1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ở việt nam

86 644 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách cổ tức là một trong những chính sách tài chính quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển và thịnh vượng của một công ty, nó liên quan tới việc xác định lượng tiền và phư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Giáo viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Thị Hoàng Anh

Hà Nội – Tháng 06/2008

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 4

TỔNG QUAN VỀ CỔ TỨC VÀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 4

1.1 GIỚI THIỆU VỀ CỔ TỨC 4

1.1.1 LỢI NHUẬN VÀ CỔ TỨC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 4

1.1.2 CÁC HÌNH THỨC TRẢ CỔ TỨC 4

1.1.2.1 TRẢ BẰNG TIỀN MẶT (CASH DIVIDEND) 5

1.1.2.2 TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU (STOCK DIVIDEND) 5

1.1.3 QUY TRÌNH TRẢ CỔ TỨC 7

1.2 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ CÁC LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 8

1.2.1 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 8

1.2.2 CÁC LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 10

1.2.3 CÁC CHÍNH SÁCH TRẢ CỔ TỨC PHỔ BIẾN TRÊN THẾ GIỚI 17

1.2.3.1 HAI LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH MỨC CHI TRẢ CỔ TỨC 17

1.2.3.2 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH TRẢ CỔ TỨC PHỔ BIẾN TRÊN THẾ GIỚI 19

1.3 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CỔ TỨC ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN 22

1.3.1 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ TÀI SẢN CỦA CÁC CỔ ĐÔNG 22 1.3.2 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY 24

1.3.3 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CỔ ĐÔNG VÀ CÁC CHỦ NỢ CỦA CÔNG TY 25

1.3.4 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ CƠ CẤU VỐN CỦA CÔNG TY 26 1.4 CÁC CĂN CỨ LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 27

1.4.1 CÁC YẾU TỐ CHỦ QUAN 28

Trang 3

1.4.1.1 CHU KỲ KINH DOANH CỦA NGÀNH VÀ CÁC CƠ HỘI

ĐẦU TƯ 28

1.4.1.2 KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN TRÊN CÁC THỊ TRƯỜNG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 30

1.4.1.3 TÌNH HÌNH LUỒNG TIỀN CỦA CÔNG TY 31

1.4.1.4 QUYỀN KIỂM SOÁT CÔNG TY 31

1.4.2 CÁC YẾU TỐ KHÁCH QUAN 32

1.4.2.1 CHI PHÍ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 32

1.4.2.2 SỰ ƯA THÍCH CỔ TỨC CỦA NHÀ ĐẦU TƯ 32

1.4.2.3 THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 33

1.4.2.4 PHẢN ỨNG CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI NHỮNG THAY ĐỔI CỦA CÁC THÔNG BÁO LIÊN QUAN ĐẾN CỔ TỨC 34

1.4.2.5 NHỮNG RÀNG BUỘC VÀ QUY ĐỊNH MANG TÍNH PHÁP LÝ 34

CHƯƠNG 2 37

CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 37

2.1 HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 37

2.1.1 CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 37

2.1.2 HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM, XÉT CỤ THỂ TẠI TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HOSE) 39

2.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HOSE 51

2.2.1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 51

2.2.1.1 DUY TRÌ MỘT CHÍNH SÁCH CỔ TỨC ỔN ĐỊNH LÀ MỘT TRONG NHỮNG YẾU TỐ QUAN TRỌNG LÀM CHO HÌNH ẢNH CỦA CÔNG TY ĐẸP HƠN TRONG MẮT CÁC NHÀ ĐẦU TƯ 51

Trang 4

2.2.1.2 CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT ĐÃ CÓ NHỮNG PHẢN ỨNG LINH HOẠT VỚI TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG 52

2.2.2 HẠN CHẾ 53

2.2.2.1 VIỆC CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY THƯỜNG KHÔNG ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN CƠ CẤU VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ 54 2.2.2.2 CÁC CTCP PHẦN LỚN ĐỀU CHỊU SỨC ÉP TỪ MỨC CHI TRẢ CỔ TỨC CAO 55 2.2.2.3 VIỆC CHI TRẢ CỔ TỨC CAO Ở MỨC CAO ĐƯỢC CÁC CÔNG TY SỬ DỤNG NHƯ LÀ MỘT CÔNG CỤ ĐỂ ĐÁNH BÓNG HÌNH ẢNH CỦA CÔNG TY MÌNH 56

2.3 NGUYÊN NHÂN 57

2.3.1 NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN 58

2.3.1.1 CỔ ĐÔNG – CHỦ SỞ HỮU CÔNG TY CHƯA QUAN TÂM ĐẾN LỢI ÍCH LÂU DÀI 58 2.3.1.2 TRÌNH ĐỘ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC QUYẾT ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CỔ ĐÔNG CÒN HẠN CHẾ 59 2.3.1.3 CÁC CỔ ĐÔNG CÒN THIẾU THÔNG TIN TRÊN TTCK 60 2.3.1.4 HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CÔNG TY YẾU KÉM 60 2.3.1.5 TRÌNH ĐỘ CỦA ĐỘI NGŨ QUẢN LÝ CÒN YẾU KÉM 61

2.3.2 NGUYÊN NHÂN KHÁCH QUAN 62

2.3.2.1 THIẾU KHUNG PHÁP LÝ CHO VIỆC THỰC HIỆN CHI TRẢ CỔ TỨC 62 2.3.2.2 DIỄN BIẾN CỦA TTCK VÀ TÂM LÝ CỦA CÁC CỔ ĐÔNG 63

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 65

3.1 DỰ BÁO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT 65 3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 66

Trang 5

3.2.1 VỀ PHÍA CÁC CÔNG TY 66

3.2.1.1 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC PHẢI DỰA TRÊN MỘT CƠ CẤU VỐN HỢP LÝ 68 3.2.1.2 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC PHẢI PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN

CỤ THỂ CỦA TỪNG DOANH NGHIỆP 68 3.2.1.3 DUY TRÌ MỘT MỨC CỔ TỨC ỔN ĐỊNH HÀNG NĂM 69 3.2.1.4 THEO ĐUỔI MỘT TỶ LỆ CHI TRẢ CỔ TỨC MỤC TIÊU 70 3.2.1.5 TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC, NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP CHO CÁC NHÀ QUẢN LÝ 71

3.2.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ 72

3.2.2.1 BAN HÀNH QUY ĐỊNH HƯỚNG DẪN VIỆC CHI TRẢ CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU VÀ GIAO DỊCH CỔ PHIẾU QUỸ CỦA CÁC CÔNG TY 72 3.2.2.2 QUẢN LÝ VIỆC CHI TRẢ CỔ TỨC, CHẾ ĐỘ BÁO CÁO VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 73 3.2.2.3 TUYÊN TRUYỀN PHỔ CẬP KIẾN THỨC CHO NGƯỜI ĐẦU TƯ 74

KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1: Quy trỡnh trả cổ tức 7Bảng 2.1: Quy mụ niờm yết trờn TTCK Việt Nam qua một số năm 38Bảng 2.2: Tỡnh hỡnh chi trả cổ tức qua cỏc năm của cỏc cụng ty niờm yết trờn Trung tõm giao dịch chứng khoỏn TP Hồ Chớ Minh 41Bảng 2.3: Tỷ lệ cổ tức và thay đổi giỏ cổ phiếu của một số cụng ty niờm yết trờn sàn HOSE sau khi chi trả cổ tức bằng cổ phiếu 46Bảng 2.4: Tỷ lệ cổ tức và thay đổi giỏ cổ phiếu của một số cụng ty niờm yết trờn HOSE sau khi chi trả cổ tức tiền mặt 48

Biểu đồ 1: Tỷ lệ trả cổ tức của một số cổ phiếu qua các năm 43

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tinh cấp thiết của đề tài:

Chính sách cổ tức hiện vẫn là một khái niệm mới đối với nhiều người Chính sách cổ tức là gì và nó đóng vai trò như thế nào đối với công ty vẫn là một vấn đề chưa được tổng kết đầy đủ Chính sách cổ tức phụ thuộc vào từng điều kiện cụ thể của mỗi công ty Người ta không thể có một câu trả lời rõ ràng về chính sách cổ tức, nhưng vẫn phải đặt ra những căn cứ để lựa chọn một chính sách cổ tức sao cho có lợi nhất cho công ty

Với chủ trương đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN, được triển khai từ năm 1992 mà thực chất là việc sắp xếp lại các DNNN, trọng tâm là tiến hành cổ phần hoá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Hình thức công ty cổ phần vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam và thực sự chưa phát huy hết được những ưu điểm của nó Ở Việt Nam hiện nay, thậm chí là có một số công ty cổ phần vẫn chưa hình dung rõ nét chính sách cổ tức là như thế nào Việc trả cổ tức của công ty còn mang nặng tính tự phát, chưa có tính chiến lược Hiện nay, việc các công ty chi trả

cổ tức cho các cổ đông có rất nhiều vấn đề nảy sinh như: trả cổ tức bằng cổ phiếu, trả cổ tức bằng tiền mặt, trả cổ tức bằng tài sản hay mua lại cổ phiếu,…

Xuất phát từ thực tế đó việc nghiên cứu làm rõ về cổ tức và chính sách

cổ tức, cách thức xây dựng chính sách cổ tức tối ưu, cũng như việc đánh giá

tầm quan trọng của nó đối với công ty là rất cần thiết Do vậy, “Chính sách

cổ tức của các công ty niêm yết ở Việt Nam” được chọn làm đề tài cho bài

khoá luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 9

- Đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về cổ tức và chính sách cổ tức, xác định những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức, đưa ra những luận

cứ để lựa chọn một chính sách luận cứ tối ưu

- Đánh giá chung về tình hình chi trả cổ tức của các công ty niêm yết ở Việt Nam: những hiệu quả và bất cập trong việc thực hiện chính sách cổ tức của các công ty niêm yết

- Đưa ra một số gợi ý cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, xét cụ thể tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chính Minh

Phạm vi nghiên cứu: Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây (2005-2007), đặc biệt là đánh giá tới các yếu tố tác động chủ yếu chính sách cổ tức của công ty, cũng như ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách cổ tức đó

