1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

VĂN HÓA VÀ SỰ PHÁP TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM pdf

28 627 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóabao hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor 1832 -1917 đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa h

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG VHNT&DL NHA TRANG

Đa dạng hóa kinh doanh du lịch là một biện pháp nhằm khai thác tối đa tiềmnăng, thế mạnh của điểm du lịch Du lịch văn hóa cũng là xu hướng của nhiều nước lựachọn để phát triển ngành du lịch, trong đó Việt Nam chúng ta cũng là một trong nhữngnước đã và đang chú trọng cho công tác thúc đẩy sự phát triển của du lịch nói chung và

“ du lịch văn hóa “ ở Việt Nam nói riêng Do đó, việc phát triển, khai thác du lịch vănhóa được xem là một hướng đi có nhiều triển vọng đối với du lịch Việt Nam trongtương lai Chính vì là một loại hình du lịch mới nên “ du lịch văn hóa “ sẽ vừa là cơ hộivừa là thách thức đối với du lịch Việt Nam

Vậy để thấy được rõ bản chất, thực trạng văn hóa và sự phát triển của ngành dulịch Việt Nam, cũng như những mặt trái cần khắc phục của du lịch Việt Nam trong thờigian qua cũng như cơ hội và thách thứ của nó đối với du lịch Việt Nam hiện nay vàtrong tương lai nói chung, và đối với “ du lịch văn hóa ” nói riêng là như thế nào?Chúng ta cần hiểu và biết một số khái niêm liên quan đến vấn đề trên một cách cụ thể

và rõ ràng hơn

Khi nói đến đề tài văn hóa và sự phát triển của du lịch Việt Nam, chúng ta nghĩngay đến những câu hỏi: vậy thế nào là văn hoa?, Du lịch?, Du lịch văn hóa?

Trang 2

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau,liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.

Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy,văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngônngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, cácphương tiện, v.v Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là mộtphần của văn hóa

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh mộtcách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học

Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 địnhnghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới Văn hóađược đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học(theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu),dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học, và trong mỗi lĩnh vựcnghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau Các định nghĩa về vănhóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các địnhnghĩa về văn hóa cũng có nhiều Một trong những cách đó phân loại các địnhnghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây

Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh

"Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieotrồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dụcbồi dưỡng tâm hồn con người" Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679): "Lao động giành cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi làgieo trồng tinh thần"

Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóabao hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 -1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩarộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệthuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào màcon người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội

Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyềnthống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa Một trong những địnhnghĩa đó là của Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ họcngười Mỹ: văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang

dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tậpquán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống

Các định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị,chẳng hạn William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coivăn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiếtchế, tập tục, phản ứng cư xử, )

Trang 3

Các định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môitrường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người Mộttrong những cách định nghĩa như vậy của William Graham Sumner (1840 -1910), viện sỹ Mỹ, giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller, học trò vàcộng sự của ông là: Tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiệnsinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh Những sự thích nghi nàyđược bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc

và truyền đạt bằng kế thừa

Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của vănhóa, ví dụ Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ định nghĩa:a.Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thànhviên xã hội; b Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nóđược các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa

Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của

nó, ví dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xãhội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại họcHarvard: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hayđược cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhântương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóanên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vậtchất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nóchứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống,

hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin

Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triểntrong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vàoviệc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo vàphát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa làtrình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hìnhthức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất vàtinh thần mà do con người tạo ra

Định nghĩa du lịch:

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộcLiên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạmtrú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đíchnghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khácnữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sốngđịnh cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng làmột dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư

Trang 4

Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma, Italia ( 21/8 – 5/9/1963), cácchuyên gia đưa ra định nghiã về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ,hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trúcuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay ngoài nước

họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc cuả họ

Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: họat động du lịch là tổng hoà hàngloạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất địnhlàm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điềukiện

Theo luật du lịch Việt Nam, năm 2006:

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngườingoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìmhiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.” (thời gian lưutrú trên 24 giờ)

Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian cuả du khách: du lịch là một trongnhững hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từmột nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làmviệc

Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm

vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghĩ ngơi, có hoặc không kết hợp vớicác hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác

