Trong những năm trở lại đây, tình hình nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là nuôi tôm sú đã gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh phát sinh thường xuyên; một trong những nguyên nhân gây dịch bệnh do “độc canh” con tôm trên ao nuôi. Để giảm thiểu dịch bệnh, đa dạng hóa đối tượng nuôi và tăng tính ổn định, bền vững trong những năm trở lại đây mô hình nuôi xen ghép được khuyến khích phát triển. Bên cạnh đó, những cảnh báo về biến đổi khí hậu, nhiễm mặn vào các vùng nuôi cá nước ngọt ngày càng gia tăng thì việc tìm ra giống cá có khả năng thích ứng với biến động của nồng độ muối trong môi trường luôn là trăn trở của các cán bộ quản lý và những nhà khoa học thủy sản. Cá rô đầu vuông (Anabas testudineus Bloch, 1792) là loài cá được biến dị từ cá rô đồng xuất hiện ở Hậu Giang năm 2008 và đặc biệt chỉ xuất hiện ở Việt Nam. Là loài cá có tốc độ sinh trưởng nhanh gấp 2 – 3 lần so với cá rô đồng, khả năng thích nghi với môi trường sống rất tốt. Vấn đề đặt ra ở đây là ở những khu vực có độ mặn thấp có thể nuôi cá rô đầu vuông được hay không? Và nếu có nuôi được thì sự sinh trưởng của chúng diễn ra như thế nào? Xuất phát từ những lý do trên, được sự cho phép của trường Đại học Nông Lâm Huế, khoa Thủy Sản và giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ muối đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá rô đầu vuông (Anabas testudineus Bloch, 1792 )”
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN KHANH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ MUỐI ĐẾN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ
SỐNG CỦA CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG (Anabas
testudineus Bloch, 1792 )
TÓM TẮC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60.62.03.01
HUẾ - 2013
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Huế
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Ngô Hữu Toàn
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Huế
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Nông Lâm Huế
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong những năm trở lại đây, tình hình nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là nuôi tôm sú đã gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh phát sinh thường xuyên; một trong những nguyên nhân gây dịch bệnh do “độc canh” con tôm trên
ao nuôi Để giảm thiểu dịch bệnh, đa dạng hóa đối tượng nuôi và tăng tính
ổn định, bền vững trong những năm trở lại đây mô hình nuôi xen ghép được khuyến khích phát triển
Bên cạnh đó, những cảnh báo về biến đổi khí hậu, nhiễm mặn vào các vùng nuôi cá nước ngọt ngày càng gia tăng thì việc tìm ra giống cá có khả năng thích ứng với biến động của nồng độ muối trong môi trường luôn là trăn trở của các cán bộ quản lý và những nhà khoa học thủy sản
Cá rô đầu vuông (Anabas testudineus Bloch, 1792) là loài cá được biến
dị từ cá rô đồng xuất hiện ở Hậu Giang năm 2008 và đặc biệt chỉ xuất hiện
ở Việt Nam Là loài cá có tốc độ sinh trưởng nhanh gấp 2 – 3 lần so với cá
rô đồng, khả năng thích nghi với môi trường sống rất tốt
Vấn đề đặt ra ở đây là ở những khu vực có độ mặn thấp có thể nuôi cá
rô đầu vuông được hay không? Và nếu có nuôi được thì sự sinh trưởng của chúng diễn ra như thế nào?
