Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thương mại………9
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại……… …… 9
1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại… ………9
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại ……… ……… 11
1.2 Chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại
………13
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về tài trợ xuất nhập khẩu………….……… 13
1.2.1.1 Tầm quan trọng của hoạt động xuất nhập khẩu………… ………… 13
1.2.1.2 Nhu cầu tài trợ xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp… ………… 14
1.2.2 Những vấn đề cơ bản của cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM……….……… 17
1.2.2.1 Khái niệm và phân loại cho vay ngân hàng……… ………… 17
1.2.2.2 Khái niệm, phân loại và vai trò của cho vay tài trợ xuất nhập khẩu………19
1.2.2.3 Các hình thức cho vay tài trợ xuất nhập khẩu chủ yếu của Ngân hàng thương mại……….21
1.2.3 Chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu………28
1.2.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu……… 28
1.2.3.2 Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu……… … 29
Trang 21.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu………33 1.3.1 Các nhân tố chủ quan……… 33 1.3.2 Các nhân tố khách quan……… ……….37
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn………40 2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn……… 40 2.1.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn……….41 2.1.3 Tình hình hoạt dộng kinh doanh của ngân hàng… ……… 46 2.1.3.1 Các sản phẩm và dịch vụ……… 46 2.1.3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn……… ……… ………… 49 2.2 Thực trạng về chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn………53 2.2.1 Những quy định chung về cho vay tài trợ xuất nhập xuất nhập khẩu………53 2.2.2 Những hình thức cho vay tài trợ xuất nhập khẩu ở Ngân hàng thương mại
cổ phần Sài Gòn ……….57 2.2.3 Thực trạng chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn……… 58 2.2.4 Đánh giá thực trạng chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu ở Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn……… 64 2.2.4.1 Những thành tựu đạt được……… 64 2.2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân……… 66
Trang 3CHƯƠNG III- GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
3.1 Định hướng phát triển cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng
Gòn……….73 3.1.1 Định hướng chung……… 73 3.1.2 Định hướng về hoạt động cho vay tài trợ xuất nhập khẩu………74 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn……… ……… 75 3.3 Một số kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền……… …82
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
NHTM: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
SCB : NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
Sơ đồ 2.1 : Cơ cấu tổ chức nhân sự
Nguồn: Bản cáo bạch SCB năm 2007
Biểu đồ 2.2: Nguồn nhân lực của
Nguồn: Niên giám SCB 2003-2006, bản cáo bạch SCB2007
Đơn vị: Người
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu trình độ nhân sự
Nguồn: Bản cáo bạch SCB 2007
Biểu đồ 2.4: Lợi nhuận trước thuế
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của SCB 2003-2007 Đơn vị: Tỷ đồng
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu vốn huy động
Nguồn: Niên giám SCB năm 2007
Bảng 2.8 : Biểu lãi suất cho vay
Nguồn: Công văn về lãi suất cho vay của SCB
Biểu đồ 3.1: Doanh số cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng 2004-2007
Đơn vị: Triệu đồng
Biểu đồ 3.2: Dư nợ cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng 2004-2007
Đơn vị: Triệu đồng
Trang 6Biểu đồ 3.3: Tỷ trọng dư nợ cho vay tài trợ xuất nhập khẩu trên tổng
dư nợ
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng 2004-2007
Biểu đồ 3.4: Vòng quay cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng 2004-2007
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng 2004-2007
Biểu đồ 3.6: Số hợp đồng tài trợ
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng 2004-2007
Đơn vị: Số hợp đồng
Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ doanh số trên số hợp đồng tài trợ
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng 2004-2007
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy ngoại thương là một hoạt
động kinh tế lâu đời, ngày nay, khi toàn cầu hóa diễn ra ngày càng nhanh chóng, thì không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà lại không trao đổi hàng hóa ra bên ngoài Như vậy hoạt động ngoại thương, mà cụ thể
là hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu là một trong những mục tiêu phát triển quan trọng trong chính sách của nhiều quốc gia
Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế đang đang được phát triển lên nền kinh tế thị trường định hướng Xã hộ chủ nghĩa, thì càng phải quan tâm phát triển hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là khi nước ta có được những thế mạnh nhất định và địa lý, tài nguyên…mà không phải quốc gia nào cũng có được Trong những năm vừa qua, cùng với sự tăng trưởng mạnh của toàn bộ nền kinh tế, kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta cũng tăng mạnh, nhưng thực sự chưa phản ánh được tiềm năng và phát huy tốt ảnh hưởng của nó tới sự phát triển chung của nền kinh tế Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất
đó là sự hạn chế của các nguồn tài trợ xuất nhập khẩu, mà quan trọng nhất là cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn(SCB) là một ngân hàng trẻ, có những bước phát triển rất lớn trong vài năm trở lại đây, đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động cho vay tài trợ xuất nhập khẩu nên đã có những chính sách nhằm đẩy mạnh hoạt động này Tuy nhiên đây là một hoạt động hết sức phức tạp, chứ đựng nhiều rủi ro, với một thời gian hoạt động chưa lâu, kinh nghiệm chưa nhiều, cho nên hoạt động cho vay tài trợ xuất
Trang 8nhập khẩu tại SCB còn nhiều hạn chế, doanh số chưa cao,vòng quay chưa hợp lý…Sau một thời gian thực tập tại SCB, tôi đã nhận thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhằm đưa ra những biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, nên tôi đã quyết định chọn đề tài:
“Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn ”.
Đề tài được kết cấu như sau:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu để hoàn thành tốt chuyên
đề đã chọn, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi mong
sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và bạn bè để hoàn thành tốt hơn chuyên đề của mình
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Trần Đăng Khâm, các thầy cô khao Ngân hàng tài chính, các anh chị ở Ngân hàng thương mại
cổ phần Sài Gòn, những người đã nhiệt tình chỉ dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này
Hà Nôi, tháng 04 năm 2008 Sinh viên
Phạm Quốc Việt
Trang 9CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta, một nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh, các doanh nghiệp đã dần ý thức được sự cần thiết cũng như lợi thế của các khoản vay của NHTM, người dân cũng thấy được tiện ích khi gửi những khoản tiền nhàn rỗi của mình trong ngân hàng thay vì giữ tiền mặt tại nhà như trước đây, cho nên, như một điều tất yếu, ngành ngân hàng đang phát triển rất mạnh ở nước ta, đặc biệt là trong những năm gần đây
Nói một cách chung nhất, ta có thể hiểu, Ngân hàng thương mại là một
tổ chức tín dụng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua việc thực hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng là đi vay và cho vay Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ tài chính quan trọng khác như thanh toán, mua bán ngoại tệ, ủy thác…
1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại
Từ khái niệm về NHTM nêu trên ta có thể thấy được tầm quan trọng của NHTM đối với toàn nền kinh tế là rất lớn, từ đó việc nghiên cứu vai trò của nó là cần thiết để rút ra được sự cần thiết của hoạt động cho vay tài trợ ngoại thương
a NHTM cung cấp vốn cho nền kinh tế
Nền kinh tế của một quốc gia muốn phát triển thì các doanh nghiệp
thành viên trong nền kinh tế đó phải hoạt động hiệu quả, tạo ra lợi nhuận đóng góp vào thu nhập quốc dân Vốn là một trong những yếu tố cơ bản quan trọng bậc nhất tạo nên hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp
Trang 10Chính vì vậy mà có thể nói, vốn là quan trọng để phát triển nền kinh tế Tuy nhiên, trong nền kinh tế, vốn được phân phối không đồng đều Có những chủ thể có vốn nhàn rỗi nhưng không có kế hoạch đầu tư, ngược lại, có những chủ thể có phương án đầu tư hiệu quả, nhưng không thể thực hiện được vì thiếu vốn Sự gặp nhau giữa các chủ thể này trong nền kinh tế là rất khó khăn do những hạn chế về không gian và thời gian Chính vì vậy, với hoạt động huy động vốn từ các chủ thể có vốn nhàn rỗi và sử dụng vốn đó cho các chủ thể thiếu vốn vay đã mang lại cho NHTM một vai trò to lớn trong việc điều tiết vốn trong nền kinh tế Hay chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản hơn NHTM chính là đầu mối cung cấp vốn cho toàn bộ nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp thực hiện được các phương án đầu tư hiệu quả, tăng thu nhập cho doanh nghiệp, ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.
b NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường
Một doanh nghiệp không thể hoạt động nếu nó không có mối liên hệ
với thị trường Thị trường vừa là nơi cũng cấp những nguyên vật liệu, hàng hóa, máy móc đầu vào cho doanh nghiệp, đồng thời nó cũng là nơi tiêu thụ những sản phẩm mà doanh nghiệp đó làm ra Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường được thiết lập thông qua các hoạt động tìm kiếm đối tác, marketing, hoạt động bán hàng, phân phối sản phẩm…Những hoạt động này chỉ thực sự tốt và mang lại hiệu quả cao khi doanh nghiệp có cơ sở về vốn Rõ ràng là không phải bất kì một doanh nghiệp nào cũng có đủ vốn để thực hiện những hoạt động đó Khi đó, NHTM với vai trò là người tài trợ vốn sẽ giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn để thiết lập mối quan hệ gắn
bó với thị trường, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ được trơn tru, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trang 11c NHTM là cầu nối tài chính quốc gia với tài chính quốc tế
Trong thời đại hội nhập này, một quốc gia không thể tồn tại nếu không
có sự giao lưu về kinh tế và tài chính với các quốc gia khác trên thế giới NHTM với ưu thế là một tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ trên thị trường tài chính sẽ là cầu nối hữu hiệu với nền tài chính quốc tế Thông qua các nghiệp vụ như thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, ngân hàng đại lý, ủy thác…đã tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước giao lưu kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời cũng giúp các luồng vốn đầu tư từ nước ngoài vào và ngược lại được thuận lợi
d NHTM là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước
Hệ thống ngân hàng luôn nắm giữ một phần rất lớn tổng lượng tiền tệ lưu thông trên thị trường Do đó, khi thực hiện các chính sách tiền tệ, việc tác động của Nhà nước vào NHTM rất có hiệu quả Thông qua các nghiệp
vụ chiết khấu và tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc tác đông vào NHTM mà Nhà nước có thể điều tiết được lượng tiền lưu thông trên thị trường từ đó làm giảm lạm phát, góp phần giúp nền kinh tế phát triển bền vững Ngoài ra, thông qua NHTM, Nhà nước còn có thể quản lý được tỷ giá, lãi suất thị trường…
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà, cung cấp vốn cho nền kinh tế Vai trò đó được thể hiện rõ nét thông qua các nghiệp vụ cơ bản của NHTM
a Hoạt động huy động vốn
Cũng như các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác, NHTM cũng cần có nguyên vật liệu đầu vào để đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của mình, đó là tiền Huy động vốn chính là hoạt động thu hút “nguyên vật liệu” đó Các hoạt động NHTM đều cần dùng rất nhiều vốn, tuy nhiên vốn tự
Trang 12có của ngân hàng không thể đáp ứng được cho các hoạt động đó Do đó huy động vốn nhàn rỗi từ các tổ chức cá nhân là hoạt động rất quan trọng có ý nghĩa sống còn với NHTM NHTM có thể huy động vốn thông qua việc nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hàng kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu, trái phiếu, đi vay các tổ chức khác…Huy động vốn tốt sẽ tạo cho ngân hàng cơ
sở để mở rộng hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ, từ đó tạo uy tín cho ngân hàng trên thị trường Tuy nhiên, NHTM phải trả lãi cho các khoản vốn huy động được, vì vậy, các NHTM cần xem xét phương hướng hoạt động của mình để có chính sách huy động cho thích hợp nếu không muốn chi phí huy động bị độn lên quá cao, ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng
b Hoạt động sử dụng vốn
Nếu như huy động vốn là hoạt động tìm đầu vào cho NHTM thì sử dụng vốn là hoạt động tìm đầu ra, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Hoạt động sử dụng vốn của NHTM rất đa dạng, bao gồm các hoạt động cơ bản sau
Một là hoạt động cho vay
Cho vay là hoạt động truyền thống và cũng là hoạt động quan trọng nhất của NHTM Nguồn thu từ lãi vay là một nguồn quan trọng để trang trải chi phí
từ hoạt động huy động vốn Nhưng cho vay cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi
ro nhất cho ngân hàng Do đó, ngân hàng luôn chú trọng đến việc xây dựng một quy trình cho vay khoa học, hợp lý để hạn chế rủi ro và nâng cao lợi nhuận Các hình thức cho vay của NHTM rất đa dạng đáp ứng đầy đủ nhu cầu về thời hạn, giá trị vốn vay, mục đích…cho mọi đối tượng khách hàng
Hai là hoạt động đầu tư
Nếu như trong hoạt động cho vay ngân hàng đóng vai trò là chủ nợ của các doanh nghiệp thì trong hoạt động đầu tư, ngân hàng đóng vai trò là chủ sở hữu của doanh nghiệp Hoạt động đầu tư không những giúp tăng nguồn thu mà còn giúp ngân hàng san sẻ rủi ro trong hoạt động của mình Ngân hàng có thể đầu tư
Trang 13vào một doanh nghiệp thông qua việc góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc mua
cổ phiếu của doanh nghiệp đó Ngoài ra, hoạt động đầu tư của ngân hàng có thể còn được hiểu bao gồm cả những khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng của chính ngân hàng nhằm phục vụ tốt quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM
Ba là hoạt động ngân quỹ
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, do đó, ngân hàng không chỉ quan tâm đến vấn đề nâng cao lợi nhuận mà còn tập trung vào vấn đề hạn chế rủi
ro Ngân hàng luôn sử dụng một phần vốn huy động được để bổ sung vào ngân quỹ, tạo tính thanh khoản cho ngân hàng Thông qua hoạt động này, ngân hàng đảm bảo được tính an toàn trong kinh doanh, đây là một yếu tố quan trọng thể hiện chất lượng hoạt động, và là cơ sở để nâng cao uy tín cho ngân hàng
c Hoạt động khác
Ngoài các hoạt động trên, NHTM còn triển khai nhiều hoạt động khác góp phần hiện đại hóa hệ thống tài chính như thanh toán, nhờ thu, ủy nhiệm chi, các dịch vụ e-banking, môi giới, mua bán chứng khoán…Các dịch vụ mang lại những tiện ích lớn cho khách hàng, giúp khách hàng giảm chi phí cũng như thời gian một cách đáng kể Những hoạt động này ít rủi ro, và mang lại lợi nhuận khá lớn cho ngân hàng, do đó, xu thế chung của các NHTM là tăng dần tỷ trọng thu nhập từ hoạt động này trong tổng thu nhập của toàn ngân hàng
1.2 Chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về tài trợ xuất nhập khẩu
1.2.1.1 Tầm quan trọng của hoạt động xuất nhập khẩu
Đã qua từ lâu rồi cái thời các quốc gia đóng của, “bế quan tỏa cảng” không giao thương với thế giới, trong thời đại này, cho dù là một cường quốc, hay là một quốc gia nhỏ bé thì cũng không thể phát triển nếu không có
Trang 14sự giao lưu, trao đổi ra bên ngoài Theo lý lợi thế cạnh tranh của David Ricardo, mỗi nước muốn tối đa hóa lợi ích của quốc gia mình thì phải xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia khác, và ngược lại Có nghĩa là các nước cần phải tham gia vào hoạt động ngoại thương nếu muốn phát triển
Tầm quan trọng của hoạt động ngoại thương thể hiện ở vai trò của nó, là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa giữa các nước, các chức năng cơ bản của ngoại thương: Một là, tạo vốn cho quá trình mở rộng đầu tư trong nước Hai là, chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy Thứ ba, góp phần nâng cao hiểu quả cuẩ nền kinh tế bằng việc tạo môi trường cho sản xuất, kinh doanh
