Thực nghiệm về ăn mòn thép carbon trong khí quyển
Trang 1Ludn văn cao học
PHAN 2: THUC NGHIEM
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Mẫu thép
Mẫu thếp nghiên cứu được cất từ tấm thép carbon hién nay đang
được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam Thành phần vị lượng được phân tích bằng phương pháp huỳnh quang tia X, kết quả trình bày trong bằng 2
Bảng 2: Thành phần ví lượng thép carbon
Nguyên
ˆ“
tô
(%)
2.1.2 Trạm phơi mẫu
Môi trường nghiên cứu ăn mòn khí quyển được lựa chọn là bến trạm
khí tượng tương ứng với bốn vùng khí hậu đặc trưng cho khu vực Nam bộ
Trạm khí tượng Mỹ Tho đặc trưng cho vùng khí hậu nông thôn, Biên Hòa - khí hậu khu công nghiệp, Vũng Tàu - khí hậu biển, Trạm thử nghiệm ăn
mòn vật liệu thuộc Viện Kỹ thuật Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh đặc
trưng cho vùng khí hậu đô thị (Bản đồ phần phụ lục]) Vị trí chỉ tiết của các trạm thử nghiệm ăn mòn xác định trên bản đồ được trình bày trong Bảng 3
Trang 2Luận văn cao học
Bang 3: Vi tri chỉ tiết trên bản đồ của các trạm thử nghiệm ăn mòn
mặt biển (m)_ | từ biển (km)
⁄^
⁄Z c) Chỉ tiết if
fy’ A
g1 ⁄
vy
4
a) Tong thé b) Matbén „“
Hình 5: Giá phơi mẫu ăn mòn khí quyển
Mẫu thử nghiệm ăn mòn được phơi trên giá theo đúng tiêu chuẩn ISO [5]
Mẫu phơi cách mặt đất không dưới 750 mm và nghiêng một góc 45°, mat
trên hướng về phía Nam nếu vị trí nằm ở bắc bán cầu và hướng về phía
Trang 3Ludn vdn cao hoc
Bắc nếu nằm ở nam bán cầu Vì tất cả các trạm đều ở vĩ độ bắc nên các
giá treo mẫu đều hướng vào phía nam Mẫu được đính chặc trên giá bằng
ốc vít có bọc nhựa sao cho mẫu kim loại tiếp cách với giá treo (Hình 5)
Chu kì phơi mẫu ăn mòn là 3, 6, 8 và12 tháng, mẫu được cất trong bình hút
ẩm trước khi mang đi phân tích
2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phân tích hình dang bé mat
Mẫu thép phơi ăn mòn được theo đối liên tục qua từng chu kì phơi mẫu 3,6, 8 và 12 tháng Hình ảnh cả hai mặt trên và duới của mẫu được
ghi lại bằng máy quét HP Scanjet 5470 C
Bê mặt mẫu sau khi quét tiếp tục được chụp trên kính hiển vi kim
tương Olympus BX200 với độ phóng đại 25 lần và chụp trên kính hiển vi điện tử quét 1SM-5200 độ phóng đại 500 lần, Hình dạng lớp gỉ hình thành trong quá trình ăn mòn được ghi lại qua từng chu kỳ phơi mẫu,
9.2.2 Phương pháp phân tích sản phẩm ăn mòn
- Phân tích phổ hồng ngoai (IR)
Sản phẩm ăn mòn được cạo và nghiền thành bột nhuyễn, trộn điều với KBr và ép thành viên Chạy phổ hồng ngoại trên máy Bruker kết nối
với bộ ERA, đải sóng được ghi từ 370 cm` đến 4000 cm `,
- Phân tích nhiễu xạ tia X (XRD)
Nhận danh cấu trúc pha của sản phẩm ăn mòn chủ yếu bằng phương
pháp nhiễu xạ tia X Mẫu thép lớn được cắt thành mẫu nhỏ có kích thước 2
Trang 4Luận văn cao học
x 5 cm, phân tích trực tiếp sản phẩm ăn mòn cả hai mặt trên và đưới bằng