Xuất phát từ những lý do trên, được sự cho phép của trường Đại học Nông Lâm Huế, khoa Thủy Sản và giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành đề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ muối đến tốc độ sinh trưởng và
tỷ lệ sống của cá rô đầu vuông (Anabas testudineus Bloch, 1792 )”
2 Mục đích của đề tài
Xác định ảnh hưởng của các nồng độ muối khác nhau đến khả năng sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá rô đầu vuông, từ đó góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá rô đầu vuông phát triển, đưa loài cá này trở thành đối trượng nuôi nước lợ, làm đa dạng hóa đối tượng nuôi ở vùng nước lợ đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế
3 Ý nghĩa khoa học – ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học: Kết quả thí nghiệm sẽ làm cơ sở khoa học cho
các nghiên cứu tiếp theo, góp phần xây dựng quy trình nuôi cá rô đầu vuông ở vùng nước lợ, vùng nhiễm mặn
3.2 Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi vùng
đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế và giới thiệu đối tượng nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặc điểm sinh học cá rô đầu vuông
Tên khoa học: Anabas testudineus Bloch, 1792
Lúc nhỏ hình dáng cá rô đầu vuông giống như cá rô đồng bình thường nhưng khi cá có kích thước lớn, đầu cá có hình hơi vuông, môi trề, bụng sệ, đuôi dài, vây dưới dày Thân cá dài có hai chấm đen ở gần đuôi và mang
cá
Cá rô đầu vuông là loài ăn tạp, phàm ăn thiên về động vật
Cá thành thục sau một năm tuổi Cá rô đầu vuông sinh sản vào mùa mưa, nhưng tập trung nhất từ tháng 6-7 dương lịch Cá rô đồng đẻ nhiều lần trong năm
Cá rô đầu vuông có khả năng chịu đựng điều kiện môi trường khắc nghiệt: thiếu oxy, pH thấp do có cơ quan hô hấp phụ trên mang, có thể sử dụng oxy từ khí trời
1.2 Tình hình nghiên cứu về cá rô đồng trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cá rô đầu vuông là loài có nguồn gốc từ cá rô đồng nên chúng tôi điểm qua các nghiên cứu về cá rô đồng làm tư liệu tham khảo
Trên thế giới, chủ yếu ở Đông Nam Á, có nhiều công trình nghiên cứu về hình thái, cấu tạo, phân loại, đặc điểm sinh học và sinh sản nhân tạo của cá rô đồng
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam nói giống Anabas chỉ có một loài duy nhất là cá rô đồng
(Anabas testudineus) và Mai Đình Yên và ctv (1978, 1979) đã mô tả một số
đặc điểm sinh học và hình thái phân loại
Theo Ngô Hữu Toàn và cs (2010) khi nghiên cứu trên cá rô đồng cho thấy: tuổi thành thục lần đầu của cá đực cũng như cá cái là 6 – 7 tháng, khối lượng thành thục của cá cái từ 58,5 – 69,9gr và cá đực là 45 – 59,7gr, đảm bảo cho cá sinh sản nhân tạo Tỷ lệ thành thục của cá tăng từ tháng 4 đến tháng 6
Đặng Khánh Hồng, Đỗ Trung và Nguyễn Tường Anh (2006) đã nghiên cứu sản xuất con giống cá rô đồng toàn cái và đã thu được kết quả cá rô đồng cái đạt 59,12% - 78,95%
Theo Đoàn khắc Độ (2008) đã tiến hành thí nghiệm nuôi thâm canh
cá rô đồng bằng thức ăn viên với các hàm lượng đạm khác nhau Mật độ thả nuôi là 25 con/m2, thức ăn viên gồm 3 loại có hàm lượng đạm khác nhau (23%, 26%, 32%) Kết quả thí nghiệm cho thấy thức ăn viên thích hợp cho từng giai đoạn được ghi nhận như sau: 2 tháng đầu nên cho ăn thức
Trang 5ăn 32 %, tháng thứ 3 là 26 % và cho ăn thức ăn 23 % cho thời gian nuôi còn lại thì lợi nhuận thu được khi nuôi thương phẩm cá rô đồng sẽ tăng đáng kể
1.3 Tình hình nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến động vật thủy sản
1.3.1 Vai trò của độ mặn (S‰) đối với đời sống thuỷ sinh vật
Độ mặn là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố, sinh sản, dinh dưỡng tăng trưởng, tỉ lệ sống và di cư của thủy sinh vật (Trương Quốc Phú, 2006)
1.3.2 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến động vật thủy sản trên thế giới