Đối với Việt Nam, ngoài những đặc điểm nêu trên chúng ta còn có những nét đặc thù riêng đó là nước ta đang trong quá trình đi lên từ một nền sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế có nhiều thành phần tham gia, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, công nghệ lạc hậu… Tất cả những điều này cho thấy hoạt động xuất nhập khẩu đối với nước ta càng quan trọng hơn
1.2.1.2 Nhu cầu và các nguồn tài trợ xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
Từ những lý luận trên, một lần nữa ta có thể khẳng định hoạt động xuất nhập khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh tế quốc dân Tỷ trọng xuất nhập khẩu trong tổng thu nhập quốc dân ngày càng tăng
và tăng nhanh Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang tích cực tham gia vào hoạt động này
Trang 15Với vai trò to lớn, rõ ràng nhu cầu tài trợ xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp là rất lớn, và rất đa dạng
Bất kỳ một loại hàng hóa nào xuất khẩu cùng phải mất nhiều thời gian,
cho dù Nhà nước đã có nhiều chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu phát triển, nhưng với đặc thù của nó, thời gian xuất khẩu vẫn thường diễn ra trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm Nhu cầu tài trợ thường nảy sinh trong những giai đoạn sau
- Phân tích, tìm kiếm thị trường, giới thiệu sản phẩm: Đây là một giai
đoạn quan trọng, nó thể hiện đường lối phát triển của doanh nghiệp Để thành công thì doanh nghiệp cần phải sản xuất ra những sản phẩm mà thị trường cần, phải có kế hoạch sản xuất cụ thể, phải quảng bá được sản phẩm,
và phải tìm kiếm được đối tác Đối với những doanh nghiệp nhỏ, khả năng
về tài chính còn yếu thì chi phí cho giai đoạn này là tương đối lớn
- Ký kết hợp đồng: Giai đoạn này, những nhà xuất khẩu nhỏ, hoặc chưa
có quan hệ thường xuyên với khách hàng, thì khách hàng thường yêu cầu họ phải có những hợp đồng bảo lãnh như bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh chất lượng sản phẩm với những hợp đồng có giá trị lớn thì chi phí bảo lãnh là không nhỏ
- Chuẩn bị sản xuất: Giai đoạn này thường phát sinh rất nhiều chi phí
ngoài dự kiến đặc biệt là đối với những hợp đồng lớn
- Cung ứng sản phẩm: Tùy vào điều kiện gaio hàng theo thỏa thuận của
hai bên mà nhà xuất khẩu trong giai đoạn này vẫn phải chịu những chi phí như chi phí vận chuyển, bảo hiểm
Trang 16- Lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Ngoài những chi phí lắp đặt,
chạy thử, nhà xuất khẩu còn phải đối mặt với chi phí thực hiện nghĩa vụ khi
có bảo lãnh chất lượng sản phẩm cho nhà nhập khẩu
- Bảo hành: Trong giai đoạn này người mua có quyền yêu cầu được bảo
hành ở ngân hàng của nhà xuất khẩu trước khi thanh toán
- Thanh toán: Hiện nay, để việc cung cấp hàng hoá xuất khẩu được
thuận lợi người xuất khẩu thường phải dành cho người mua một ưu đãi thanh toán về chiết khấu, hoặc cho nhà nhập khẩu thanh toán chậm Trong thời gian chờ được thanh toán nhà xuất khẩu vẫn có nhu cầu được tài trợ để đảm bảo vốn cho quá trình tái sản xuất tiếp theo Do đó, để đảm bảo sản xuất liên tục, nhà xuất khẩu rất cần được tài trợ trong giai đoạn này
Đối với nhà nhập khẩu, nhu cầu tài trợ cũng được thể hiện ở rất nhiều giai đoạn
- Trước khi kí kết hợp đồng: ở giai đoạn này các nhà nhập khẩu cần có
những chi phí cho việc thuê các chuyên gia phân tích chính xác nhu cầu cũng như khả năng tài chính của mình để tiến hành đấu thầu một cách phù hợp
- Sau khi kí kết hợp đồng: Sau khi kí kết được hợp đồng, nhà nhập khẩu
cần được tài trợ để đặt cọc, tạm ứng cho nhà xuất khẩu
- Sản xuất và hoàn thành công trình: Trong giai đoạn này nhà nhập khẩu
có thể phải thực hiện những khoản thanh toán theo thỏa thuận cho nhà xuất khẩu hay tài trợ cho các công việc ở điạ phương để chuẩn bị cho đầu tư Giai đoạn này là một trong những giai đoạn cần tài trợ nhất của nhà nhâp khẩu
Trang 17- Cung ứng và vận chuyển hàng hoá: Tuỳ theo điều kiện cung ứng hàng
hoá có thể nảy sinh nhiều phí tổn về vận chuyển và bảo hiểm đối với các nhà nhập khẩu
-Nhận hàng hoá: Thông thường những nhà xuất khẩu yêu cầu nhà nhập
khẩu thanh toán theo tiến độ cung ứng hàng hóa Khi đó, nhà nhập khẩu chỉ
có thể nhận được hàng hóa khi nhà nhập khẩu đã thanh
- Xử lí tiếp, bán tiếp, tài trợ tiêu thụ: Đối với những nhà nhập khẩu hoạt
động trong lĩnh vực thương mại thì họ còn có nhu cầu tài trợ giữa chừng cho khoảng thời gian từ khi nhập hàng về tới khi nhận được tiền bán hàng hoá, vì trong thời gian này nhà nhập khẩu vẫn cần vốn để nhập những mặt hàng khác, đảm bảo cho việc kinh doanh được thông suốt
1.2.2 Những vấn đề cơ bản của cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM 1.2.2.1 Khái niệm và phân loại cho vay ngân hàng
Cho vay là một bộ phận rất lớn và quan trọng trong tín dụng ngân hàng
Tín dụng bao gồm cho vay, bảo lãnh và cam kết cho vay Trong một số ngữ cảnh cụ thể, có thể đồng nghĩa thuật ngữ cho vay với tín dụng Mặt khác, do cho vay luôn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tín dụng ngân hàng, cho nên nhiều lúc khi nói đến tín dụng ngân hàng nhiều người sẽ hiểu ngay là cho vay Do đó, để hiểu thế nào là cho vay của NHTM, chúng ta cần nghiên cứu khái niệm tín dụng ngân hàng
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng trường hợp cụ thể
mà có những cách định nghĩa khác nhau Cách được hiểu chung nhất: Tín
dụng ngân hàng là một hoạt động của NHTM mà trong đó, NHTM cấp cho
Trang 18khách hàng một khoản vốn (hoặc cam kết cấp vốn trong những điều kiện nhất định) với cam kết từ phía khách hàng sẽ trả đầy đủ cả vốn và lãi khi đến hạn
Cho vay là một bộ phận của tín dụng, và trong một khía cạnh nào đó người ta có thể đồng nhất hai khái niệm này với nhau Tóm lại, cho vay được hiểu hẹp hơn so với tín dụng Hoạt động cho vay của NHTM là việc ngân hàng giao cho người vay một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định, và người vay phải trả cả gốc và lãi vô điều kiện khi đến hạn thanh toán
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên các tiêu thức nhất định Có rất nhiều cơ sở để phân loại cho vay:
Theo mục đích, cho vay thường được chia thành các loại sau:
* Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng,
mua sắm, để trang trải những chi phí thông thường của đời sống
* Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
* Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực này
* Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải những chi phí liên
quan đến nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, cây con giống, thức ăn gia súc, lao động, chuồng trại
* Cho vay các tổ chức tài chính là các khoản cho vay đối với các ngân
hàng khác, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng, và các định chế khác
* Cho thuê bao gồm cho thuê vận hành và cho thuê tài chính, tài sản
được cho thuê bao gồm cả động sản và bất động sản trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị
Trang 19Theo thời hạn vay,
* Cho vay ngắn hạn là những khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng.