Đặc điểm của du lịch

Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách dulịch vừa được nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ màkhách chưa biết Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nước, tạo việclàm và tăng thu nhập cho người lao động (hướng dẫn viên, các dịch vụ liênquan )

Hiện nay ngành du lịch đang phát triển mạnh ở các nước thuộc thế giới thứ ba.Nhu cầu về du lịch càng tăng thì vấn đề bảo vệ môi trường cần phải được coi trọng.Xin giới thiệu đến quý khách một dạng du lịch nữa, đó là du lịch xúc tiến thương mại,vừa đi du lịch vừa kết hợp làm ăn Hiện nay cũng rất phổ biến tại Việt Nam

Với những đặc điểm như vậy thì du lịch có những chức năng nhất định Có thểxếp các chức năng ấy thành 4 nhóm:

Chức năng xã hộiThể hiện ở vai trò của du lịch trong việc giữ gìn, hồi phục sức khoẻ vàtăng cường sức sống của nhân dân Trong chừng mực nào đó, du lịch có tácdụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người

Trang 5

Các công trình nghiên cứu về sinh học khẳng định rằng, nhờ có chế độ nghỉngơi và du lịch tối ưu, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30%, bệnh đường hôhấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh đường tiêu hoá giảm 20%(Crirosep, Dorin, 1981).

Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng nhân dân có điềukiện tiếp xúc với những thành tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc,

từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chấttốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn… Điều đó quyết định sự phát triển cânđối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội

Chức năng kinh tế Chức năng này của du lịch thể hiện ở sự liên quan mật thiết với vai tròcủa con người như là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội Hoạt động sản xuất

là cơ sở tồn tại của xã hội Việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực và được tổchức hợp lý sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp Một mặt nó góp phần vào việcphục hồi sức khoẻ cũng như khả năng lao động và mặt khác đảm bảo tái sảnxuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt.Ngoài ra chức năngkinh tế của du lịch còn thể hiện ở khía cạnh khác Đó là dịch vụ du lịch, mộtngành kinh tế độc đáo, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và cơ cấu lao động củanhiều ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, ngoạithương… và là cơ sở quan trọng, tạo đà cho nền kinh tế phát triển

Chức năng sinh tháiTạo môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du lịch là nhân

tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hoá môi trường thiênnhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sứckhoẻ và hoạt động của con người.Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độtập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hoá quá trình sửdụng tự nhiên với mục đích du lịch Lúc này đòi hỏi con người phải tìm kiếmcác hình thức bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên mộtcách hợp lí.Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệchặt chẽ Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặtkhác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của các dòngkhách du lịch và việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch Như vậy,giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối liên quan gần gũi với nhau

Chức năng chính trịChức năng chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau Mỗi năm, hoạt động du lịch có những chủ

đề khác nhau, như “Du lịch là giấy thông hành của hoà bình” (1967), “Du lịch

Trang 6

không chỉ là quyền lợi, mà còn là trách nhiệm của mỗi người” (1983)… kêu gọi hàng triệu người quí trọng lịch sử, văn hoá và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc.

Du lịch văn hóa:

“Là loại hình du lịch mà du khách muốn thẩm nhận bề dày văn hóa của mộtnước một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, những phong tục tập quán cònhiện diện.”

Văn hóa du lịch (hoặc văn hóa du lịch) các tập hợp con của ngành du lịchquan tâm đến một quốc gia hay văn hóa của vùng, đặc biệt các lối sống củangười dân trong những khu vực địa lý, lịch sử của những dân tộc, nghệ thuật,kiến trúc, tôn giáo, và các yếu tố khác giúp định hình lối sống của họ Du lịchvăn hóa bao gồm du lịch trong khu vực đô thị, thành phố đặc biệt là lịch sử hoặclớn và các công trình văn hóa như bảo tàng và nhà hát Nó cũng có thể bao gồm

du lịch ở các vùng nông thôn giới thiệu truyền thống của văn hóa cộng đồng bảnđịa (ví dụ như lễ hội, nghi lễ), và giá trị của họ và lối sống Đó là nói chungđồng ý rằng khách du lịch văn hóa chi tiêu nhiều hơn khách du lịch tiêu chuẩn.Loại hình du lịch này cũng trở nên phổ biến hơn trên toàn thế giới, và một báocáo gần đây của OECD đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa du lịch có thể chơitrong khu vực phát triển tại các khu vực trên thế giới khác nhau

