Việc xác định cân bằng nớc của bất kỳ vμo từng thμnh phần của hệ thống thủy văn với sự lu tâm tới những nguyên lý cơ bản về sự vận động của nớc, các giả thiết cần để sử dụng, lựa chọn
Trang 1Ch ơng 2 Các Quá Trình Thủy Văn Vμ Cân bằng N ớc Của Hồ
Giới thiệu
Hồ tơng tác với mọi thμnh phần của hệ thống thủy văn: nớc khí quyển, nớcmặt vμ nớc ngầm Những thông lợng nớc đến vμ đi khỏi các hồ tơng ứng
đối tợng tính toán nμo, dù nó lμ
hồ, đầm lầy, hay đồng bằng ngập lụt đều đòi hỏi phải xem xét đến toμn bộ hệ thống thủy văn; do đó, cần phải có ý kiến về mặt chuyên môn của một chuyêngia thủy văn hoặc một đội ngũ các chuyên gia về các nhánh của thủy văn học Vì ý kiến chuyên môn không phải lμ có sẵn trong nhiều nghiên cứu, thông thờng cân bằng nớc có chất lợng khác nhau trong các trờng hợp khácnhau
Tính bất định trong khả năng so sánh cân bằng nớc nμy đã hạn chế sự nâng cao hiểu biết về thủy văn hồ, cũng nh cơ hội để so sánh giữa các tình huống.Hơn nữa, phần lớn các cân bằng nớc không bao gồm sự đánh giá mức độ bất
định của các giá trị thủy văn cần tính toán (Winter 1981), cũng hạn chế sự hữu dụng của chúng
Để xác định cân bằng nớc vμ có thể sử dụng nó với một mức tin cậy, cần phải
có nhận thức về những nguyên lý cơ bản, các kỹ thuật đo đạc, vμ những hiểu biết về tính bất định về giá trị của các yếu tố thủy văn khác nhau co tơng tác với hồ Mục đích của chơng nμy lμ cung cấp một nền tảng để từ đó phát triển
sự hiểu biết về những quá trình thủy văn liên quan đến hồ Chơng nμy hớng
vơqí các thμnh phần nμy thể hiện cân bằng nớc của hồ Về mặt toán học, khái niệm cân bằng nớc dễ lầm tởng đơn giản lμ: lợng nớc gia nhập cân bằng với lợng nớc thoát hoặc sự thay đổi lợng trữ (có thể âm hoặc dơng) Tuy nhiên, trong thực tế, đo đạc một cách chính xác các thμnh phần nớc đến vμ đi khỏi hồ lμ không đơn giản, bởi vì có nhiều quan niệm khác nhau về sự biếnthiên của các quá trình thủy văn vμ khả năng đánh giá các thμnh phần thủy văn còn hạn
Cân bằng nớc lμ một thμnh phần quan trọng của nhiều nghiên cứu Nó đợc
đề cập đến chủ yếu do các mối quan tâm về hóa học hay sinh học Cần phải biết những đờng dẫn nớc để xác định vận chuyển hóa học; bởi vậy, cân bằng nớc
đợc xác định cho một số lợng lớn các mục đích khoa học vμ quản lý khácnhau Việc xác định cân bằng nớc của bất kỳ
vμo từng thμnh phần của hệ thống thủy văn với sự lu tâm tới những nguyên
lý cơ bản về sự vận động của nớc, các giả thiết cần để sử dụng, lựa chọn các phép đo hoặc tính toán, vμ độ bất định về giá trị đợc xác định bởi các phơngpháp khác nhau
Hệ thống thủy văn hồ
Trang 2Xem xét hồ nh một đối tợng tính toán có thể nhận thấy, hồ nhận nớc từ:(1) khí quyển, bởi giáng thủy trực tiếp trên bề mặt của hồ,
(2) nớc mặt, bởi dòng chảy tới hồ, từ các sông suối, bởi dòng chảy trμn hay dòng chảy sờn dốc, vμ
(3) nớc ngầm, bởi quá trình thấm vμo trong hồ
Hồ mất nớc từ:
(1) khí quyển, bởi sự bay hơi trực tiếp từ bề mặt hồ,
(2) nớc mặt, bởi dòng chảy mặt đi ra từ hồ, vμ
(3) nớc ngầm, bởi sự ngấm ra từ hồ Trong một thời đoạn nμo đó, sự bất cân bằng giữa nguồn đến vμ tổn thất dẫn đến sự thay đổi lợng trữ, đợc phản
số lợng vμ khoảng cách những trạm đo giáng thủy ở hồ Với những thμnhphần khác, không thể đo đạc trực tiếp những giá trị dòng chảy một cách chính xác Ví dụ, bốc hơi, chảy trμn, vμ nớc ngầm chảy vμo hay chảy ra nói chung,cần đợc tính toán từ nhiều loại số liệu thủy văn vμ khí hậu khác nhau
Mặc dù có thể đo đợc dòng chảy ngầm một cách trực tiếp bằng việc sử dụng những đồng hồ đo thấm, hầu hết những thiết bị nμy thờng chỉ đợc sử dụng tại những điểm mẫu lựa chọn trong không gian vμ thời gian, chứ không theodõi liên tục Hơn nữa, mặc dù một số thμnh phần thủy văn có thể đo đợc tại ranh giới của hồ, để hiểu vμ mô hình hóa sự cân bằng nớc của hồ, đặc biệt lμ
sự tơng tác giữa hồ với những thμnh phần nớc mặt vμ nớc ngầm, cần thiết phải có một kiến thức về đờng dòng bên trong lu vực nớc mặt vμ nớcngầm liên quan đến hồ
2.1 Sự t}ơng tác của hồ với n}ớc khí quyển
2.1.1 Giáng thủy
Sự vận động của nớc trong khí quyển biến động lớn theo không gian, thời gian
vμ rất phức tạp Điều nμy cũng đúng cho các yếu tố thμnh tạo giáng thuỷ Bởi
vậy, lâu nay nó vẫn lμ một thách thức cho các nhμ thủy văn học để đo đạc hoặc
giống
tính toán lớp giáng thủy của khu vực Những kiểu thời tiết khác nhau gây ra những loại giáng thủy khác nhau Trong một số vùng vμ vμo những mùa nhất
định, phổ biến, những kiểu thời tiết giống nhau, dẫn đến giáng thủy
nhau trên khu vực; phép đo giáng thủy dới những điều kiện nμy có thể khá chính xác Tuy nhiên, nếu giáng thủy phần lớn từ những cơn ma giông đối lukèm theo gió mạnh, thì đo đạc chính xác giáng thủy thực tế lμ rất khó khăn vμ