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chung được sử dụng cho quá trình cho quá trình nghiên cứu là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm của Đảng

và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế

Những phương pháp cụ thể được sử dụng là phương pháp thống kê so sánh phân tích tổng hợp, nghiên cứu lý thuyết tổng hợp thực tiễn để đưa ra quyết định

Trang 10

5 Kết cấu:

Phù hợp với mục đích đối tượng, phương pháp nghiên cứu của đề tài, ngoài lời mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt, bài khoá luận bao gồm ba chương:

Chương 1: Tổng quan về cổ tức và chính sách cổ tức

Chương 2: Chính sách chi trả cổ tức của các công ty niêm yết ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ở Việt Nam

Do lĩnh vực nghiên cứu còn mới mẻ, thời gian và nguồn tài liệu tham khảo hạn chế, nên trong quá trình thực hiện bài khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy Cô

và các bạn để bài khoá luận được hoàn thiện hơn

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ths Nguyễn Thị Hoàng Anh, các thầy cô trong trường cũng như các cô chú trong thư viện Trường Đại học Ngoại Thương đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình làm bài khoá luận này

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CỔ TỨC VÀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC

1.1 Giới thiệu về cổ tức

1.1.1 Lợi nhuận và cổ tức của công ty cổ phần

Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất, kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động của công ty Lợi nhuận của công ty là số tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà công ty bỏ ra để đạt được doanh thu đó

Thông thường lợi nhuận sau thuế của công ty được chia làm 2 phần: Một phần giữ lại để tái đầu tư và một phần dùng để chi trả cho các cổ đông của công ty

Như vậy, cổ tức là phần lợi nhuận sau thuế của công ty dùng để trả cho

những người chủ sở hữu (cổ đông) Cổ tức có thể được trả bằng tiền mặt, hoặc trả bằng cổ phiếu

Việc có trả cổ tức hay không, tỷ lệ và hình thức chi trả cổ tức cho cổ đông tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động, chính sách của công ty và quyết định của HĐQT Về cơ bản, các công ty có những chính sách khác nhau trong việc phân chia lợi nhuận của công ty mình Nếu lợi nhuận giữ lại nhiều thì phần dùng để trả cổ tức sẽ ít và ngược lại Tỷ lệ lợi nhuận phân bổ cho hai mục đích giữ lại và chia cổ tức như thế nào là tuỳ thuộc vào chiến lược của từng công ty

1.1.2 Các hình thức trả cổ tức

Sau khi đưa ra quyết định về việc chi trả cổ tức trong cuộc họp HĐQT

và thông qua tại ĐHCĐ, HĐQT sẽ công bố thông tin về quy mô trả cổ tức vào

Trang 12

ngày công bố Thông thường, hầu hết các công ty kinh doanh có lãi sẽ chia sẻ lợi nhuận cho các nhà đầu tư của họ bằng cách trả cổ tức Tuy nhiên, không

có quy định nào về mặt pháp lý bắt buộc các công ty phải trả cổ tức cho các

cổ đông khi công ty làm ăn có lãi Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể, HĐQT của công ty có thể tăng, giảm, hoặc từ bỏ việc chi trả cổ tức

Thông thường, các công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng thường giữ lại phần lớn hoặc thậm chí toàn bộ lợi nhuận của họ để tái đầu tư vào công ty nên họ sẽ trả cổ tức rất thấp hoặc thậm chí không trả cổ tức Các công

ty lâu đời và đã trưởng thành thường chi trả cổ tức rất ổn định do các công ty này khi đã tăng trưởng đến một mức nào đó, họ đã trở thành những công ty đầu ngành, thì nhịp độ tăng trưởng chậm lại nhưng tỷ lệ tăng trưởng thu nhập lại vô cùng ổn định

Cổ tức thường được trả theo quý, theo tháng, nửa năm hoặc một năm Thông thường các công ty trả cổ tức dưới dạng tiền mặt hoặc cổ phiếu

1.1.2.1 Trả bằng tiền mặt (cash dividend)

Khi chi trả cổ tức bằng tiền mặt, trên bảng cân đối kế toán, khoản mục tiền mặt và lợi nhuận giữ lại của công ty giảm đi Cổ tức tiền mặt được trả tính trên cơ sở mỗi cổ phiếu Nó cũng có thể được trả theo phần trăm mệnh giá Mệnh giá là giá trị được ấn định trong giấy chứng nhận cổ phiếu theo điều lệ hoạt động của công ty

Trang 13

Trả cổ tức bằng cổ phiếu là cách thức công ty đưa ra những cổ phiếu thêm của chính công ty đó và phát hành cho các cổ đông dựa trên một tỷ lệ đã được quy định bởi ĐHCĐ Ví dụ, công ty tuyên bố trả cổ tức bằng cổ phiếu là 5% một năm Điều này nghĩa là các cổ đông hiện hành cứ sở hữu 100 cổ phiếu thì sẽ được nhận thêm 5 cổ phiếu

 Lý do công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu

- Nhằm mục tiêu giảm giá thị trường của cổ phiếu Các công ty thường trả cổ tức bằng cổ phiếu khi giá cổ phiếu của công ty ở mức quá cao so với mức giá trung bình mà các nhà đầu tư mong muốn Vì thế công ty thông báo trả cổ tức bằng cổ phiếu nhằm tăng lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường lên, do đó làm cho giá thị trường trên mỗi cổ phần giảm đi Điều này làm cho các nhà đầu tư cá nhân, cùng với một lượng tiền, có thể mua được nhiều cổ phiếu hơn so với trước

- Các công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng, có nhiều cơ hội đầu tư, thường thực hiện chi trả cổ tức bằng cổ phiếu để giữ lại nguồn vốn nhằm tăng khả năng đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh đem lại lợi tức thu nhập cao hơn trước cho các cổ đông

Ngoài những lý do trên, công ty sử dụng hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu có thể nhằm mục tiêu che đậy việc công ty thiếu khả năng trả cổ tức bằng tiền mặt Đây là cách thức hợp lý để nhà quản lý giấu đi sự quản lý không hiệu quả của họ về luồng tiền

Trả cổ tức bằng cổ phiếu không phải là chi trả cổ tức theo đúng nghĩa,

vì nó không làm cho tài khoản tiền mặt của công ty giảm đi Trả cổ tức bằng

cổ phiếu cũng tương tự như chia tách cổ phiếu (stock split) Khi công ty chia tách cổ phiếu sẽ làm gia tăng số cổ phần đang lưu hành và mỗi cổ phần bây giờ được tham gia chia một phần ngân lưu của công ty nên giá cổ phiếu sẽ

Trang 14

giảm đi tuy nhiên vốn cổ phần của cổ đông không thay đổi Còn với việc trả

cổ tức bằng cổ phiếu, vốn điều lệ của công ty tăng lên và cổ đông sẽ nhận được nhiều cổ phiếu hơn tuy nhiên giá thị trường của cổ phiếu giảm đi

1.1.3 Quy trình trả cổ tức

Quyết định về việc chi trả cổ tức được đặt trong tay của HĐQT công ty Việc chi trả cổ tức của công ty được ghi nhận vào một ngày cụ thể Khi cổ tức được công bố, nó trở thành một trách nhiệm tài chính đối với công ty và công

ty không thể dễ dàng thay đổi được

Cơ chế chi trả cổ tức của công ty có thể được minh họa như sau:

Bảng 1.1: Quy trình trả cổ tức

Thứ năm

15/01

Thứ tư 28/01

Thứ sáu 30/01

Thứ hai 16/02

Ngày công bố

(Declaration date)

Ngày giao dịch không hưởng quyền (Ex-dividend)

Ngày chốt danh sách cổ đông (Record date)

Ngày chi trả cổ tức (Payment date)

Trước khi chi trả cổ tức, ngoài việc công bố cổ tức được hưởng công ty còn phải chuẩn bị danh sách cổ đông sẽ chính thức được thụ hưởng cổ tức vào ngày chi trả Giữa hai thời điểm ngày công bố và ngày chi trả cổ tức còn có hai mốc thời gian để công ty chuẩn bị Như vậy có tất cả bốn ngày được xem

là mốc thời gian cần xét Ví dụ trong hình cho thấy:

- Ngày công bố: Vào ngày này (15/01) HĐQT thông qua và công bố cổ tức sẽ được trả cho mỗi cổ phần là bao nhiêu vào ngày 16/02 cho tất cả cổ đông được ghi nhận trong danh sách sẽ chốt sổ vào ngày 30/01

Trang 15

- Ngày chốt danh sách cổ đông: Vào ngày này (30/01) công ty lập danh sách tất cả cổ đông được hưởng cổ tức Những ai không có tên trong danh sách cổ đông vào ngày này sẽ không được hưởng cổ tức

- Ngày giao dịch không hưởng quyền cổ tức: Do việc mua bán và chuyển quyền sở hữu cổ phiếu mất một số ngày nên sẽ không công bằng nếu người nào mua cổ phiếu vào ngày 29/01 nhưng hoàn tất được thủ tục vào ngày 30/01 và được hưởng cổ tức trong khi người khác mua cổ phiếu cùng ngày nhưng mãi đến ngày 2/02 mới hoàn tất thủ tục và như vậy không được hưởng cổ tức Để tránh vấn đề này, các công ty môi giới ấn định mốc thời gian là 3 ngày làm việc trước ngày chốt danh sách cổ đông, gọi là ngày giao dịch không hưởng quyền cổ tức (ex- dividend date), trong ví dụ đang xem xét

là vào ngày 28/01 Nếu ai mua cổ phiếu vào hoặc sau ngày này sẽ không được hưởng cổ tức

- Ngày chi trả: Vào ngày này cổ tức sẽ được trả cho cổ đông bằng tiền mặt hoặc bằng chuyển khoản (đối với cổ tức tiền mặt) Trường hợp trả cổ tức bằng cổ phiếu, cổ đông sẽ nhận được số cổ phiếu tương ứng với số cổ phiếu hiện họ đang nắm giữ và tỷ lệ chi trả cổ tức mà công ty công bố

