Tình hình chính trị Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp đã tiến hành một số cải cách về chính trị nhằm đối phó với những biến động có thể xảy ra ở thuộc địa và hỗ trợ đắc l
Trang 1CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ HAI CỦA THỰC DÂN PHÁP
1 Tình hình chính trị
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp đã tiến hành một số cải cách về chính trị nhằm đối phó với những biến động có thể xảy ra ở thuộc địa và hỗ trợ đắc lực cho chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai Mục tiêu của các cuộc cải cách nhỏ giọt đó không gì hơn ngoài việc nới rộng nền tảng xã hội ( chế độ thuộc địa)
Các viên toàn quyền Pháp từ A Xa rô, M Lông đến A Va ren đã lần lượt ban hành
thành lập, các phòng thương mại và canh nông của những thành Phố lớn được mở rộng cho người Việt tham gia Năm 1928, thực dân Pháp lập ra Đại hội đồng Kinh tế Tài
Liên bang Đông Dương
Trong khu vực nông thôn, thực dân Pháp tiến hành "cải lương hương chính nhằm từng bước can thiệp trực tiếp vào công việc nội bộ của làng xã, loại bỏ dần tính chất tự trị của nó Trên nguyên tắc, công cuộc cải lương hương chính vẫn chấp nhận cơ chế quản lý làng xã cổ truyền, nhưng trên một chừng mực nào đó thực dân Pháp đã đạt được mục tiêu can thiệp trực tiếp vào công việc làng xã bằng cách kiểm soát nhân sự, tài chính của bộ máy làng xã
Tóm lại, chính sách của thực dân Pháp trong thế kỷ 20 là nới rộng một số Quyền lực chính trị cho các tầng lớp trên, tạo ra mảnh đất tốt cho chủ nghĩa Pháp-Việt đề huề tạo
sự ổn định chính trị để thu hút vốn đầu tư vào Đông Dương nhằm thực hiện có hiệu
Trang 2quả chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai 2
2 Tình hình kinh tế
Là nước thắng trận, nhưng Pháp ra khỏi Chiến tranh thế giới thứ nhất với 'những tổn thất lớn trên nhiều lĩnh vực Những vùng giàu có nhất nước Pháp, đặc biệt các vùng công nghiệp phát triển, bị tàn phá nặng nề; nhiều ngành công nghiệp bị đình trệ Đồng thời, nước Pháp trở thành con nợ lớn Tổng số nợ của 'nước Pháp đến năm 1920
đã lên tới 300 tỷ phăng
Tình hình trên đã thôi thúc chính quyền Pháp tìm biện pháp vừa thúc đẩy nhanh nền sản xuất trong nước, đồng thời đẩy mạnh khai thác thuộc địa, nhất là 'Đông Dương, nhằm nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh,'phục hồi Nền kinh tế và khôi phục vị thế chính trị của nước Pháp trên trường quốc tế
thuộc lần này vẫn theo đuổi một ý đồ nham hiểm : bòn rút thuộc địa để làm giàu cho 'chính quốc nhưng không cho thuộc địa có cơ hội cạnh tranh với chính quốc
Về thời gian, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai được bắt đầu từ sau khi kết thức Chiến tranh thế giới thứ nhất và chấm dứt trước cuộc tổng khủng hoảng 'kinh tế thế giới , tức là từ năm 1919 đến năm 1929
Vế cơ cấu vốn đầu tư, đã có sự thay đổi căn bản, nếu như trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất chủ yếu là vốn của tư bản nhà nước, thì trong cuộc khai thác thuộc địa này vốn đầu tư vủa tư bản tư nhân đứng vị trí hàng đầu
Về cường độ, cuộc khai thác thác thuộc địa lần thứ hai diễn ra với một cường độ mạnh Chỉ tính riêng trong 6 năm (1924-1929), tổng số vốn đầu tư của tư bản Pháp
