Kết quả và biện luận về độ bền hoạt động của pin mặt trời tinh thể Nano oxit tẩm chất nhạy quang
Trang 1CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
4.1 Độ dày màng TiO 2
Kết quả đo độ dày màng TiO2 phủ trên điện cực anot được trình bày trên
Hình 4.1 Độ dày của màng chỉ gồm một lớp hạt nhỏ TiO2 trong suốt là 8,26 μm
Màng gồm một lớp hạt nhỏ trong suốt có phủ thêm một lớp hạt to tán xạ dày 13 μm
Hình 4.1: Bề dày lớp màng TiO2 chỉ gồm hạt nhỏ (màu xanh) và có thêm lớp hạt to
tán xạ (màu hồng) khi quét dọc theo đường kính của lớp màng
4.2 Độ bền hoạt động của các pin không sử dụng phụ gia 4-TBP dưới tác động
của nhiệt trong tối
Các pin được phơi ở 85oC trong tối và sau những khoảng thời gian phơi nhiệt
khác nhau được lấy ra để đo các thông số quang điện hóa ở cường độ sáng 250
W/m2 (đèn halogen)
Hình 4.2 cho thấy các pin dye N719 dung dịch điện ly không chứa phụ gia
4-TBP có hiệu suất chuyển đổi quang năng (η) ban đầu (khi chưa phơi nhiệt) trung
bình là 3%, sau 44 giờ phơi nhiệt giảm xuống thấp hơn 2% và từ đó duy trì giá trị
thấp này ít nhất đến thời điểm t = 660 giờ phơi Dòng ngắn mạch (Isc) của các pin
cũng giảm mạnh chỉ sau 44 giờ phơi nhiệt từ trung bình 5mA xuống thấp hơn 3 mA
và ổn định ở giá trị thấp đó trong suốt hơn 600 giờ phơi nhiệt tiếp theo Thế mạch
Trang 2hở (Voc) ban đầu trung bình là 520 mV, giảm 10 % sau 660 giờ phơi, các giá trị thế
tập trung trong khoảng 450 - 530 mV Hệ số lấp đầy (ff) của các pin ban đầu thấp,
tăng lên sau 100 giờ phơi và biến đổi nhẹ trong khoảng 0,45 – 0,6 khi tiếp tục phơi
nhiệt Sự biến đổi hiệu suất của pin dye N719 không dùng 4-TBP theo thời gian
phơi chủ yếu do sự biến đổi của dòng ngắn mạch
Trang 3Hình 4.2: Biến đổi thông số hoạt động của các pin dùng dye N719, dung dịch điện
ly không có 4-TBP, đo ở cường độ sáng 250 W/m2 (đèn halogen) theo thời gian
phơi nhiệt ở 85oC trong tối: (A) Hiệu suất pin; (B) Isc; (C) Voc; (D) ff
Như vậy các pin dye N719 dung dịch điện ly không chứa phụ gia 4-TBP có
hiệu suất và dòng suy giảm rất nhanh chỉ sau khoảng thời gian phơi nhiệt ngắn 44
giờ, nhưng ổn định tại giá trị đó trong suốt hơn 600 giờ phơi nhiệt tiếp theo
Xét đến độ bền nhiệt của các pin sử dụng dye D520 không có phụ gia 4-TBP
trong 780 giờ phơi nhiệt Hình 4.3 cho thấy hiệu suất chuyển đổi quang năng của
các pin ổn định trong khoảng 2,5 - 3,3 % đến thời điểm t = 780 giờ phơi nhiệt Thế
mạch hở của pin tăng lên sau 150 giờ phơi và đạt giá trị ổn định 530 - 560 mV trong
suốt khoảng thời gian phơi nhiệt còn lại Dòng ngắn mạch của pin giảm nhẹ sau thời
gian phơi nhiệt ngắn và ổn định ở 3,5 - 4,5 mA đến tận thời điểm t = 780 giờ phơi
Hệ số lấp đầy dao động trong khoảng 0,4 - 0,6, tương đương với các pin dye N719
không phụ gia
Trang 5Hình 4.3: Biến đổi thông số hoạt động của các pin dye D520, dung dịch điện ly
không có 4-TBP, đo ở cường độ sáng 250 W/m2 (đèn halogen) theo thời gian phơi
nhiệt ở 85oC trong tối: (A) Hiệu suất pin; (B) Isc; (C) Voc; (D) ff
Như vậy các pin dye D520 không sử dụng 4-TBP có độ bền nhiệt cao: các
thông số hoạt động của pin chưa bị suy giảm sau 780 giờ phơi nhiệt Vấn đề bay hơi
dung dịch điện ly vốn được xem là một trong những nguyên nhân làm hỏng pin đã
không xảy ra với các pin chế tạo được
Ngoài hai dye phổ biến là N719 và D520, chúng tôi cũng thử nghiệm với dye
đen Theo Hình 4.4, hiệu suất chuyển đổi quang năng ban đầu của các pin dye đen