Quy trình chi trả cổ tức như trình bày trên hình trên cho thấy ngày giao dịch không hưởng quyền rất quan trọng bởi vì cá nhân nào mua cổ phiếu trước ngày này sẽ được hưởng cổ tức năm hiện tại trong khi cá nhân nào mua

cổ phiếu đúng vào ngày này hoặc sau ngày này sẽ không được hưởng cổ tức Ngoài ra, vào lúc mở cửa của thị trường của ngày giao dịch không hưởng quyền cổ tức, giá cổ phiếu sẽ giảm một khoản bằng hoặc xấp xỉ bằng cổ tức (nếu có thuế thu nhập đối với cổ tức)

1.2 Chính sách cổ tức và các lý thuyết về chính sách cổ tức

1.2.1 Chính sách cổ tức

Trang 16

Chính sách cổ tức là một trong những chính sách tài chính quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển và thịnh vượng của một công ty, nó liên quan tới việc xác định lượng tiền và phương thức dùng để trả cổ tức cho các

cổ đông thường của công ty

Như vậy, chính sách cổ tức bao gồm 2 quyết định:

- Bao nhiêu thu nhập của công ty nên được phân phối cho cổ đông thông thường dưới dạng cổ tức và bao nhiêu thu nhập nên giành cho tái đầu tư

- Phương thức chi trả cổ tức

Việc chi trả cổ tức cho cổ đông được ghi nhận vào một ngày cụ thể

Tầm quan trọng của chính sách cổ tức:

- Chính sách phân chia cổ tức ảnh hưởng quan trọng đến lợi ích của các

cổ đông, bởi lẽ có những nhà đầu tư mong đợi được nhận cổ tức và có những nhà đầu tư lại thích công ty giữ lại phần lợi nhuận để tái đầu tư Những nhà đầu tư như người già, quỹ hưu bổng, công ty bảo hiểm, thường kế hoạch hoá và kỳ vọng có dòng tiền thu nhập tương lai ổn định và đáng tin cậy từ cổ tức Ngược lại, những nhà đầu tư chiến lược luôn có xu hướng nắm giữ lâu dài cổ phiếu và sẵn sàng hi sinh lợi nhuận ban đầu (cổ tức) để dành vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp và hưởng những giá trị nâng cao trong tương lai Do vậy, một sự thay đổi trong chính sách cổ tức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cả hai nhóm nhà đầu tư và giá cổ phiếu của công ty

- Chính sách phân chia cổ tức ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của công ty Nếu công ty có nhiều dự án kinh doanh khả thi, khi đó công ty sẽ cần đến một lượng vốn để đầu tư cho các dự án này Do vậy, công ty sẽ đứng trước hai lựa chọn: một là, công ty giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư; hai là, công

ty vẫn duy trì mức trả cổ tức cao và huy động vốn từ những nguồn khác Nếu công ty giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư thì chính sách này sẽ làm nản lòng

Trang 17

những nhà đầu tư mà mối quan tâm hàng đầu của họ là thu nhập từ cổ tức chứ không phải là lợi vốn do tăng giá cổ phiếu trong tương lai Những nhà đầu tư này sẽ bán cổ phiếu của công ty mà họ đang nắm giữ, từ đó làm giảm giá thị trường của cổ phiếu, điều này mâu thuẫn với mục tiêu tối hậu mà công ty theo đuổi là tối đa hoá giá trị cho cổ đông Ngoài ra, việc cổ phiếu của công ty giảm giá do các nhà đầu tư bán cổ phiếu mà họ đang nắm giữ sẽ đặt công ty trước tình huống đe dọa bị thao túng mua Còn nếu tiếp tục duy trì việc trả cổ tức cao, công ty sẽ phải huy động vốn từ các nguồn khác như vay nợ hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới Nếu vay nợ bên ngoài, công ty sẽ phải chịu một khoản lãi vay; còn nếu phát hành cổ phiếu mới công ty sẽ phải đối diện với các vấn đề sau:

- Tốn kém phát sinh do chi phí phát hành cổ phiếu mới (trung bình bằng 15% tổng giá trị phát hành)

- Quyền kiểm soát của cổ đông hiện hành có thể bị đe dọa

Như vậy, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà công ty nên lựa chọn phương án nào mang lại lợi ích cao nhất cho các bên tham gia CTCP

1.2.2 Các lý thuyết về chính sách cổ tức

Tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của chính sách cổ tức hiện vẫn là vấn

đề gây nhiều tranh cãi Một số nhà nghiên cứu cho rằng việc công ty có trả cổ tức hay không không có ý nghĩa quan trọng vì nó không ảnh hưởng gì đến giá trị của công ty Một số khác lại chỉ ra rằng quyết định chi trả cổ tức sẽ ảnh hưởng đến các nhà đầu tư, làm thay đổi giá cổ phiếu do đó làm thay đổi giá trị công ty

 Quan điểm chính sách cổ tức không tác động đến giá trị của công ty

của Merton Miller và Franco Modigliani (M&M dividend irrelevance proposition)

Trang 18

Theo Merton Miller và Franco Modigliani (1961) thì trong một thị trường hoàn hảo (không có thuế, không có chi phí phát hành, chi phí giao dịch chứng khoán và chi phí thông tin, ), chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến tổng thu nhập của cổ đông hay nói cách khác mọi chính sách cổ tức đều như nhau Lý thuyết này của M&M đối lập với quan điểm truyền thống là cổ đông đều thích trả cổ tức cao, nghĩa là đề cao chính sách cổ tức; cổ tức trả càng cao thì thu nhập của cổ đông càng cao

Theo quan điểm này quyết định đầu tư của công ty không chịu ảnh hưởng của chính sách cổ tức Chính sách đầu tư của công ty đóng vai trò quan trọng nhất vì nó quyết định dòng thu nhập trong tương lai của công ty, quyết định giá trị của công ty Còn việc dòng thu nhập đó được phân chia giữa cổ tức và thu nhập giữ lại như thế nào là không quan trọng, bởi vì trong bất kỳ trường hợp nào thì giá trị của công ty cũng không thay đổi Còn về phía các nhà đầu tư, họ hoàn toàn có thể biến đổi chính sách cổ tức của công ty thành một chính sách cổ tức khác bằng việc tái đầu tư cổ tức nhận được hoặc bán đi

cổ phần của mình Do vậy, mỗi nhà đầu tư đều có thể tự tạo cho mình được một chính sách cổ tức riêng, điều này có nghĩa là nếu như nhà đầu tư không thoả mãn với chính sách cổ tức của công ty thì họ hoàn toàn có thể biến đổi chính sách cổ tức đó thành một chính sách cổ tức sao cho phù hợp với mình Như vậy, dù công ty lựa chọn chính sách cổ tức nào thì chính sách cổ tức đó cũng không có tác động gì đến cổ đông cũng như giá trị của công ty

Lý thuyết M&M được xây dựng trong điều kiện giả định thị trường vốn hoàn hảo Tuy nhiên, trong thực tế không tồn tại một thị trường không có chi phí giao dịch, không có sự khác biệt về thuế, v.v… Thông thường, việc tăng

cổ tức thường được coi là một thông tin tốt dẫn đến việc tăng giá cổ phiếu, và ngược lại khi các công ty giảm hoặc không trả cổ tức nữa thì giá cổ phiếu sẽ sụt giảm Nếu quả thực chính sách cổ tức không quan trọng thì tại sao lại có

Trang 19

những phản ứng như vậy trên thị trường? Xuất phát từ điều này, nhiều nhà kinh tế khác đã đưa ra các quan điểm để lý giải vấn đề này

 Quan điểm chính sách cổ tức là tín hiệu dự báo sự phát triển của công

ty (Dividend signaling hypothesis)

Theo nghiên cứu của Bhattachar (1979) và Miller và Rock (1985) thì các nhà đầu tư không phản ứng với chính sách cổ tức mà với các thông tin chứa đựng bên trong chính sách cổ tức Việc tăng cổ tức có thể là một tín hiệu cho rằng các nhà quản trị công ty rất lạc quan về dòng thu nhập trong tương lai của công ty Vì thông thường các công ty rất ngại cắt giảm cổ tức nên họ chỉ quyết định tăng cổ tức nếu tin rằng có thể duy trì mức cổ tức cao đó trong tương lai Do vậy mà tăng cổ tức sẽ dẫn đến giá cổ phiếu tăng lên do nhà đầu

tư tin rằng dòng thu nhập trong tương lai sẽ tăng lên

Như vậy, theo các nhà nghiên cứu này thì chính sách cổ tức có chứa đựng thông tin và có thể được coi là một tín hiệu về khả năng phát triển trong tương lai của công ty Tuy nhiên quan điểm này chỉ có ý nghĩa khi thoả mãn hai điều kiện: Thứ nhất, các nhà đầu tư coi trọng thông tin này; thứ hai, cổ tức

là một tín hiệu về triển vọng phát triển của công ty và là một tín hiệu đáng tin cậy hơn các tín hiệu khác Quan điểm này cho rằng cả hai điều kiện trên đều tồn tại Thực tế, nếu công ty tuyên bố tăng cổ tức mà không có đủ thu nhập để trả thì sẽ phải huy động vốn từ bên ngoài hoặc phải hy sinh các khoản đầu tư trong tương lai Vì thế, tăng cổ tức là một tín hiệu có độ tin cậy cao hơn và ràng buộc trách nhiệm của nhà quản lý công ty nhiều hơn các tín hiệu khác

Mặc dù quan điểm này vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng có một điểm mà các nhà đầu tư không nhận thấy rõ ràng, đó là việc cắt giảm cổ tức nói chung

sẽ gây ra phản ứng tiêu cực trên TTCK Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào kỳ vọng của các nhà đầu tư Chẳng hạn như khi IBM công bố giảm 55% cổ tức vào ngày 26/1/1993 thì giá cổ phiếu IBM lại tăng nhẹ, điều

Trang 20

này là do việc giảm cổ tức đã được dự đoán và phản ánh vào giá cổ phiếu từ trước đó Giá cổ phiếu của IBM giảm mạnh từ trước đó 1 tháng, khi IBM tuyên bố rằng công ty đang cân nhắc về việc cắt giảm cổ tức Cũng có trường hợp mức cổ tức tăng nhưng không cao như dự kiến làm cho giá cổ phiếu giảm

vì các nhà đầu tư cho rằng dòng thu nhập trong tương lai của công ty sẽ thấp hơn mong đợi