Trang 3có những sai số đáng kể Ngoμi ra, dạng vμ cờng độ của giáng thủy từ ma đối lu có tính biến động cao theo không gian, vμ tính khu vực của dữ liệu địa phơng lấy ở các trạm đo có thể có sai số đáng kể Kết quả nghiên cứu vμ tìm hiểu về động lực học khí quyển, những thí nghiệm đo đạc giáng thủy, vμ những
so sánh tính khu vực bởi Illinois State Water Survey (ví dụ, Huff vμ Neill 1957, Huff vμ Shipp 1969) trong vμi thập niên đã hỗ trợ đáng kể cho nhận thức vềcác dạng giáng thủy, thực sự cần thiết cho việc xác định chính xác thμnh phần
đầu vμo từ khí quyển của cán cân nớc
Mặc dù tồn tại sự bất định trong đo đạc giáng thủy (xem Larson 1971 nh một
g số rất nhiều tμi liệu xem xét về đề tμi nμy), thách thức cơ bản trong việc xác định lợng nớc từ khí quyển tới hồ lμ sự lμm sáng tỏ hay phân phối theo vùng của số liệu đo đạc Những phơng pháp chủ yếu của việc phân vùng số liệu ma điểm lμ phơng pháp đờng đẳng trị lợng ma, ph-
ơng pháp đa giác Thái Sơn, vμ phơng pháp tính trung bình có trọng số Những phơng pháp nμy đợc mô tả trong hầu hết các sách giáo khoa thủy văn học, nhng một ví dụ đồ thị của sự so sánh ba phơng pháp bởi Linsley vμnhững ngời khác (1975) chỉ ra rằng những thể tích nớc tính toán cho một vùng nhất định sử dụng cùng những số lợng phép đo trong một mạng lới các trạm đo đạc chênh lệch nhau từ 9-18% Ví dụ nμy trình bμy việc xác định giáng thủy trên lu vực có những trạm đo phân bố
Nớc từ khí quyển rơi trực tiếp vμo hồ hiếm khi đợc đo đạc trên bề mặt nớc.Vì các trạm đo giáng thủy thông thờng phải đợc đặt trên mặt đất, cần phải
sử dụng một số phơng pháp phân vùng nμo đó để xác định lớp nớc trên toμn
bộ hồ từ lớp nớc đo đợc tại những trạm đo Với những hồ nhỏ thì số liệu marơi trên mặt đất khá tiêu biểu cho ma rơi trên hồ Tuy nhiên, với những hồ
a Kỳ mật độ lới trạm của Uỷ ban thời tiết quốc gia (NWS)
ở khoảng 40
km theo các hớng khác nhau từ hồ, vμ mạng lới nhỏ hơn gồm có các trạm đọc
ví dụ của một tron
lớn, cần phải sử dụng một số trạm đo đạc xung quanh hồ để tính toán ma rơi trên hồ Trong một số trờng hợp thậm chí cách tiếp cận nμy vẫn cha phải lμ thỏa mãn Ví dụ, những hồ lớn đôi khi không có mây che phủ trong khi vùng
đất xung quanh lại có, vμ tại thời điểm khác thì ngợc lại Với những hồ lớn, chúng ta hầu nh không thể biết đợc mức độ bất định của thể tích nớc rơi trực tiếp trên mặt nớc
Thμnh phần giáng thủy của cán cân nớc thờng đợc xác định từ số liệu mạng lới quốc gia ở Ho
2
lμ xấp xỉ 650 km một trạm đo Những trạm đo nμy ít khi đợc đặt ngay trongvùng lân cận của hồ cần quan tâm; bởi vậy, một trong những phơng phápphân vùng đợc đề cập ở trên thờng đợc sử dụng
Siegel vμ Winter (1980) so sánh các phơng pháp phân vùng ở hồ Williams,Minnesota, sử dụng số liệu giáng thủy mùa hè năm 1978 Lợng giáng thủy tới
hồ đợc tính toán sử dụng ba phơng pháp; trung bình số học, trung bình trọng
số, vμ đờng đẳng trị lợng ma, chẳng hạn nh sử dụng số liệu từ hai mạng lới riêng biệt Mạng lới lớn hơn gồm có ba trạm đo đạc NWS đặt
Trang 4giá trị quan trắc định vị ở bên trong xấp xỉ 5 km của hồ Những lợng của giáng thủy tính toán đợc so sánh với những lợng của giáng thủy đo bởi dụng
cụ đo tự ghi tại hồ Bên trong mỗi mạng lới dữ liệu, tính toán giáng thủy hμng ngμy trung bình thời đoạn hơn 2 tuần thì tơng tự với cả ba phơng pháp tính toán (Hình 2.1)
Hình 2 1 A, B: Sự khác nhau giữa giáng thủy đợc đo bởi một trạm tự ghi ở hồ Williams, Minnesota, vμ
đ ợc đánh giá bằ vùng sử dụng số liệu từ mạ p Portage) vμ mạng lỡi qui iáng thủy trung bình ngay trong thời kỳ 2 tuần B: lợng giáng thủy c thời kỳ 2 tuần (Đ el vμ Winter 1980)
Những đánh giá từ mạng lới quy mô n những giá trị
xét trung bình một tuần hai lần, lμ cho háng tám, khi sử dụng sốliệu NWS Việc so sánh tμi liệu ma cho cơn ma lớn nhất xuất hiện trong suốt
ng ba cách phân ng l ới qui mô nhỏ (Dee mô lớn (NWS) A: Lợng g
ơn b ío lớn nhất trong
trong cả ợc xác định bởi Sieg
hỏ thông thờng lμ sát với
i những giá trị ghi đợc tạ
hi đợc tại hồ Sự
thời kỳ giữa t
Trang 5thời đoạn 2 tuần chỉ ra rằng độ sâu ma rơi tính toán từ mạng lới qui mô nhỏ thì luôn luôn gần nh tơng tự với những số liệu mμ đợc ghi tại hồ hơn lμ độsâu ma rơi tính toán từ mạng lới NWS Sự khác nhau lớn nhất lμ một cơn ma lớn vμo giữa tháng tám, khi mμ những độ sâu tính toán đợc từ mạng lớiNWS chênh lệch hơn 25 mm so với nhữ c tại hồ hoặc từ
vμ xá rối theo ơn ẳn g hu ơi
di í ơn ữa, b i vì ẩ iệt hoá hơ
ghi đợc tại vị trí đó, thì ít nhất cũng bởi những trạm đo đạc đọc quan trắc
Bốc hơi lμ quá t ợc chuyển đổi từ trạng thái lỏng
í áp khí vμ
ớc (Ragotzkie 1978) Bởi vậy,
n phải đo đạc bức xạ, nhiệt
đổi lợng trữ nhiệt trong hồ.