dung dịch điện ly không chứa 4-TBP nhỏ hơn 3%, giảm dần theo thời gian phơi
nhiệt Thế mạch hở của các pin dye đen nằm trong khoảng 430 - 510 mV Hệ số lấp
đầy dao động trong khoảng 0,45 – 0,6 trong suốt hơn 700 giờ phơi nhiệt, xấp xỉ pin
dye N719 và D520
Trang 7Hình 4.4: Biến đổi thông số hoạt động của các pin dye đen, dung dịch điện ly
không có 4-TBP, đo ở cường độ sáng 250 W/m2 (đèn halogen) theo thời gian phơi
nhiệt ở 85oC trong tối: (A) Hiệu suất pin; (B) Isc; (C) Voc; (D) ff
Bảng 4.1 cho thấy trường hợp dung dịch điện ly không chứa phụ gia 4-TBP,
khả năng hoạt động của pin dye D520 cao và ổn định hơn dye N719 và dye đen Pin
dye đen có khả năng hoạt động kém và suy giảm rõ hơn dưới tác động của sự phơi
nhiệt
Bảng 4.1: So sánh thông số hoạt động của pin không chứa phụ gia 4-TBP theo ba
loại dye: N719, D520 và dye đen
N719 D520 Dye
đen N719 D520
Dye đen N719 D520 Dye đen
Trang 8Rõ ràng mạch cacbon dài, trơ trong cấu trúc dye D520 đóng vai trò quan
trọng bảo vệ và ổn định giao diện TiO2/dung dịch điện ly, duy trì dòng và thế ổn
định cho pin trong suốt 780 giờ phơi nhiệt
Dye đen được xem là tốt hơn do có dải hấp thụ trải dài sang vùng hồng ngoại
gần Tuy nhiên kết quả thu được trong điều kiện phòng thí nghiệm cụ thể không như
mong đợi: hiệu suất chuyển đổi quang năng của các pin sử dụng dye đen không cao
hơn dye D520 và N719 như đã được khẳng định trong một số nghiên cứu [04],[31]
Nguyên nhân có thể do ánh sáng đèn Halogen sử dụng có bước sóng không phù hợp
cho sự hấp thụ tốt nhất của dye đen, hoặc do mức LUMO-HOMO của dye đen thu
hẹp lại so với dye D520 và N719, điều này thuận lợi để hấp thụ được ánh sáng có
bước sóng dài nhưng lại không thuận lợi về mặt nhiệt động cho các quá trình tiêm
điện tử từ dye vào TiO2 hay quá trình tái tạo dye, Từ một số quan sát ban đầu
chúng tôi nhận thấy dye đen nhạy cảm với yếu tố nhiệt độ, vì khi mới cho hấp thụ
trên bề mặt anốt dye có màu tươi và sắc xanh rõ ràng, tuy nhiên sau quá trình hàn
gắn các điện cực với nhau ở nhiệt độ khoảng 1400C trong 1 phút màu của dye đã bị
xỉn, ngả sang sắc xám Như vậy có thể nhiệt độ đã ảnh hưởng không tốt đến dye
đen, làm hiệu suất pin giảm liên tục so với dye D520 và N719 trong suốt quá trình
phơi nhiệt
4.3 Độ bền hoạt động của các pin sử dụng phụ gia 4-TBP dưới tác động của
nhiệt trong tối
Độ bền nhiệt của pin dye N719 có phụ gia 4-TBP được theo dõi trong 600
giờ phơi nhiệt ở 850C trong tối, và được cho ở Hình 4.5 Các pin có hiệu suất
chuyển đổi quang năng ban đầu trung bình 4,5 %, giảm dần theo thời gian phơi, còn
50% sau 500 – 600 giờ phơi nhiệt Sự giảm của hiệu suất chủ yếu do sự giảm dần
của dòng ngắn mạch theo thời gian phơi, từ 5 – 6 mA ban đầu giảm còn một nửa
sau 500 – 600 giờ phơi Thế mạch hở của các pin dye N719 ban đầu cao 670 – 700
Trang 9mV, sau khi phơi nhiệt biến đổi trong khoảng 550 – 630 mV Hệ số lấp đầy của các
pin biến đổi nhẹ trong khoảng 0,45 – 0,55 trong 600 giờ phơi nhiệt
Trang 10Hình 4.5: Biến đổi thông số hoạt động của các pin dye N719, dung dịch điện ly có
4-TBP, đo ở cường độ sáng 250 W/m2 (đèn halogen) theo thời gian phơi nhiệt ở
85oC trong tối: (A) Hiệu suất pin; (B) Isc; (C) Voc; (D) ff
Trong khi η và Isc của pin dye N719 giảm dần trong suốt 600 giờ phơi, thì
với pin dye D520 các thông số này lại ổn định trong 500 giờ đầu phơi nhiệt với các
giá trị 3,5 – 5 % và 4 – 6 mA, cao hơn các pin dye N719, và chỉ giảm nhanh sau đó,