Du lịch văn hóa đã được định nghĩa là "sự chuyển động của người địa điểm vănhóa đi từ nơi cư trú bình thường của họ, với mục đích thu thập thông tin và kinhnghiệm để đáp ứng nhu cầu văn hóa của họ

Văn hóa Việt Nam được hiểu và trình bày dưới các quan niệm khác nhau:

Quan niệm thứ nhất: đó là đồng nhất văn hóa Việt Nam với văn hóa củangười Việt, trình bày lịch sử văn hóa Việt Nam chỉ như là lịch sử văn minh củangười Việt

Quan niệm thứ hai: Văn hóa Việt Nam là toàn bộ văn hóa các dân tộcViệt Nam cư trú trên mảnh đất Việt Nam, chỉ có văn hóa từng tộc người, không

có văn hóa dân tộc/quốc gia

Quan niệm thứ ba: Văn hóa Việt Nam là cộng đồng văn hóa dân tộc/quốcgia, đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóatộc người Khái niệm dân tộc/quốc gia chỉ một quốc gia có chủ quyền, trong đóphần lớn công dân gắn bó với nhau bởi những yếu tố tạo nên một dân tộc Quanniệm thứ ba này hiện nay đang là quan niệm chiếm số đông bởi các nhà nghiêncứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa Việt Nam, vì vậy nội dung về vănhóa Việt Nam sẽ được trình bày theo quan niệm thứ ba, văn hóa Việt Nam theohướng văn hóa dân tộc

Trang 7

Văn hóa Việt Nam dưới quan niệm là văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đasắc thái văn hóa tộc người được thể hiện ở ba đặc trưng chính:

Đặc trưng thứ nhất: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạngtrên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 53 dân tộc anh em cónhững phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩasinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dungtrong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giaotiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệthuật

Đặc trưng thứ hai: Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bốdân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tạiViệt Nam Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của ngườiViệt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc tháivăn hóa các dân tộc miền núi tại Tây bắc và Đông bắc Từ các vùng đất biênviễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóaChăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ Từ những vùng đất mới ở Nam Bộvới sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trongvăn hóa và tộc người ở Tây Nguyên

Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việtcùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của ngườiViệt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàngnghìn năm nay Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam

Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 vàtoàn cầu hóa từ thế kỷ 21 Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo cácthời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh vănhóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại

Văn hóa Việt Nam theo khía cạnhPhong tục

Theo nghĩa Hán-Việt, Phong là nền nếp đã lan truyền rộng rãi và Tục làthói quen lâu đời Phong tục ở Việt Nam có truyền thống lâu đời hàng ngàn nămnay, nó đã trở thành luật tục, sâu đậm và gắn chặt trong người dân có sức mạnhhơn cả những đạo luật Theo sự thăng trầm của lịch sử của dân tộc, phong tụccủa người Việt Nam cũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biến đổi văn hoá

xã hội Tuy nhiên có những phong tục mất đi

những cũng có nhưng phong tục khẳng định được

tính đúng đắn, cái hay, cái đẹp của nó qua việc

những phong tục đó còn hiện hữu trong cuộc

sống ngày nay của người Việt Nam

Trang 8

Sớm nhất được nhắc đến trong lịch sử là tục ăn trầu có từ thời HùngVương trải qua hàng nghìn năm người Việt cùng một số dân tộc khác vẫn giữđược tập tục này trong cuộc sống ngày nay, tục ăn trầu bắt nguồn từ truyện sựtích Trầu Cau để rồi thành biểu tượng cho tình anh em, vợ chồng của ngườiViệt, theo thời gian ý nghĩa của tục ăn trầu được mở rộng sang việc giao hiếu,kết thân của người Việt Nam

Cùng ra đời từ xa xưa với tục ăn trầu là phong tục đón năm mới hay còngọi là Tết, Tết vừa là một phong tục đồng thời cũng là một tín ngưỡng và cũng

là một lễ hội của người Việt cùng một số dân tộc khác Một số dân tộc khác đónnăm mới trong thời gian khác và tên gọi đặc trưng của mình như Chol ChnamThmay (khoảng tháng 4) của người Khmer, Katê (khoảng tháng 10) của ngườiChăm Bàlamôm, Từ Tết Nguyên Đán đón năm mới, theo thời gian với nhữngảnh hưởng từ Trung Quốc, người Việt Nam bổ sung thêm vào những phong tụcTết khác như Tết Nguyên tiêu, Tết Đoan ngọ, Tết Trung thu, Tết Thanh minh