Những nghiên cứu về cân bằng năng lợng của các hồ thông thờng cha đợctiến hμnh bởi liên quan đến chi phí vμ nhân lực Không chỉ lμ những dụng cụ
đắt tiền, mμ còn cần phải kiểm tra thờng xuyên sự định kích cỡ của chúng với những cảm kế riêng biệt vμ cần nhiều thời gian để bảo đảm chất lợng của tμiliệu khí hậu, dẫn đến những chi phí nhân sự cao Ngoμi ra, những profile nhiệt
độ ở nhiều lát cắt trong hồ, sự khảo sát nhiệt, cần đợc tiến hμnh đều đặn ờng xuyên trong những khoảng thời gian nh hμng tuần, một tuần hai lầnhoặc hμng tháng
th-Tuy vậy, phơng pháp cân bằng năng lợng trong tính toán bốc hơi nói chung
Trang 6đợc xem xét nh lμ phơng pháp chính xác nhất cho những nghiên cứu bao trùm những giai đoạn các tháng, các mùa, hoặc các năm; bởi vậy, đó lμ tiêu chuẩn mμ căn cứ vμo đó để đánh giá những phơng pháp thực nghiệm Một thảo luận chi tiết về phơng pháp cân bằng năng lợng để tính bốc hơi cha
đợc giới thiệu ở đây, bởi vì sự di chuyển nhiệt năng với sự lu tâm tới các hồ
đợc bμn luận bởi Imboden vμ Wuest vμ bởi Hostetler, vμ nó đợc bμn luận rộng rãi trong những cuốn khác nh lμ sách của Brutsaert (1982)
Một khía cạnh của nghiên cứu cân bằng năng lợng mμ hiếm khi đợc xem xét
đến lμ năng lợng bình lu liên quan đến nớc ngầm; đa số các nghiên cứu
tr-ớc đây cho rằng năng lợng bình lu liên quan đến giáng thủy vμ tầng ntr-ớcmặt Nớc ngầm có thể lμ một thμnh phần chính trong cán cân nớc của những
hồ kín Một ví dụ về ảnh hởng của năng lợng bình lu liên quan đến nớcngầm tới sự bay hơi từ một hồ kín trong một khí hậu ôn hòa đợc giới thiệu bởi Sturrock cùng cộng sự (1992)
Những yếu tố trong cân bằng năng lợng, bao gồm dòng năng lợng liên quan với nớc ngầm, đã đợc xác định rõ cho hồ Williams, một hồ kín nhỏ (40 ha) ở trung tâm phía bắc Minnesata, với chu kỳ mở nớc lμ 5 năm Nớc ngầm chiếm hơn 50% lợng nớc hμng năm tới hồ vμ hơn 50% tổn thất nớc hμng năm từ
hồ Tuy nhiên, vì nớc ngầm trong khí hậu nμy thì khá lạnh (xấp xỉ 70C), nó
đóng góp nhỏ nhất lợng nhiệt năng đợc nhập vμo hồ Nớc hồ ngấm tới tầng nớc ngầm thì chỉ ấm vμo 1 hoặc 2 tháng mùa hè; bởi vậy, năng lợng nhiệt tối thiểu bị tổn thất cho nớc ngầm Toμn bộ ảnh hởng của tổn thất nớc cho sự bốc hơi ở hồ Williams đợc tính toán bởi năng lợng bình lu liên quan đến nớc ngầm nhỏ hơn 1%
Hầu hết các nghiên cứu cán cân nớc, bốc hơi đợc xác định bằng phơng pháp thực nghiệm, bởi vì những chi phí thao tác cho việc xác định sự bốc hơi bằng phơng pháp cân bằng năng lợng lớn Có ít nhất 30 phơng pháp thực nghiệm
đã đợc sử dụng hoặc đề xớng cho việc xác định bốc thoát hơi nớc, rất nhiềutrong số đó đã đợc sử dụng để xác định bốc hơi bề mặt nớc Những phơngpháp nμy yêu cầu phạm vi số liệu rộng Ví dụ, một số phơng pháp biến thể của cách tiếp cận cân bằng năng lợng, yêu cầu số liệu từ nhiều cảm kế hay
đầu dò, trong khi những phơng pháp khác yêu cầu số liệu từ một cảm kế hay
đầu dò đơn giản nh một đầu dò nhiệt độ
Mặc dù một số nghiên cứu đã so sánh nhiều phơng pháp thực nghiệm khác nhau trong việc xác định bốc hơi thực vật (ví dụ nh Tanner 1967; McGuiness
vμ Bordne 1972), các nghiên cứu so sánh những phơng trình đợc chọn choviệc sử dụng trên những bề mặt nớc thoáng thì có ít hơn (ví dụ, Harbeck cùng cộng sự 1958; Brutsaert 1982; Warnala vμ Pochop 1988) Nghiên cứu cân bằng năng lợng của hồ Williams, Minnesota, đòi hỏi sử dụng nhiều cảm kế hay đầu
dò Bởi vậy, rõ rμng có thể đánh giá một số phơng pháp thực nghiệm xác định
sự bay hơi dựa vμo những giá trị đã xác định bằng phơng pháp cân bằng năng lợng
Trang 7Bảng 2.1 Các phơng pháp đí sử dụng để so sánh lợng bốc hơi đợc xác định bằng các phơng pháp thực nghiệm với l ợng bốc hơi đợc xác định bằng phơng pháp ngân qũy năng lợng cho hồ Williams, Minnesota.
Brutsaert-Stricker Brutsaert vμ Stricker (1979)
Bảng 2.2: Tổng kết thống kê về sự chênh lệch trong lợng bốc hơi từng tháng cho hồ Williams, Minnesota
Mặt đất Các chuẩn mựcPhơng pháp
Trungbình
e 0 tại T0lμ áp suất hơi nớc bão hoμ tại nhiệt độ nớc mặt của hồ.
b e0 tại Talμ áp suất hơi nớc bão tại nhiệt độ không khí
Mời một phơng pháp thực nghiệm để xác định sự bay hơi đã đợc đánh giá trong nghiên cứu hồ Williams (Winter vμ những ngời khác 1995) Các phơngpháp tham khảo lμ dạng của những phơng trình sử dụng đợc liệt kê trong bảng 2.1 Có những sự so sánh các giá trị bốc hơi mặt nớc tháng của 22 thángtrong thời kỳ 5 năm Những tháng mμ hồ bị băng tuyết bao phủ (tháng 6-7 mỗi năm), xem nh những tháng mμ không có bộ số liệu đầy đủ, đã bị loại trừ trong
sự so sánh Số liệu từ ba trạm khí hậu đã đợc sử dụng trong nghiên cứu: một trạm ở trung tâm của hồ, một trạm mặt đất cách bờ hồ khoảng gần 100 m vμ một trạm khác thuộc mạng lới nông nghiệp ở vị trí cách 60 km về phía nam
Trang 8cña hå Tãm t¾t thèng kª vÒ nh÷ng sù so s¸nh ®îc chØ ra trong b¶ng 2.2.
Trang 9Hình 2.3 a,b: Chênh lệch giữa giá trị bốc hơi đ ợc tính bằng phơng pháp cân bằng năng lợng vμ các giá trị đợc tính toán bằng các phơng pháp thực nghiệm cho hồ Williams, Minnesota, 1982-1986.