 Những quan điểm chính sách cổ tức có ảnh hưởng đến giá trị công ty

trong điều kiện thị trường không hoàn hảo

Quan điểm của Miller và Modigliani dựa trên giả định một thị trường vốn hoàn hảo Trên thực tế, cổ tức và lãi vốn đều bị đánh thuế, việc phát hành

và giao dịch chứng khoán đều phải chịu chi phí và có sự bất đối xứng thông tin giữa các nhà các nhà quản lý công ty và người đầu tư Trong một thị trường vốn không hoàn hảo như vậy, các nhà đầu tư sẽ có bàng quan với chính sách cổ tức của công ty hay không? Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu vấn đề này:

- Thứ nhất, tác động của thuế

Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong một thế giới không có thuế thì các nhà đầu tư sẽ bàng quan với việc nhận cổ tức hay lãi vốn Nhưng trong thực tế, thu nhập từ cổ tức và thu nhập lãi vốn đều bị đánh thuế Thuế là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của cá nhân cũng như quyết định chi trả cổ tức của công ty Thông thường, mức thuế đánh trên thu nhập lãi vốn thấp hơn mức thuế đánh trên thu nhập từ cổ tức và thu nhập lãi vốn chỉ bị đánh thuế khi bán chứng khoán, nghĩa là khi thu nhập được thực hiện; do đó, người đầu tư có những cân nhắc trước các mức chi trả cổ tức của công ty trong mối quan hệ với mức thuế phải trả Khi đó chính sách cổ tức mà

Trang 21

công ty theo đuổi sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của nhà đầu tư là liệu có nên nắm giữ cổ phiếu của công ty đó hay không, do đó nhà đầu tư sẽ

có những phản ứng bằng cách giữ hoặc bán cổ phiếu, từ đó tác động đến giá trị cổ phiếu của công ty

Như vậy, mặc dù việc trả cổ tức xét trên khía cạnh thuế là không có lợi cho cổ đông nhưng phải có những lý do nào đó khiến công ty vẫn quyết định làm việc này Theo nghiên cứu của Black vf Scholes (1974), khi các công ty quyết định trả cổ tức thì điều đó chứng tỏ việc trả cổ tức mang lại một số lợi ích cho cổ đông Các lợi ích đó bao gồm: Việc trả cổ tức có lợi cho những cổ đông đang cần thu nhập và tránh cho họ khỏi việc phải bán cổ phiếu và chịu phí môi giới; Giúp các cổ đông đánh giá được rủi ro của công ty, nhất là khi công ty do trả cổ tức cao phải huy động vốn từ bên ngoài Điều này sẽ phần nào làm giảm sự bất đối xứng về thông tin giữa nhà quản lý công ty và các cổ đông

Với một mức thuế nhất định, chính sách cổ tức cũng tác động khác nhau đến từng nhóm các nhà đầu tư Các nhà kinh tế chia các nhà đầu tư làm

ba nhóm: Nhóm một là những người thích cổ tức; Nhóm hai là những người bàng quan với cổ tức; Nhóm ba là những người không thích cổ tức Các cổ phiếu trả cổ tức cao sẽ thu hút những người thích cổ tức, chẳng hạn như các nhà đầu tư có tổ chức ở Mỹ, vì họ chỉ phải chịu thuế đối với 30% cổ tức nhận được từ một công ty khác, hoặc thu hút những nhà đầu tư cá nhân có mức thuế thu nhập thấp Ngược lại, những cổ phiếu trả cổ tức thấp sẽ thu hút những người không thích cổ tức, ví dụ như nhà đầu tư cá nhân phải chịu mức thuế thu nhập cao Khi công ty chọn một chính sách cổ tức nhất định, công ty

sẽ thu hút một nhóm nhà đầu tư nhất định Khi thay đổi chính sách thì công ty

sẽ thu hút nhóm nhà đầu tư khác Giả sử 40% các nhà đầu tư thích cổ tức cao, nhưng chỉ có 20% các công ty trả mức cổ tức cao Khi đó, các công ty trả mức

Trang 22

cổ tức cao sẽ không đáp ứng được nhu cầu và giá cổ phiếu của họ sẽ tăng Kết quả là các công ty trả cổ tức thấp sẽ chuyển sang trả cổ tức cao, và đến khi số công ty trả cổ tức cao chiếm 40%, thì thị trường cổ tức cân bằng và lúc này chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu nữa

- Thứ hai, tác động của chi phí phát hành và sự pha loãng quyền sở hữu

Việc trả cổ tức cao cũng có nghĩa công ty phải huy động vốn bên ngoài khi cần vốn đầu tư Khi đó, công ty phải chịu chi phí phát hành và sự pha loãng quyền sở hữu (khi phát hành thêm cổ phiếu) Những chi phí này có thể khiến công ty không muốn trả cổ tức cao

Ngoài chi phí phát hành, các CTCP còn phải chịu một chi phí khác nữa

là chi phí uỷ thác Thông thường trong các CTCP, các nhà quản lý thường được HĐQT thuê để điều hành các hoạt động của CTCP Khi đó, các cổ đông

là những người chủ sở hữu công ty nhưng ban quản lý lại là người được uỷ nhiệm kiểm soát và chịu trách nhiệm về hoạt động hàng ngày của công ty Do

đó, để giám sát hoạt động của ban quản trị, công ty thường phải thuê các chuyên gia bên ngoài, khi đó công ty sẽ phải trả một chi phí gọi là phí uỷ thác Với những công ty có nhiều cổ đông lớn, đặc biệt là khi các cổ đông này tham gia quản lý thì công ty sẽ ít có nhu cầu thuê các chuyên gia giám sát, khi đó chi phí uỷ thác của công ty sẽ thấp, do vậy công ty có thể áp dụng chính sách trả cổ tức thấp hơn những công ty do nhiều cổ đông nắm giữ

Tóm lại, công ty có nên trả cổ tức hay không và trả với tỷ lệ như thế nào vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi Kết hợp các kinh nghiệm thực tế

và một số lý thuyết nêu ra, trước khi quyết định về chính sách cổ tức của mình, các công ty nên cân nhắc các yếu tố sau:

Trang 23

- Cơ hội đầu tư trong tương lai: Cân nhắc tới những cơ hội đầu tư trong dài hạn khi quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ giúp công ty có được sự chủ động

về tài chính và giảm các chi phí do việc phải huy động các nguồn vốn từ bên ngoài Một công ty đang có tốc độ tăng trưởng cao với nhiều dự án hấp dẫn nên trả cổ tức ở mức thấp hơn một công ty không có nhiều cơ hội đầu tư

- Các rủi ro kinh doanh: Vì việc cắt giảm cổ tức thường gây tác động tiêu cực lên giá cổ phiếu, các công ty phải đưa ra một mức cổ tức mà họ có thể duy trì trong tương lai Vì thế, một công ty với thu nhập không ổn định hoặc theo chu kỳ nên đặt một tỷ lệ trả cổ tức thấp để tránh những phiền phức khi phải cắt giảm cổ tức

- Yêu cầu của cổ đông của công ty: Thông thường cổ đông sẽ chọn công ty có chính sách cổ tức phù hợp với họ Nếu cổ đông là các cá nhân có mức thuế thu nhập cao và mong muốn được nhận lãi vốn thì họ sẽ không chọn những công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức cao và ngược lại

- Tính thanh khoản và khả năng huy động vốn của công ty: Khối lượng tài sản có tính thanh khoản cao và khả năng huy động vốn trên thị trường tài chính cũng là yếu tố quyết định mức chi trả cổ tức của công ty Một công ty

có tốc độ tăng trưởng nhanh với thu nhập cao có thể không muốn trả cổ tức cao nếu phần lớn vốn của công ty được tái đầu tư vào các tài sản cố định và các khoản tài sản lưu động có tính thanh khoản thấp như hàng tồn kho và tài khoản phải thu Khả năng huy động vốn trên thị trường càng thấp thì càng khiến công ty muốn giữ thu nhập để tái đầu tư thay vì trả cổ tức cho cổ đông

- Khả năng mất quyền kiểm soát công ty: Nếu các nhà quản lý công ty

e ngại về khả năng mất quyền kiểm soát công ty thì họ sẽ rất ngại phát hành thêm cổ phiếu mới Trong trường hợp này thì giữ lại thu nhập để phục vu nhu cầu đầu tư, và do đó duy trì mức cổ tức thấp, là chính sách hợp lý, đặc biệt là khi tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần của công ty đã ở mức tối đa cho phép

Trang 24

1.2.3 Các chính sách trả cổ tức phổ biến trên thế giới

1.2.3.1 Hai lý thuyết cơ bản về việc xác định mức chi trả cổ tức

Các công ty cổ phần tuỳ theo tình hình kinh doanh và tình hình tài chính mà có cách lựa chọn chính sách cổ tức khác nhau Tuy nhiên, các công

ty cổ phần đều dựa vào một trong hai lý thuyết trả cổ tức chủ yếu là lý thuyết chi trả cổ tức dựa trên phần lợi nhuận còn lại và lý thuyết ổn định cổ tức

 Lý thuyết chi trả cổ tức dựa trên phần lợi nhuận còn lại (Residual

Dividend Policy)

Theo lý thuyết này thì công ty chỉ tiến hành chi trả cổ tức sau khi đã đáp ứng các nhu cầu về đầu tư và duy trì được tỷ lệ cơ cấu vốn mục tiêu của công ty

Ví dụ:

- Nếu công ty cần 5 triệu USD cho các dự án đầu tư mới

- Cơ cấu vốn mục tiêu: Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu là 2/3

- Thu nhập ròng (NI) : 4 triệu

Như vậy, theo lý thuyết cổ tức sử dụng phần còn dư thì 5 triệu USD nhu cầu vốn đầu tư của công ty sẽ được tài trợ bằng 40% nợ (2 triệu USD), 60% vốn chủ sở hữu (3 triệu USD) Do đó, cổ tức được trả sẽ là: Thu nhập ròng (NI) – Tài trợ vốn chủ sở hữu = 4 triệu – 3 triệu = 1 triệu USD