tại t = 600 giờ hiệu suất các pin còn khoảng 1 – 2% Thế mạch hở dao động trong
khoảng 610 – 650 mV, chưa giảm sau hơn 700 giờ phơi nhiệt Hệ số lấp đầy tập
trung trong khoảng 0,45 – 0,55, và tăng đến giá trị 0,7 sau 600 giờ phơi nhiệt khi
dòng ngắn mạch giảm mạnh
Trang 12Hình 4.6: Biến đổi thông số hoạt động của các pin dye D520, dung dịch điện ly có
4-TBP, đo ở cường độ sáng 250 W/m2 (đèn halogen) theo thời gian phơi nhiệt ở
85oC trong tối: (A) Hiệu suất pin; (B) Isc; (C) Voc; (D) ff
So với pin dye N719, trong 500 giờ đầu phơi nhiệt các pin dye D520 hoạt
động tốt và ổn định hơn Điều này được giải thích do cấu trúc dye D520 có đuôi
cacbon kị nước dài, giúp bảo vệ bề mặt TiO2 khỏi sự tiếp cận của các hợp chất có
cực trong dung dịch, như ion I3-
Với pin dùng dye đen, Hình 4.7 cho thấy hiệu suất chuyển đổi quang năng
ban đầu thấp 2 – 3,3 %, tăng lên 3,5 – 4,5 % trong 400 giờ đầu phơi nhiệt xấp xỉ pin
D520, sau đó giảm dần Ở t = 600 giờ phơi, hiệu suất chỉ còn khoảng 1 – 2 % Sự
biến thiên của hiệu suất chuyển đổi quang năng theo thời gian phơi nhiệt trùng với
sự biến thiên của dòng ngắn mạch theo thời gian: từ 4 – 4,5 mA ban đầu tăng lên
4,5 – 6,5 mA trong 400 giờ đầu phơi nhiệt, và giảm nhanh sau 600 giờ phơi Thế
mạch hở của các pin dye đen dao động trong khoảng 570 – 610 mV, có xu hướng
giảm sau 600 giờ phơi nhiệt Thế mạch hở của các pin dye đen thấp hơn các pin dye
D520 và N719 Hệ số lấp đầy tập trung trong khoảng 0,45 – 0,55 , có trường hợp
tăng lên 0,7 khi dòng ngắn mạch giảm thấp Sự biến đổi hiệu suất của các pin dye
đen có phụ gia 4-TBP chủ yếu do sự biến đổi của dòng ngắn mạch
Trang 13Khác với pin dùng dye D520 và N719, trong khoảng 400 giờ đầu phơi nhiệt
dòng ngắn mạch và hiệu suất của pin dye đen tăng lên so với ban đầu (Hình 4.7 (A),
(B))
Trang 14Hình 4.7: Biến đổi thông số hoạt động của các pin dye đen, dung dịch điện ly có
4-TBP, đo ở cường độ sáng 250 W/m2 (đèn halogen) theo thời gian phơi nhiệt ở 85oC
trong tối: (A) Hiệu suất pin; (B) Isc; (C) Voc; (D) ff
Bảng 4.2 cho thấy khi sử dụng phụ gia 4-TBP, trong 500 giờ phơi, pin dùng
dye D520 hoạt động ổn định và tốt hơn pin dye đen và dye N719 Tuy nhiên sau
600 giờ phơi nhiệt, khả năng hoạt động của ba loại pin đều suy giảm, với hiệu suất
chuyển đổi quang năng còn 1 – 2 %
Bảng 4.2: So sánh thông số hoạt động của pin chứa phụ gia 4-TBP theo ba loại dye:
Trang 154.4 Ảnh hưởng của phụ gia 4-TBP đến khả năng hoạt động của pin
Trong khoảng 500 giờ đầu phơi nhiệt, sự có mặt của 4-TBP trong dung dịch
điện ly giúp cải thiện hiệu suất chuyển đổi quang năng, dòng ngắn mạch và thế
mạch hở của pin 4-TBP tác động mạnh nhất đến thế mạch hở của pin (xem Bảng
4.3)
Bảng 4.3: So sánh thông số hoạt động của pin trong hai trường hợp có và không có
phụ gia 4-TBP trong quá trình phơi nhiệt
0 < 2 2,5 –
3,3 < 2,5 < 3
3,5 – 4,5 < 4
2,5 – 4,5
3,5 – 4,5
3,7 – 5,5
3,3 – 6,5
: số liệu trong 500 giờ đầu phơi nhiệt
Sau 600 - 700 giờ phơi, hiệu suất của các pin có 4-TBP đều chỉ còn 1- 2 %
(xem Hình 4.5 đến 4.7) Như vậy 4-TBP làm tăng khả năng hoạt động của pin,
nhưng không cải thiện độ bền nhiệt của các pin dye N719 và dye đen, quan trọng
hơn TBP làm giảm độ bền nhiệt của các pin dùng dye D520, vì khi không có
4-TBP, Isc và η của pin ổn định trong suốt 780 giờ phơi
Dung dịch điện ly không chứa 4-TBP cho pin hoạt động ổn định hơn, nhất là