Những phơng pháp cần cho mạng lới bức xạ có thể không sử dụng khi sử dụng dữ liệu Staples Duy nhất phơng pháp cần áp suất hơi nớc bão hoμ (e0)
đã sử dụng tính toán e0 tại Ta trong vị trí của e0 tại T0 Giá trị (cm) đợc xác
định bởi cân bằng năng lợng vμ bởi 11 phơng pháp kinh nghiệm sử dụng số liệu từ ba trạm khí hậu khác nhau Số liệu đợc quan trắc từ trạm ở giữa hồ, trạm mặt đất cách hồ 100m, vμ trạm khí hậu tại Staples, Minnesota, cách 60
km về phía nam của hồ
Dựa vμo giá trị trung bình vμ độ lệch chuẩn của sự chênh lệch bay hơi hμng tháng, các phơng pháp Perman, DeBruin-Keijman, vμ Priestley-Taylor cho các giá trị gần nhất với các giá trị cân bằng năng lợng Giá trị trung bình của chênh lệch hμng tháng thì nhỏ hơn 0.5 cm, vμ độ lệch chuẩn của chênh lệch hμng tháng nhỏ hơn 1.0 cm cho cả ba phơng pháp khi sử dụng số liệu của trạm ở giữa hồ
Hơn nữa, sự bốc hơi xác định theo ba phơng pháp nμy sử dụng số liệu củatrạm mặt đất cũng cho các giá trị gần với các giá trị cân bằng năng lợng(Hình 2.3a) Những loại số liệu chung mμ ba phơng pháp nμy yêu cầu lμ nhiệt
độ không khí, bức xạ thực vμ sự biến đổi nhiệt độ trong hồ giữa các lần khảo
Trang 10sát Bởi vậy, sử dụng những phơng pháp nμy yêu cầu những dụng cụ đợc
định vị ở hồ, vμ vị trí đó đợc tạo ra để kiểm tra các dụng cụ vμ để tiến hμnh các khảo sát nhiệt
Số liệu lμ từ các trạm khí hậu dựa trên một trạm giữa hồ, ở trên mặt đất cách
hồ 100m vμ tại một trạm khí hậu tại Staples, Minnesota, cách 60km về phía nam của hồ Các phơng pháp thực nghiệm mμ cho kết quả phù hợp nhất vớicác giá trị cân bằng năng lợng lμ DeBruin-Keijman, Priestley-Taylor, vμ Penman Những phơng pháp còn lạíit phù hợp nhất, đặc biệt lμ nếu số liệu không phải lμ của trạm giữa hồ, lμ b truyền khối lợng vμ DeBruin e0 tại T0
lμ áp suất hơi nớc bão hoμ tại nhiệt độ của nớc mặt; e0 tại Ta lμ áp suất hơinớc bão tại nhiệt độ không khí; raft lμ số liệu của trạm giữa hồ; land lμ số liệucủa trạm mặt đất cách hồ 100m; Staples lμ số liệu của trạm khí hậu ở Staptes Minnesota, cách 60km về phía nam của hồ (của Winter vμ những ngời khác1995)
Những phơng pháp so sánh các giá trị thuận lợi tối thiểu với các giá trị cân bằng năng lợng khi sử dụng số liệu từ trạm mặt đất lμ khối lợng di chuyển
vμ phơng pháp Debruin (Hình 3b) Cả hai phơng pháp nμy coi tốc độ gió nhmột thμnh phần nổi bật trong phơng trình (Mặc dù tốc độ gió đợc sử dụng trong phơng pháp Penman, đó lμ yếu tố thứ hai sau yếu tố bức xạ thực) Hệ số khối lợng di chuyển đợc lấy dựa vμo cân bằng năng lợng sử dụng số liệu từ trạm giữa hồ, bởi vậy, sự chênh lệch trung bình của những giá trị cân bằng
các nhμ nghiên cứu về hồ tỉ lệ với sự quan trọng của nó
năng lợng sử dụng số liệu từ trạm giữa hồ chỉ -0.10 cm, nhng độ lệch chuẩn thì lớn (1.27 cm) Tuy nhiên, khi số liệu gió của trạm mặt đất đợc thay thế cho
số liệu gió của trạm giữa hồ, phơng pháp tỏ ra lμ không thoả mãn Số liệu tốc
độ gió của hồ Williams chỉ ra rằng tốc độ gió ghi đợc tại trạm mặt đất thông thờng nhỏ hơn tốc độ gió ghi đợc tại trạm ở trung tâm của hồ lμ 20-40% Những kết quả nμy cho thấy rằng các phơng pháp thực nghiệm để xác định sự bay hơi mμ yêu cầu sử dụng số liệu gió chỉ thỏa mãn khi tốc độ gió đợc đo tại một trạm ở trung tâm của hồ
Mặc dù các nhμ khí hậu học đã quan tâm về tính chất vật lý của sự bốc hơi qua nhiều năm, nhng thμnh phần nμy của sự cân bằng nớc hồ đã không nhận
Nớc mặt lμ thμnh phần duy nhất của hệ thống thủy văn nói chung, đợc xác
định cẩn thận với sự chú ý tới thứ nguyên vật lý của nó Hơn 100 năm nghiêncứu đã dẫn đến một sự hiểu biết vật lý của dòng chảy trong lòng dẫn hở vμ sự phát triển của những cấu trúc đo đạc nh các đập trμn vμ máng dẫn nớc Khi
Trang 11xây dựng những cấu trúc nμy một cách hợp lý có thể đo lu lợng với sai số xấp
xỉ 5% giá trị thực Bởi vậy, nếu các đập trμn hoặc các máng dẫn nớc có thể sử dụng để đo đạc chính xác dòng chảy tại điểm mμ chúng vμo hoặc ra khỏi hồ,
h xác nhất cho sự cân
cắt ngang Bởi vậy, để đo lu lợng chính xác phải lμm những phép đo cho
đạc các cấp lu lợng ở
ững
bằng nớc, hiểu biết những giá trị dòng
những phép đo lu lợng nμy sẽ lμ những giá trị chín
bằng nớc Những tμi liệu hớng dẫn để lựa chọn vμ thiết kế các đập trμn vμ các máng dẫn nớc đợc xây dựng bởi những cơ quan nh Nha Khí tợng vμThời tiết Mỹ (1975)
Tuy nhiên, nếu những dòng chảy lớn thờng không sử dụng tới phép đo bởi các
đập trμn hoặc các máng dẫn nớc, chúng thờng cần đợc đo đạc bằng cách sử dụng một đồng hồ đo dòng chảy, một dụng cụ tự ghi đo quá trình, một quan hệ lu lợng - mực nớc hoặc bằng cách sử dụng phơng pháp chất chỉ thị mμu
Để sử dụng đồng hồ đo dòng chảy, dụng cụ tự ghi đo quá trình, vμ quan hệ quátrình lu lợng, phải nhận thức rằng vận tốc của dòng nớc bên trong những lòng dẫn hở không phải lμ đồng nhất Đờng phân bố vận tốc của các dòng chảy nhìn chung có dạng parabôn, phần lớn bởi vì ma sát ở đáy lòng dẫn Lu lợng
đợc tính toán nh lμ tích của vận tốc trung bình theo thời gian vμ diện tích mặt
nhiều vận tốc riêng lẻ khắp cả mặt cắt ngang để xác định vận tốc trung bình,
vμ đo chính xác mặt cắt ngang của lòng chảy Sai số trong phép đo lu lợngliên quan đến số lợng các phép đo vận tốc riêng lẻ vμ đợc thảo luận bởiCarter (1973)
Chúng ta có công nghệ để theo dõi liên tục quá trình nớc một cách chính xác
Sự thách thức để thu đợc số liệu liên tục của quá trình lμ sự bảo trì thích hợp
hệ thống đo đạc vμ sự phân tích của những nhân tố ảnh hởng tới quá trình đó nh băng vμ những nguyên nhân khác của việc xây đập Để nâng cao chất lợng quan hệ lu lợng - mực nớc, cần thiết phải đo
