động, quyền hạn và nhiệm vụ của Hội đồng Chính phủ, Hiến pháp mới đổi tênChính phủ thành Hội đồng Chính phủ, nhằm khẳng định nguyên tắc tổ chức vàhoạt động vừa theo chế độ tập thể Hội đồ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Chính phủ là cơ quan cấp cao nhất của hệ thống hành chính nhà nướcthực thi chức năng thống nhất quản lý hành chính nhà nước trên phạm vi toànquốc, trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Trong giai đoạn hiện nay, cùngvới cải cách kinh tế, việc đổi mới tổ chức và hoạt động Chính phủ giữ vai tròquan trọng trong tiến trình xây dựng đất nước Yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạtđộng của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nói chung, Chính phủ nói riêng
nhằm “xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”[21] được Đảng ta đề ra như
nỗ lực xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của chúng ta hiện nay Chính
vì vậy, trước yêu cầu đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế cần phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới tổ chức vàphương thức hoạt động của Chính phủ Để thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi cầnphải đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản và có tính hệ thống những vấn đề lý luận, đúcrút thực tiễn, qua đó đề ra những giải pháp toàn diện có tính khả thi nhằm đổimới tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ đáp ứng yêu cầu của đất
nước trong giai đoạn hiện nay Do vậy, em xin chọn đề tài: “Đổi mới tổ chức và
Trang 2hoạt động của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu quá trình hình thành vàphát triển của Chính phủ Việt Nam, đánh giá những thành tựu và những hạn chế,yếu kém của Chính phủ Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại để xác địnhcác phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạtđộng của Chính phủ trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, đề tài đã sử dụngphương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, cácquan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của Chính phủ ViêtNam, về đường lối đổi mới đất nước, cải cách kinh tế, đổi mới hệ thống chínhtrị Đặc biệt là các quan điểm cơ bản chủ đạo công cuộc tiếp tục cải cách vàhoàn thiện Chính phủ trong giai đoạn hiện nay Về phương pháp nghiên cứu cụthể, khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến như: so sánh, phântích, tổng hợp, thống kê, hệ thống, phương pháp lịch sử
5 Cơ cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận có kết cấu 3 chương:
Chương 1 Tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo quy định của phápluật Việt Nam
Trang 3Chương 2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Namtrong giai đoạn hiện nay
Chương 3 Phương hướng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động củaChính phủ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 4Chương 1:
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Chính phủ trong lịch sử lập hiến Việt Nam
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ nước Việt NamDân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập
Dưới ánh sáng của tư tưởng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vìdân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoạt động đối nội và đối ngoại của Chính phủnước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam,Chính phủ kháng chiến (11/1946) trở đi đã được hoàn thiện theo tiến trình pháttriển thắng lợi của cuộc kháng chiến Ủy ban dân tộc giải phóng và Chính phủlâm thời hoạt động trên cơ sở Nghị quyết của Quốc dân đại hội Tân Trào, Chínhphủ Liên hiệp kháng chiến hoạt động theo các quyết định của Quốc hội do cuộcTổng tuyển cử ngày 06 tháng 01 năm 1946 bầu ra Chính phủ kháng chiến hoạtđộng trên cơ sở các quyết định của kỳ họp Quốc hội thứ hai và Hiến pháp ngày
09 tháng 11 năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Bản Hiến phápnày mới chỉ quy định Chính phủ là Cơ quan hành chính cao nhất; về quyền hạn
của Chính phủ chưa được quy định rõ; về nhiệm vụ, Hiến pháp chỉ ghi: “Chính phủ thi hành các đạo luật và quyết nghị của nghị viện, có quyền trình dự án luật
và sắc luật”.
