài sản có nên xem xét đến các mức độ tập
Trang 40trung tín dụng hoặc đầu tư, bản chất và số lượng của các nhóm nợ đặc biệt, vàtính hợp lý của các chính sách cho vay và các quy trình thủ tục tín dụng.
Chất lượng tài sản có được đánh giá dựa trên những tiêu thức sau :
- Khả năng đảm bảo các tiêu chuẩn bảo lãnh nợ, khả năng điều hành vàquản lý tín dụng, và các năng lực quản lý rủi ro cần thiết khác
- Số lượng, sự phân bổ tình trạng và xu hướng của các tài sản có vậnđộng đã phân loại, không tính cộng dồn, cơ cấu lại,quá hạn và không hoạtđộng trên cả nội bảng lẫn ngoại bảng
- Mức độ đảm bảo dự phòng cho mất nợ và các dự phòng tài sản khác
- Những rủi ro tín dụng có thể tăng hoặc giảm thông qua các hoạt độngngoại bảng như các cam kết nợ không được thực hiện, các cam kết tín dụng,các thư tín dụng thương mại hoặc bảo lãnh
- Khả năng đa dạng hóa vá chất lượng của các khoản nợ và các danhmục đầu tư
- Mức độ tập trung hóa tài sản
- Tính hợp lý của các chính sách cho vay, đầu tư cũng như các thủ tục cóliên quan
- Khả năng quản lý trong việc xử lý các tài sản bao gồm cả việc pháthiện kịp thời và thu hồi được những khoản nợ có vấn đề
- Năng lực kiểm soát nội bộ và hệ thống thông tin quản lý
- Số lượng và bản chất của những hồ sơ tín dụng đặc biệt
Xếp hạng : Xếp chất lượng tài sản có ở mức 1 và 2 không đòi hỏi nhucầu cần thanh tra giám sát Cả hai mức độ xếp hạng này đều cho thấy mộtdanh mục nợ và đầu tư của ngân hàng ở mức tốt, mặc dù xếp hạng ở mức 1được hiểu là mức độ và thực trạng của các nhóm nợ là tốt hơn mức 2 Xếphạng ở mức 3 đòi hỏi một mức giám sát nhất định, đặc biệt trong hoàn cảnh
có những xu hướng tiêu cực có thể dẫn đến những vấn đề trầm trọng hơntrong tương lai Xếp hạng ở mức 4 hoặc 5 là mức độ của những tài sản đang