Xét từ góc độ của công ty, cơ sở của lý thuyết cổ tức sử dụng phần còn

dư là nếu công ty có nhu cầu vốn đầu tư cho những dự án đầu tư triển vọng tuy nhiên công ty lại muốn giữ một cơ cấu vốn mục tiêu nhất định, khi đó công ty sẽ chi trả cổ tức sau khi đã đảm bảo cơ cấu vốn mục tiêu của mình

Có thể thấy, lý thuyết cổ tức sử dụng phần còn dư thích hợp với những công ty có nhiều cơ hội đầu tư tăng trưởng Đối với những công ty này, việc

Trang 25

tăng cường đầu tư cho phát triển tạo ra thế mạnh cho công ty là vấn đề được

ưu tiên hàng đầu Vì thế, trong quá trình phân chia lợi nhuận ròng, trước hết công ty dành phần lợi nhuận cần thiết để đáp ứng yêu cầu đầu tư Số lợi nhuận giữ lại được xem xét trên cơ sở nhu cầu tái đầu tư của công ty trong mối liên hệ với cơ cấu vốn mục tiêu của công ty

Nhược điểm của lý thuyết này là ở chỗ nếu các công ty áp dụng một cách cứng nhắc lý thuyết này sẽ dẫn đến sự bất ổn cao đối với tỷ lệ chi trả cổ tức Điều này sẽ ảnh hưởng lớn tới giá cổ phiếu của công ty cũng như hình ảnh của công ty trong con mắt các cổ đông Do vậy, các công ty đều cố gắng duy trì một tỷ lệ chi trả cổ tức ổn định để không làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty cũng như duy trì hình ảnh của mình trong mắt các nhà đầu

tư Do đó, bên cạnh việc xác định mức chi trả cổ tức theo lý thuyết chi trả cổ tức dựa trên phần lợi nhuận còn lại, công ty còn chi trả cổ tức dựa trên lý thuyết ổn định cổ tức

 Lý thuyết ổn định cổ tức (Stability Dividend Policy)

Mục tiêu của lý thuyết ổn định cổ tức là nhằm duy trì cổ tức ở một mức

độ nhất định và chỉ tăng cổ tức lên mức cao hơn khi công ty có thể đạt được

sự gia tăng lợi nhuận một cách vững chắc, đủ khả năng cho phép tăng cổ tức

và một khi đã tăng cổ tức thì công ty cố gắng duy trì cổ tức ở mức đã định cho đến khi công ty thấy rõ không thể hi vọng ngăn chặn được sự giảm sút lợi nhuận kéo dài trong tương lai

Như vậy sự ổn định cổ tức ở đây không có nghĩa là cố định Điều trước tiên cần phải thấy là cổ tức được trả không bị gián đoạn, tiếp đó, mức độ tăng (hoặc bất đắc dĩ phải giảm) của cổ tức thường không có nhiều sự đột biến như tăng giảm lợi nhuận

Trang 26

Những công ty theo đuổi các chính sách theo lý thuyết ổn định cổ tức thường vì những lợi ích chủ yếu sau:

Thứ nhất, thực hiện ổn định cổ tức có thể sẽ làm tăng giá cổ phiếu của

công ty trên thị trường, bởi vì các nhà đầu tư thường có khuynh hướng đánh giá cao hơn số cổ tức mà họ chắc chắn sẽ nhận được Nếu cổ tức tăng giảm thất thường, các nhà đầu tư xem như sẽ có nhiều rủi ro hơn Điều đó có nghĩa

là cùng một mức cổ tức như nhau nhưng các nhà đầu tư sẽ trả giá cao hơn cho các cổ phiếu của công ty nào có mức trả cổ tức ổn định hơn

Thứ hai, thực hiện ổn định cổ tức sẽ ổn định thành phần cổ đông của

công ty, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý công ty Ở nhiều nước, một phần lớn cổ đông sống bằng thu nhập nhận được dưới hình thức cổ tức, do vậy nếu cổ tức của công ty thất thường thì cổ đông sẽ dễ dàng chuyển sang mua loại chứng khoán có thu nhập cổ tức ổn định hơn

Thứ ba, ổn định cổ tức là yếu tố quan trọng giúp cho công ty có thể dễ

dàng được niêm yết chứng khoán trên sở giao dịch chứng khoán Thông thường, một trong những tiêu chuẩn để cổ phiếu của công ty được niêm yết trên sở giao dịch là việc chi trả cổ tức của công ty liên tục, không bị gián đoạn

Phần lớn các nhà quản lý đều thừa nhận rằng một chính sách trả cổ tức theo hướng ổn định sẽ đem lại lợi ích cao nhất cho công ty và các cổ đông Việc cắt giảm cổ tức là điều mà các nhà quản lý đều cực kỳ muốn tránh vì điều đó thường bị coi là dấu hiệu của những khó khăn tài chính của công ty

Vì vậy, trên thực tế nhiều công ty xác định một chính sách cổ tức hợp lý dựa trên 5 tiêu thức sau:

1.2.3.2 Một số chính sách trả cổ tức phổ biến trên thế giới

Trang 27

Các công ty có thể đưa ra các chính sách trả cổ tức khác nhau dựa theo tình hình cụ thể của từng công ty Tuy nhiên sau đây là ba dạng chính sách cổ tức mà phần lớn các công ty Mỹ và các công ty ở các thị trường phát triển áp dụng Đó là: (1) duy trì một mức cổ tức ổn định tính trên mỗi cổ phần; (2) trả

cổ tức định kỳ ở mức thấp kèm theo một khoản tăng thêm vào cuối năm; (3) theo đuổi một tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu

 Một mức cổ tức ổn định tính trên mỗi cổ phần

Theo chính sách này, các khoản cổ tức hiếm khi thay đổi, chỉ trừ trường hợp các khoản lợi nhuận tăng đến mức có thể trả cổ tức cao hơn hoặc sau khi các khoản lợi nhuận giảm xuống đến mức không thể tiếp tục duy trì việc trả

cổ tức như trong quá khứ được nữa Đây là dạng chính sách trả cổ tức vận dụng lý thuyết ổn định cổ tức

Nên lưu ý rằng các khoản cổ tức tính trên mỗi cổ phần thấp hơn nhiều

so với các mức thu nhập tính trên mỗi cổ phần Ngoài ra, các khoản cổ tức tăng từ từ trong khi các mức lợi nhuận dao động theo từng năm

Ưu điểm:

+ Chính sách này sẽ tối thiểu hóa những khả năng cắt giảm cổ tức, và

vì thế giảm thiểu ảnh hưởng của những khả năng này đến những dự đoán của các nhà đầu tư và giá trị của cổ phiếu

+ Ở nhiều nước, một yêu cầu thường được áp dụng đối với các chứng khoán niêm yết là phải có một quá trình lâu dài trả cổ tức liên tục Một lợi thế khác của chính sách trả cổ tức ổn định liên quan tới thực tế rằng nhiều nhà đầu tư mua cổ phiếu vì mục tiêu thu nhập trong hiện tại Một quá trình lâu dài trả cổ tức ổn định là một yếu tố rất hấp dẫn đối với nhóm các nhà đầu tư dạng này

Trang 28

 Các khoản cổ tức định kỳ ở mức thấp và các khoản bổ sung vào cuối

năm

Đây là một chính sách trả cổ tức vận dụng kết hợp cả hai lý thuyết cơ bản là ổn định cổ tức và thặng dư cổ tức Nhiều công ty có mức lợi nhuận dao động mạnh không thể theo đuổi một chính sách trả cổ tức ổn định như đã nêu trên Trong một vài năm các mức lợi nhuận của công ty có thể rất cao, trong khi trong những năm khác các mức lợi nhuận lại âm Đối với những công ty này bất kỳ cố gắng nào nhằm theo đuổi một chính sách cổ tức ổn định có thể

sẽ dẫn đến việc trả cổ tức ở mức cực kỳ thấp Tuy nhiên, trong trường hợp công ty trải qua một năm rất tốt đẹp, công ty có thể trả một mức cổ tức cao hơn rất nhiều Để đạt được một số lợi ích từ chính sách trả cổ tức định kỳ và vẫn có thể trả những khoản cổ tức cao hơn cho cổ đông khi lợi nhuận cho phép, nhiều công ty đã theo đuổi chính sách trả cổ tức theo quý ở mức thấp với một khoản bổ sung vào cuối năm Chính sách này rất phổ biến trong những công ty có mức thu nhập dao động nhiều hoặc thu nhập theo chu kỳ

 Theo đuổi tỷ lệ trả cổ tức mục tiêu

Các công ty luôn cố gắng duy trì một tỷ lệ phần trăm định sẵn giữa phần trả cổ tức và thu nhập mỗi cổ phiếu Tỷ lệ trả cổ tức định sẵn là tỷ lệ giữa khoản cổ tức so với thu nhập tính trên mỗi cổ phần

+ Dạng trả cổ tức này được áp dụng trong nhiều công ty Mỹ, tuy nhiên không được phổ biến bằng hai chính sách trả cổ tức đã nêu ở trên

+ Các công ty theo đuổi chính sách này sẽ tăng (hoặc giảm) các khoản

cổ tức chỉ sau khi các mức thu nhập tăng (hoặc giảm) Các khoản trả cổ tức thường tăng chỉ khi nào các công ty cảm thấy rằng có thể duy trì các mức trả

cổ tức cao hơn Ngược lại, các khoản cổ tức sẽ bị cắt giảm chỉ khi nào người

ta thấy rõ rằng không thể duy trì được mức trả cổ tức như cũ

Trang 29

1.3 Tác động của chính sách cổ tức đối với công ty cổ phần

Như chúng ta đã đề cập trong lý thuyết của M&M phần trước, nếu đặt trong bối cảnh thị trường vốn hoàn hảo (tức là không có các yếu tố thuế, chi phí phát hành, chi phí giao dịch chứng khoán và chi phí thông tin, ) thì M&M cho rằng mọi chính sách cổ tức đều không có tác động gì đến công ty

và tài sản của các cổ đông, nói cách khác tất cả các chính sách cổ tức đều như nhau, không có một chính sách cổ tức đặc biệt nào có thể làm tăng hoặc giảm giá trị tài sản của các cổ đông so với các chính sách khác