Trang 3vào Đông Dương đã tăng gấp 6 lần so với 20 năm trước chiến tranh
Về các lĩnh vực đầu tư, có sự thay đổi vị trí rất lớn Nếu như trong khai thác thuộc địa thứ nhất, khai khoáng chiếm vị trí hàng đầu, thì trong cuộc khai thác thuộc địa lần này vị trí đó thuộc về nông nghiệp
Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, cơ cấu và trình độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam tiếp tục có những bước chuyển biến theo hướng hiện đại
Nông nghiệp là ngành được thực dân Pháp chủ trương đầu tư !ớn nhất Năm 1924,
số vốn đầu tư vào nông nghiệp là 52 triệu phăng, thì năm 1927 đã lên tới 400 triệu phăng, chủ yếu chảy vào khu vực trồng và khai thác cao su Với số vốn đó và sự trợ lực của chính sách ăn cướp ruộng đất, hàng trăm đồn điền, có những đồn điền rộng tới vài nghìn ha, đã xuất hiện Các chủ đồn điền người Pháp và người Việt khai thác triệt để phương thức canh tác và bóc lột kiểu phong kiến và tiền tư sản
Trong nông nghiệp, sự chuyển biến mạnh mẽ nhất là sự chuyển đổi trong cơ cấu cây trồng Ngoài những đồn điền trồng lúa đã xuất hiện những đồn điền trồng cao su, trồng chè, trồng cà phê, trồng hạt tiêu , nghĩa là các chủ đầu tư đã khai thác thế mạnh của miền đấtt nhiệt đới Trong kinh doanh cao su đã hình thành 3 tập đoàn lớn :
su ngày một tăng Năm 1929 đã xuất kho 10.00 tấn mủ cao su
tăng cường theo hai hướng chính : I) mở rộng về quy mô, về cường độ các xí nghiệp,
Trang 4nhà máy đã có từ trước; 2) xây dựng thêm những xí nghiệp những công ty mới Như vậy, so với thời kỳ trước, ngành công nghiệp đã có bước tiến về chất Chẳng hạn, trong khai khoáng, đi đôi với việc thành lập các công ty mới như Công ty than Hạ Long, Công
ty than và mỏ kim khí Đông Dương đã xuất hiện một số cơ sở chế biến quặng, đúc kim, thiếc ở Quảng Yên, Hải Phòng, Cao Bằng - những loại hình công nghiệp còn vắng bóng trước chiến tranh Cùng với sự điều chỉnh trong khu vực công nghiệp nặng, khu vực công nghiệp nhẹ cũng trở nên sôi động hơn, không chỉ tăng số lượng các nhà máy chế biến nông sản tại chỗ, mà còn được nâng cấp, mở rộng quy mô sản xuất Nhà máy dệt Nam Định được xây dựng từ những năm cuối thế kỷ XIX nay được mở rộng, nâng cấp để trở thành một trung tâm dệt nổi tiếng trên toàn liên bang với một tổ hợp nhà máy khép kín từ khâu đầu đến khâu cuối
yếu đầu tư xây dựng ngay từ đầu, nay được tiếp tục đầu tư vốn và kỹ thuật ( hoàn tất những công trình đang dang dở và nâng cấp một số phương tiện giao thông vận tải mới Trên tuyến đường sắt xuyên Việt, thực dân Pháp tiếp tục xây dựng các đoạn Vinh
- Đông Hà, Đồng Đăng - Na Sầm(l) ; đến năm 1931 đã xây dựng được 2389 km đường sắt trên đất Việt Nam Đường bộ tiếp tục được xây dựng, nhiều con đường quốc lộ và liên tỉnh đã được rải đá cấp phối và tráng nhựa Đến năm 1930, Pháp đã mở được 15.000 km đường bộ, trong đó 1 khoảng 2.000 km đường rải nhựa Nếu như đường sắt, đường bộ có vị trí quan trọng trong kinh tế đối nội, thì đường thủy đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế đối ngoại Nó là phương tiện giao thông duy nhất lúc đó nối nước ta với các nước bên ngoài Vì thế, cùng với quá trình hiện đại hóa các hải cảng đã có như