Không thấy nhắc đến sớm trong sử sách nhưng các phong tục hôn nhân,sinh đẻ, tang lễ, cũng đã song hành với người Việt Nam từ xa xưa và đến ngàynay vẫn là những phong tục gắn liền với đời sống người Việt Nam

Ẩm thực và trang phục gắn liền với đời sống thường nhật của người ViệtNam, trải qua hàng nghìn năm những nét phong tục này biến đổi đi rất nhiều,tuy nhiên qua những gì sử sách và dã sử để lại cũng cho thấy một sự tinh tếtrong ẩm thực, trang phục của người Việt Nam từ xưa đến nay, những phong tụcgắn liền và thay đổi theo sự thay đổi của cuộc sống người dân nông nghiệp

Lễ hộiCũng giống như nhiều nước khác, Việt Nam là một nước có nhiều lễ hộidân gian là hình thức sinh hoạt của cộng đồng Trong lễ hội, các lễ nghi tínngưỡng, các phong tục tập quán, các thể lệ và hình thức sinh hoạt của một cộngđồng đã được tái hiện một cách rất sinh động Lễ hội được tổ chức vào nhữngthời điểm khác nhau trong một năm, tuỳ thuộc vào phong tục tập quán của từngdân tộc, nhưng lễ hội vẫn tập trung nhiều

nhất vào mùa Xuân

Việt Nam có nhiều loại lễ hội lớn vàlong trọng như lễ tế các thần linh, các lễ hội

nhằm tưởng nhớ tới công ơn tổ tiên, nòi

giống như hội Đền Hùng, có những lễ hội

tưởng nhớ tới các anh hùng như hội Gióng,

hội Đền Kiếp Bạc, hội Đống Đa, có những lễ

hội tưởng nhớ người có công mở mang bờ

cõi, các ông tổ các ngành nghề, của người Việt Bên cạnh các lễ hội lớn củangười Việt, các dân tộc khác cũng có những lễ hội lớn như lễ hội Katê của

Trang 9

người Chăm, lễ cúng Trăng của người Khmer, lễ hội xuống Đồng của ngườiTày, người Nùng, Lễ hội hoa ban của người Thái, Hội đua voi của ngườiMnông,

Ngoài các lễ hội lớn và long trọng tại Việt Nam từ bắc đến nam còn cóhàng nghìn lễ hội lớn nhỏ khác nhau của các dân tộc Việt Nam Các lễ hội ởViệt Nam rất đa dạng, những lễ hội về nông nghiệp, hội văn nghệ vui chơi, thitài, hội giao duyên, hội lịch sử, Đặc biệt là hội mừng năm mới (Tết NguyênĐán) của người Việt và một số dân tộc khác

Cùng với các lễ hội dân gian, các lễ hội của các tôn giáo ban đầu chỉmang ý nghĩa nội bộ nhưng theo thời gian các lễ hội đó lan sang các tầng lớp xãhội khác và thành những lễ hội mang tính cộng đồng như lễ Phật đản của Phậtgiáo và lễ Noel của Công giáo

Với các khái niệm trên, thì Việt Nam chúng là một quốc gia có nhiều tiềm năng

để phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng Với nền văn hóa Việt Namtrãi qua gần 4000 năm lịch sử cungv ới nền văn hóa của 54 dân tộc anh em cùng chungsống trên lãnh thỗ Việt Nam, là một điều kiện để ngành du lịch nước ta phát triển

Tín ngưỡngNhư mọi nơi trên thế giới, từ thuở xa xưa các dân tộc trên đất Việt Nam

đã thờ rất nhiều thần linh Các dân tộc thờ tất cả các thế lực vô hình và hữu hình

mà thực chất là các hiện tượng thiên nhiên và xã hội chưa thể giải thích đượcvào thời đó Ngày nay nhờ những nghiên cứu, những lễ hội, những phong tụchiện hữu chúng ta biết nhiều hơn về cuộc sống vật chất cũng như tinh thần củacác dân tộc Việt Nam cổ nói chung và tín ngưỡng của họ nói riêng