Tuy nhiên, chính các yếu tố thị trường không hoàn hảo là chiếc chìa khoá lý giải tác động của chính sách cổ tức đối với các cổ đông và bản thân công ty Chẳng hạn, với sự tồn tại của thuế thu nhập cá nhân, các nhà đầu tư nằm trong khung thuế cao sẽ có xu hướng lựa chọn các cổ phiếu trả cổ tức thấp, trong khi những nhà đầu tư nằm trong khung thuế thấp hoặc không phải chịu thuế sẽ có xu hướng lựa chọn các cổ phiếu của các công ty trả cổ tức cao Như vậy, với sự tồn tại của các yếu tố thị trường không hoàn hảo, chính sách

cổ tức sẽ có những tác động nhất định đến giá trị của công ty tuỳ thuộc mức

độ quan trọng của từng yếu tố, tuy nhiên các yếu tố này không tác động riêng

rẽ đến công ty mà nằm trong một mối quan hệ tương tác, vì vậy các nhà quản

lý sẽ phải cân nhắc những tác động qua lại giữa các yếu tố này, để từ đó đưa

ra một chính sách chi trả cổ tức hợp lý

1.3.1 Chính sách cổ tức và tài sản của các cổ đông

Đối với người sở hữu cổ phiếu thường của một công ty, nguồn thu nhập

từ cổ phiếu mà họ dự tính nhận được sẽ bao gồm hai nguồn: lãi vốn từ việc bán cổ phiếu và cổ tức công ty chi trả cho cổ đông nếu có Như vậy quyết định trả cổ tức hay chính sách cổ tức tác động trực tiếp đến nguồn thu nhập của các cổ đông

Trang 30

Sự ưu thích một nguồn thu nhập đều đặn trong hiện tại là lý do khiến cho nhiều cổ đông muốn được nhận cổ tức và cổ tức được trả càng cao càng tốt Một ví dụ điển hình cho những cá nhân mong muốn một mức thu nhập hiện tại là nhóm những người hưu trí, quỹ hưu bổng và công ty bảo hiểm, Tuy nhiên, xét đến yếu tố thuế đánh vào các khoản cổ tức, không phải bất cứ nhà đầu tư nào cũng mong muốn được nhận cổ tức cao Ở nhiều nước, thuế đánh vào cổ tức cũng tương đương với thuế thu nhập cá nhân và cao hơn thuế đánh vào các khoản thu nhập lãi vốn Bên cạnh đó, các mức lãi vốn sẽ được trì hoãn trả thuế cho đến khi nhà đầu tư bán cổ phiếu đi Chính vì vậy, chỉ có các nhà đầu tư nằm trong khung thuế thấp hoặc không phải chịu thế mới có xu hướng lựa chọn cổ phiếu của những công ty trả cổ tức cao Còn các nhà đầu

tư nằm trong khung thuế cao sẽ có xu hướng lựa chọn công ty trả cổ tức thấp, hoặc đòi hỏi một mức lợi nhuận trước thuế cao đối với những cổ phiếu mà họ lựa chọn

Một tác động quan trọng khác của chính sách cổ tức đối với các cổ đông là ảnh hưởng của các thông báo trả cổ tức của một công ty đối với giá cổ phiếu của công ty đó Như đã phân tích ở trên, các khoản cổ tức thường được coi là những dấu hiệu thông báo về tình hình kinh doanh và triển vọng phát triển của công ty, vì vậy những mức trả cổ tức thay đổi sẽ ảnh hưởng đến đánh giá của các nhà đầu tư đối với một công ty, từ đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty (tức là tới tài sản mà các cổ đông đang nắm giữ) Ta xem xét các ví dụ sau:

- Công ty Figgie International thông báo giảm cổ tức quý từ 12,5 cent xuống còn 6 cent/mỗi cổ phiếu vào ngày 17 tháng 11 năm 1993 Sau thông báo này ngay lập tức giá cổ phiếu của Figgie giảm 9%, từ 14,25 USD xuống còn 13 USD

Trang 31

- Công ty Procter&Gamble thông báo tăng mức trả cổ tức năm từ 1,8 USD lên 2,02 USD vào ngày 8 tháng 7 năm 1997, ngay sau đó cổ phiếu của công ty tăng từ 72,06 USD lên 74,69 USD

1.3.2 Chính sách cổ tức và hoạt động đầu tư của công ty

Quyết định trả cổ tức của một công ty có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với các quyết định về đầu tư Phần lợi nhuận chưa phân phối của công ty sau khi được phân bổ vào các quỹ theo quy định của pháp luật sẽ được chia làm hai phần: một phần giữ lại để tái đầu tư và một phần phân chia cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức Như vậy chính sách cổ tức mà công ty áp dụng sẽ

có tác động trực tiếp đến nguồn vốn mà công ty dùng cho hoạt động đầu tư

Do đó việc sẵn có các cơ hội đầu tư đem lại nhiều lợi nhuận sẽ khiến cho các nhà quản lý công ty có xu hướng muốn giữ lại lợi nhuận chứ không đem chia cho các cổ đông

Tác động của chính sách cổ tức đến hoạt động đầu tư còn được thể hiện qua việc huy động vốn đầu tư cho các dự án của công ty Nếu công ty lựa chọn việc trả cổ tức tiền mặt lấy từ nguồn lợi nhuận của công ty, khi đó công

ty sẽ phải huy động vốn từ các nguồn khác bằng cách phát hành cổ phiếu mới hoặc vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác Tuy nhiên, việc phát hành cổ phiếu mới đi kèm với nó là khoản phí phát hành còn nếu đi vay vốn thì công

ty sẽ phải chịu lãi vay, do đó phần lợi nhuận thu được sẽ bị giảm Trong khi

đó, nếu công ty giữ lại lợi nhuận để đầu tư và không trả cổ tức, họ sẽ không phải chịu những chi phí khi phát hành mới và khoản lãi suất đi vay Tuy nhiên, trên thực tế rất nhiều công ty vẫn tiến hành các dự án đầu tư có lãi đồng thời vẫn duy trì chính sách cổ tức của họ Tức là, nếu các dự án đầu tư

có lãi đòi hỏi phải huy động thêm vốn bên ngoài, bên cạnh nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty sau khi đã trả cổ tức, thì các công ty vẫn sử dụng tới nguồn vốn bên ngoài chứ không cắt giảm cổ tức

Trang 32

1.3.3 Chính sách cổ tức và mối quan hệ giữa các cổ đông và các chủ nợ của công ty

Các cổ đông và các chủ nợ cùng nhau chia sẻ giá trị của những luồng tiền mà công ty tạo ra Các chủ nợ được quyền nhận tiền lãi theo định kỳ và nhận lại vốn gốc họ cho vay khi đáo hạn Các cổ đông, với tư cách là những người được quyền đòi chi trả cuối cùng, sẽ được quyền hưởng tất cả những giá trị còn lại của công ty sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ nợ Khi giá trị của công ty lớn hơn giá trị của các khoản nợ phải thanh toán của công ty, thì các nhà quản lý với tư cách là người đại diện cho lợi ích của các cổ đông

sẽ trả hết nợ, do đó không có mâu thuẫn trong quan hệ giữa các cổ đông và các chủ nợ Tuy nhiên, trong trường hợp giá trị của công ty thấp hơn giá trị các nghĩa vụ nợ phải trả khi đến hạn, các chủ nợ chỉ có thể được thanh toán nếu như các cổ đông đồng ý trả thêm phần chênh lệch bị thiếu giữa giá trị của công ty và giá trị các khoản nợ Rõ ràng là các cổ đông có cách lựa chọn tốt hơn; họ thà nhường lại quyền sở hữu công ty cho các chủ nợ còn hơn là thanh toán các khoản nợ Điều này đồng nghĩa với việc công ty tuyên bố phá sản: thay vì thanh toán các khoản nợ có tổng giá trị cao hơn giá trị của công ty, các cổ đông sẽ tự động rút lui khỏi công ty và để công ty lại cho các chủ nợ Như vậy, các cổ đông sẽ là những người duy nhất được hưởng lợi từ tiềm năng tăng trưởng của công ty, còn các chủ nợ sẽ phải chịu những rủi ro thanh toán nợ trong trường hợp công ty gặp khó khăn và khi giá trị của công ty thấp hơn giá trị các nghĩa vụ nợ phải trả Sự chia sẻ giá trị của công ty một cách không cân xứng giữa các cổ đông và các chủ nợ dẫn tới những xung đột lợi ích giữa hai đối tượng này Các chủ nợ, những người luôn muốn được thanh toán nợ đầy đủ, sẽ có gắng tối thiểu hoá rủi ro giảm giá trị của công ty và điều này sẽ đảm bảo an toàn cho việc thanh toán các khoản nợ của họ Trong khi

đó, các cổ đông luôn muốn tối đa hoá tiềm năng tăng giá của công ty, ngay cả

Trang 33

khi một sự tăng trưởng như vậy có thể đồng nghĩa với việc tăng khả năng rủi

ro của công ty

Xét về khía cạnh chi trả cổ tức, các cổ đông luôn muốn nhận được cổ tức càng cao càng tốt, tuy nhiên các khoản cổ tức sẽ làm cho luồng tiền trả cho các chủ nợ trở nên rủi ro hơn, do vậy các chủ nợ thường giới hạn mức độ chi trả cổ tức của công ty thông qua các khế ước nợ Tuy nhiên, trên thực tế, theo một thống kê của Kalay (1982) về những hạn chế trả cổ tức trong cam kết nợ, các công ty không trả cổ tức ở mức tối đa được phép, các công ty thường duy trì một mức cổ tức trong khoảng co giãn chiếm 12% giá trị của công ty Một mức co giãn như vậy có thể cho thấy, các nhà quản lý muốn duy trì một sự linh hoạt trong chính sách cổ tức của công ty Việc trả cổ tức ở mức cao nhất

có thể đồng nghĩa với việc tăng nguy cơ công ty phải cắt giảm tỷ lệ chi trả cổ tức trong thời kỳ suy thoái kinh tế