Trang 5cảng Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Pháp cho xây dựng các hải cảng mới như Hòn Gai, Bến Thủy Mạng lưới vận tải đường sông vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long cũng được khai thác triệt để
Xuất hiện các chợ lớn như chợ Bến Thành (Sài Gòn), chợ Đông Ba (Huế), chợ Đồng Xuân (Hà Nội) Ngoại thương là lĩnh vực buôn bán mà Pháp độc quyền Thực dân Pháp dựng hàng rào thuế quan để bảo hộ hàng hóa chính quốc bằng cách đánh thuế cao hàng hóa nước ngoài, đặc biệt là hàng hóa Trung Quốc và Nhật Bản đã hạn chế đến mức tối đa hàng ha của nước ngoài nhập vào Đông Dương, tạo điều kiện tốt nhất cho hàng hóa Pháp tràn ngập thị trường Việt Nam Trước chiến tranh, thị phần hàng hóa Pháp ở Đông Dương chiếm 37%, cuối những năm 1920 đã lên tới 63% Đặc trưng của nền thương mại thuộc địa được phản ánh rõ nét trong cơ cấu xuất nhập Xuất chủ yếu
công nghiệp, kỹ thuật, những mặt hàng tiêu dùng cao cấp từ Pháp
Bao trùm và chi phi toàn bộ đời sống kinh tế Đông Dương là hệ thống ngân hàng, đứng đầu là Ngân hàng Đông Dương Ngân hàng Đông Dương, ngoài chức năng được quyền phát hành giấy bạc, đã chỉ đạo các ngân hàng hàng tỉnh ( 19 Nông phố Ngân hàng) trong việc cho vay lãi , góp vốn thành lập các công ty, các đồn điền, các nhà máy Như vậy, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, nền kình tế Việt
chính là một cơ cấu kinh tế thuộc địa mất cân đối , què quặt được biểu hiện rõ nét ở tỷ
Trang 6lệ giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp, giữa khu vực công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ và giữa các vùng và các miền của đất nước
3 Tình hình xã hội
Trên phương diện xã hội, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, xã hội Việt Nam tiếp tục có sự phân hóa giai cấp sâu sắc và cùng với nó là sự xuất hiện một hệ thống thành phố kiểu phương Tây
a) Sự phân hoá giai cấp
thực dân và giai cấp địa chủ phong kiến bản xứ Giai cấp địa chủ vì thế, không những không bị thu hẹp lại, mà trái lại được phát triển đủ mạnh để có thể trở thành nền tảng
xã hội của chế độ thuộc địa Thế lực này được đo bằng số ruộng đất tập trung trong tay họ Ở Nam Kỳ, mức độ tập trung ruộng đất cao hơn Bắc Kỳ và Trung Kỳ Trong giai cấp địa chủ đã xuất hiện sự phân tầng rõ rệt : địa chủ nhỏ, địa chủ vừa và đại địa chủ Nam Kỳ là nơi tập trung nhiều đại địa chủ, có 2.449 đại địa chủ sở hữu từ 100
-500 ha và 244 đại địa chủ sở hữu trên -500 ha Nhìn chung, giai cấp địa chủ thời kỳ này chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn, nhưng đã nắm trong tay một nửa diện tích canh tác Đến năm 1939, Việt Nam có khoảng 6.500 địa chủ sở hữu trên 50 ha ruộng đất, trong đó Nam Kỳ có 6.200, Bắc Kỳ có 200 và Trung Kỳ có 100 người Giai cấp “ngồi mát
ăn bát vàng" này đã tách khỏi quá trình sản xuất, sống bằng việc phát canh thu tô (tô tiền, tô hiện vật và tô lao dịch) Do sự nâng đỡ của chính quyền thực dân, giai cấp địa chủ chiếm đại đa số trong cơ cấu chính quyền làng xã (Hội đồng kỳ mục, Hội đồng tộc biểu, người đứng đầu các xã, tổng và hàng thôn) Đồng thời, giai cấp này còn có đại