Người xưa cho rằng bất cứ vật gì cũng có linh hồn, nên người ta thờ rấtnhiều thần, nguyên thủy họ thờ thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, thần Đất, thầnSông, thần Biển, thần Sấm, thần Mưa, những vị thần gắn với những ước mơthiết thực của cuộc sống người dân nông nghiệp Đi sâu vào cuộc sống hằngngày họ thờ thần Nông là thần trông coi việc

đồng áng, thần Lúa, thần Ngô với hy vọng lúc

nào ngô lúa cũng đầy đủ Không chỉ các vị thần

gắn với đời sống vật chất, các dân tộc còn thờ các

vị thần gắn với đời sống tinh thần của họ người

Việt thờ các thần Thành Hoàng, các vị anh hùng

dân tộc, các vị thần trong đạo mẫu Họ là các vị

thần có công lớn với đất nước, với làng xã, dân

chúng thờ phụng các vị thần này để tỏ lòng biết ơn và cầu mong các vị phù hộ

họ Cũng như người Việt, người Hoa thờ các vị

thần Quan Công, Thần Tài Người Chăm thờ các

vị thần như Po Nagar, Po Rome,

Trang 10

Thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ người đã mất là một tục lệ lâu đời củangười Việt và một số dân tộc khác Họ tin rằng linh hồn của tổ tiên cũng ở bêncạnh con cháu và phù hộ cho họ Chính vì như vậy nên gia đình nào cũng có bànthờ tổ tiên và bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong nhà Ngoài các ngàygiỗ, tết thì các ngày mùng một, ngày rằm họ thắp hương như một như một hìnhthức thông báo với tổ tiên ông bà Nói đến tục thờ cúng tổ tiên, người ta đều biếttới một ngày giỗ tổ chung cho cho người Việt đó là ngày giỗ tổ Hùng Vươngvào ngày 10 tháng 3 (âm lịch)

Tôn giáoVới sự biến động của lịch sử các dân tộc tại Việt Nam, trải qua hơn 10thế kỷ Bắc thuộc, đời sống tinh thần nói chung của người dân Việt Nam bị ảnhhưởng rất nhiều của văn hoá Trung Hoa Với ba hệ tư tưởng Tam giáo đã thâmnhập vào đời sống tinh thần cũng như vào tôn giáo của người Việt Nam là Đạogiáo, Nho giáo và Phật giáo Đạo giáo và Nho giáo có nguồn gốc từ Trung Quốc

và thâm nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên qua tầng lớpthống trị người Trung Hoa

Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ và có hai phái đã du nhập vào ViệtNam bằng hai ngả khác nhau: phái Đại thừa vào Việt Nam qua Trung Quốccùng với Đạo giáo và Nho giáo Còn phái Tiểu thừa qua các nước Đông Nam Áláng giềng vào Việt Nam thịnh hành ở cộng đồng người Khmer ở Đồng bằngsông Cửu Long

Tam giáo có những thời kỳ phát triển rất mạnh và cũng có lúc mờ nhạt tạiViệt Nam, nhưng nhìn chung ảnh hưởng của Tam giáo rất sâu rộng trong cáctầng lớp dân chúng, nhất là Phật giáo Và đến lượt mình, các tầng lớp dân chúngtại Việt Nam đã tiếp thu các tôn giáo mới một cách có chọn lọc và sáng tạo, haynói cách khác các tôn giáo mới du nhập đã được bản địa hoá để phù hợp vớiphong tục tập quán và tín ngưỡng của người dân địa phương

Công giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16, tuy việc truyền đạolúc bấy giờ gặp nhiều khó khăn nhưng ở Việt Nam từ lúc đầu cũng đã có một sốlượng người theo Công giáo, từ cuối thế kỷ 19 khi thực dân Pháp đã xâm lượchoàn toàn Việt Nam thì việc truyền đạo mới được tự do dễ dàng Hiện nay ViệtNam có khoảng 8% dân số là tín đồ Công giáo, đứng hàng thứ 2 ở Đông Nam Ásau Philippines