1.3.4 Chính sách cổ tức và cơ cấu vốn của công ty

Trong hoạt động kinh doanh, mỗi loại vốn có những đặc điểm khác nhau Công ty sử dụng vốn vay phải trả lãi vay cố định, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, nhưng công ty phải chịu sức ép về việc hoàn trả lợi gốc

và lãi vay đúng hạn; làm tăng hệ số nợ dẫn đến gia tăng rủi ro về nợ Trong khi đó, việc sử dụng vốn chủ sở hữu của công ty không phải đáo hạn vốn gốc, giảm khả năng rủi ro về nợ

Các quyết định chi trả cổ tức sẽ có những tác động nhất định tới cơ cấu vốn của công ty Việc chi trả cổ tức dù cao hay thấp thì rủi ro của các khoản

nợ sẽ tăng lên do đòn bẩy vốn của công ty tăng lên Khi công ty có mức độ nợ thấp, các khoản nợ sẽ hầu như không có rủi ro vỡ nợ Như vậy, các quyết định

cổ tức sẽ ảnh hưởng đến giá trị nợ của công ty nào có đòn bẩy vốn thấp Mặt khác khi công ty nào có đòn bẩy vốn cao, tức là rủi ro nợ cao, thì mỗi một

Trang 34

đôla tính vào khoản trả cổ tức đều có thể làm tăng rủi ro nợ của công ty lên nhiều lần

Từ những nghiên cứu của Easterbrook về tác động của việc chi trả cổ tức tới chi phí hãng (chi phí phát sinh trong quá trình kiểm soát công ty –Agency cost), ông đã rút ra mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và các đặc tính về cơ cấu vốn của các công ty có như sau:

- Những công ty có những cổ đông lớn, đặc biệt khi các cổ đông này tham gia quản lý công ty, và công ty sẽ ít có nhu cầu phải thuê các chuyên gia bên ngoài kiểm soát hoạt động quản lý của mình; các cổ đông lớn này có động lực mạnh mẽ để kiểm soát các nhà quản lý Vì vậy, những công ty do số

ít cổ động lớn nắm giữ có thể áp dụng chính sách cổ tức trả thấp hơn so với những công ty do nhiều cổ đông nắm giữ và có những xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông

- Các công ty có mức độ nợ thấp sẽ bị ảnh hưởng không đáng kể nếu các nhà quản lý giảm đòn bẩy vốn xuống, vì vậy, khả năng một sự an toàn bổ sung cho các chủ nợ bằng cách giảm thấp hơn nữa đòn bẩy vốn hầu như là rất

ít Do đó các cổ đông của công ty có đòn bẩy vốn thấp sẽ có ít nhu cầu đòi trả

cổ tức nhằm duy trì đòn bẩy vốn, và giống như đối với các công ty tăng trưởng mạnh, các công ty có đòn bẩy vốn thấp sẽ có xu hướng trả cổ tức thấp

- Đối với các công ty có đòn bẩy vốn cao, sự thay đổi giá trị của công

ty sẽ đi kèm với rủi ro cao Những công ty như vậy sẽ có xu hướng trả cổ tức

ở mức cao Từ ba mối quan hệ trên, theo Easterbrook, giữa đòn bẩy vốn và tỷ

lệ chi trả cổ tức có mối quan hệ tỷ lệ thuận

1.4 Các căn cứ lựa chọn chính sách cổ tức

Trang 35

Chia cổ tức cho cổ đông là vấn đề gắn liền với sự tồn tại và hoạt động của CTCP Nó đem lại thu nhập mà các nhà đầu tư mong muốn và chờ đợi khi

họ quyết định đầu tư vào cổ phiếu, cho dù là cổ phiếu của công ty nào Tuy nhiên, chính sách cổ tức có thể gây ra những tác động nhất định đến bản thân công ty Mặt khác, mỗi công ty gia nhập vào thị trường đều có những đặc điểm riêng về nguồn vốn, lĩnh vực kinh doanh, khả năng sinh lời, chiến lược phát triển… nên mức độ ảnh hưởng của chính sách cổ tức đến các công ty cũng không giống nhau Mỗi công ty không thể bỏ qua việc phân tích những nét đặc thù của mình trước khi đi đến quyết định cuối cùng về một chính sách

cổ tức phù hợp Quá trình này được thực hiện trên cơ sở xem xét nhiều yếu tố khác nhau Có thể chia các yếu tố này thành hai nhóm, một nhóm mang tính chủ quan bao gồm những yếu tố thuộc về bản thân công ty; một mang tính khách quan là các yếu tố bên ngoài, cụ thể là từ thị trường, các luật lệ và quy định mang tính pháp lý

1.4.1 Các yếu tố chủ quan

1.4.1.1 Chu kỳ kinh doanh của ngành và các cơ hội đầu tư

Trong nền kinh tế, mỗi ngành đều xuất hiện, tồn tại, phát triển (và có thể

bị diệt vong) tuân theo chu kỳ kinh doanh và mỗi công ty tham gia kinh doanh trong ngành đều phải trải qua những giai đoạn nhất định của chu kỳ đó Khi ở vào những giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh doanh, mỗi công ty, thậm chí

là ngay trong cùng một ngành, lại có những điểm khác biệt về những yếu tố

cụ thể như mức độ tăng trưởng, tỷ lệ đầu tư, tỷ lệ sinh lời Điều này dẫn đến những quyết định lựa chọn chính sách cổ tức khác nhau giữa các công ty

Có thể chia chu kỳ phát triển của một ngành cũng như một công ty trong ngành ra làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn khởi đầu: Ngành kinh doanh vẫn ở trong trạng thái rất mới

mẻ, số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong ngành chưa nhiều, tỷ lệ đầu

Trang 36

tư và mức sinh lời trên vốn đầu tư của các công ty trong nganh rất cao Với những công ty này, việc gia nhập ngành mở ra cho công ty nhiều cơ hội song cũng đặt họ trước không ít các rủi ro Thông thường các công ty không trả cổ tức để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư Hơn nữa không phải công ty nào trong giai đoạn khởi đầu cũng có thể làm ăn có lãi để có thể chia được cổ tức cho cổ đông

- Giai đoạn tăng trưởng: Sau giai đoạn đầu còn khá xa lạ với thị trường,

bước vào giai đoạn này nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm của ngành tạo ra mức doanh thu, thu nhập cũng như tài sản của công ty ngày càng tăng nhanh Tuy nhiên, do nhu cầu vốn để đầu tư phát triển của công ty còn rất lớn nên thông thường công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu trong phần đầu của giai đoạn tăng trưởng, và ở cuối giai đoạn này có thể trả bằng tiền mặt nhưng ở mức thấp để qua đó thông báo với nhà đầu tư rằng công ty có khả năng sinh lời nhưng vẫn cần tiền để tài trợ cho các dự án đầu tư nội bộ

- Giai đoạn bùng nổ: Giai đoạn này, sản phẩm của ngành đã được chuẩn

hoá hơn và trở nên quen thuộc với người tiêu dùng Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành tăng lên làm cho sự cạnh tranh về thị phần ngày càng trở nên gay gắt, quyết liệt Doanh thu vẫn tiếp tục tăng nhưng với tỷ lệ giảm dần, do đó mức sinh lợi đầu tư cũng giảm Những công ty ở giai đoạn này thường lựa chọn giữa việc trả cổ tức bằng cổ phiếu, hoặc trả cổ tức bằng tiền ở mức thấp đến mức vừa phải

- Giai đoạn chín muồi và suy thoái: Trong giai đoạn này, tốc độ tăng

trưởng của công ty trong ngành chững lại và tăng trưởng doanh thu được duy trì ngang bằng với mức của toàn bộ nền kinh tế nói chung Chính sách cổ tức

mà các công ty lựa chọn trong giai đoạn này là trả cổ tức bằng tiền mặt ở mức cao

Trang 37

Tuy nhiên, với việc phân chia theo giai đoạn tăng trưởng của ngành, không phải các công ty đều áp dụng chính sách cổ tức như nhau mà chủ yếu phụ thuộc vào triển vọng tăng trưởng của từng công ty Thông thường, khi công ty có triển vọng tăng trưởng tốt trong tương lai, thể hiện trước hết qua các cơ hội đầu tư có khả năng sinh lời, công ty sẽ có nhu cầu lớn về vốn để đầu tư mua sắm trang thiết bị, công nghệ và mở rộng sản xuất Các công ty trong điều kiện như vậy có thể sẽ giữ lại một phần lợi nhuận để tái đầu tư và chỉ sử dụng một phần nào đó trong số lợi nhuận đạt được trong kỳ kinh doanh để chia cổ tức cho cổ đông Hành động này sẽ giúp công ty giảm bớt

sự phụ thuộc vào các nguồn vốn huy động từ bên ngoài như vốn vay ngân hàng hay vốn từ phát hành trái phiếu

1.4.1.2 Khả năng huy động vốn trên các thị trường thị trường tài chính

Không phải công ty nào khi có nhu cầu vốn cũng dễ dàng tiếp cận được các thị trường tài chính vì nó đòi hỏi công ty phải thoả mãn những yếu cầu nhất định đã được đặt ra, chẳng hạn về thời gian hoạt động, hiệu quả kinh doanh, bộ máy quản lý, mức độ rủi ro,v.v Có thể thấy, những công ty nhỏ ở giai đoạn đầu trong chu kỳ kinh doanh của ngành thường khó huy động vốn

từ các kênh bên ngoài đặc biệt là trên thị trường tài chính, mặc dù họ là những đối tượng có nhu cầu rất lớn về vốn kinh doanh Chính sự nhận định của bản thân công ty, hay nói chính xác hơn là của các nhà quản lý công ty về khả năng huy động vốn trên các thị trường tài chính trong tương lai cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định chính sách cổ tức của họ Một công ty quy mô lớn hoặc trung bình với một hồ sơ kinh doanh đẹp có thể sẵn sàng trả cổ tức cao trong hiện tại vì họ có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu mới trong tương lai khi cần thêm vốn Trái lại, các công ty nhỏ có thể phải trì hoãn các khoản chi trả cổ tức hiện tại nếu nghĩ rằng họ sẽ gặp khó khăn trong