Sang giai đoạn mới, giai đoạn thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiếnlược: xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam,thống nhất Tổ quốc, với tinh thần dân chủ hóa, pháp chế hóa, kế hoạch hóa, coitrọng ứng dụng khoa học vào xây dựng cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành củaChính phủ, ngày 01 tháng 01 năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh công
bố Hiến pháp mới đã được Quốc hội biểu quyết tán thành tại cuộc họp ngày 31tháng 12 năm 1959 Bản Hiến pháp mới đã quy định rõ hơn về tổ chức, hoạt
Trang 5động, quyền hạn và nhiệm vụ của Hội đồng Chính phủ, Hiến pháp mới đổi tênChính phủ thành Hội đồng Chính phủ, nhằm khẳng định nguyên tắc tổ chức vàhoạt động vừa theo chế độ tập thể (Hội đồng), vừa phát huy vai trò của cá nhân
phụ trách (Thủ tướng); chức năng của Chính phủ được bổ sung thêm: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”;
nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ cũng được quy định rõ ràng và cụ thểhơn trong các lĩnh vực nội thương, ngoại thương, quản lý công tác văn hóa xãhội, công tác đối ngoại, công tác dân tộc và các công tác khác theo thẩm quyềnđược giao
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mùa xuân năm 1975
đã mở ra thời kỳ mới cho lịch sử Việt Nam – cả nước thống nhất đi lên xây dựngchủ nghĩa xã hội Đất nước sau khi thống nhất, Chính phủ đã tập trung vào việccải tiến kế hoạch hóa, cùng với những chuyển biến tích cực trong kinh tế, cácmặt văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học – kỹ thuật cũng đã được Đảng và Nhànước quan tâm hơn Để phù hợp với điều kiện và tình hình mới, bản Hiến phápmới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được ban hành năm
1980 Hiến pháp mới khẳng định quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Namđối với đất nước; đồng thời khẳng định các quyền dân tộc cơ bản thiêng liêng.Hiến pháp còn thể hiện đường lối xây dựng kinh tế; quyền và nghĩa vụ cơ bảncủa công dân; bộ máy nhà nước và pháp chế xã hội chủ nghĩa Hội đồng Chínhphủ được đổi tên thành Hội đồng Bộ trưởng
Nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đại hội lần thứ VI và lầnthứ VII của Đảng, phấn đấu hoàn thành một bước quan trọng trong các mục tiêu
về Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, cuối tháng 11đầu tháng 12 năm 1991, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứhai để bàn nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế - xã hội những năm 1992 –
1995 và năm 1992, trong đó Hội nghị có đề cập đến nội dung xác định nhữngquan điểm cơ bản chỉ đạo việc sửa đổi Hiến pháp năm 1980, cải cách một bước
bộ máy nhà nước và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Tháng 12
Trang 6năm 1991, Quốc hội khóa VIII đã tiến hành kỳ họp thứ 10, thực hiện Nghị quyết
kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII, sau một thời gian lấy ý kiến nhân dân cảnước đóng góp vào bản Hiến pháp sửa đổi, Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ 11 đãthảo luận và thông qua hiến pháp mới – Hiến pháp năm 1992 Hiến pháp 1992
xác định: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Việc trở lại chế định này thể hiện sự khẳng định quán
triệt nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa và trong chừng mực nhất định đãvận dụng hạt nhân hợp lý của thuyết “phân quyền”, thừa nhận tính độc lập tươngđối của lĩnh vực hành chính nhà nước Vì vậy, vị trí, vai trò của Chính phủ đã có
sự điều chỉnh quan trọng so với Hiến pháp 1980
Nhìn chung, Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và củaCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kể từ năm 1959 cho đến nay đang hiệnhành, đã chia hoạt động của Chính phủ ra thành hai hoạt động phân biệt giữachấp hành và hoạt động hành chính nhà nước cao nhất Những bản Hiến phápnày quy định: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hànhchính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quyđịnh này về mặt ngôn ngữ, xem ra thì rất rạch ròi, phân định hoạt động hànhchính những trên thực tế quy định này lại làm cho các nhà chính trị, cũng nhưcác nhà điều hành rất khó hiểu Họ không biết lúc nào thì Chính phủ trong vaitrò là người chấp hành của Quốc hội và khi nào thì Chính phủ lại trong vai trò là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất
Vì những lẽ đó, mỗi lần thay đổi hay sửa đổi Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc xác định lại vị trí, vai trò của Chính phủ hành pháp lại nổi lên một cách gay gắt Cuối cùng, cả 4 bản Hiến pháp của Nhànước ta và kể cả lần sửa đổi mới đây năm 2001, có tới 5 định nghĩa khác nhau