Cùng với Công giáo, một hệ phái khác của đạo Cơ đốc là Tin Lành cũngxâm nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 20, đạo Tin Lành được phổ biến tới cácdân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, ước tính hiện nay có khoảng hơn

1 triệu người theo đạo

Đạo Hồi là tôn giáo của một bộ phận người Chăm ở Việt Nam, được dunhập vào từ thế kỷ 15 tại vương quốc Chăm Pa ở miền Trung Việt Nam, sau đó

Trang 11

theo chân một bộ phận người Chăm di cư tới vùng An Giang, Tây Ninh vào thế

kỷ 19

Ngoài các tôn giáo du nhập từ bên ngoài trên, tại miền Nam Việt Nam cócác tôn giáo Hoà Hảo và Cao Đài Đây là hai tôn giáo bản địa Việt Nam, đạoHoà Hảo được sáng lập từ năm 1939 và đạo Cao Đài được sáng lập từ năm

1926 Hiện nay hai tôn giáo bản địa này phát triển mạnh khắp Nam Bộ và ra cảmột số tỉnh ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

Ngôn ngữ

Về mặt ngôn ngữ, các nhà dân tộc học đãchia các dân tộc ở Việt Nam thành 8 nhóm ngôn

Nhóm hỗn hợp Nam Á: gồm la Chí, La Ha, Pu Chéo, Cơ Lao,

Tiếng Việt thuộc về ngôn ngữ Việt-Mường, hiện nay là ngôn ngữ chínhthức của nước Việt Nam, là tiếng mẹ đẻ của người Việt và đồng thời là ngônngữ hành chính chung của 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, tiếng Việtđược 86% người dân sử dụng Mặc dù là ngôn ngữ chung của người Việt nhưng

nó có sự khác biệt về mặt ngữ âm và từ vựng ở các vùng miền dẫn tới phươngngữ tiếng Việt được phân chia làm nhiều vùng phương ngữ khác nhau từ miềnBắc, miền Trung và miền Nam

Về nguồn gốc, tiếng Việt được xem là có nguồn gốc với ngôn ngữ Nam

Á về mặt từ vựng kết hợp với ngôn ngữ Tày-Thái về mặt thanh điệu Trong qúatrình phát triển Tiếng Việt đã tiếp thu và đồng hoá nhiều từ Hán và được gọi là

Trang 12

từ Hán-Việt, ngoài ra tiếng Việt còn tiếp thu một số lượng khá lớn các từ khoahọc kỹ thuật của các ngôn ngữ Pháp, Nga, Anh từ đầu thế kỷ 20 đến nay

Về chữ viết, theo một số nghiên cứu khảo cổ, từ thời Hùng Vương ngườiViệt đã có chữ viết riêng gọi là chữ Khoa Đẩu mà người Trung Quốc miêu tả làgiống đàn nòng nọc đang bơi Tới thời Bắc thuộc, chữ Hán là chữ viết chínhthức ở Việt Nam Sau khi dành độc lập từ thế kỷ 10, với ý thức dân tộc cũngnhư các từ vựng không có trong chữ Hán, người Việt đã sáng tạo ra chữ Nômdùng song hành với chữ Hán chữ Nôm được hoàn chỉnh vào thế kỷ 12 và pháttriển rực rỡ vào thế kỷ 18 Tuy nhiên chữ Nôm chỉ được dùng trong lĩnh vựcvăn chương, còn trong hành chính thì vẫn dùng chữ Hán

Từ thế kỷ 17, khi các nhà truyền giáo phương Tây vào Việt Nam truyềnđạo Công giáo đã dựa trên ký tự Latinh để chuyển âm tiếng Việt sang chữLalinh và đây là cơ sở cho sự ra đời của chữ Quốc ngữ hiện nay của Việt Nam.Mặc dù chữ quốc ngữ đã có từ thế kỷ 17 nhưng phải tới đầu thế kỷ 20 khi ngườiPháp đô hộ hoàn toàn Việt Nam thì họ mới cho phổ biến chữ Quốc ngữ làmthành một công cụ giao tiếp thuận lợi trong xã hội Việt Nam