với pin dùng dye D520 dưới tác động của nhiệt Điều này cũng được quan sát thấy
trong thí nghiệm của P.M Sommeling [22]
Trang 164.5 Phân tích phổ tổng trở điện hóa của pin trong quá trình phơi nhiệt ở 85 o C
trong tối
4.5.1 Mô hình hóa các quá trình chuyển vận điện tử và ion trong pin DSC
Khả năng hoạt động của pin phụ thuộc mạnh vào tốc độ chuyển điện tử cho
ion I3- tại điện cực catốt, tốc độ khuếch tán của ion trong dung dịch điện ly đến các
điện cực (ở đây là khuếch tán của I3- đến catốt nhận điện tử và tới anốt tái kết hợp
với điện tử trong màng TiO2), và phụ thuộc vào cạnh tranh tốc độ giữa sự khuếch
tán điện tử trong lớp màng TiO2 đến nền điện cực với sự tái kết hợp của điện tử với
I3- trong dung dịch điện ly (phản ứng tạo dòng tối)
Các quá trình trao đổi điện tử và ion quan trọng này được khảo sát bằng phép
đo phổ tổng trở điện hóa (EIS) với dải tần áp thế từ 100 kHz đến 5 mHz, biên độ
thế 10 mV Với dải tần số sử dụng rộng EIS có khả năng nhận diện từng quá trình
chuyển điện tích trên khi tốc độ của các quá trình này trùng với tốc độ biến thiên
của tác động áp vào hệ Các quá trình chuyển điện tích khác như tiêm điện tử từ dye
vào TiO2, tái tạo dye bởi I-, không phát hiện được bởi dải tần số này vì chúng xảy
ra với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các quá trình trên
Phổ EIS của pin được đo ở thế mạch hở, cường độ chiếu sáng là 250 W/m2
Phổ điển hình của DSC gồm 3 cung (Hình 4.9), trong đó cung ở tần số cao ứng với
sự chuyển điện tích tại giao diện Pt/dung dịch điện ly, cung ở tần số trung liên quan
đến hoạt động của điện tử trong màng TiO2 bao gồm khuếch tán qua các hạt TiO2 và
tái kết hợp với ion I3- tại giao diện TiO2/dung dịch điện ly, cung tần số thấp biểu thị
sự khuếch tán của I3- trong dung dịch điện ly [23],[24],[26],[28]
Để có thể thu được thông tin về tính chất điện hóa của hệ từ phổ EIS, mô
hình mạch tương đương được đề nghị như trong Hình 4.8 [23],[26]
Trang 17Hình 4.8: Mạch tương đương của DSC
(a) DSC có điện trở tái kết hợp >> điện trở khuếch tán của điện tử
(b) DSC có điện trở tái kết hợp << điện trở khuếch tán của điện tử
Trong đó:
Quá trình trao đổi điện tích trên catốt và khuếch tán ion trong dung dịch điện ly
được mô tả tương ứng bằng phần tử (RPtQPt) và (RsolQsol):
RPt: điện trở chuyển điện tích trên điện cực đối
QPt: điện dung của giao diện Pt/dung dịch điện ly
Rsol: điện trở khuếch tán của I3- trong dung dịch điện ly
Hoạt động của điện tử trong màng TiO2 được mô tả đơn giản bằng mô hình khuếch
tán - phản ứng ứng với phần tử ([RrW] Cμ), bỏ qua hiện tượng rơi vào bẫy và nhả
bẫy của điện tử với:
W: trở kháng khuếch tán Warburg của điện tử trong màng TiO2
Rr: điện trở tái kết hợp của điện tử với I3-
Cμ: điện dung hóa học của màng TiO2 trên anốt (xem Hình 2.3 trang 31)
G: trở kháng Gerischer của quá trình khuếch tán điện tử và tái kết hợp của
điện tử với ion I3-
Các tần số đặc trưng cho mỗi quá trình được kí hiệu như sau:
ω1: tần số đặc trưng của quá trình chuyển điện tử trên điện cực đối
ω4: tần số đặc trưng của sự khuếch tán ion I3- trong dung dịch điện ly
ω2: tần số đặc trưng cho khuếch tán của điện tử trong lớp màng TiO2
Trang 18ω3: tần số đặc trưng cho sự tái kết hợp của điện tử trong màng với ion I3
-trong dung dịch điện ly, 1/ω3 được xem là thời gian sống của điện tử trong
màng TiO2
Quá trình khuếch tán điện tử trong màng ω2 có sự cạnh tranh tốc độ với quá