Theo Boeuf và Patrck (2001), trong phần lớn các loài, sự thụ tinh của trứng, sự phát triển của phôi, sự sinh trưởng của ấu trùng tỷ lệ chuyển hoá thức ăn lấy vào và thức ăn tiêu thụ là tuỳ thuộc vào độ mặn
Nghiên cứu tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá vền đen (Acanthopagrus butcheri ) tiền trưởng thành với thời gian là 6 tháng Cá vền đen tiền trưởng
thành có thể sống và tăng trưởng ở độ mặn từ 0 đến 48‰
Khi nuôi cá bóp (Rachycentron canadum) ở độ mặn thấp, có khả năng
giảm tỷ lệ mắc bệnh và đơn giản hóa khâu quản lí nước (Matthew và ctv, 2006)
1.3.3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến động vật thủy sản ở Việt Nam
Theo Trương Thủ Khoa (1993) thì cá kèo (Pseudapocryptes elongatus
Cuvier, 1816) là loài cá rộng muối sống chủ yếu ở vùng nước lợ và nước mặn nhưng cũng có thể sống ở nước ngọt Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý của cá kèo Phạm Thái Nguyên (2005) đã kết luận rằng cá kèo có thể chịu đựng được độ mặn từ 0- 95‰
Theo Nguyễn Thị Hồng Vân và Trần Thị Thanh Hiền (2006) thì cá đối
(Liza subviridis) sinh trưởng kém ở vùng nước ngọt và độ mặn thấp trong
khi sinh trưởng tốt ở các vùng nước lợ, mặn (có thể lên tới 70‰)
Nguyễn Thanh Thoại (2008) cho biết cá tra có thể sống trong nước lợ
có độ mặn thấp hơn 18‰
1.4 Tình hình nuôi cá rô đầu vuông
1.4.1 Tình hình nuôi cá rô đầu vuông ở Việt Nam
Cá rô đầu vuông được ông Nguyễn Văn Khải, thuộc ấp 5, xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang phát hiện đầu tiên năm 2008 Hiện nay, mô hình nuôi cá rô đầu vuông đã nhân rộng ra với diện tích rất lớn không chỉ ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mà đã lan rộng ra các tỉnh khác trong cả nước đã mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 61.4.2 Tình hình nuôi cá rô đầu vuông ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Năm 2011, Khoa thủy sản – Trường Đại học Nông Lâm Huế đã nghiên cứu hoàn thiện qui trình và chuyển giao qui trình công nghệ sản xuất giống
cá rô đầu vuông Anabas testudineus cho Trung tâm giống cấp I Cư Chánh
thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế
Năm 2011, Trung tâm Khuyến Nông Lâm Ngư tỉnh xây dựng thí điểm
mô hình nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm cho những hộ nông dân nghèo
ở hai xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền và xã Vinh Thái, huyện Phú Vang Năm 2012, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện A Lưới đã tham mưu xây dựng mô hình "trình diễn nuôi cá rô đầu vuông” Địa điểm thực hiện: tại 5 xã Hồng Kim, Nhâm, Hồng Trung, Bắc Sơn và Hương Phong
Đến năm 2012, số hộ dân ở tỉnh Thừa Thiên Huế đã đưa vào nuôi cá rô đầu vuông còn rất ít và nuôi ở mức mật độ thấp chưa thử nghiệm ở hình thức thâm canh Để thử nghiệm và quảng bá đối tượng nuôi có giá trị kinh
tế này thật sự đến với người nuôi, năm 2012, Trung Tâm Khuyến nông lâm ngư tỉnh Thừa Thiên Huế xây dựng mô hình “Nuôi thâm canh cá rô đầu vuông trong ao đất” tại phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy và xã Phong Chương, huyện Phong Điền
Kết quả của các mô hình nuôi cá rô đầu vuông đã cho thấy, mặc dù cá
rô đầu vuông là đối tượng nuôi mới nhưng có nhiều triển vọng để phát triển trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 7CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được độ rộng muối của cá rô đầu vuông
- Xác định được nồng độ muối thích hợp cho tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống tối ưu của cá rô đầu vuông
2.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cá rô đầu vuông (Anabas testudineus Bloch,
1792) giai đoạn thương phẩm nuôi trong môi trường nước có các nồng độ muối khác nhau
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm nghiên cứu và thực hành thủy sản
Trường ĐH Nông Lâm – Đại học Huế
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7/2012 đến tháng 04/2013
2.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