* Cho vay trung hạn là những khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng
đến 5 năm(theo quy định của ngân hàng nhà nước Việt Nam)
* Cho vay dài hạn là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm có thể
lên đến 20-30 năm, thậm chí là 40 năm
Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, theo cơ sở này, cho vay
được chia làm hai loại:
* Cho vay không bảo đảm, loại này thương được áp dụng với những
khách hàng quen thuộc, có uy tín, và khả năng tài chính mạnh
* Cho vay có bảo đảm áp dụng đối với những khách hàng không có uy
tín cao đối với ngân hàng
Theo phương pháp hoàn trả,
* Cho vay có thời hạn là loại cho vay có thảo thuận thời hạn trả nợ cụ
thể theo hợp đồng
* Cho vay không có thời hạn cụ thể , đối với loại cho vay này, ngân
hàng có thể yêu cầu hoặc người vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, được thỏa thuận trong hợp đồng
Theo xuất xứ tín dụng,
* Cho vay trực tiếp: Ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho khách hàng, và
khách hàng trực tiếp hoàn trả cho ngân hàng
* Cho vay gián tiếp bao gồm các nghiệp vụ: chiết khấu thương phiếu,
cho vay trả góp, nghiệp vụ factoring
1.2.2.2 Khái niệm, phân loại và vai trò của cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Từ căn cứ khái niệm về cho vay ngân hàng đã nêu trên ta có thể định
nghĩa cho vay tài trợ xuất nhập khẩu như sau: Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Trang 20của NHTM là hình thức cho vay nhằm tài trợ cho hoạt động ngoại thương, kỳ hạn gắn liền với thời gian thực hiện hợp đồng kinh tế, đối tượng tài trợ là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc ủy thác
Như đã phân tích ở trên, sự phát triển của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là khách quan, do nó có tầm quan trọng rất lớn với nên kinh tế Với vai trò là một trong những nguồn tài trợ quan trọng nhất, hoạt động cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM cũng thể hiện được những vai trò riêng biệt
Nó được thể hiện qua những mặt sau
• Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu:
* Nguồn cho vay của NHTM còn là công cụ để làm nâng cao lợi nhuận
và hiệu quả của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu cũng là một khoản giảm trừ thuế thu nhập doanh nghiệp Chính vì vậy
mà việc sử dụng hợp lý nguồn vốn này là một công cụ rất hiệu quả để nâng cao lợi nhận cho các doanh nghiệp Mặt khác, việc sử dụng nguồn, cũng tạo động lực để các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn, bởi vì các doanh nghiệp vẫn phải trả lãi cho việc sử dụng nguồn này, và buộc các doanh nghiệp phải quan tâm hơn đến vấn đề hiệu quả kinh doanh
* Do cũng là một trong những nguồn tài trợ cho xuất nhập khẩu, cho nên cũng giống những nguồn khác, cho vay của NHTM là một nguồn để tài trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu mua sắm nguyên vật liệu đầu vào, mua sắm máy móc, công nghệ, sản xuất, tiêu thụ hàng hóa
* Với sự tham gia của các NHTM, là những tổ chức có những cán bộ giàu kinh nghiệm, chuyên môn, hiểu biết về hoạt động xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, cũng như nền tài chính quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu sẽ được diễn ra một cách thuận lợi, nhanh chóng và an toàn hơn
• Đối với toàn bộ nền kinh tế
Trang 21Những vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp có tác động gián
tiếp đến nền kinh tế Cụ thể là nguồn cho vay của NHTM đối với hoạt động ngoại thương góp phần làm tăng nguồn thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập, tăng hàng hóa tiêu dùng trong nước, góp làm nâng cao đời sống nhân dân, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với nhiều quốc gia khác Bên cạnh đó, NHTM còn là nơi phân phối các nguồn tài trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế, vì những nguồn này đều được ủy thác qua NHTM Vai trò của nguồn tài trợ này còn được thể hiện ở chỗ, nó là một công cụ để Nhà nước điều tiết sự phát triển của xuất nhập khẩu cho phù hợp với định hướng phát triển chung của nền kinh tế
1.2.2.3 Các hình thức cho vay tài trợ xuất nhập khẩu chủ yếu của Ngân hàng thương mại
Sự phát triển của hệ thống ngân hàng cùng với sự phát triển ngày càng
đa dạng của nhu cầu tài trợ mà các hình thức cho vay tài trợ xuất nhập khẩu cũng ngày càng đa dạng Sau đây là một số hình thức phổ biến nhất
a Cho vay trong khuôn khổ của tín dụng chứng từ
• Đối với nhà xuất khẩu
Do tính ưu việt của nó mà tín dụng chứng đang ngày càng được sử
dụng phổ biến trong hoạt động xuất nhập khẩu Tín dụng chứng từ không những là một công cụ đảm bảo thanh toán mà còn là một công cụ của tín dụng ngân hàng Nó chỉ có thể phục vụ trong nhiều mối liên quan như là một phương tiện cho vay hàng xuất
+ Thông qua L/C chấp nhận (accepting accredit) khả năng chiết khấu hối phiếu đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất khẩu Thông thường ngân hàng mở L/C (opening bank) hoặc ngân hàng thanh toán (negotiating bank) sãn sàng chấp nhận chiết khấu các hối phiếu của L/C chấp nhận này khi nhà
Trang 22xuất khẩu có nhu cầu, tức là ngân hàng đã cho nhà xuất khẩu vay để tiếp tục quá trình sản xuất của mình.
+ Ngay cả khi nhà xuất khẩu không được hưởng một L/C chấp nhận,
mà là một L/C cho phép mua lại chứng từ để đòi tiền nhà nhập khẩu, nhà nhập khẩu vẫn có thể dễ dàng trình chứng từ cho ngân hàng để được cấp một khoản tín dụng với chi phí phù hợp với khoản đòi tiền đó Loại hối phiếu của L/C này có tính thanh khoản cao, cho nên phần lớn các đại lý tín dụng chứng
từ sãn sàng chấp nhận cho vay
+ Cho vay trên cơ sở một tín dụng chuyển quyền sở hữu còn tiện lợi hơn nhiều so với những loại trên khi việc cho vay này được đảm bảo dưới dạng nhà xuất khẩu chuyển nhượng quyền sở hữu đối với L/C và tất cả các chứng từ hàng hóa có giá trị thanh toán cho ngân hàng của mình
Tóm lại, về cơ bản thì bất cứ một thư tín dụng trả chậm nào cũng được
sử dụng như một phương tiện để đi vay của nhà nhập khẩu, trong đó số tiền thanh toán không phải trả ngay mà được lùi lại đến ngày mà L/C quy định Nhà xuất khẩu có thể nhận tiền bất kỳ lúc nào, đặc biệt thuận lợi khi đó là L/C trả chậm có xác nhận Lúc này nhà xuất khẩu có thể nhận tiền dưới dạng tín dụng chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu L/C cho ngân hàng cấp vốn
• Đối với nhà nhập khẩu
Như chúng ta đã biết, mọi thư tín dụng của ngân hàng mở đều là do yêu
cầu của bên nhập khẩu Ngân hàng mở L/C luôn đối mặt với rủi ro khi nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán hay không muốn thanh toán khi L/C đến hạn Do đó, ngân hàng thường phải yêu cầu nhà nhập khẩu kí quỹ một khoản tiền để đảm bảo cho thư tín dụng Nhưng thực tế là không phải bất cứ lúc nào trên tài khoản của nhà nhập khẩu cũng đủ số tiền kí quỹ Thêm nữa, khoảng cách giữa thời gian mở L/C và thanh toán L/C là khá dài, nếu ngân hàng khống chế số dư trên tài khoản của nhà nhập khẩu sẽ ảnh
Trang 23hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, nhưng nếu không khống chế thì người phải gánh chịu rủi ro trước hết chính là ngân hàng mở L/C, phải trả giá đắt bằng sự mất uy tín đối với khách hàng và ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là với L/C trả ngay.