trình tái kết hợp trên giao diện TiO2/dung dịch điện ly ω3, và cùng được phát hiện ở
vùng tần số trung Trong nhiều trường hợp ω2 rất khó nhận ra vì bị trùng lấp với ω1
và ω3, nó biểu hiện là một phần của cung ω3: là đoạn thẳng ở tần số cao ω2 theo sau
là một bán nguyệt ω3 Thành phần ω2 xuất hiện rõ khi điện trở khuếch tán của điện
tử trong màng TiO2 lớn hơn điện trở tái kết hợp của điện tử với I3- [28]
Hình 4.9 đưa ra một thí dụ về sử dụng mạch tương đương (b) để khớp phổ
tổng trở của pin 1B-0.5 Phần mềm Fit và Simulation cho giá trị của các phần tử
trong mạch (b) như sau: R1 = R; R2 = RPt; Q1 = QPt; R3 = Rsol; Q2 = Qsol; G1 = G,
trở kháng Gerischer gồm hai thông số Yo và K, với Yo tỉ lệ nghịch với độ lớn của
trở kháng khuếch tán điện tử trong màng TiO2 và K là hằng số tốc độ của sự tái kết
hợp giữa điện tử và ion I3-
Hình 4.9: Đường thực nghiệm và đường khớp phổ (đường liền nét) bằng mạch
tương đương (b) và các thông số thu được bằng phần mềm Fra
Trang 194.5.2 Phổ tổng trở của các pin không sử dụng phụ gia 4-TBP
Xét phổ tổng trở của các pin dye N719 ở thời điểm trước phơi nhiệt (t = 0
giờ) và sau 44 giờ phơi (t = 44 giờ) Có thể giải thích sự giảm mạnh của dòng ngắn
mạch và do đó hiệu suất pin chỉ sau 44 giờ phơi nhiệt (Hình 4.2) dựa vào sự biến
đổi dạng phổ và tần số đặc trưng ω3 của cung khuếch tán - phản ứng trong màng
TiO2
Hình 4.10 cho thấy dạng phổ ở vùng tần số trung của pin thay đổi mạnh sau
44 giờ phơi nhiệt, phản ánh sự chuyển từ trở kháng Nernst sang trở kháng Gerischer
khi sự tái kết hợp xảy ra dễ dàng hơn khuếch tán của điện tử trong màng [23] Tần
số đặc trưng của cung ω3 (tỉ lệ nghịch với thời gian sống của điện tử) tăng nhanh từ
12 Hz tại t = 0 đến 32 Hz tại t = 44 giờ phơi, ứng với sự giảm mạnh của thời gian
sống của điện tử trong màng TiO2
Như vậy sự phơi nhiệt tác động rõ đến giao diện TiO2/dung dịch điện ly theo
hướng làm phản ứng tái kết hợp giữa điện tử với các dạng oxi hóa trong dung dịch
xảy ra dễ dàng hơn so với khuếch tán của điện tử đến nền thủy tinh, điều này làm
dòng ngắn mạch của pin giảm mạnh, thế mạch hở cũng giảm, và do đó hiệu suất
chuyển đổi quang năng của pin dye N719 không sử dụng phụ gia giảm nhanh sau
44 giờ phơi nhiệt
Hình 4.10: Phổ của pin 11N-0 tại t = 0 giờ và t = 44 giờ cùng tần số đặc trưng ω3
Trang 20Mạch tương đương (b) Hình 4.8 được chọn để khớp phổ pin dye N719 không
chứa 4-TBP tại các thời điểm phơi nhiệt khác nhau vì các pin có hiệu suất không
cao (Hình 4.11)
Hình 4.11: Đường khớp phổ thực nghiệm bằng mạch tương đương (b) Hình 4.8 của
pin 11N-0 tại thời điểm t = 480 giờ phơi nhiệt
Hình 4.12 cho thấy từ 44 giờ phơi nhiệt trở đi, hằng số tốc độ K của phản
ứng tái kết hợp giữa điện tử với ion I3- và điện trở chuyển điện tích trên điện cực
catốt RPt thay đổi không đáng kể, điện trở khuếch tán ion trong dung dịch điện ly
Rsol tăng nhẹ, điều này phản ánh sự ổn định hoạt động của pin quan sát được trong
phép đo I-V (Hình 4.2)
11N-0
40 60 80 100 120 140 160 180 200
Trang 21Phổ của pin 11N-0 tại thời điểm t = 725 giờ bị nhiễu, cung tần số cao bị đứt,
gây khó khăn cho việc khớp số liệu (Hình 4.13)
Hình 4.13: Phổ pin 11N-0 tại t = 725 giờ phơi nhiệt bị nhiễu ở cung tần số cao
Với các pin sử dụng dye D520 không có phụ gia 4-TBP, trong suốt 780 giờ
phơi nhiệt khả năng hoạt động của pin vẫn ổn định (xem Hình 4.3) Điều này được
phản ánh rõ ràng qua việc phân tích phổ tổng trở Dạng phổ tại các thời điểm phơi