Trang 38

việc tham gia thị trường tài chính trong tương lai và giữ lại phần lớn số lợi nhuận có được để tài trợ cho những nhu cầu đầu tư trước mắt

1.4.1.3 Tình hình luồng tiền của công ty

Trên lý thuyết, trong điều kiện công ty kinh doanh có lãi, sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ cần thiết như trả lãi tiền vay, nộp các khoản thuế trong đó

có cả thuế thu nhập công ty, phần lợi nhuận còn lại công ty có thể dùng để trả

cổ tức hoặc giữ lại để tái đầu tư Tuy nhiên, trên thực tế, kinh doanh có lãi không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với việc công ty có đủ nguồn tiền để trả

cổ tức cho cổ đông Điều này xảy ra do sự khác biệt giữa việc lãi, lỗ trong quá trình lập báo cáo kết quả kinh doanh với việc tính toán luồng tiền vào, ra để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ Lợi nhuận kinh doanh được xác định trên cơ

sở ghi nhận doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ trong khi luồng tiền ròng được tính toán dựa trên những khoản tiền thực thu, thực chi trong cùng khoảng thời gian đó Một công ty có thể thu được lợi nhuận đáng kể, thể hiện rất rõ trên báo cáo kết quả kinh doanh, song nguồn tiền lại không đủ dồi dào

để trả một tỷ lệ cổ tức cao cho các cổ đông Vì vậy, một yếu tố công ty cần xem xét khi quyết định trả cổ tức bằng tiền là sự cân đối về luồng tiền của công ty

1.4.1.4 Quyền kiểm soát công ty

Một công ty luôn duy trì chính sách trả cổ tức cao và sử dụng phần lớn lợi nhuận thu được vào mục đích này sẽ giữ lại ít lợi nhuận để phục vụ nhu cầu đầu tư trong tương lai Họ có khả năng gặp khó khăn về nguồn vốn khi những cơ hội đầu tư sinh lời mới xuất hiện Trong trường hợp đó, khi phát sinh nhu cầu về vốn, công ty có thể phải huy động thêm vốn từ những nguồn bên ngoài bằng nhiều cách, trong đó có con đường phát hành cổ phiếu mới Hành động này làm tăng vốn chủ sở hữu song cũng đồng thời làm tăng số cổ đông của công ty Như vậy, quyền lợi của các cổ đông hiện thời sẽ bị ảnh

Trang 39

hưởng do tác động của sự pha loãng quyền sở hữu Đặc biệt với những công

ty có quy mô nhỏ, việc phát hành thêm cổ phiếu mới có thể gây tác động lớn đến các cổ đông, thậm chí làm thay đổi quyền kiểm soát công ty Vì vậy, đây cũng là một yếu tố các công ty thường đưa ra cân nhắc trong quá trình đi đến một quyết định cụ thể về chính sách trả cổ tức

1.4.2 Các yếu tố khách quan

1.4.2.1 Chi phí phát hành chứng khoán trên thị trường tài chính

Khi một công ty muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu trên thị trường, công ty thường không thể tự tiến hành công việc đó một mình mà phải ký hợp đồng với một tổ chức chuyên nghiệp có chức năng của một ngân hàng đầu tư Tổ chức này sẽ thực hiện những công việc liên quan đến việc phát hành ra công chúng Sự tham gia của các tổ chức này sẽ gây ra một khoản phí cho tổ chức phát hành và tuỳ theo mức độ cũng như nội dung của việc đảm nhiệm mà chi phí đó có thể cao hay thấp Ngoài ra còn nhiều các khoản chi phí phụ thêm, khoản chênh lệch giữa giá trị nội tại của chứng khoán và giá bán công ty nhận được Những chi phí này sẽ không xuất hiện nếu công ty không phải phát hành thêm chứng khoán mới và đó cũng là một

lý do khiến cho nhiều công ty quyết định giữ lại thu nhập để tái đầu tư, tránh không phải phát hành chứng khoán trong tương lai khi công ty xuất hiện nhu cầu về vốn

1.4.2.2 Sự ưa thích cổ tức của nhà đầu tư

Đây là một yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với nhiều công ty Thực tế cho thấy có một bộ phận không nhỏ các nhà đầu tư cổ phiếu mong muốn nhận được thu nhập từ cổ tức, chẳng hạn như những người về hưu (hoặc sắp về hưu) có mức độ ngại rủi ro thấp, họ muốn có luồng thu nhập đều đặn, ổn định

để đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày khi không còn làm việc nữa Tuy nhiên,

Trang 40

những người trẻ tuổi có khả năng chấp nhận rủi ro cao hơn sẽ ưa thích thu nhập trong tương lai thông qua việc tăng giá cổ phiếu mà họ đang nắm giữ Thông thường, tâm lý của các nhà đầu tư chịu ảnh hưởng của một số yếu

tố mang tính chất cá nhân, như kế hoạch tài chính hay mức độ chấp nhận rủi

ro của bản thân các nhà đầu tư Chẳng hạn, những người về hưu có mức độ ưa thích rủi ro thấp hơn những người trẻ tuổi, họ cũng muốn nhận được luồng thu nhập đều đặn, ổn định để đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày khi không làm việc nữa Vì vậy, cổ phiếu mà họ ưa thích và lựa chọn thường là cổ phiếu của những công ty có lịch sử chi trả cổ tức tốt Trái lại, những người có ưa thích rủi ro có thể sẵn sàng hy sinh những khoản thu nhập trong hiện tại (cổ tức) để trông chờ những khoản thu nhập do việc tăng giá cổ phiếu trong tương lai

Tuy nhiên, trong thực tế, xét trên giác độ nhà đầu tư, có một số yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan khiến cho nhà đầu tư thường vẫn ưu thích cổ tức hơn Yếu tố thứ nhất, mang tính chủ quan, là trong một số trường hợp các nhà đầu tư phải bán cổ phiếu để tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của mình Bên cạnh

đó, một yếu tố khác mang tính khách quan chi phối khả năng tự tạo ra cổ tức của nhà đầu tư là chi phí giao dịch trên thị trường thứ cấp Do đó, nhà đầu tư thường mong muốn công ty trả cổ tức theo một chính sách có quản lý, ổn định, đáp ứng yêu cầu của họ

1.4.2.3 Thuế thu nhập cá nhân

Với một nhà đầu tư chứng khoán, khoản thu nhập mà họ thu về bao gồm hai phần: Khoản cổ tức mà họ nhận được và lãi vốn từ việc tăng giá cổ phiếu

mà họ đang nắm giữ Nếu thuế thu nhập quá cao thì khoản thu nhập cuối cùng

mà nhà đầu tư nhận được sẽ giảm mạnh, từ đó ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu

tư và có thể tác động xấu đến cầu cổ phiếu của nhà đầu tư

Ngày đăng: 11/08/2014, 23:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 2. Luật chứng khoán năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp Việt Nam" năm 2005 2. "Luật chứng khoán
3. PGS. TS. Lưu Thị Hương, PGS. TS. Vũ Duy Hào, 2006, Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Tài Chính
4. TS. Nguyễn Minh Kiều, 2006, Tài chính Công ty. Lý thuyết và thực hành quản lý ứng dụng cho các công ty Việt Nam, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính Công ty. Lý thuyết và thực hành quản lý ứng dụng cho các công ty Việt Nam
Nhà XB: NXB Thống kê
5. TS. Đào Lê Minh, 2004, Chính sách cổ tức và tác động của nó tới Công ty – Những gợi ý cho Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách cổ tức và tác động của nó tới Công ty – Những gợi ý cho Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
6. Nguyễn Hải Sản, 2003, Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Thống Kê
7. PGS, TS. Trần Ngọc Thơ, 2003, Tài chính Doanh nghiệp hiện đại, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính Doanh nghiệp hiện đại
Nhà XB: NXB Thống Kê
8. ThS. Nguyễn Kim Thu, 2006, Chính sách cổ tức hợp lý – một bài toán chƣa có lời giải Sách, tạp chí
Tiêu đề: ThS. Nguyễn Kim Thu, 2006
9. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Báo cáo hoạt động TTCK năm 2007, giải pháp phát triển TTCK năm 2008.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động TTCK năm 2007, giải pháp phát triển TTCK năm 2008
1. Richard A. Brealey, Stewart C. Myers, Alan J. Marcus, Fundamentals of Corporate Finance, third edition Sách, tạp chí
Tiêu đề: Richard A. Brealey, Stewart C. Myers, Alan J. Marcus
2. Ross Westerfield Jordan, Fundamentals of Corporate Finance, alternate edition Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ross Westerfield Jordan

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Quy mô niêm yết trên TTCK Việt Nam qua một số năm - Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ở việt nam
Bảng 2.1 Quy mô niêm yết trên TTCK Việt Nam qua một số năm (Trang 45)
Bảng 2.2: Tình hình chi trả cổ tức qua các năm của các công ty niêm yết  trên Trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh - Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ở việt nam
Bảng 2.2 Tình hình chi trả cổ tức qua các năm của các công ty niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (Trang 48)
Bảng 2.3: Tỷ lệ cổ tức và thay đổi giá cổ phiếu của một số công ty niêm yết  trên sàn HOSE sau khi chi trả cổ tức bằng cổ phiếu - Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ở việt nam
Bảng 2.3 Tỷ lệ cổ tức và thay đổi giá cổ phiếu của một số công ty niêm yết trên sàn HOSE sau khi chi trả cổ tức bằng cổ phiếu (Trang 53)
Bảng 2.4: Tỷ lệ cổ tức và thay đổi giá cổ phiếu của một số công ty niêm yết  trên HOSE sau khi chi trả cổ tức tiền mặt - Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ở việt nam
Bảng 2.4 Tỷ lệ cổ tức và thay đổi giá cổ phiếu của một số công ty niêm yết trên HOSE sau khi chi trả cổ tức tiền mặt (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w