-về Chính phủ - hành pháp, mỗi lần thay đổi Hiến pháp lại có sự thay đổi -về mặtngôn từ
Nhưng suy cho cùng thì định nghĩa của Hiến pháp năm 1946 – Hiến phápđầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thông qua dưới sự chỉ
Trang 7đạo một cách sát sao của Chủ tịch Hồ Chí Minh là có phần đúng và cô đọng hơn
cả: “Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa” So với các bản Hiến pháp được ban hành sau này, có thể thấy
rằng Hiến pháp năm 1946 có nhiều biểu hiện của sự phân quyền hơn cả BảnHiến pháp này không quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan lậppháp Các bản Hiến pháp sau này đều quy định Chính phủ - hành pháp là cơquan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất – Quốc hội Với hainguyên tắc: tập quyền trong tổ chức, hoạt động của nhà nước Việt Nam và sựlãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng cộng sản, sự chịu trách nhiệm của Chínhphủ rất khó có điều kiện trong việc thực hiện, nếu không có một sự kiên quyết
và tính dám chịu trách nhiệm của những người nắm quyền lực hành pháp
Kể từ khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiệncông cuộc đổi mới, hoạt động và tổ chức của Chính phủ đã quán triệt sâu sắc và
có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước thật sự của dân, dodân, vì dân Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước đã soi sáng cho quátrình xây dựng và tổ chức hoạt động của Chính phủ trong suốt các giai đoạn biếnđổi của đất nước Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hànhchính nhà nước đã từng bước được điều chỉnh theo yêu cầu của quá trình chuyển
từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung, hành chính và bao cấp sang quản lýnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước xác định rõ chứcnăng quản lý của Nhà nước, đổi mới tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, từngbước xây dựng nền hành chính dân chủ và hiện đại theo hướng xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
1.2 Vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ theo pháp luật hiện hành
Trang 8Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” - (Điều 109 Hiến pháp 1992) Tức là
Hiến pháp 1992 xác định rõ hai tính chất: Tính chất chấp hành của Chính phủđối với cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và tính chất cơ quan hành chínhNhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội: Chính phủ do Quốc hộithành lập ra tại kỳ họp thứ nhất; Thủ tướng Chính phủ là đại biểu Quốc hội, cácthành viên khác không nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội; Nhiệm kỳ của Chínhphủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội, trong nhiệm kỳ Chính phủ triển khai các vănbản do Quốc hội ban hành; Chính phủ phải tôn trọng và chấp hành tất cả cácluật, nghị quyết của Quốc hội và tất cả những văn bản pháp luật do Chính phủban hành phải phù hợp với văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành; Chính phủchịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; Thành viên Chính phủ bịQuốc hội bãi nhiệm, miễn nhiệm (Thủ tướng), phê chuẩn việc miễn nhiệm vàcách chức (Phó thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác)
Là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất có nghĩa là Chính phủ đứngđầu hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước, thực hiện hoạt động thực thipháp luật, quản lý điều hành đất nước Quy định này một lần nữa cho chúng tathấy về cơ bản Hiến pháp 1992 quy định giống mô hình Chính phủ được quyđịnh tại Hiến pháp 1959 Tuân theo nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thốngnhất, bảo đảm sự phân công phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp Quy định của Hiến pháp 1992 vừa đảm bảo sự chủ động cho Chính phủtrong hoạt động quản lý hành chính, vừa khẳng định nguyên tắc tập trung dânchủ trong tổ chức bộ máy nhà nước Quy định này đồng thời khẳng định mốiquan hệ của Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất
Với vị trí như trên, Chính phủ có chức năng: “Thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh
và đối ngoại của nhà nước, đảm bảo hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; đảm bảo việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
Trang 9quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân” (Điều 109 hiến pháp 1992).