nhiệt khác nhau hầu như không đổi (Hình 4.14), chứng tỏ các quá trình điện tử và
ion vẫn xảy ra ổn định trong pin
Hình 4.14: Phổ của pin dye D520 không chứa 4-TBP (ví dụ pin 31D-0) thay đổi
không đáng kể theo thời gian phơi nhiệt
Trang 22Việc khớp cung khuếch tán - phản ứng ở vùng tần số trung bằng mạch điện
(b) Hình 4.8 cho thấy so với pin dye N719 (như 11N-0, 39N-0), pin dye D520
(31D-0, 33D-0, 36D-0) có hằng số tái kết hợp K thấp hơn, và giá trị Yo lớn hơn
(Hình 4.15), Yo tỉ lệ nghịch với trở kháng khuếch tán của điện tử trong màng Như
vậy trong pin dye D520, sự tái kết hợp giữa điện tử với ion I3- xảy ra chậm hơn, và
sự chuyển vận của điện tử trong màng đến nền điện cực dễ dàng hơn so với pin dye
N719, do vậy khả năng hoạt động của pin dye D520 cao hơn hẳn các pin dye
N719
Hình 4.15: Đồ thị so sánh thông số của trở kháng Gerischer giữa pin dye D520 với
pin dye N719: (A) K; (B) Yo
Dây cacbon dài trơ của dye D520 đã tạo rào ngăn kị nước, hạn chế phần nào
sự tiếp cận bề mặt TiO2 nhận điện tử của các dạng oxi hóa trong dung dịch như ion
I3-, làm cho điện tử được chuyển ra mạch ngoài nhiều hơn, dẫn đến sự tăng của
dòng ngắn mạch và thế mạch hở của pin
Xét phổ tổng trở của pin sử dụng dye đen, ví dụ như pin 18B-0 Phổ của
18B-0 được theo dõi trong suốt 720 giờ phơi nhiệt và được khớp bằng mạch điện
(b) Hình 4.8 Hình 4.16 cho thấy với pin 18B-0 giá trị hằng số tốc độ tái kết hợp K
tăng nhanh và Yo giảm nhẹ theo thời gian phơi nhiệt Như vậy sự suy giảm khả
Trang 23năng hoạt động theo thời gian phơi nhiệt của pin 18B-0 xảy ra do có sự tăng mạnh
của tốc độ tái kết hợp và sự tăng của trở kháng khuếch tán điện tử trong màng TiO2
Hình 4.16: Đồ thị so sánh thông số của trở kháng Gerischer giữa pin sử dụng dye
D520 (36D-0), N719 (11N-0), và dye đen (18B-0): (A) K; (B) Yo
Trường hợp dung dịch điện ly không có phụ gia 4-TBP, pin sử dụng dye
N719 (như pin 11N-0) và dye đen (pin 18B-0) kém hoạt động hơn so với pin dye
D520 (hiệu suất, dòng ngắn mạch và thế mạch hở thấp hơn) (Bảng 4.1) Điều này
hoàn toàn phù hợp với kết quả thu được từ phép phân tích phổ tổng trở: pin dye
N719 và dye đen có hằng số tốc độ của sự tái kết hợp lớn hơn, và trở kháng khuếch
tán của điện tử trong màng TiO2 cao hơn so với các pin dye D520 (Hình 4.16)
Có thể thấy tính chất giao diện TiO2/dung dịch điện ly đóng vai trò quan
trọng quyết định khả năng hoạt động của pin Khi sự tái kết hợp giữa điện tử với ion
I3- xảy ra chậm, và sự khuếch tán của điện tử đến nền điện cực xảy ra nhanh thì
lượng điện tử chuyển được ra mạch ngoài sẽ cao, khả năng hoạt động của pin (bao
gồm hiệu suất chuyển đổi quang năng, dòng ngắn mạch, và thế mạch hở) sẽ tăng
lên
4.5.3 Phổ tổng trở của các pin có sử dụng phụ gia 4-TBP
Hình 4.17 cho thấy dạng phổ của các pin sử dụng phụ gia 4-TBP có sự biến
đổi rõ theo thời gian phơi nhiệt, với sự tăng kích thước mạnh của cung khuếch tán -
Trang 24phản ứng hay cung khuếch tán của ion trong dung dịch điện ly khi khả năng hoạt
động của pin suy giảm
(a)
(b)
Hình 4.17: Sự biến đổi dạng phổ theo thời gian phơi nhiệt, với sự tăng mạnh kích
thước của: (a) cung khuếch tán- phản ứng (pin 1B-0.5); (b) cung khuếch tán ion
trong dung dịch điện ly (pin 2B-0.5)
Mạch tương đương (b) Hình 4.8 được sử dụng để khớp phổ của pin dye đen
Với pin 1B-0.5, Hình 4.18 cho thấy từ sau 600 giờ phơi nhiệt, hằng số tốc độ K của