Trang 7biểu của mình ở các cấp chính quyền bên trên như các Viện Dân biểu, Hội đồng quản
dân
* Giai cấp nông dân là thành phần chiếm tuyệt đại đa số (khoảng 90% trong xã hội Việt Nam Trong quá trình sản xuất, dưới tác động của chương trình khai thác thuộc địa, giai cấp này đã chuyến biến sâu sắc và có sự phân tầng rõ rệt : phú nông, trung nông, bần nông và cố nông
Phú nông là tầng lớp khá giả nhất trong giai cấp nông dân, chiếm hữu một
số ruộng đất tương đối khá nhưng chưa đủ để trở thành địa chủ, cũng tham gia bóc lột bằng thuê nhân công, tuy vẫn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất
Trung nông là tầng lớp có đủ ruộng đất và công cụ sản xuất để tiến hành sản xuất nuôi sống gia đình mình; họ không bán sức lao động và cũng không có khả năng tham gia bóc lột
Bần nông là tầng lớp thiếu ruộng đất canh tác, thiếu nông cụ Để nuôi sống gia đình mình họ phải lĩnh canh ruộng đất, thuê mướn nông cụ sản xuất và tiền vốn
Cố nông là tầng lớp "không tấc đất cắm dùi" nghèo khổ nhất bần cùng nhất trong giai cấp nông dân Nguồn sống chủ yếu của họ là lĩnh canh ruộng đất, đi làm thuê, đi ở cho nhà giàu
Giai cấp nông dân là giai cấp bị bóc lột và áp bức nặng nề nhất bi thuế khóa và thu phen tạp dịch Cuộc sống của họ hết sức bấp bênh Một bộ phận trong số họ bị bần cùng hóa Đề duy trì sự tồn tại của gia đình, họ phải ra thành phố, hầm mỏ để kiếm công ăn việc làm Một số người may mắn tìm được nơi bán sức lao động, trở thành
Trang 8công nhân, số khác ít may mắn hơn quay trở về nông thôn, cam chịu cuộc sống cùng quẫn, bế tắc
riêng công nhân trong các doanh nghiệp của người Pháp đã là 221.050 người Ngoài
ra, có khoảng vài vạn công nhân lam việc trong các doanh nghiệp của tư sản Việt Nam
và tư sản ngoại kiều, chưa kể số công nhân làm theo mùa, theo thời vụ Về số lượng, giai cấp công nhân Việt Nam chiếm trên 1 % dân số Tỷ lệ đó là nhỏ bé, nhưng một nước thuộc địa con số đó cũng rất đáng kể
Nhìn trên tổng thể, công nhân được phân bố trên 2 vùng rõ rệt tuỳ theo điều kiện
tự nhiên : miền Bắc tập trung công nhân công nghiệp, miền Nam tập trung công nhân nông nghiệp Đại bộ phận công nhân công nghiệp tập trung ở Hòn Gai, Hải Phòng, Hà Nội , Nam Định, Vinh, Sài Gòn, Chợ Lớn
Điều kiện sống và làm việc của công nhân rất cực khổ Họ phải làm việc trung bình
từ 10 giờ đến 14 giờ / ngày với đồng lương rẻ mạt, thường xuyên bị cúp phạp và bị đối
xử bất nhân Trước khi họ trở thành công nhân, họ đã là người dân một nước nô lệ Vì thế, trong họ đã có sẵn mối thù dân tộc Khi họ trở thành công nhân, làm thuê cho một ông chủ nào đó, bị giới chủ bóc lột, áp bức nặng nề, họ mang thêm một mối thù thứ hai – mối thù giai cấp Mối thù dân tộc có trước thôi thúc mối thù giai cấp chín sớm Do vậy, giai cấp công nhân Việt Nam sớm giác ngộ ý thức giai cấp và nhanh chóng vươn lên nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc
* Giai cấp tiểu tư sản
Cùng với sự gia tăng của cuộc khai thác thuộc địa, sự xuất hiện hệ thống thành thị