1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ
Theo quy định của Hiến pháp 1992, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001,nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ đã được quy định theo hướng cụ thể, chitiết hơn so với các Hiến pháp trước, phân chia theo từng lĩnh vực và có sự phânđịnh rõ hơn giữa thẩm quyền của tập thể Chính phủ (Điều 112 Hiến pháp 1992)với thẩm quyền của cá nhân Thủ tướng (Điều 114 Hiến pháp 1992) Cụ thể Luật
Tổ chức Chính phủ năm 2001 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trênmọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội như: Nhiệm vụ, quyền hạn của Chínhphủ trong lĩnh vực kinh tế; lĩnh vực khoa học công nghệ và môi trường; lĩnh vựcvăn hóa, giáo dục, thông tin thể thao và du lịch; Lĩnh vực y tế xã hội; lĩnh vựcdân tộc và tôn giáo; Lĩnh vực quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội; Lĩnhvực đối ngoại; Lĩnh vực tổ chức hành chính nhà nước; chỉ đạo, hướng dẫn hoạtđộng của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/11/2001 sửa đổi bổ sung một sốđiều của Hiến pháp 1992, một trong số các quy định được sửa đổi là quy địnhliên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ Tuy nhiên, chỉ có nhữngnhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đối ngoại là có sửa đổi, bổ sung Nhữngnhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ được cụ thể hóa trong Luật tổ chức Chínhphủ 2001 lại có nhiều sự thay đổi liên quan đến tất cả các lĩnh vực hoạt động củaChính phủ để phù hợp với những yêu cầu quản lý trong quá trình đất nước taxây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nhànước pháp quyền Có thể thấy điều đó qua những quy định sửa đổi, bổ sung ởmột số lĩnh vực như:
Trong lĩnh vực kinh tế: Chính phủ được mở rộng thẩm quyền trong việc
quyết định chính sách cụ thể để phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế,thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa, quyết định chính sách cụ thể khuyến khíchdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh tế đối
Trang 10ngoại; khuyến khích đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi để người ViệtNam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.
Trong lĩnh vực đối ngoại: Để thực hiện thành công hội nhập kinh tế quốc
tế, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế của Đảng, Chính phủ có
thêm nhiệm vụ, quyền hạn mới như: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng
có lợi” “Quyết định chính sách cụ thể nhằm khuyến khích người Việt Nam định
cư ở nước ngoài đoàn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình quê hương, thực hiện các biện pháp bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài” (Điều 15 Luật Tổ chức Chính phủ 2001).
Trong lĩnh vực tổ chức hệ thống hành chính nhà nước, Luật Tổ chứcChính phủ năm 2001 đã bổ sung cho Chính phủ quyền hạn quyết định và chỉ đạothực hiện phân công, phân cấp quản lý ngành và lĩnh vực trong hệ thống hànhchính nhà nước; chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính nhà nước, xây dựng nềnhành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động
có hiệu lực, hiệu quả; quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủyban nhân dân và hướng dẫn về tổ chức một số cơ quan chuyên môn để Hội đồngnhân dân cấp Tỉnh quyết định phù hợp với đặc điểm của địa phương; quy địnhmức biên chế hành chính, sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân
Hoạt động của Chính phủ theo Hiến pháp 1992 theo xu hướng đề caotrách nhiệm cá nhân Vì vậy, việc Hiến pháp 1992 lần đầu tiên quy định nhữngnhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ trong một điều luật riêng (Điều114) được coi là một trong những nội dung mang ý nghĩa quan trọng nhất đốivới thiết chế Chính phủ Như vậy, bên cạnh đổi mới thiết chế Chính phủ còn cóđổi mới về vai trò của cá nhân Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên, cần được hiểukhông phải Hiến pháp giao cho Thủ tướng Chính phủ quyền hành pháp mà làngười đóng vai trò lãnh đạo công tác của Chính phủ và các thành viên khác củaChính phủ Quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ là quyền lãnh đạo hoạt động
Trang 11của cả hệ thống hành chính nhà nước đảm bảo sự tập trung thống nhất, thôngsuốt từ trung ương đến cơ sở, còn quyền hành pháp vẫn thuộc về Chính phủ.