Do đó, để tránh cản trở tới hoạt động kinh tế của nhà nhập khẩu đảm bảo uy tín của ngân hàng mở L/C thì ngân hàng mở ra loại hình cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu theo hạn mức tín dụng Chính vì thế, trước khi mở L/C theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngân hàng phải kiểm tra mục đích, đối tượng nhập khẩu, khả năng cạnh tranh của nhà nhập khẩu hiện tại và tương lai Đó là cở sở để đảm bảo sự thu hồi vốn của ngân hàng
b Cho vay trên cơ sở hối phiếu
Trong hoạt động kinh doanh ngoại thương, hối phiếu đóng vai trò vô cùng quan trọng Hối phiếu là một chứng từ có giá và đảm nhiệm ba chức năng: chức năng đảm bảo, chức năng thanh toán và chức năng tài chính Hối phiếu đước biết đến như một cam kết trả tiền Cam kết trả tiền này là vô điều kiện và hoàn toàn mang tính trừu tượng, không phụ thuộc vào hợp đồng mua bán phát sinh ra nó Khoản tiền trên hối phiếu không những có gái trị để đòi tiền mà nó còn có thể chuyển nhượng Dựa vào hối phiếu, ngân hàng có thể cho vay theo các hình thức sau:
+ Cho vay chiết khấu hối phiếu
Đây là loại cho vay của ngân hàng cấp cho khách hàng dưới hình thức mua lại hối phiếu trước khi đến hạn thanh toán Tức là ngân hàng mua lại những khoản nợ phải đòi Cho vay chiết khấu này tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất khẩu trong việc tái đầu tư đối với khoản tín dụng thương mại mà họ
đã cấp cho nhà nhập khẩu Đồng thời đối với nhà nhập khẩu, loại cho vay này giúp họ có thời gian thanh toán hối phiếu Trong trường hợp đặc biệt chiết khấu hối phiếu tự nhận nợ của ngân hàng nhà nhập khẩu vừa giải quyết
Trang 24khó khăn về tài chính, vừa tạo điều kiện cho nhà nhập khẩu hưởng tài khoản thanh toán nhanh (tức là khi nhà nhập khẩu trả tiền ngay cho nhà xuất khẩu
họ sẽ được giảm giá) Chính vì tính ưu việt này mà cho vay chiết khấu hối phiếu là loại cho vay thông dụng trong hoạt động ngoại thương và kể cả trong hoạt động nội thương
Cơ sở để xác định khối lượng tín dụng này là giá trị hối phiếu sau khi
đã trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu Giá chiết khấu hối phiếu được tính theo công thức sau:
P
Ki= Kh( 1 - ––– t)
100
Trong đó Ki là giá trị chiết khấu của hối phiếu
Kh là giá trị hối phiếu
P là tỉ lệ chiết khấu
t là thời gian chờ thanh toán hối phiếu
Trong các yếu tố trên người ta quan tâm nhất đến tỷ lệ chiết khấu Tỷ lệ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khả năng truy hoàn nhà xuất khẩu, Khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu, thời hạn chờ thanh toán, giá trị hối phiếu, hình thức hối phiếu
+ Cho vay chiết khẩu hối phiếu tự nhận nợ
Hối phiếu tự nhận nợ là một dạng hối phiếu của người mua đối với người bán Thông qua loại hối phiếu này, ngân hàng cấp một khoản tín dụng đặc biệt gọi là tín dụng chiết khấu hối phiếu tự nhận nợ Nó phục vụ cho những điều kiện thanh toán đơn giản nhất Với loại cho vay này, nhà nhập khẩu sẽ ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng phục vụ mình trên cơ sở hối phiếu tự nhận nợ Ngân hàng này sẽ phát hành hối phiếu tự nhận nợ và chuyển cho nhà nhập khẩu Nhà nhập khẩu có thể dùng hối phiếu đó đến
Trang 25chiết khấu tại một ngân hàng bất kỳ để lấy tiền mặt thanh toán cho nhà xuất khẩu Hình thức cho vay này tạo thuận lợi cho nhà nhập khẩu được hưởng tài khoản thanh toán nhanh trong hoạt động ngoại thương ngay cả khi ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu không đủ vốn.
+ Cho vay chấp nhận hối phiếu
Cho vay chấp nhận hối phiếu là khoản cho vay đảm bảo cho việc chấp nhận hối phiếu Với khoản cho vay này, ngân hàng có trách nhiệm chấp nhận những hối phiếu đòi nợ họ Tín dụng này đảm bảo cho người hưởng tín dụng được sử dụng để thanh toán hối phiếu khi tới hạn Người đi vay chính
là nhà nhập khẩu chứ không phảI nhà xuất khẩu Đó cũng chính là điểm khác biệt giữa loại cho vay này với những loại chiết khấu nói trên Hơn nữa, loại cho vay này chỉ là hình thức, một sự đảm bảo về tài chính, chứ thực sự ngân hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay Nhà nhập khẩu mượn
uy tín của ngân hàng để có được một chấp nhận của ngân hàng trên hối phiếu theo yêu cầu của nhà xuất khẩu Và tất nhiên, nhà nhập khẩu phải trả
lệ phí cho khoản vay này Tuy nhiên, nếu như đến hạn thanh toán mà nhà nhập khẩu không có khả năng trả thì ngân hàng là người thanh toán, lúc này ngân hàng phả xuất tiền, và khi đó khoản cho vay này giống với những khoản cho vay thông thường
Với sự chấp nhận của ngân hàng nhập khẩu trên hối phiếu, nhà xuất khẩu có thể đem hối phiếu đi chiết khấu ở bất kỳ một tổ chức tín dụng nào Với sự chấp nhận đó, khả năng thanh khoản của hối phiếu rất cao, tạo điều kiện để nhà xuất khẩu được hưởng một tỉ lệ chiết khấu ưu đãi
c Cho vay ứng trước cho hoạt động xuất nhập khẩu
Khi nhà xuất khẩu có toàn quyền sở hữu bộ chứng từ hàng xuất, mà bộ
chứng từ này thể hiện nội dung và giá trị hàng hóa đã chuyển giao, họ có thể
Trang 26nhận được khoản tín dụng ứng trước bằng cách bán lại bộ chứng từ này cho ngân hàng Qua đó, nhà xuất khẩu được bù đắp nguồn vốn để tiếp tục kinh doanh trong suốt thời gian kể từ khi gửi hàng cho đến khi nhà nhập khẩu chấp nhận bộ chứng từ và chấp nhận thanh toán Cơ sở của khoản cho vay này là việc ngân hàng có toàn quyền đối với bộ chứng từ có giá trị đòi tiền Điều kiện để nhận khoản vay này là khả năng truy hoàn nhà xuất khẩu Các chứng từ này nhất thiết phải là các chứng từ có giá trị để cho vay, không được phép chuyển nhượng cho người thứ ba để sử dụng Các ngân hàng thường kí với khách hàng của mình một hạn mức tín dụng Khoản vay này chỉ cấp cho nhà xuất khẩu căn cứ vào giá trị hợp đồng với một tỷ lệ nhất định, thường là từ 70-80% giá trị hàng hóa.