Trang 9kiểu phương Tây và nền giáo dục Pháp-Việt phát triển, giai cấp tiểu tư sản ngày càng trở nên đông đảo Nó được kết hợp một cách lỏng lẻo bởi ba bộ phận: trí thứ, tiểu thương và thợ thủ công Điểm chung của họ là thi dân, sở hữu một ít tư liệu sản xuất (vốn, chất xám)
tiểu tư sản Đến năn 1929, đội ngũ trí thức đã lên tới gần 40 vạn người (12.000 giáo viên, 335.545 học sinh, 23.000 viên chức và hàng trăm sinh viên các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề)
Tiểu thương: Biên độ của đội ngũ này khá rộng, từ người buôn thúng bán mẹtt đến những người có cửa hàng, cửa hiệu nhưng vốn liếng (doanh só) chưa đạt tới ngưỡng một nhà tư sản Đội ngũ những người buôn bán nhỏ có đóng thuế môn bài thường xuyên là 130.000 người
Thợ thủ công: Vào giữa những năm 30 của thế kỷ này, có khoảng 21,6 thợ thủ công chuyên nghiệp, đông đảo nhất là Bắc Kỳ So với hai bộ phận trên, bộ phận này có đời sống bấp bênh nhất bởi với sự xuất hiện các doanh nghiệp lớn đe doạ thủ công nghiệp phá sản
* Giai cấp tư sản
Tư sản Việt Nam,, sau chiến tranh, gặp những điều kiện thuận lợi nên hoạt động kinh doanh của họ càng trở nên sôi nổi hơn, đa dạng hơn Họ kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, từ xay xát, nhuộm dệt, in ấn, vận tải đến sản xuất nước mắm,
mỏ, đồn điền, công ty vận tải sông biển, các công ty thương mại Cuối những năm
Trang 101920 tư sản Việt Nam đã gia tăng về số lượng, đã đạt từ con số 20.000 người, chiếm khoảng 0,1% dân số cả nước Tư sản Việt Nam đã từ một tầng lớp trở thành một giai cấp xã hội thực sự sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Do điều kiện kinh doanh, giai cấp
tư sản Việt Nam tự phân thành hai bộ phận : tư sản mại bản và tư sản dân tộc
Tư sản mại bản là một bộ phận những nhà đại lý cho tư bản nước ngoài, những nhà thầu khoán và những tư sản hùn vốn kinh doanh với tư sản Pháp và những nhà doanh nghiệp có quan hệ buôn bán với nước ngoài Vì lợi ích kinh tế của bộ phận này gắn chặt với lợi ích kinh tế của tư bản thực dân
Ngoài bộ phận trên, phần lớn các nhà tư sản Việt Nam đều là tư sản dân tộc Họ
có mặt trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt trong thương nghiệp Nhiều xí nghiệp kinh doanh của họ được mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư về kỹ thuật như xưởng sản xuất sơn của Nguyễn Sơn Hà, công ty vận tải sông biển của Bạch Thái Bưởi, xưởng dệt của Lê Phát Vĩnh Nhiều đồn điền ở Nam Kỳ rộng hàng nghìn mẫu thu hút hàng trăm công nhân Sau chiến tranh, xuất hiện những cơ sở kinh doanh mới như Nhà máy gạch Hưng Ký ở Đáp Cầu (Bắc Ninh), xí nghiệp dệt Vĩnh An ở Huế Lợi ích kinh tế của bộ phận tư sản dân tộc không đồng nhất với lợi ích kinh tế của chính quyền thực dân Họ bị chèn ép từ nhiều phía, từ tư sản Pháp đến các nhà tư sản ngoại kiều Vì thế,
để tồn tại và phát triển, bộ phận này đã cố kết với nhau trong kinh doanh và do đó ít nhiều họ có tinh thần dân tộc
Nhìn chung, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp tư sản Việt Nam lớn mạnh
và trưởng thành Đại diện cho thế lực kinh tế của giai cấp xã hội đang lên này là những nhà doanh nghiệp sáng giá như Trương Văn Bền, Bạch Thái Bưởi;, Nguyễn Sơn Hà, Lê