Ngoài chữ Quốc ngữ là chữ viết chung của người Việt và của Việt Nam,một số dân tộc khác cũng sữ dụng song hành chữ viết của dân tộc mình như chữKhmer của người Khmer ở Nam Bộ, chữ Akhar Thrah của người Chăm, chữThái của người Thái ở vùng Tây bắc, chữ Mnông của người Mnông ở TâyNguyên, nhằm gìn giữ văn hoá của dân tộc mình cũng như tiếp nhận các trithức mới từ chữ quốc ngữ dịch sang Theo thống kê hiện nay có 26 dân tộc thiểu

số tại Việt Nam có chữ viết riêng của mình ngoài chữ Quốc ngữ

Văn họcCũng như nền văn học của các nước kháctrên thế giới, văn học Việt Nam bao gồm hai bộ

phận đó là văn học dân gian và văn học viết Văn

học dân gian là văn học truyền miệng của người

dân và văn học viết gồm có văn học chữ Hán, văn

học chữ Nôm và văn học chữ Quốc ngữ

Kho tàng văn học dân gian của Việt Namrất phong phú và đa dạng, để giữ gìn những

truyền thống quý báu của dân tộc, để bảo tồn

những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất

của các thế hệ người Việt Nam khi đại đa số

người dân trong thời phong kiến không có điều

kiện biết chữ Hán, một hình thức văn học dân

gian truyền miệng đã ra đời và được truyền lại từ

thế hệ này sang thế hệ khác tại Việt Nam Đó là

những câu chuyện thần thoại như Thần Trụ Trời của người Việt, Đi san mặt Đất

Trang 13

của người Lô Lô, những sử thi như Đam San của người E Đê, Đẻ đất đẻ nướccủa người Mường, những truyền thuyết như Sơn Tinh Thuỷ Tinh, ThánhGióng của người Việt, những cổ tích như Thạch Sanh của người Khmer và cáctruyện ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, ca dao, Văn học dân gian thường cangợi tài năng và lòng dũng cảm của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt,trước kẻ thù độc ác, ca ngợi lòng nhân hậu, độ lượng giúp đỡ nhau, ca ngợi tìnhyêu trai gái, tình chung thuỷ vợ chồng, yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu làngxóm, quê hương Không những thế văn học dân gian Việt Nam còn là vũ khíđấu tranh chống lại những thói hư tật xấu của con người, chống lại những bấtcông thối nát trong xã hội Bằng ngôn ngữ dân gian giàu hình ảnh, bằng nghệthuật nhạc điệu sinh động, văn học dân gian Việt Nam đã thấm sâu vào lòngngười một cách tự nhiên và rất dễ dàng truyền lại cho đời sau

Trong văn học viết, với chữ Hán và chữ Nôm được sử dụng trong mộtthời gian dài Các tác phẩm văn học cổ nhất còn lưu lại được sáng tác vào thế kỷ

11 và chủ yếu liên quan đến đạo Phật khi đó đang thịnh hành tại Việt Nam Đó

là những bài thơ của các vị sư giải thích về cơ sở căn bản của đạo Phật cũng nhưbình luận về các biến cố lịch sử hay các đề tài về ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, từthế kỷ 13 nhiều công trình về lịch sử, địa lý và địa chí bằng chữ Hán đã xuấthiện Khi hệ thống chữ Nôm được hoàn chỉnh vào thế kỷ 13, nhiều tác phẩmvăn học viết bằng chữ Nôm lần lượt xuất hiện, một trong những tác phẩm sớmnhất bằng chữ Nôm còn để lại đến hôm nay là các bài thơ của Nguyễn Trãi, cáctác phẩm đồ sộ của ông bao gồm một tuyển tập hàng trăm bài thơ Nôm có tênQuốc âm thi tập ở thế kỷ 15, và kế tiếp là Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm,các bài thơ của Hồ Xuân Hương và đặc biệt là tác phẩm Truyện Kiều củaNguyễn Du

Từ đầu thế kỷ 20, chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi, với sự phát triểncủa công nghệ in ấn cùng với những tiếp xúc với văn học phương Tây, văn họcViệt Nam xuất hiện các thể loại văn học mới, văn xuôi chiếm vị trí quan trọngtrên văn đàn cùng với thơ ngự trị trước đó Các thay đổi trong đời sống văn học