• Đối với nhà nhập khẩu
Nhà nhập khẩu thường phải thanh toán bộ chứng từ hàng hóa trong khi hàng chưa cập bến, và sau đó họ phải sử dụng hàng nhập để sản xuất kinh doanh để thu hồi vốn Đó là một quá trình dài, và họ cần ngân hàng tài trợ,
đó là cho vay ứng trước
Cho dù đối với nhà nhập khẩu hay xuất khẩu thì những chứng từ có giá theo lệnh hoặc những chứng từ như vận đơn, hóa đơn hay hợp đồng bảo hiểm… đều có thể thế chấp cho ngân hàng Khi mà những chứng từ có giá trên không cho phép chuyển nhượng thì người vay vốn phải sử dụng những hình thức thế chấp khác Vì một khi không có những chứng từ theo quy định của pháp luật thương mại thì rất khó có quyền sở hữu đối với hàng hóa- vật đảm bảo vốn vay
Mức độ cấp tín dụng ứng trước phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu hoặc xuất khẩu
+ Khả năng cạnh tranh của hàng hóa và giá hàng hóa dự kiến
Trang 27+ Chính sách kinh tế, chính trị của nước nhập khẩu (đối với ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu).
+ Những rủi ro về tỉ giá có thể gặp phải (đối với ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu)
d Bao thanh toán
Khác với hoạt động mua bán lại chứng từ thanh toán ở phần trên, hoạt động factoring chỉ sử dụng cho những hoạt động xuất khẩu thường xuyên theo định kỳ, theo hợp đồng ngắn hạn và cho nhiều nhà xuất khẩu khác nhau trong cùng một nước hoặc nhiều nước trong cùng một thời điểm Như vây nghiệp vụ này chỉ phù hợp với những nhà xuất khẩu lớn đã chiếm lĩnh được thị trường và chỉ có những khoản thanh toán đáp ứng những điều kiện sau mới được phép mua bán:
+ Đạt quy mô về sản xuất doanh thu hàng năm
+ Thời hạn thanh toán không quá 120 ngày
+ Cơ cấu khách hàng thay đổi ở mức có thể chấp nhận được
Nghiệp vụ Factoring có thể mang lại những lợi thế cho nhà xuất khẩu như sau:
+ Hạn chế được rủi ro về kinh tế 100% (nhưng trước tiên bị khấu trừ 20-30%)
+ Không cần thiết phải kí hợp đồng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
+ Cải thiện được bảng cân đối kế toán
+ Tăng cạnh tranh thông qua cấp tín dụng thương mại cho người mua.+ Giảm được chi phí quản lý
Trang 28Đây cũng là nghiệp vụ mua bán những khoản thanh toán chưa tới thời
hạn như factaring nhưng khác ở một số điểm sau:
+ Forfaiting chỉ bao những khoản thanh toán cụ thể riêng lẻ trong toàn
bộ quá trình XNK dài hạn và cho từng đối tượng nhập khẩu riêng
+ Thời hạn thanh toán của factoring tối đa là 4 tháng trong khi thời hạn đối với forfaiting là 6 tháng đến 10 năm Forfaiting được coi là hình thức tín dụng trung và dài hạn
+ Factaring phục vụ cho những hoạt động XNK không sử dụng tới tín dụng chứng từ còn forfaiting lại dựa vào chúng và sự bảo đảm của ngân hàng
1.2.3 Chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
1.2.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Như đã phân tích rất nhiều ở trên, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu đang
ngày càng trở nên quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và nền kinh tế Tuy nhiên nhìn từ góc độ ngân hàng thì đây chính là một dịch
vụ mà ngân hàng cung cấp cho những nhà xuất nhập khẩu- những khách hàng của mình Nguồn thu nhập của ngân hàng từ dịch vụ này là không nhỏ,
vì hầu hết những hợp đồng xuất nhập khẩu thường rất lớn Cho nên việc nâng cao chất lượng tài trợ này để thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ là một việc làm rất cần thiết của các NHTM
Như vậy, ta có thể thấy chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu là việc các NHTM đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của những doanh nghiệp xuất nhập khẩu, mang lại cho họ những lợi ích tốt nhất khi sử dụng dịch vụ này của ngân hàng mình như: thời gian xét hồ sơ ngắn, thủ tục nhanh gọn, lãi suất ưu đãi, giải ngân nhanh, rủi ro thấp Không chỉ có thế, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu được xem là có chất lượng khi nó mang lại cho ngân hàng lợi nhuận cao và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Hay nói một cách khác, chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập
Trang 29khẩu được hiểu là sự đảm bảo một cách hợp lí lợi ích của cả ba chủ thể là ngân hàng, nhà xuất nhập khẩu và nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc đánh giá này cũng không có một khuôn mẫu nhất định,
do đó với mỗi một người, việc đánh giá và nhận xét sẽ không giống nhau Dưới đây là những chỉ tiêu chung nhất, thường gặp nhất
1.2.3.2 Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Khi xem xét đến chất lượng cho vay chúng ta quan tâm đầu tiên đều là doanh số Doanh số cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của một ngân hàng chính
là tổng giá trị của tất cả những khoản cho vay với mục đích tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng đó trong một kỳ kinh doanh Đây là một chỉ tiêu định lượng, và thông thường, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt Doanh số cho vay thể hiện được quy mô và uy tín của ngân hàng Chỉ tiêu này càng lớn càng thể hiện quy mô vốn của ngân hàng lớn, và thêm nữa nó còn thể được uy tín của ngân hàng đó Bởi vì, một ngân hàng có uy tín cao, chất lượng dịch vụ tốt thì mới thu hút được nhiều khách hàng với nhiều hợp đồng lớn, do đó doanh số cho vay mới cao
Khác với doanh số cho vay là chỉ tiêu đánh giá thời kì, thì dư nợ cho
vay tài trợ xuất nhập khẩu lại là mọt chỉ tiêu thời điểm Dư nợ cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại một thời điểm là tổng giá trị các khoản vay tại thời điểm
đó chưa đến hạn hoàn trả mà ngân hàng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vay Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng tại thời điểm đó đang cho vay nhiều hay ít Chỉ số này càng lớn chứng tỏ ngân hàng đã tạo được uy tín, quan hệ với nhiều khách hàng, cung cấp nhiều dịch vụ tốt, có chất lượng và ngân hàng hoạt động có hiệu quả
Chỉ tiêu này thường được xác định như sau:
Trang 30Doanh số cho vay xuất nhập
khẩu trong kì
Vòng quay cho vay xuất nhập khẩu = ––––––––––––––––––––
Dư nợ cho vay xuất nhập khẩu
bình quân trong kì
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tổ chức, quản lí vốn tín dụng, đồng thời thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng và đáp ứng nhu cầu khách hàng Để có thể đánh giá chính xác chất lượng tín dụng, các tiêu chuẩn tính toán cần phải đồng nhất trong việc áp dụng đối với từng loại cho vay cụ thể Nhìn chung chỉ tiêu này thường phải đánh giá với vòng quay trung bình của toàn ngành Nếu như chỉ tiêu này thấp hơn quá nhiều so với chỉ tiêu trung bình của ngành, thì chứng
tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng có vấn đề, hoặc là ít khách hàng, do chất lượng tín dụng thấp, hoặc là do việc thu hồi vốn gặp khó khăn, do chưa thẩm định doanh nghiệp xuất nhập khẩu một cách chính xác
Số lượng hợp đồng tài trợ cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng Nếu như số lượng hợp đồng tăng qua các năm chứng tỏ rằng chất lượng cho vay của ngân hàng tốt, nên khách hàng quan tâm đến ngân hàng hơn Ngoài ra, nếu kết hợp chỉ tiêu này với chỉ tiêu dư nợ thì ta có thể biết được giá trị trung bình một hợp đồng mà ngân hàng tài trợ thông qua tỷ số:
Doanh số cho vay trong kỳ–––––––––––––––
Số hợp đồng tài trợ (hoặc số khách hàng)
Trang 31Tỷ số này là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện xu hướng cho vay của
ngân hàng Chỉ số này càng lớn chứng tỏ rằng ngân hàng ngày càng thu hút được những hợp đồng có giá trị lớn
Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ đóng góp của từng khoản cho vay vào tổng
dư nợ của ngân hàng Để xác định tỷ trọng của cho vay tài trợ xuất nhập khẩu trong tổng dư nợ cho vay, ta dùng công thức sau:
Dư nợ cho vay xuất nhập khẩu
Tỷ trọng cho vay xuất nhập khẩu =
Tổng dư nợ cho vay
Chỉ tiêu này cho ta biết mức độ quan tâm của ngân hàng tới cho vay tài trợ xuất nhập khẩu Tùy vào từng chính sách, đặc thù hoạt động và thời điểm khác nhau mà tỷ trọng tham gia này có thể lớn hay nhỏ Ví dụ, với ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu (Eximbank) thì tất nhiên loại cho vay này rất được chú trọng và luôn chiếm tỷ trọng cao Còn với nhiều ngân hàng khác, loại cho vay này không phải là loại cho vay trọng điểm, nên không chiếm tỷ trọng cao
Nếu ta dùng chỉ tiêu này để so sánh giữa các năm, chúng ta có thể thấy được mức độ phát triển của cho vay tài trợ xuất nhập khẩu so với những loại cho vay khác Nếu tỷ trọng của loại cho vay này càng cao qua các năm thì chứng tỏ rằng ngân hàng đang ngày càng quan tâm tới loại hình cho vay này,
và thu hút được ngày càng nhiều khách hàng và ngược lại
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay nói chung và cho vay tài trợ xuất nhập khẩu nói riêng của NHTM
Trang 32Nợ quá hạn cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Bên cạnh những chỉ tiêu định lượng đã nêu bên trên, còn rất nhiều những chỉ tiêu định tính để đánh giá chất lượng của hoạt động cho vay tài trợ xuất nhập khẩu Các chỉ tiêu được thể hiện qua một số khía cạnh sau
+ Chất lượng cho vay được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng về vốn và các hình thức tài trợ, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu kỳ kinh doanh của khách hàng
+ Chất lượng cho vay còn được xem xét thông qua tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng của ngân hàng trên địa bàn hoạt động
+ Mức độ hài lòng của khách hàng đối với các dịch vụ tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng cũng là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình đánh giá chất lượng cho vay Thông tin này ngân hàng có thể nắm bắt được thông
Trang 33qua các cuộc điều tra, phỏng vấn các chuyên gia, khách hàng, những buổi hội nghị khách hàng mà ngân hàng tổ chức.
Ngoài ra, còn có một số chỉ tiêu khác như thời gian xét duyệt hồ sơ xin vay, quy mô trung bình Tất cả những chỉ tiêu này đều mang tính tương đối, khi xem xét chất lượng cho vay của ngân hàng, chúng cần phải đặt nó vào điều kiện kinh tế xã hội, cũng như tình hình của ngân hàng tại thời điểm đó,
để đánh giá chính xác chất lượng dịch vụ
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu 1.3.1 Các nhân tố chủ quan
khẩu liên quan rất nhiều đến các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, trong đó có nghiệp vụ ngân hàng đại lý Một hệ thống ngân hàng đại lý rộng lớn sẽ giúp NHTM phát triển mạnh hoạt động cho vay thông qua thu hút các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp ở nước có đại lý của ngân hàng
luôn có một vai trò to lớn, quyết định sự thành công hay thất bại của ngân hàng Để nâng cao chất lượng cho vay, trước tiên ngân hàng cần có một hệ thống chính sách tín dụng rõ ràng, hợp lý, phù hợp với định hướng phát triển của ngân hàng cũng như nền kinh tế, đảm bảo lợi ích của các bên tham gia
Chính sách tín dụng của một NHTM thường bao gồm: các hình thức
cho vay áp dụng, giới hạn tín dụng, kỳ hạn cho vay, hướng giải quyết tín dụng vượt giới hạn, thanh toán nợ…vì thế nó có quyết định to lớn đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ kích thích được việc tiết kiệm và đầu tư thu hút được nhiều khách hàng đảm
Trang 34bảo khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời tuân thủ theo pháp luật và đường lối chính sách của Nhà nước đề ra Bất cứ một ngân hàng nào muốn hoạt động cho vay của mình có chất lượng tốt đều phải đầu tư xây dựng một chính sách tín dụng tốt, rõ ràng, phù hợp với điều kiện của ngân hàng đó.
kiện trước tiên là ngân hàng phải có vốn Nguồn vốn chủ yếu dùng cho hoạt động cho vay chính là vốn huy động từ thị trường Do đó, việc huy động vốn ảnh hưởng lớn tới chất lượng hoạt động cho vay, nếu việc huy động vốn diễn
ra không như ý muốn, thì ngân hàng khó có thể đáp ứng được những nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của khách hàng
ngân hàng được sắp xếp một cách có khoa học, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng, ban trong từng ngân hàng, cũng như trong toàn bộ hệ thống ngân sẽ tạo thuận lợi trong việc phục vụ tốt khách hàng và quản lý chặt chẽ luồng vốn vào ra của ngân hàng Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh và quản lý có hiệu quả nguồn vốn tín dụng Ngoài ra, quan điểm của lãnh đạo ngân hàng, bảo thủ hay năng động cũng là một nhân tố quan trọng, nhất là trong hoạt động cho vay tài trợ xuất nhập khẩu mới mẻ, luông tiếp xúc mới những công nghệ mới
định đến sự thành bại trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung và tất nhiên
nó cũng không loại trừ khỏi hoạt động của một ngân hàng Muốn nâng cao được chất lượng trong hoạt động cho vay, ngân hàng cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng có trình độ, không những am hiểu về hoạt động cho vay,
hệ thống tài chính, mà còn phải có kiến thức về những nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu, về thị trường cũng như những chính sách vĩ mô liên quan
Trang 35đến xuất nhập khẩu, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO, đang tiếp cận với nhiều công nghệ mới Ngoài ra, họ còn phải có tiêu chuẩn về đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu người cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm hay cố tình vi phạm có thể sẽ gây tổn thất rất lớn cho ngân hàng, đặc biệt là cho vay tài trợ xuất nhập khẩu với những hợp đồng thường có giá trị rất lớn.