1.3 Tổ chức Chính phủ theo pháp luật hiện hành
Khắc phục những hạn chế trong quy định về Chính phủ tại Hiến pháp
1946, Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 kế thừa quy định củaHiến pháp 1959 xây dựng bộ máy nhà nước theo quan điểm quyền lực Nhà nướctập trung thống nhất, nhưng cần phải có sự phân công, phân định chức năng trên
cơ sở có sự phối hợp giữa cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Hiến pháp
1992 quy định: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Với
quy định như vậy, Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của Nhànước chứ không phải của Quốc hội, có thể hoạt động một cách độc lập tương đốitrong lĩnh vực hành chính nhà nước
Bên cạnh đó, việc đổi tên Hội đồng Bộ trưởng (Hiến pháp 1980) thànhChính phủ (Hiến pháp 1992) không chỉ có ý nghĩa là việc thay đổi tên gọi màcòn phản ánh một xu hướng thay đổi chế độ trách nhiệm, chuyển dần từ chế độtrách nhiệm tập thể chung sang đề cao trách nhiệm của cá nhân, tăng cườngquyền hạn của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quanngang bộ, đồng thời có thể kết hợp trách nhiệm tập thể
Chính phủ do Quốc hội thành lập ra tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóaQuốc hội Theo quy định tại Điều 110 của Hiến pháp 1992, Điều 3 Luật Tổ chức
Chính phủ năm 2001 thì “Chính phủ gồm Thủ tướng, các Phó thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ” Trong đó, ngoài Thủ tướng, các
thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết là đại biểu Quốc hội Đây cũng
là điểm rất mới so với Hiến pháp 1980 (quy định Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
là đại biểu Quốc hội, các thành viên khác chủ yếu chọn trong số đại biểu Quốchội) Cách thức thành lập Chính phủ theo Hiến pháp 1992 hoàn toàn khác so vớiHiến pháp 1980 Theo Hiến pháp 1992 chỉ có Thủ tướng Chính phủ là do Quốchội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn các Phóthủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ do Quốc hội phê
Trang 12chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo đề nghị của Thủ tướngChính phủ Việc Hiến pháp trao cho Thủ tướng Chính phủ quyền được đề nghị
bổ nhiệm các thành viên khác của Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn, đồngthời còn có quyền đề nghị Quốc hội miễn nhiệm, cách chức các thành viên củaChính phủ làm nổi bật vai trò của Thủ tướng Chính phủ Có thể nói rằng đây làmột phương pháp hữu hiệu góp phần xây dựng một cơ quan hành chính nhànước mạnh mẽ
Thành viên Chính phủ không đồng thời là thành viên Ủy ban thường vụQuốc hội Đây là quy định kế thừa các Hiến pháp trước, đảm bảo tính kháchquan trong hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội với Chính phủ
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 1992 và Luật Tổ chức Chính phủ năm
2001, Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007 - 2011) bao gồm các thànhviên: Thủ tướng, 5 Phó thủ tướng, 22 Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ Cơ cấu Chính phủ bao gồm 22 Bộ, trong đó có 18 Bộ và 04 cơ quan ngang
bộ
Qua nhiệm kỳ 4 năm hoạt động (2007-2011), Chính phủ nhiệm kỳ Quốchội khóa XII nhận nhiệm vụ trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, được kế thừanhững thành quả to lớn và kinh nghiệm quý báu của hơn 20 năm đổi mới, đặcbiệt là những kết quả từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI Trong nhiệm kỳ này, bộmáy của Chính phủ đã được sắp xếp tinh gọn, trên cơ sở sáp nhập một số Bộ -ngành theo mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm thực hiện đầy đủchức năng quản lý Nhà nước Cơ chế và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan củaChính phủ đã có bước chuyển biến tích cực, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhànước của các Bộ và của Chính phủ được tăng cường Đã khắc phục được tìnhtrạng cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước, nhưng lại không có quyền banhành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý Nhà nước Cùng với việc sắpxếp lại cơ cấu tổ chức, Chính phủ khóa 12 đã chú trọng thể chế hóa trong phâncông trách nhiệm và phân cấp quản lý theo nguyên tắc quản lý thống nhất, đềcao trách nhiệm người đứng đầu và đã khắc phục nhiều vấn đề chồng chéo,trùng giẫm về chức năng quản lý Nhà nước giữa các Bộ - ngành