một phạm vi rộng Rất nhiều nhân tố ảnh hởng tới dòng chảy tại vị trí đo đạccần đợc xem xét nh sự bất ổn định của lòng dẫn hoặc sự thay đổi độ dốc mặt nớc liên quan đến sự tăng vμ giảm của quá trình sóng lũ (Dickenson 1967) Những phơng pháp đo đạc vμ tính toán dòng chảy có thể tham khảo ở Rantz cùng cộng sự (1982)
Những nơi khó đo đạc dòng chảy vì những điều kiện vị trí, những kỹ thuật dùng chất chỉ thị mμu, có thể lμ thay thế duy nhất, để đo lu lợng dòng chảy.Mặc dù lu lợng dòng chảy có thể đợc đo đạc khá chính xác bằng nhphơng pháp dùng chất chỉ thị mμu, nhng phơng pháp nμy không phải lμ thích hợp cho việc theo dõi lu lợng liên tục Phơng pháp nμy dựa vμonguyên lý của thời gian dịch chuyển, vμ nó đợc sử dụng có hiệu quả nhất vớinhững dòng chảy mμ bị xáo trộn tốt nh những dòng chảy đi qua khe núi Ph-
ơng pháp nμy đợc giới thiệu trong một tμi liệu của Wilson (1968) về sự kiến
định vμ ứng dụng của nó
Mặc dù dòng chảy sông ngòi đến vμ đi khỏi các hồ có thể đợc đo đạc chính xác cho mục đích của việc xác định cân
Trang 12chảy vμo vμ ra không tất yếu dẫn tới sự am hiểu về cơ chế tơng tác giữa hồ vớilu vực của nó Để hiểu kỹ lỡng vấn đề một hồ vận hμnh nh thế nμo cần phải hiểu những đặc trng dòng chảy vμ lu vực của nó Sự hiểu biết nh vậy đặcbiệt cần cho mô hình dự báo dòng chảy vμ vận chuyển chất hòa tan Nhiều mô hình lu vực đã đợc phát triển, biến đổi từ những mô hình tham số tập trung (Blackie vμ Eeles 1985) Hầu hết các mô hình lu vực giống nhau ở chỗ lμ chúng xem xét tất cả các thμnh phần của hệ thống thủy văn tơng tác bên trong lu vực Nh vậy, ngoμi việc xem xét tất cả các nhân tố thủy văn ảnhhởng tới cân bằng nớc của hồ, cũng phải xem xét tới sự bốc thoát hơi từ thợng lu hồ
Hình 2.4: Mô hình l u vực của cơ quan khảo sát địa chất Hoa Kỳ (Đợc sửa đổi từ Leavesley cùng cộng sự 1983)
Sự diễn giải toán học cho những quá trình bên trong vμ giữa tất cả các thμnh phần của những mô hình lu vực thay đổi đáng kể giữa các mô hình Diễn toán dòng chảy có thể đợc dựa vμo những diễn giải vật lý chi tiết của dòng chảy, hoặc vận tốc của nớc chuyển động bên trong một thμnh phần có thể đợc kiểmsoát bởi những phơng pháp điều chỉnh vận tốc đơn giản Những sự tơng
ng thμnh phần bề mặt của các mô
ình (xem phần 2.3) Mặc dù những mô hình ma - dòng chảy có thể lμ rấtphức tạp vμ cần nhiều thông tin mô phỏng một cách đầy đủ những yếu tố dòng chảy, những mô hình nμy đợc sử dụng rộng rãi trong những nghiên cứu vềdòng chảy bề mặt
phản nμy có lẽ lμ hiển nhiên nhất trong nhữ
h
Trang 13Những mô hình lu vực cũng thích hợp cho việc sử dụng trực tiếp trên các hồ Bởi việc sử dụng mực nớc hồ nh biến phụ thuộc, hơn lμ lu lợng dòng chảy, những dao động mực nớc hồ cũng có thể đợc mô phỏng Mô hình đợc pháttriển bởi Crowe vμ Schartz (1981) đã đợc sử dụng để mô phỏng những dao
động mực nớc của một số hồ ở vùng đồng cỏ Canađa Mô hình lμ tơng đối đặcbiệt vì phần bên trong mμ nó nhấn mạnh tới lμ nớc ngầm, vμ cũng vì nó xem xét vận chuyển chất hòa tan Ngoμi ra, mô hình đã đợc sử dụng để đánh giá
ảnh hởng của sự thay đổi khí hậu tới mực nớc vμ độ mặn của nớc hồ ở Alberta, Canada (Crowe 1993) Tơng tự, mô hình lu vực đã xây dựng chonghiên cứu tích hợp axit hoá lu vực vμ hồ (ILWAS; Gherini vμ những ngờikhác 1980) đã đợc sử dụng trên các hồ ở vùng núi Adirondack New York vμ những hồ địa tầng băng giá ở phía bắc Wisconsin
2.3 Sự t}ơng tác của các hồ với n}ớc sát mặt
Thμnh phần sát mặt thờng không phải lμ một yếu tố nổi bật của sự cân bằng nớc Đa số các hồ nhận: cho khí quyển vμ nớc mặt nhiều nớc hơn Tuy nhiên, xét dới góc độ vận chuyển hóa học, nớc sát mặt có thể lμ quan trọng, bởi vì nó lμ một cơ chế của sự vận chuyển các hóa chất tới vμ ra khỏi các hồ
μ
thời gian van đợc để mở (Lee 1977)
nhỏ đợc chèn vμo trong đáy hồ Những thiết bị
đợc sử dụng để đo sự chênh lệch mực thuỷ áp giữa nớc ngầm bên dới hồ vμ mặt hồ bằng việc sử dụng áp kế Điều nμy đợc hoμn thμnh bằng cách gắn một ống từ một bên của áp kế tới bộ phận đo áp kế vμ để cho cái ống khác từ phía khác của áp kế đặt ở dới mặt hồ Những thiết bị nμy đo gradien thủy lực; chúng không đo thấm trực tiếp nh những đồng hồ đo thấm Vì những áp kế đo
Vận chuyển hóa học bởi tầng nớc sát mặt thông thờng có vai trò lớn đối với
đặc tính hóa học của những hồ kín hoặc những hồ mμ liên quan với các dòng chảy nhỏ Nghiên cứu của những hồ trong địa tầng băng giá chỉ ra rằng đặc tính hóa học ion chính của nhiều hồ có liên quan tới vị trí của nó cần chú ý tớinhững hệ thống dòng nớc ngầm (LaBaugh 1988; Swanson vμ những ngờikhác, 1988) Krabbenhoft vμ những ngời khác (1980) đã chỉ ra tính hữu hiệucủa việc sử dụng những chất đồng vị môi trờng của nớc ngầm vμ nớc hồ để nhận thức rõ hơn sự tơng tác của các hồ vμ nớc ngầm trong địa tầng băng giá
Trong đa số các nghiên cứu cân bằng nớc hồ có xét đến nớc ngầm, thông lợng nớc ngầm thờng đợc xác định bằng cách đo trực tiếp từ dòng thấm Hầu hết những thiết bị thờng sử dụng để đo dòng thấm trực tiếp lμ những
đồng hồ đo thấm vμ những áp kế đo thấm nhỏ Những đồng hồ đo thấm lnhững hộp đơn giản, thông thờng lμ đuôi của thùng, đợc chèn vμo để bao quanh một phần của đáy hồ Những đồng hồ đo có một chỗ mở mμ ở tại đó mộtvan vμ một túi có thể mở rộng chứa đựng một thể tích nớc đã biết đợc gắn liền Vận tốc thấm đợc đo bởi việc ghi nhớ bởi sự thay đổi thể tích nớc vμo túi qua một khoảng
áp kế nhỏ lμ áp kế đờng kính
Trang 14thế năng thủy lực vμ một áp kế lμ một phần gắn liền với thiết bị, những thiết
bị nμy nên đợc gọi lμ các áp kế thế vị (Winter vμ những ngời khác 1988) Một số nhμ nghiên cứu đã quan tâm tới những giá trị của thấm đợc xác định