sự tái kết hợp trở nên lớn hơn nhiều, và trở kháng khuếch tán điện tử trong màng trở
nên khó khăn hơn (do Yo nhỏ hơn) so với các thời điểm trước đó Điều này góp
phần giải thích sự sự suy giảm mạnh hiệu suất, Isc của pin 1B-0.5 quan sát được ở
phép đo I-V sau 600 giờ (Hình 4.7) Như vậy sự xuống cấp của pin 1B-0.5 có liên
quan đến tính chất giao diện TiO2/dung dịch điện ly
Trang 25Hình 4.18: Đồ thị so sánh thông số của trở kháng Gerischer của pin dye đen có phụ
gia 4-TBP: (A) K; (B) Yo
Với pin 2B-0.5, Hình 4.18 cho thấy các thời điểm sau 500 giờ phơi nhiệt có
hằng số tốc độ K thấp hơn so với các thời điểm trước đó, và tần số đặc trưng cung
khuếch tán - phản ứng ω3 đọc từ phổ Nyquist cũng giảm xuống, chứng tỏ sự tái kết
hợp sau 500 giờ phơi ở pin 2B-0.5 có xu hướng giảm Tuy nhiên điện trở khuếch
tán của I3- trong dung dịch điện ly Rsol lại tăng mạnh (Hình 4.19 (A)) Hoạt động
của một pin là sự kết hợp và tác động qua lại của nhiều quá trình, khi sự khuếch tán
ion trong dung dịch điện ly xảy ra khó khăn thì sự tái kết hợp giảm (K giảm), nhưng
đồng thời các quá trình khác như chuyển điện tích trên catốt, tái tạo dye bởi I
-,… sẽ
bị hạn chế theo, kết quả chung là η và Isc của pin 2B-0.5 giảm
Điện trở khuếch tán của I3
trong dung dịch điện ly tăng có thể do sự giảm của nồng độ I3- tự do trong dung dịch điện ly [28], vì I2 có khả năng tạo phức chất
với 4-TBP [07] Vậy với pin 2B-0.5 sự suy giảm khả năng hoạt động chủ yếu do sự
khuếch tán ion trong dung dịch điện ly xảy ra khó khăn hơn sau 500 giờ phơi nhiệt
Bên cạnh các biến đổi liên quan đến lớp màng oxit và dung dịch điện ly, điện
trở chuyển điện tử trên điện cực catốt RPt của các pin dye đen 1B-0.5, 2B-0.5 cũng
tăng lên theo thời gian phơi nhiệt (Hình 4.19 (B)), góp phần làm suy yếu khả năng
hoạt động của pin dye đen
Trang 26Hình 4.19: Biến thiên điện trở khuếch tán của I3- trong dung dịch điện ly (A) và
điện trở chuyển điện tích trên catot (B) theo thời gian phơi nhiệt của pin dye đen có
phụ gia 4-TBP
Với pin sử dụng dye D520 và N719 có chứa phụ gia 4-TBP, thành phần
khuếch tán ω2 khó nhận ra trên phổ, bị che lấp trong ω3, dạng phổ này phản ánh
điện trở khuếch tán điện tử trong màng nhỏ hơn điện trở tái kết hợp [28] Mạch điện
(a) Hình 4.8 được dùng để khớp phổ của các pin này
Hình 4.20: Phổ của các pin dye D520 theo thời gian phơi nhiệt
Điểm nổi bật trong phổ của pin dye D520 và N719 là sự tăng mạnh kích
thước cung khuếch tán ion ω4 khi dòng ngắn mạch và hiệu suất pin giảm mạnh sau
600 giờ phơi (Hình 4.20) Kết quả khớp cung ω4 bằng mạch điện (a) cho thấy sau
Trang 27600 giờ, điện trở khuếch tán ion trong dung dịch điện ly Rsol tăng mạnh (Hình 4.21),
trong khi các yếu tố khác biến đổi ít Như vậy sự suy giảm khả năng hoạt động của
các pin dye D520 và N719 theo thời gian phơi nhiệt có thể là do sự tăng điện trở
khuếch tán của ion trong dung dịch điện ly
0 5 10 15 20 25
Hình 4.21: Sự tăng điện trở khuếch tán ion theo thời gian phơi nhiệt của pin dye
D520 và N719
Khi sự khuếch tán của ion trở nên khó khăn hơn thì giao diện TiO2/dung dịch
điện ly cũng khá ổn định do sự tái kết hợp cũng khó xảy ra hơn
Các pin biến đổi rất đa dạng dưới tác động của yếu tố nhiệt, có thể thấy khả
năng hoạt động của các pin phụ thuộc mạnh vào điều kiện cụ thể của thời điểm chế
tạo pin, như các thao tác chế tạo pin, bầu khí quyển phòng thí nghiệm,… làm cho
các kết quả nghiên cứu DSC có tính cụ thể cho từng phòng thí nghiệm [22] Kiểm