Trang 13Từ những thành quả cũng như những hạn chế, bất cập của Chính phủkhóa 12, cơ cấu tổ chức Chính phủ khóa 13 (nhiệm kỳ 2011- 2016) trên cơ sởtrọng tâm là tổ chức thông suốt hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm nguyên tắc tập trungdân chủ để thực hiện có hiệu quả việc phát triển kinh tế - xã hội mà Nghị quyếtĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 đã đề ra Theo đó, thành viên của Chính phủtheo nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII bao gồm Thủ tướng, 4 Phó thủ tướng, 18 Bộtrưởng và 4 Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Cơ cấu tổ chức của Chính phủ khóa
13 gồm:
18 Bộ (Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Nội vụ, Tư pháp, kế hoạch –Đầu tư, Tài chính, Công thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giaothông vận tải, Xây dựng, Tài nguyên – Môi trường, Thông tin – Truyền thông,Lao động – Thương binh – Xã hội, Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Khoa học –Công nghệ, Giáo dục – Đào tạo, Y tế);
4 cơ quan ngang bộ: Ủy ban dân tộc, Ngân hàng Nhà nước, Văn phòngChính phủ, Thanh tra Chính phủ
Ngoài ra còn có 8 cơ quan thuộc Chính phủ nhưng không làm chức năngquản lý nhà nước
Có thể thấy, so với Chính phủ khóa 12, Chính phủ khóa 13 đã giảm 1 Phóthủ tướng và giữ nguyên cơ cấu tổ chức 22 Bộ, ngành như Chính phủ khóa 12
1.4 Hình thức hoạt động của Chính phủ theo pháp luật hiện hành
Để thực hiện chức năng là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất, Điều 6
Luật Tổ chức Chính phủ 2001 quy định: “Hiệu quả hoạt động của Chính phủ được đảm bảo bằng hiệu quả hoạt động của tập thể Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ và từng thành viên của Chính phủ” Khẳng định hiệu quả hoạt động
thực tế của Chính phủ thể hiện qua 3 hình thức: Thông qua phiên họp của Chínhphủ, thông qua hoạt động của Thủ tướng Chính phủ và thông qua hoạt động củacác thành viên Chính phủ
1.4.1 Thông qua phiên họp Chính phủ
Các phiên họp của Chính phủ là hình thức hoạt động quan trọng củaChính phủ, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ hoạt động của Chính phủ
Trang 14Phiên họp là nơi tập trung trí tuệ của cả tập thể Chính phủ, những ngườitrực tiếp nằm quyền quản lý hành chính trên phạm vi một ngành hoặc một lĩnhvực nhất định đồng thời có sự đóng góp ý kiến của các cơ quan nhà nước, các tổchức đoàn thể khi tham dự phiên họp
Theo quy định hiện hành, Chính phủ họp thường kì mỗi tháng một lần,ngoài ra có thể họp bất thường theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặctheo yêu cầu của ít nhất 1/3 tổng số thành viên Chính phủ
Tham dự phiên họp gồm: thành viên Chính phủ, nếu vắng mặt trong phiênhọp thì phải được sự đồng ý của Thủ tướng, Thủ tướng có thể cho phép thànhviên vắng mặt được cử người phó của mình tham dự phiên họp Chính phủ.Ngoài các thành viên Chính phủ, Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp củaChính phủ khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hôi,Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và người đứng đầu các tổ chức đoànthể khác có thể được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn về vấn