ng đánh giá những đồng hồ đo thấm trong
esota (Lee 1972)
Phân phối bất đồng nhất của thấm đã đợc quan sát tại nhiều hồ khác trongnhiều kiểu khí hậu vμ địa lý thủy văn khác nhau nh New England (Asbury 1990), Florida (Fellows vμ Brezonik 1980), Minnesota (Erickson 1981), Nevada(Woessner vμ Sullivan 1984), Alberta (Shaw vμ b Prepas 1990b), Ontario (Lee
vμ những ngời khác 1980), New Zealand (John vμ Lock 1977), Tây Ban Nha (Winter, dữ liệu không xuất bản), vμ thậm chí ở những hồ Great (Cherkauer vμ McBride 1988)
Những đồng hồ đo thấm vμ áp kế thế vị không giống những cảm kế hoặc đầu
dò khác đã sử dụng để đo một dòng nớc tại biên của hồ, nh những dụng cụ
đo ma vμ đo dòng chảy, bởi vì nói chung chúng đợc sử dụng để tập hợp những mẫu riêng biệt trong không gian vμ thời gian Chúng có sự bất lợi, so sánh sự khác nhau giữa hai cái, trong đó chúng cha đợc sử dụng để theo dõiliên tục
Những dụng cụ đo ma tập hợp những mẫu riêng biệt trong không gian, nhngchúng thờng đợc nối với những máy tự ghi để có thể tập hợp những mẫu liên tục theo thời gian Những dụng cụ đo dòng chảy thì thờng sử dụng để tập hợp những bản ghi liên tục của lu lợng Sự thật của những phép đo khác trực tiếp của dòng chảy, phép đo trực tiếp của thấm không dẫn tới việc hiểu hồ tơng tác với các quá trình thủy văn nh thế nμo mμ tạo ra dòng chảy Bởi vậy,khảo sát những quá trình thủy văn sát mặt liên quan đến các hồ lμ hữu ích Thμnh phần sát mặt của hệ thống thủy văn thông thờng đợc xử lý nh hai
hệ thống con, đới không bão hòa vμ đới nớc ngầm Đới không bão hòa thì đợcchia nhỏ thμnh đới thổ nhỡng vμ đới không bão hòa giữa nớc thổ nhỡng vμ nớc ngầm (Hình 2.5) Một số lợng nghiên cứu đáng kể về nớc thổ nhỡng đã
bởi những đồng hồ đo thấm Ví dụ, Lee (1977), Erickson (1981), vμ Belanger vμ Montgomery (1992) thử nghiệm với sự chính xác của những đồng hồ đo thấm trong những bể thí nghiệm, nơi mμ những độ dốc thủy áp vμ vận tốc dòng chảy
có thể đợc kiểm soát Blanger vμ Montgomery đã sử dụng lặp lại số liệu bằng cách có bảy đồng hồ đo cũng nh áp kế nhỏ trong một bể thí nghiệm lớn đơngiản Shaw vμ Prepas (1990a) cũ
những nghiên cứu lĩnh vực rộng lớn
Ngoμi những loại bất định liên quan đến đo đạc thực tế của thấm, phân phối của thấm lμ đồng nhất trong các đáy hồ Lợng thấm thay đổi theo không gian trong đáy hồ do các trầm tích bất đồng nhất, quá trình thoát hơi nớc từ thực vật gần bờ, vμ sự bất đồng nhất của những đờng dòng nớc ngầm nơi mμ mặt nớc ngầm dốc uốn cong gặp bề mặt hồ bằng phẳng Phân phối phi tuyến củathấm ngang qua một đáy hồ đợc chỉ ra từ những nghiên cứu lý thuyết(McBride vμ Pfannkuch 1975; Pfannkuch vμ Winter 1984), trớc hết đã đợc
sử dụng quan sát đồng hồ đo thấm ở hồ Sallie, Minn
Trang 15đợc những nhμ khoa học nông nghiệp tiến hμnh vμ những nhμ địa chất thủy văn tiến hμnh về nớc ngầm Tuy nhiên, sự hiểu biết về vận động của nớc qua chuỗi liên tục lớp sát mặt đầy đủ, vμ sự tơng tác của nớc sát mặt với những
đặc tính bề mặt nớc, nh dòng chảy, hồ, vμ những vùng đầm lầy thì có hạn
Hình 2.5: Các đới n ớc sát mặt liền kề với tầng nớc mặt.
Hình 2.6a-e: Các khái niệm của sản phẩm dòng chảy từ các s ờn dốc a: dòng chảy trên mặt đất qua toμn bộ mặt đồi vμ không có dòng ngầm; b: dòng chảy trên mặt đất ở trân đồi vμ không có dòng ngầm; c: dòng chảy trên mặt ở trân đồi khi vị trí kết thúc của nớc ngầm lộ ra khỏi mặt đất; d: dòng lũ sát mặt; e: dòng chảy phức tạp trong đới không b ío hòa lμ kết quả của tính thấm khác nhau của các tầng đất vμ hoμn toμn không có dòng chảy mặt P lμ giáng thủy; Pc lμ giáng thủy trong lòng dẫn; f lμ
sự thấm; of lμ dòng chảy mặt; rf lμ dòng chảy trở lại; if lμ dòng phối hợp; ù lμ dòng chảy trong đới không b ío hòa; wt lμ mực nớc ngầm (xác định từ Beven 1986)
Nghiên cứu về các đới sát mặt khác nhau của các nhμ khoa học từ những nguyên lý khác nhau đã dẫn đến một số khái niệm liên quan tới những cơ chế của dòng nớc qua lớp sát mặt, đợc trình bμy trong hình 2.6 Những sự khácnhau cơ bản trong khái niệm liên quan tới sự phân vùng của nớc giữa dòng
Trang 16chảy trên mặt, dòng chảy trong đới không bão hòa, vμ dòng chảy ngầm Những khái niệm vμ những phơng pháp nghiên cứu sự tơng tác của các hồ vμ nớcngầm đợc giới thiệu ở đây áp dụng tơng đơng nhau cho bất kỳ loại hình bềmặt nớc nμo, miễn chúng lμ những dòng chảy, hồ, hoặc những vùng đầm lầy Những nghiên cứu của hệ thống sát mặt đối với vấn đề về hồ đã đợc tiến triển dọc theo hai khung nhận thức tổng quát:
(1) thủy văn học lu vực, nh đợc sử dụng trong những nghiên cứu về ma - dòng chảy, vμ
(2) thủy văn học nớc ngầm
Khái niệm thủy văn học lu vực, đôi khi đợc viện dẫn nh thủy văn học sờndốc, đã đợc sử dụng đối với vấn đề về hồ bởi chỉ một số ít những nhμ khoa học nh Crowe vμ Schwartz (1981) vμ Gherini vμ những ngời khác (1985) Tuynhiên, khi quan tâm tới những mối liên kết giữa nớc vμ chất hòa tan giữa các
hồ vμ các lu vực của chúng tăng lên, những mô hình mô tả toμn bộ những quá
t bộ phận của những
hận rộng rãikhái niệm nμy của dòng chảy u tiên trong đới không bão hòa đợc tiến hμnh
n vμ Beven (1985) sử dụng lý
em xét nh những đơn vị tập trung đơn giản quatoμn bộ lu vực Trong đa số các nghiên cứu hiện có, lu vực đợc chia cắt thμnh những đơn vị nhỏ nh các lu vực con hoặc các khối đơn vị rời rạc, hoặc phơng nằm ngang hoặc thẳng đứng, hoặc cả hai
Những đơn vị nhỏ hơn nμy sau đó đợc xử lý bằng phơng pháp tham số tập trung Một ví dụ về một mô hình lu vực xử lý tầng nớc sát mặt bằng cách kết hợp nμy lμ mô hình của Leavesley vμ những ngời khác (1983), đã đợc bμn luận trớc đó (Hình 2.4) Kèm theo lμ sự mô tả ngắn gọn những thμnh phần sát mặt của mô hình cho thấy trong hình 2.4