cần phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm bảo đảm an toàn nguồn vốn tín dụng Nó được bắt đầu từ khi chuẩn bị cho vay, giải ngân, kiểm tra quá trình cho vay cho đến khi thu hồi được nợ Chất lượng cho vay
có bảo đảm hay không tuỳ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước và sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng
Trong quy trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay là hết sức quan trọng,
là cơ sở để định lượng rủi ro trong quá trình cho vay Trong bước này, chất lượng cho vay tuỳ thuộc vào chất lượng công tác thẩm định đối tượng được vay vốn cũng như quy định điều kiện và thủ tục vay ở từng NHTM
Kiểm tra quá trình cho vay giúp ngân hàng nắm được diễn biến của khoản vay đã cung cấp để có thể điều chỉnh hoặc can thiệp khi cần thiết, sớm thấy được nguyên nhân và ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra
Thu nợ và thanh lý là khâu có ý nghĩa quyết định Sự nhạy bén của ngân hàng trong việc phát hiện kịp thời những bất lợi xảy ra đối với khách hàng cùng các biện pháp xử lý chính xác, đúng lúc không những giảm thiểu các khoản nợ quá hạn mà còn tạo được quan hệ gần gũi với khách hàng, điều
đó sẽ có tác động tích cực đối với chất lượng cho vay
Trang 36Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng sẽ tạo điều kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế hoạch đã định mà nhờ đó bảo đảm được chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu.
quản lý chất lượng cho vay Nhờ có thông tin tín dụng, người quản lý có thể đưa ra các quyết định cần thiết có liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay Thông tin tín dụng có thể lấy được từ ngân hàng (hồ sơ vay vốn, thông tin của các NHTM khác, phân tích của các cán bộ tín dụng ), từ các nguồn của khách hàng(các báo cáo định kỳ, các phương án sản xuất kinh doanh), từ các cơ quan chuyên thông tin tín dụng trong và ngoài nước, từ các bộ, các ngành chủ quản Đây là cơ sở để NHTM đưa ra những quyết định phù hợp Vì vậy, thông tin càng đầy đủ, nhanh nhậy, chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngày càng lớn, chất lượng cho vay ngày càng cao
• Kiểm soát nội bộ: Hoạt động này nhằm giúp lãnh đạo ngân hàng
nắm bắt được tình hình chấp hành đinh hướng tín dụng do ngân hàng đề ra của các cán bộ tín dụng, nắm bắt được những sai sót trong quá trình cho vay Chất lượng cho vay phụ thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời nguyên nhân các sai sót đó để có các biện pháp khắc phục kịp thời
cho vay, song song với việc nâng cao chất lượng công tác hoạch định chính sách, công tác tổ chức quản lý Ngân hàng, công tác nhân sự, quản lý quá trình cho vay, công tác thông tin, kiểm soát nội bộ, cần chú ý tới các phương tiện cần thiết phục vụ cho quá trình quản lý hoạt động tín dụng Điều này rất quan trọng đối với cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, khi những đối tác của
Trang 37khách hàng mình đều ở nước ngoài, có cơ sở hạ tầng phát triển Nếu thực hiện tốt chỉ tiêu này sẽ giúp các NHTM nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng cũng như giảm thiểu được rủi ro, nâng cao được doanh số cho vay
chất lượng cho vay của ngân hàng, uy tín lại chịu ảnh hưởng lớn từ quan hệ của NHTM với các đối tác Do đó các quan hệ vay trả, thực hiện cam kết với đối tác có ảnh hưởng lớn tới chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM
1.3.2 Các nhân tố khách quan
Thứ nhất, vấn đề đầu tiên phải nhắc đến khi nói đến yếu tố này là uy
tín, đạo đức của người vay Khách hàng có thể lừa đảo ngân hàng thông qua việc gian lận về số liệu, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh…Việc khách hàng gian lận sẽ dẫn đến những rủi ro lớn cho ngân hàng
Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác Do đó, ngân hàng cần phân tích xuyên suốt cả quá trình hoạt động của khách hàng mới có kết luận chính xác
Thứ hai, chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức,
kinh nghiệm quản lý kinh doanh của người vay Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ ngân hàng cả gốc lẫn lãi
Trang 38Thứ nhất là môi trường kinh tế, Tính ổn định về kinh tế mà trước hết
và chủ yếu là ổn định về tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát, các chính sách về xuất nhập khẩu là những điều mà các doanh nghiệp kinh doanh rất quan tâm vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện, môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao,
từ đó góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh của ngân hàng, đó cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng cho vay của NHTM
Thứ hai là môi trường chính trị, môi trường chính trị đang và sẽ tiếp
tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng Tính ổn định về chính trị trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả
Thứ ba là môi trường pháp lý, Đối với cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
yếu tố này trở nên quan trọng Vì hoạt động ngoại thương là một trong những công cụ điều tiết nề kinh tế của chính phủ, cho nên hệ thống pháp lý liên quan đến nó rất chặt chẽ, một thay đổi nhỏ cũng có thể dẫn đến những thuận lợi hay khó khăn lớn cho những nhà xuất nhập khẩu Hơn thế nữa, những quy định pháp luật quốc tế cũng tác động mạnh tới hoạt động xuất nhập khẩu Nếu doanh nghiệp không hiểu rõ rất có thể sẽ bị những đối tác nước ngoài lừa đảo, từ đó gây thiệt hại cho ngân hàng
Thứ tư là môi trường cạnh tranh, Có thể nói đây là yếu tố tác động
mạnh mẽ đến chất lượng cho vay nói riêng và hoạt động kinh doanh chung của NHTM Dưới sự tác động này, ngân hàng luôn phải quan tâm tới đầu tư trang thiết bị tốt, tăng cường đội ngũ nhân viên có trình độ, củng cố và khuyếch trương uy tín và thế mạnh của ngân hàng Mặt khác, dưới áp lực
Trang 39của cạnh tranh gay gắt các ngân hàng có thể không quan tâm đến vấn đề rủi
ro, làm giảm chất lượng cho vay
Thứ năm là môi trường tự nhiên, Các yếu tố này chủ yếu không dự báo
trước được, nhưng không gây ảnh lớn tới chất lượng cho vay của NHTM vì
tỷ lệ xảy ra nhỏ
Trang 40CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
NHTMCP Sài Gòn (Sai Gon Commercial Joint Stock Bank – SCB) có tiền thân là NHTMCP Quế Đô, thành lập ngày 30/06/1992, theo số ĐKKD gốc 059019/NH – GP Tuy nhiên, do một số nguyên nhân sau 10 năm hoạt động, ngân hàng Quế Đô đã gặp phải rất nhiều khó khăn, hoạt động kinh doanh không hiệu quả Đến cuối năm 2002, Ngân hàng Quế Đô hoạt động trong hiện trạng tài chính thua lỗ trên 20 tỷ chưa có nguồn bù đắp, bộ máy quản trị điều hành suy sụp hoàn toàn, khách hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro, nợ quá hạn hơn 20 tỷ không có khả năng thu hồi; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì chế độ thanh tra – giám sát thường xuyên và quy định hạn mức huy động chỉ 160 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh nghèo nàn, không có hệ thống quy trình quy chế hoạt động nghiệp vụ, đội ngũ nhân sự yếu về trình
độ chuyên môn
Trước tình hình đó, hội đồng cổ đông (HĐCĐ) hiện tại của ngân hàng
đã tiến hành mua lại ngân hàng, cơ cấu lại tổ chức và hoạt động để tiếp tục đưa ngân hàng phát triển Nhận thức rõ những khó khăn đó, khi tiếp nhận Ngân hàng, các cổ đông mới đã tin tưởng giao phó cho Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc tiến hành các biện pháp cải cách toàn diện để giải quyết những mâu thuẫn nội tại, kiện toàn bộ máy tổ chức, làm cơ sở để tháo gỡ những khó khăn trong hoạt động Nhờ đó, Ngân hàng TMCP Quế Đô chính