đề có liên quan Khi cần thiết Chính phủ có thể mời Thủ trưởng cơ quan thuộcChính phủ Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ươngtham dự phiên họp của Chính phủ Các đại biểu được mời dự họp không phải làthành viên Chính phủ có quyền phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểuquyết Thủ tướng Chính phủ chủ tọa các phiên họp của Chính phủ, khi được Thủtướng ủy quyền, một Phó Thủ tướng có thể chủ tọa phiên họp
Thành phần tham dự như trên giúp Chính phủ vừa tập trung được trí tuệtập thể các thành viên Chính phủ, ý kiến của các đại biểu được mời từ đó gópphần làm cho quyết định của phiên họp sát với thực tế, toàn diện hơn, đồng thờicũng đề cao trách nhiệm của thành viên Chính phủ trong quá trình biểu quyếtcác vấn đề quan trọng của Chính phủ
Tại phiên họp Chính phủ thảo luận và biểu quyết theo đa số Danh mụccác vấn đề đưa ra thảo luận trong phiên họp gồm: Chương trình hoạt động hàngnăm của Chính phủ; Các dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội và Ủy ban thường
vụ Quốc hội; Dự án kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, năm năm, hàng
Trang 15năm, các công trình quan trọng, dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ Ngânsách Nhà nước, quyết toán Ngân sách Nhà nước hàng năm trình Quốc hội; Cácchính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính, tiền tệ, các vấn đề quantrọng về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; Các đề án trình Quốc hội về việc thànhlập, sáp nhập, giải thể các Bộ, cơ quan ngang bộ, việc thành lập mới, nhập, chia,điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quyếtđịnh việc thành lập, sáp nhập, giải thể các cơ quan thuộc Chính phủ; Các báocáo của Chính phủ trước khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội vàChủ tịch nước
Khẳng định tính tập thể trong quyết định của phiên họp, pháp luật hiệnhành quy định: Nghị quyết phiên họp của Chính phủ phải được quá nửa tổng sốthành viên Chính phủ biểu quyết tán thành, trường hợp biểu quyết ngang nhauthực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng đã biểu quyết Quy định này thể hiện sự kếthợp chặt chẽ chế độ trách nhiệm cá nhân và tập thể, đề cao vai trò tập thể củaChính phủ trong việc quyết định những vấn đề quan trọng, và đặc biệt đề cao vaitrò của Thủ tướng Chính phủ Phiên họp Chính phủ là hình thức hoạt động tậpthể duy nhất của Chính phủ, trên cơ sở bàn bạc dân chủ công khai, nghị quyếtcủa phiên họp vừa thể hiện nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ đồng thời đểcao vai trò của cá nhân Thủ tướng Đây được xem là điểm mới phù hợp với quanniệm xây dựng bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1992
Để đảm bảo hiệu quả cho phiên họp của Chính phủ, ngoài việc hoàn thiệncác quy định pháp luật, sự cần thiết phải mở rộng thành phần phiên họp, làm tốtcông tác chuẩn bị (đặc biệt là chuẩn bị dự án và các nội dung đưa ra phiên họp),phiên họp cần tập trung giải quyết tốt những nhiệm vụ quan trọng của Chínhphủ
1.4.2 Thông qua hoạt động của Thủ tướng Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo, điều hành và chịu trách nhiệm về mọihoạt động của Chính phủ Khắc phục những hạn chế trong quy định quyền hạncủa người đứng đầu Chính phủ mà Hiến pháp 1980 đã quy định, Hiến pháp 1992
và Luật Tổ chức Chính phủ 2001 có xu hướng đề cao vai trò, trách nhiệm của