Dòng chảy ở đới không bão hòa (đợc xem nh dòng chảy sát mặt bởi Leavesley
vμ những ngời khác 1983) đợc xét nh lμ sự chuyển động tơng đối nhanh của nớc từ đới không bão hòa đến lòng dẫn Dòng chảy xuất hiện trong suốt quá trình ma vμ tuyết tan cũng nh thời đoạn sau của nó Dòng chảy đến kho
trình lu vực có vẻ đợc sử dụng ngμy cμng tăng nh mộ
nghiên cứu thủy văn học hồ Kirkby (1985) đã đa ra một tổng quan hữu ích vềnhững khái niệm của thủy văn sờn dốc
Một số các nhμ thủy văn lu vực đã chỉ ra rằng đa số nớc trong lớp sát mặt chảy qua những lỗ hổng lớn trong đới không bão hòa Sự thừa n
trong vùng sờn đồi dốc bị rừng bao phủ German
thuyết sóng động học để mô tả bằng toán học dòng chảy của nớc sát mặt qua các lỗ hổng vĩ mô ở các sờn đồi
Thực hμnh nghiên cứu bằng toán học của thμnh phần sát mặt của thủy văn học sờn dốc nh một bộ phận của những mô hình ma - dòng chảy tham số tập trung hoặc phân phối, hoặc kết hợp cả hai Blackie vμ Eeles (1985) cung cấp một tổng quan về những mô hình lu vực tham số tập trung, bao gồm lịch sửphát triển của chúng Trong những mô hình lu vực nguyên thủy, những thμnh phần sát mặt đợc x
Trang 17nớc không bão hòa xuất hiện khi đới thổ nhỡng có khả năng giữ nớc cực đại
bị vợt quá, vμ lợng vợt trữ nμy lớn hơn tốc độ hồi quy từ đới không bão hòa
đến kho chứa nớc ngầm, có nghĩa lμ, sự chênh lệch giữa lợng vợt trữ nμy vμ tốc độ hồi quy lμ dòng chảy vμo kho nớc không bão hòa
Lu lợng từ kho nớc sát mặt hoặc đi tới đới nớc ngầm nông, hoặc di chuyểndọc sờn dốc trong những lớp đất mỏng từ điểm thấm đến điểm nhập vμo một con sông hoặc suối phía trên mực nớc ngầm Các hệ số của thể tích trữ nớc
vμ của diễn toán dòng chảy phải đợc xác định cho mỗi kho chứa đới không bão hòa Lợng trữ ban đầu thờng đợc ớc lợng bằng không Những giá trị của
hệ số diễn toán thì đợc tính toán từ số liệu dòng chảy lịch sử Đối với trờnghợp tuyến tính, hệ số diễn toán đợc đánh giá bằng việc sử dụng kỹ thuật tách
từ đồ thị thủy văn nh Linsley vμ những ngời khác đã mô tả (1975)
Hệ thống nớc ngầm đợc nhận thức nh một kho chứa tuyến tính vμ đợc giả thiết lμ nguồn của tất cả dòng chảy cơ sở Nớc có thể di chuyển tới kho nớcngầm hoặc từ đới thổ nhỡng, hoặc từ kho chứa đới không bão hòa, hoặc cả hai.Cung cấp cho nớc ngầm từ đới thổ nhỡng xảy ra chỉ khi khả năng tích trữ bịvợt quá, vμ bị hạn chế bởi một tốc độ hồi quy cực đại ngμy Lợng hồi quy chonớc ngầm từ kho chứa sát mặt xảy ra hμng ngμy bởi nớc sẵn có trong kho chứa sát mặt Bởi vậy, sử dụng nạp lại từ kho chứa sát mặt một cách u đãi thông qua nạp lại đóng góp từ đới thổ nhỡng có thể giảm dòng chảy sát mặt
vμ tăng lợng đóng góp của dòng chảy ngầm cho biểu đồ thủy văn đợc mô phỏng
Một ví dụ cho cách tiếp cận khác để mô hình hóa dòng chảy sát mặt lμ hớngtiếp cận mô phỏng Biến số - Nguồn - Diện tích (Troendle 1985) Khái niệm Biến
số - Nguồn - Diện tích (Hewlett vμ Hibbert 1963) giả thiết rằng dòng chảy lũsát mặt lμ một nguồn chính của tầng nớc mặt Khái niệm nμy cho rằng thể tích lớn nhất của lợng nớc sát mặt di chuyển qua đới không bão hòa, vμ nớcngầm gần nh không quan trọng
Khái niệm Biến số - Nguồn - Diện tích trớc đấy đã đợc chấp nhận để áp dụngcho những vùng núi bao phủ bởi rừng ở phía đông Hoa Kỳ, về sau những khái niệm nμy đã đợc sử dụng để mô tả dòng nớc sát mặt ở các vùng với các điều kiện khác Hớng tiếp cận mô phỏng Biến số - Nguồn - Diện tích có nhiều đặc trng của một mô hình bão hòa biến đổi tham số phân phối hoμn chỉnh Sờndốc đợc chia cắt thμnh những khối riêng biệt, cả theo phơng nằm ngang vμ phơng thẳng đứng, vμ nớc đợc di chuyển giữa những khối theo phơngtrình của Richards (1931) Mô hình Biến số - Nguồn - Diện tích đã đợc phát triển bởi Troendle (1985) sau đó đợc sửa đổi bởi P.Y.Bernier (Troendle 1985) Các mô hình rời rác hoá hoμn toμn mô phỏng dòng chảy sát mặt phục vụ thủy văn học lu vực không đợc nghiên cứu rộng rãi, bởi vì những hạn chế về nhận thức vμ hạn chế về khái niệm của môi trờng sát mặt của sờn dốc Tuy nhiên,tính hữu dụng của những mô hình nh vậy đợc chỉ ra bởi Freeze (1972) vμ Stephenson vμ Freeze (1974), vμ những nhμ thủy văn học lu vực gia tăng sự
Trang 18phát triển những mô hình tham số phân phối Beven (1985) thảo luận về một vμi mô hình cùng với việc tập trung vμo mô hình phân bố của Viện Thuỷ văn Anh (IHDM)
Cách tiếp cận tham số phân phối để mô hình hóa vμ nghiên cứu dòng chảy sát mặt theo quan điểm thủy văn lu vực thuộc khái niệm chính thứ hai dẫn đến khuôn khổ tìm hiểu sự tơng tác của hồ với tầng nớc sát mặt, lμ nớc ngầm.Nhiều thảo luận sau nμy của nớc ngầm liên quan tới những nghiên cứu của mô hình hóa nớc ngầm, bởi vì những mô hình nớc ngầm riêng biệt đã đợc
sử dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu sự tơng tác của các hồ với tầng nớcsát mặt Đa số các hình dạng bề mặt nớc có một giao diện rộng lớn thực sự với
hệ thống nớc ngầm ở đáy của chúng Giao diện rộng lớn thực sự khác duy nhất mμ bề mặt nớc có lμ với khí quyển Nói chung không tồn tại một mặt tiếp xúc giữa tầng nớc mặt vμ đới không bão hòa; vì bề mặt của hệ thống nớcngầm, mực nớc ngầm, tiếp xúc với tầng nớc mặt tại đờng biên (Hình 2.5).Vì nớc ngầm vμ nớc mặt có một mặt tiếp xúc tơng đối rộng, tơng tác củahai loại nớc đã đợc quan tâm từ hơn 100 năm nay (Hall 1968) Từ công trìnhcủa Boussinesq (1877) cho đến gần đây, mối tơng tác giữa nớc mặt vμ nớcngầm đã đợc nghiên cứu từ hình ảnh của sự rút dòng chảy (Barnes 1939; Knisel 1963; Rorabaugh 1964)