soát chặt chẽ và tối ưu qui trình chế tạo pin có thể giúp tạo ra các pin có hiệu suất
cao, bên cạnh việc tìm kiếm các nguyên liệu thay thế mới
Như vậy các mô hình mạch tương đương đề xuất đã giải thích khá thỏa đáng
sự biến đổi khả năng hoạt động của pin dưới tác động của nhiệt, theo đó sự xuống
cấp của pin xảy ra do các nguyên nhân sau:
Phản ứng catốt xảy ra khó khăn hơn, có thể do khả năng xúc tác của Pt giảm
xuống do sự bong tróc của Pt hay do sự hấp phụ các tạp chất lên Pt
Trang 28 Khuếch tán của ion I3
xảy ra khó khăn hơn, có thể do sự giảm nồng độ ion tự
do trong dung dịch điện ly khi thời gian phơi nhiệt kéo dài gây ra bởi sự bay
hơi của I2 hay do sự tạo thành hợp chất phức giữa I2 với phụ gia 4-TBP
Tính chất của giao diện TiO2/dung dịch điện ly bị biến đổi theo hướng làm
tăng sự tái kết hợp và làm chậm sự chuyển vận điện tử trong màng TiO2, có
thể các sản phẩm phụ như H+ hấp thụ và xen vào mạng lưới TiO2 tạo nên các
bẫy năng lượng trong vùng cấm [25] Các bẫy năng lượng này làm chậm sự
khuếch tán của điện tử trong màng TiO2 tạo điều kiện thuận lợi cho sự tái kết
hợp
4.6 Ảnh hưởng của phụ gia 4-TBP đến quá trình chuyển vận điện tử và ion
trong pin
Hình 4.22, so sánh hai pin dye đen có dùng phụ gia 4-TBP (1B-0.5) với pin
không dùng phụ gia (18B-0), cho thấy sự hiện diện của 4-TBP trong hệ điện ly đã
làm giảm hằng số tốc độ tái kết hợp K và trở kháng khuếch tán của điện tử trong
màng TiO2 Điều này có khả năng là do 4-TBP hấp phụ lên phần bề mặt TiO2 còn
trống, ngăn cản khả năng tiếp cận của ion I3- đến bề mặt TiO2, làm điện tử ít bị tái
kết hợp với I3- hơn nên các thông số hoạt động của pin được cải thiện (Bảng 4.3)
Hình 4.22: Đồ thị so sánh thông số trở kháng Gerischer giữa pin dye đen có phụ gia
4-TBP (1B-0.5) và không có phụ gia (18B-0): (A) K; (B) Yo
Trang 29Vai trò làm giảm dòng tối của phụ gia 4-TBP cũng được khẳng định khi phân
tích phổ của pin dye D520: tần số đặc trưng ω3 của cung khuếch tán – phản ứng
trong pin có phụ gia 4D-0.5 là 12,6 Hz nhỏ hơn so với 25 Hz của pin không dùng
phụ gia 36D-0 (Hình 4.23) ω3 được cho là nghịch đảo của thời gian sống của điện
tử Như vậy khi có mặt 4-TBP, sự tái kết hợp xảy ra khó khăn hơn, và thời gian
sống của điện tử tăng lên
Hình 4.23: So sánh tần số đặc trưng của cung khuếch tán- phản ứng giữa pin dye
D520 có phụ gia (4D-0.5) và không có phụ gia (36D-0) tại t = 480 giờ phơi
Bên cạnh tác động tốt là tăng cường khả năng hoạt động của các pin bằng
cách hạn chế dòng tối, 4-TBP làm giảm độ bền nhiệt của các pin dye D520 và
không cải thiện được độ bền nhiệt của các pin dye N719 và dye đen Có thể vì
4-TBP ảnh hưởng không tốt đến khả năng khuếch tán của ion trong dung dịch điện ly
Sự suy giảm mạnh khả năng hoạt động của các pin sử dụng phụ gia 4-TBP có liên
quan rõ ràng với sự tăng kích thước của cung khuếch tán ion trong dung dịch, tức sự
tăng mạnh của điện trở khuếch tán ion trong dung dịch 4-TBP có mặt trong dung
dịch điện ly có khả năng tạo phức chất với iốt Sự tạo phức này có thể làm giảm
nồng độ I3-, tăng trở kháng khuếch tán của ion (xem mục 2.1.2.2 b)
Dung dịch điện ly không chứa 4-TBP cho pin hoạt động ổn định hơn dưới
tác động của nhiệt, nhất là với pin sử dụng dye D520 (vì dye D520 đã có sẵn dây
cacbon dài trơ ngăn cản sự tái kết hợp) Điều này cũng được quan sát thấy trong thí
nghiệm của P.M Sommeling [22] P.M Sommeling cũng đưa ra giả thiết các chất