máy nhiễu xạ Shimadzu với nguồn phát tia X CuKơ Phổ nhiễu xạ được ghi theo chế độ góc 2 theta, khoảng góc quét tit 10° dén 70°
~ Phân tích huỳnh quang tỉa X (XRE)
Phương pháp huỳnh quang tia X dùng để xác định thành phần (%)
nguyên tố hiện diện trên bể mặt mẫu Mẫu thép carbon trước và sau khi
phơi ăn mòn được cắt nhỏ có kích thước 2 x 2 cm và được phân tích trực tiếp trên máy huỳnh quang tia X Specro XEPOS với nguồn phát tia X là
Pd Đối với mẫu trước khi phơi ăn mòn, được mài nhấn và xử lí sạch sẽ sau
đó đem phân tích để làm mẫu chuẩn,
2.2.3 Phương pháp tổn thất khối lượng
Đo lường tổn thất khối lượng xác định trực tiếp tốc độ ăn mòn thép
(up/năm) theo các chu kì phơi mẫu 3, 6, § và 12 tháng Qui trình theo đúng
tiêu chuấn ISO [6-7] được tiến hành như sau:
- Chuẩn bị mẫu: Mẫu thép catbon có kích thước 50x100 mm được mài thô trên giấy nhám băng số 360 và được mài nhắn trên gấy nhám nước
số 800, sau đó được rửa sạch bằng nước xà phòng và tẩy đầu mở bằng
aceton trong bể siêu âm 20 phút, Mẫu được làm khô trong không khí và được bảo quần trong bình hút Ẩm 24 giờ sau đó Tiến hành cân mẫu trên
cân phân tich dé nhay 0,1 mg để xác định chính xác khối lượng trước khi
phơi ăn mòn
_Xử H mẫu sau ăn mòn: Mẫu sau khi phơi ăn mòn sẽ được tẩy hết gÏ
trước khi cân để xác định khối lượng sau ăn mòn Lớp gí không bên thường
Trang 5Luận văn cao học
được tẩy nhẹ bằng bàn chải trên vòi nước chảy, sau đó tiếp tục tẩy lớp gi
chặt bằng dung dịch tẩy gỉ Dung dịch tẩy gỉ được pha theo tiêu chuẩn ISO
[5] có thành phần gồm: 500ml HCI, 3.5 g hexametilentramin và 500ml nước cất Thời gian tẩy gỉ cho một mẫu là 10 phút ở nhiệt độ 20 — 25°C sau
đó mẫu sẽ được rửa sạch trên vòi nước chảy, rửa lại nhiều lần bằng nước
cất và tráng bằng aceton trong bể siêu âm khoảng 5 phút Mẫu được làm
khô tự nhiên trong không khí và giữ ổn định trong bình hút ẩm 24 giờ trước
khi cân với độ chính xác 0,lmg
Quá trình tẩy gỉ và cân mẫu được lập lại nhiều lần trên cùng một
mẫu thép Khối lượng mẫu sau mỗi lần xử lí được biểu diễn bởi đường
ABC (Hình 6) Đường AB cho thấy sau những lần xử lí đầu tiên mẫu vẫn chưa được tẩy sạch sản phẩm ăn mòn Phần đường BC là khối lượng mẫu
sau khi tẩy sạch sản phẩm ăn mòn, tuy nhiên đã có một lượng thép nền bị
mất đi sau mỗi lần xử lí Vì vậy, ngoại suy đường BC đến điểm D tương
ứng với số lần xử lí bằng 0 chính là khối lượng mẫu chính xác sau khi tẩy hết sản phẩm ăn mòn
Số lầu xử
Hình 6: Sự phụ thuộc khối lượng mẫu sau khi tẩy gỉ theo số lần xử lí
Trang 6Luận văn cao học
Tốc độ ăn mòn thép carbon được tính theo biểu thức ƒPÙ:
Am
#XØxí
carr
Trong dé:
Veor : Téc d6 4n mon (pm/ndm)
Am : Độ tổn thất khối lượng (8),
$: Điện tích bể mặt mẫu (cm?
o : Khối lượng riêng của thép (p = 7,86 g/cm”)
(: Thời gian phơi mẫu (giờ)
K: Hằng số, K = 87,6 x 10Ỷ.