Việc phân tích sự rút đi vẫn đợc sử dụng, nh thủ tục ma - dòng chảy đợcLeavesley vμ những ngời khác (1983) chỉ ra, những nghiên cứu của hồ Woods
vμ hồ Panther, New York, đợc thực hiện bởi Murdrock vμ những ngời khác (1987), nghiên cứu dòng chảy vμo hồ Mirror, New Hampshire (Winter vμnhững ngời khác 1989), vμ những nghiên cứu dòng chảy ở vùng phía đông Hoa Kỳ (Rutledge 1993) Sự phân tích rút nớc dựa vμo một mô hình dòng chảy một chiều mμ yêu cầu giả thiết rằng dòng chảy hoμn toμn ngấm xuống hệ thống nớc ngầm (Hình 2.7)
Các giả thiết khác cần để chứng minh việc sử dụng những mô hình đơn giản hóa bậc cao nμy lμ đúng bao gồm:
(1) Môi trờng xốp phải lμ đồng nhất vμ đẳng hớng, vμ
(2) tầng ngậm nớc phải có độ dμy vμ hình dạng đồng nhất từ thuỷ vực mặt
đến vị trí đờng phân tách nớc ngầm
Số liệu duy nhất cần sử dụng sự phân tích rút nớc lμ một giai đoạn đủ dμi của bản ghi dòng chảy liên tục để xác định độ dốc rút nớc chính xác
Trang 19Hình 2.7: Nớc mặt hoμn toμn thấm xuống hệ thống nớc ngầm
Sự nghiên cứu hiện thực hơn về sự tơng tác giữa nớc mặt vμ nớc ngầm đòi hỏi sự phân tích tất định các hệ thống hai vμ ba chiều Ngoμi ra, loại phân tích nμy đợc dùng để đánh giá khái niệm của dòng chảy nớc sát mặt trên các sờn dốc đã đề cập trớc đó cũng nh tính hợp lệ vμ những sự giới hạn của sự phân tích nớc rút Phơng trình thờng sử dụng để mô tả dòng chảy ngầm cho các điều kiện không cân bằng trong môi trờng xốp bất đồng nhất vμ dị hớng (McDonald vμ Harbaugh 1984) lμ một sự kết hợp của phơng trình liêntục vμ phơng trình Darcy:
t
h S W z
h K z y
h K y x
h K
w w
w w
w w
w
(1)trong đó x, y vμ z lμ những tọa độ Đecac liên kết dọc theo những trục chính của các hệ số dẫn thủy lực KXX, KYY, KZZ; h lμ cột thế năng; W lμ thông lợng thể tích trên một đơn vị thể tích, đại diện cho những nguồn nớc thêm vμo hay mất
đi; Ss lμ lợng trữ đặc biệt của vật chất xốp; vμ t lμ thời gian
Với những điều kiện trạng thái ổn định, phơng trình đợc đơn giản hóa bởiviệc không xét thμnh phần thông lợng, W, vμ đặt vế phải của phơng trình bằng 0
Toth (1963) tìm nghiệm giải tích của phơng trình (1) viết cho dòng chảy ngầm
ổn định hai chiều theo phơng thẳng đứng Sự phân tích nμy tập trung về việc
đánh giá những hình thế dòng chảy gây ra bởi những hình thế mực nớc ngầm khác nhau Toth giả thiết rằng, môi trờng xốp lμ đẳng hớng vμ đồng nhấtlμm cho cách tiếp cận phân tích dễ dμng Các điều kiện biênm không thấm
đợc sử dụng tại đáy vμ các cạnh khu vực nghiên cứu Đờng mực nớc ngầm
đợc mô phỏng theo dạng sóng hình sin, mμ biên độ vμ độ dốc toμn phần của nó
đợc thay đổi để tạo ra các độ dốc vùng vμ cao độ mực nớc địa phơng khác nhau
Những kết quả của nghiên cứu nμy chỉ ra lý thuyết về sự hiện diện của các hệ thống dòng chảy với các quy mô khác nhau địa phơng, trung gian, vùng (Hình 2.8) vμ kích thớc khác nhau, phụ thuộc vμo hình thế của mực nớc ngầm Những khu vực cha đợc dự định nghiên cứu sự tơng tác của nớc ngầm vμ nớc mặt, nhng những khái niệm đã giới thiệu bởi Toth lμ sự thúc đẩy những ngời khác nghiên cứu sau nμy về sự tơng tác của nớc ngầm vμ nớc mặt
Trang 20Hình 2.8: Mặt cắt thủy văn của một thiết đặt hai chiều có tính giả thiết thể hiện các hệ thống dòng chảy cục bộ, trung bình, vμ khu vực trong một hồ chứa n ớc ngầm (Đợc xác định bởi Toth 1963)
Lời giải số của phơng trình (1) tỏ ra linh hoạt hơn lời giải giải tích của
ph-ơng trình dòng chảy nớc ngầm cho những nghiên cứu của hệ thống dòng nớc ngầm, bởi vì độ xốp không phải lμ đồng nhất vμ đẳng hớng, vμ những
điều kiện biên, kể cả hình dạng của mặt nớc ngầm, có thể lμ phức tạp (Freeze
vμ Witherspoon 1967) Bởi vì tính linh hoạt nμy, Winter (1976) sử dụng phơngpháp số để nghiên cứu lý thuyết về hệ thống dòng nớc ngầm liên quan đến các
hồ cho một số hình thế hình học khác nhau của hồ vμ một sự đa dạng rộng về những điều kiện biên của hệ thống nớc ngầm
ẫn thuỷ lực cao,(4) hình thế mặt nớc ngầm, vμ
(5) độ sâu của hồ
Các phân tích đợc tiến hμnh xét trong mặt cắt thẳng đứng hai chiều, vì vậy chúng có ứng dụng chỉ cho những hồ thẳng dμi chảy theo hớng vuông góc với hớng dòng ngầm Hơn nữa, những sự mô phỏng lμ của điều kiện trạng thái ổn
định, có nghĩa lμ, với một mặt nớc ngầm cố định Đờng mực nớc ngầm đợc
định hình sao cho hai đỉnh thuỷ áp nằm ở hai bên của mặt cắt vμ đỉnh nμy cao hơn đỉnh kia Không có mô phỏng nμo đợc tiến hμnh cho trờng hợp mực nớcngầm thấp hơn mực nớc hồ, bởi vì điều nμy rõ rμng dẫn đến sự thấm ra khỏi hồ
Nghiên cứu nμy đã đợc thiết kế để xác định những kiểu dòng chảy ngầm vμ những mẫu thấm đáy hồ đợc tạo ra do sự khác biệt của các yếu tố:
Trang 21Hình 2.9: Mặt cắt thủy văn của thiết đặt hai chiều có tính giả thuyết thể hiện hệ thống dòng ngầm có liên quan với một hồ mμ không có thấm từ nó Điểm ngng trệ dọc theo biên hệ thống dòng chảy cục
bộ bao xung quanh hồ có cột n ớc thủy lực lμ 230.9 đơn vị không thứ nguyên, mμ lớn hơn 0.9 cột nớc
230 hiện tại của mực nớc hồ Kh/Kv lμ tỷ số của tính dẫn thủy lực ngang vμ thẳng đứng.
Hình 2.10: Mặt cắt thủy lực của sự thiết đặt hai chiều có tính giả thuyết thể hiện những hệ thống dòng ngầm có liên quan với một hồ mμ có thấm từ nó qua 1-3 của đáy hồ, vì biên hệ thống dòng chảy cục
bộ không liên tục Kh/Kv lμ tỷ số giữa tính dẫn thủy lực ngang vμ thẳng đứng.
điều kiện (Hình 2.9) Tuy nhiên, sự thấm ra ngoμi từ hồ qua những phần sâu Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bởi vì hình thế mực nớc ngầm đã đợc chỉ rõ, dòng chảy trong phần phía trên của hệ thống nớc ngầm lμ về phía hồ cho tất cả các