đã xuất hiện với sự ra đời của phong trào Thơ Mới vào những năm 1930, đây làmột phong trào hiện đại nhằm giải phóng thơ Việt Nam ra khỏi những luật lệ gò

bó của thơ Trung Quốc cổ Trong lĩnh vực văn xuôi, các hoạt động của nhóm

Tự Lực Văn Đoàn chịu ảnh hưởng từ phương Tây đã tạo ra thể loại tiểu thuyếtViệt Nam hiện đại

Nền văn học Việt Nam từ thời kỳ này xuất hiện nhiều trào lưu, có nhữngtác phẩm chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, có những tác phẩm theo chủnghĩa hiện thực và cũng có những tác phẩm gắn liền với chính trị đó là dòng tácphẩm cách mạng

Nghệ thuật

Trang 14

Nền nghệ thuật Việt Nam có từhàng nghìn năm nay, bắt đầu từ nghệ thuật

truyền thống hay còn gọi là nghệ thuật dân

gian Việt Nam

Bắt đầu sớm nhất với kiến trúc dângian với những hoạ tiết về nhà cửa trên

mặt trống đồng Đông Sơn vào khoảng thế

kỷ 7 trước công nguyên, trải qua thời bắc

thuộc kiến trúc Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của nền kiến trúc Trung Quốc,

từ thế kỷ 10 khi dành được độc lập kiến trúc Việt Nam là sự kết hợp giữa kiếntrúc bản địa cùng với những ảnh hưởng từ Trung Quốc, Chăm Pa Các côngtrình của Việt Nam quy mô thường không lớn, nhưng thường là sự kết hợp hàihoà giữa công trình chính và cảnh quan xung quanh, đặc biệt là sử dụng hồ, ao,sông ngòi để điều tiết khí hậu và tạo cảnh quan Từ cuối thế kỷ 19, với việc đô

hộ của thực dân Pháp, kiến trúc Việt Nam bắt đầu áp dụng rộng rãi các khuôngmẫu và thủ pháp kiến trúc, xây dựng của phương Tây, nhiều công trình còn tồntại đến ngày nay ở các đô thị, đặc biệt là tại Hà Nội đã để lại một sắc thái kiếntrúc đẹp và độc đáo

Nền Mỹ thuật bắt đầu với điêu khắc cổ được thể hiện trên mặt trốngĐồng Đông Sơn của cư dân Lạc Việt, trải qua các thời kỳ cùng với những ảnhhưởng từ bên ngoài đã tạo ra nền điêu khắc Việt Nam phát triển rực rỡ vào cácthời Lý, Trần, Lê qua các công trình tôn giáo và cung điện các vương triều Bêncạnh các công trình kiến trúc và điêu khắc của người Việt thì nền điêu khắc kiếntrúc Việt Nam được bổ sung các kỹ thuật tinh xảo trong việc xây dựng các côngtrình tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm và người Khmer Nam Bộ Hội họaxuất hiện muộn hơn với dòng tranh dân gian Việt Nam, gồm tranh lụa, tranh tết,tranh Đông Hồ Đề tài tranh dân gian thường giản dị và gần gũi với đời sốngdân dã, mỗi bức tranh đều có ý nghĩa tượng trưng và đều được cách điệu hoá.Cùng với các môn nghệ thuật hiện đại khác, mỹ thuật hiện đại Việt Nam cũng

có những bước tiến dài từ đầu thế kỷ 20 với ảnh hưởng của nghệ thuật phươngTây thời Pháp thuộc, với các trường phái lãng mạn, hiện thực, ấn tượng, trừutượng, siêu thực, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của phương Tây nhưng khuynhhướng mỹ thuật hiện đại của Việt Nam vẫn gắn liền với lịch sử đất nước

Sự ra đời và phát triển của sân khấu dân gian Việt Nam gắn liền với đờisống nông nghiệp, múa rối nước là nghệ thuật dân gian của của người nông dânlàm ruộng nước ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, thường được biểu diễn trong dịp hội

hè, những lúc nông nhàn, múa rối nước là một nghệ thuật tổng hoà giữa cácnghệ thuật điêu khắc, sơn mài, âm nhạc, hội hoạ và văn học Cùng với múa rốinước là các môn nghệ thuật chèo, tuồng, cải lương góp phần làm phong phú nềnsân khấu cổ truyền Việt Nam Từ đầu thế kỷ 20, cùng với những ảnh hưởng của

Ngày đăng: 12/08/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w