2.3.1.Thí nghiệm 1: Xác định ngưỡng độ mặn của cá rô đầu vuông
Khả năng hoạt động: Tốc độ bắt mồi, tỷ lệ cá bị mù mắt
- Sinh tưởng và tốc độ sinh trưởng về chiều dài, chiều cao, khối lượng
- Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng, chiều cao và khối lượng, chiều cao và chiều dài
Ảnh hưởng của các nồng độ muối khác nhau đến đến tỷ lệ sống (SR(%)) của cá rô đầu vuông
Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) khi nuôi cá rô đầu vuông ở các nồng
độ muối khác nhau
So sánh hiệu quả kinh tế khi nuôi cá rô đầu vuông ở các nồng độ muối khác nhau: Tổng chi, Tổng thu, Lợi nhuận (giá thành sản xuất/kg sản phẩm, lãi thuần, tỷ lệ hoàn vốn (ROI))
Trang 82.4 Phương pháp thí nghiệm
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.4.1.1 Thí nghiệm 1: Xác định ngưỡng độ mặn của cá rô đầu vuông
Thí nghiệm được bố trí trong thùng xốp có thể tích 20 lít và có sử dụng sục khí, với 6 công thức thí nghiệm, và mỗi công thức được lặp lại 3 lần, được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên
CT1 (công thức 1): Cho cá giống vào nước ngọt tăng dần nồng
độ muối 2 ‰/ngày cho đến mức nồng độ muối mà tỷ lệ sống của cá
≤ 50%
CT2, CT3, CT4, CT5, CT6: lần lượt là các CT cho cá giống đang sống ở nước ngọt trực tiếp vào nồng độ muối 4‰, 8‰, 12‰, 16‰, 20‰
- Thể tích nước dùng để nuôi 17 lít
- Số lượng cá: 30 con/thùng xốp
- Thời gian nuôi của nghiệm thức CT2, CT3, CT4, CT5, CT6: 10 ngày
2.4.1.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nồng độ muối đến tốc độ sinh trưởng
và tỷ lệ sống của cá rô đầu vuông
Trên cơ sở kết quả của thí nghiệm 1 để quyết định chọn nồng độ muối thích hợp đối với thí nghiệm 2
Thí nghiệm được tiến hành trong bể composite (thể tích 1000 lít), sục khí với các nghiệm thức có nồng độ muối lần lượt là 0, 4, 8, 12 và 16‰, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD)
Trang 9Mật độ nuôi: 40 con/bể
Thời gian nuôi: 3 tháng
2.4.2 Phương pháp theo dõi, thu thập số liệu các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.2.1 Phương pháp theo dõi, thu thập số liệu các chỉ tiêu nghiên cứu ở TN1
Khả năng hoạt động của cá
- Tốc độ bắt mồi của cá được đánh giá như sau:
Tốc độ bắt mồi Sô điểm
Số cá có đầu kỳ theo dõi
2.4.2.2 Phương pháp theo dõi, thu thập số liệu các chỉ tiêu nghiên cứu ở TN2
Sự biến đổi của môi trường
Độ mặn được kiểm tra hằng ngày bằng khúc xạ kế
Oxy, pH, Nhiệt độ: được đo trực tiếp Test DO, Test pH, nhiệt kế thủy ngân 2 lần/ngày (sáng 8h00, chiều 14h00)
NH3 nước: được đo bằng Test NH3 tính bằng đơn vị mg/l, đo định kỳ
10 ngày/lần
Tốc độ tăng trưởng của cá
Định kỳ 10 ngày/lần thu mẫu cá để xác định khối lượng (30 con/bể), chiều dài, chiều cao của cá
- Tốc độ tăng trưởng về khối lượng (g/con/ngày):
Tốc độ tăng trưởng về khối lượng (g/con/ngày) = Wc - Wđ
tc - tđ
- Tốc độ tăng trưởng về chiều dài (cm/con/ngày):
Tốc độ tăng trưởng về chiều dài (cm/con/ngày) = Lc - Lđ
tc - tđ
Trang 10- Tốc độ tăng trưởng về chiều cao (cm/con/ngày):
Tốc độ tăng trưởng về chiều dài (cm/con/ngày) = Hc - Hđ
Số cá có đầu kỳ theo dõi
Lượng ăn vào của cá
Lượng ăn vào = lượng thức
ăn cho ăn –
lượng thức ăn dư sau 30 phút cho ăn
Hệ số tiêu tốn thức ăn (Feed Conversion Ratio, FCR):
FCR =
Khối lượng thức ăn sử dụng (vật chất khô)
Độ tăng khối lượng của cá
So sánh hiệu quả kinh tế:
* Tổng chi phí = chi phí trực tiếp + chi phí gián tiếp + công lao động
* Tổng thu = Sản lượng cá thương phẩm x Giá cá thương phẩm
* Giá thành sản xuất/kg sản phẩm (đồng/kg):
Giá thành sản xuất/kg sản phẩm (đồng/kg) =
Tổng chi phí Sản lượng cá thương phẩm thu được
* Lãi thuần:
Lãi thuần = Tổng thu – Tổng chi phí
* Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI):
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) = Lãi thuần
x 100 Tổng chi phí
2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Xử lý và phân tích sô liệu bằng phần mềm Minitab version 16.2.0: + Tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn
+ Phân tích ANOVA một yếu tố để so sánh sự sai khác của các công thức thí nghiệm
+ Tính tương quan hồi quy về sinh trưởng giữa khối lượng với chiều dài, giữa khối lượng và chiều cao, giữa chiều dài với chiều cao của cá rô đầu vuông ở các nồng độ muối thí nghiệm
Sử dụng chương trình Microsoft Excel 2003 để vẽ biểu đồ biểu diễn các kết quả các chỉ tiêu theo dõi trong quá trình thí nghiệm
Trang 11CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thí nghiệm 1: Xác định ngưỡng độ mặn của cá rô đầu vuông
3.1.1 Tốc độ bắt mồi của cá
Bảng 3.1 Tốc độ bắt mồi của cá rô đầu vuông trong CT1 của TN1 (điểm)
Chú thích: các giá trị trên bảng là giá trị trung bình, độ lệch chuẩn
Các giá trị trên cùng một cột có các kí tự (a,b,c,…) khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, tốc độ bắt mồi của cá trong CT1 của TN1 giảm giảm khi tăng nồng độ muối, tốc độ bắt mồi của cá ở nồng độ muối 0‰ - 8‰ thuộc loại nhanh (3,83-3), tốc độ bắt mồi của cá ở nồng độ muối 10‰ - 16‰ thuộc loại trung bình (2,83-2,17), tốc độ bắt mồi của cá ở nồng độ muối 18‰ - 22‰ thuộc loại chậm (từ 1,83-1,17), tốc độ bắt mồi của cá ở nồng độ muối 24‰ - 28‰ thuộc loại rất chậm (từ 0,83-0,33), và ở nồng độ muối 30‰ cá không bắt mồi
Từ kết quả nghiến cứu (bảng 3.2) cho thấy, tốc độ bắt mồi của cá chịu ảnh hưởng của độ mặn không đáng kể khi độ mặn dao động từ 0-16‰
Trang 12Bảng 3.2 Tốc độ bắt mồi của cá rô đầu vuông ở CT2-CT6 của TN1 (điểm)
88,24 100,00
Chú thích: các giá trị trên bảng là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn Các giá trị trên cùng một cột có các kí tự (a,b,c,…) khác nhau thể hiện
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Từ kết quả nghiên cứu (bảng 3.3) cho thấy, cá bắt đầu xuất hiện hiện tượng bị mù mắt từ nồng độ muối 24‰ (8,57%) và tăng dần từ nồng độ muối 24‰ đến 30‰, trong đó tỷ lệ cá bị mù mắt cao nhất ở nồng độ muối 30‰ (100%) Kết quả phân tích phương sai cho thấy, tỷ lệ cá bị mù mắt ở các độ mặn từ 0‰ đến 24‰ sai khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Chúng tôi cũng đã tiến hành theo dõi tỷ lệ cá mù mắt ở các CT2, CT3, CT4, CT5, CT6 của thí nghiệm 1 nhưng không thấy xuất hiện cá bị mắt
3.1.3 Tỷ lệ sống
Qua bảng 3.4 cho thấy tỷ lệ sống của cá giảm dần khi tăng nồng độ muối Khi tăng nồng độ muối từ 0‰ đến 24‰ cá vẫn hoạt động bình thường với tỷ lệ sống giảm chậm (tỷ lệ sống cao >90%) và không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p>0,05), khi tăng nồng độ muối từ 26 - 30‰ cá
có hoạt động bơi lội lờ đờ nhưng vẫn sống bình thường với tỷ lệ sống của
cá giảm mạnh và có sự sai khác với có ý nghĩa thống kê (p<0,05), tỷ lệ sống trung bình 62,19% (ở nồng độ muối 26‰), 52,13% (ở nồng độ muối
Trang 1326‰) , tăng nồng độ muối lên 30‰ tỷ lệ sống trung bình sau 1 ngày đạt 45,15% và sau 4 ngày cá ở 3 bể thí nghiệm chết hoàn toàn
Bảng 3.4 Tỷ lệ sống của cá rô đầu vuông trong CT1 của TN1 (%)
Chú thích: các giá trị trên bảng là giá trị trung bình, độ lệch chuẩn
Các giá trị trên cùng một cột có các kí tự (a,b,c) khác nhau thể hiện sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Từ kết quả thí nghiệm cho thấy ngưỡng độ mặn của cá rô đầu vuông là 30‰ Do tỷ lệ sống của cá ở nồng độ muối 30‰ nhỏ hơn 50% nên thí nghiệm được dừng lại
Bảng 3.5 Tỷ lệ sống của cá rô đầu vuông trong CT2-CT6 của TN1 (%)
Chú thích: các giá trị trên bảng là giá trị trung bình, độ lệch chuẩn
Các giá trị trên cùng một cột có các kí tự (a,b,c,…) khác nhau thể hiện
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Từ kết quả của thí nghiệm 1, cho thấy khi nuôi cá trong môi trường nước có khoảng nồng độ muối nồng muối từ 0‰ đến 16‰ cá sinh sống bình thường (tốc độ bắt mồi của cá nhanh, cá không bị mù mắt, tỷ lệ sống cao (>80%)) Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn các nồng độ muối này để