Trang 16Thủ tướng Với vai trò là người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cónhững quyền hạn: triệu tập, chủ tọa phiên họp Chính phủ; Quy định chế độ làmviệc của Thủ tướng với các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộcChính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;Lãnh đạo công tác của Chính phủ, thành viên của Chính phủ, Thủ trưởng cơquan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp; Đề nghị Quốc hộithành lập hoặc bãi bỏ các Bộ, cơ quan ngang bộ, trình Quốc hội phê chuẩn đềnghị việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức đối với Phó Thủ tướng,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; trong thời gian Quốc hội không họpthì Thủ tướng Chính phủ có quyền trình Chủ tịch nước quyết định tạm đình chỉcông tác của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Chỉ đạoxây dựng các dự án trình Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội, các văn bảnquy phạm thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng; Thành lập hội đồng
và ủy ban thường xuyên hoặc lâm thời khi cần thiết; Quyết định các biện phápcải tiến lề lối làm việc, hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước
Trong lĩnh vực đảm bảo pháp chế, Thủ tướng Chính phủ có các quyền:Đình chủ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộtrưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân
và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trục thuộc Trung ương trái với Hiếnpháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên; Đình chỉ việc thihành những Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên,đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ
Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thủ tướng Chính phủ căn cứvào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy banthường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị quyết, nghị địnhcủa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thựchiện văn bản đó Văn bản của Thủ tướng Chính phủ ban hành có hiệu lực thihành trong phạm vi cả nước và đồng thời Thủ tướng hướng dẫn, kiểm tra việcthi hành các văn bản đó đối với các ngành, địa phương và cơ sở
Trang 17Hiến pháp 1992 có xu hướng tăng cường chế độ thủ trưởng, việc quy địnhcho người đứng đầu Chính phủ có những nhiệm vụ, quyền hạn như trên mới cóthể đảm bảo được quyền lãnh đạo của mình là hoàn toàn hợp lý
Các quy định trên cho thấy sự thay đổi trong quyền hạn của Thủ tướngChính phủ, đặc biệt là thẩm quyền ban hành văn bản đã có sự cải thiện đáng kể.Hình thức văn bản được quyền ban hành, có thể phân biệt giữa văn bản củaChính phủ với văn bản của Thủ tướng Chính phủ ban hành, tránh được sự chồngchéo về thẩm quyền Hơn thế, thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ đã quyđịnh rõ ràng và cụ thể tạo điều kiện thuận lợi cho Thủ tướng Chính phủ hoànthành tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình
1.4.3 Thông qua hoạt động của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Bên cạnh hoạt động của phiên họp Chính phủ, hoạt động của Thủ tướngcũng như Phó Thủ tướng Chính phủ, hoạt động của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơquan ngang bộ đóng vai trò quan trọng, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công táctrong phạm vi cả nước
Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ lãnhđạo công tác của Bộ và cơ quan ngang bộ, phụ trách một số công tác của Chínhphủ, Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng và Quốc hội về hoạt độngquản lý nhà nước trong phạm ngành, lĩnh vực được phân công
Để thực hiện tốt chức năng của mình, Bộ trưởng hoạt động với hai tưcách:
Vừa là thành viên Chính phủ, tham gia giải quyết những vấn đề thuộcthẩm quyền của Chính phủ tại phiên họp Tham gia các phiên họp Chính phủ,các Bộ trưởng có quyền thảo luận và biểu quyết các vấn đề quan trọng củaChính phủ; chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác theo sự phâncông của Chính phủ; Trình bày trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội báocáo của Bộ theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; Trả lời chấtvấn của đại biểu Quốc hội; Thực hiện những nhiệm vụ khác do Thủ tướngChính phủ ủy nhiệm
Trang 18Vừa là người đứng đầu Bộ, lãnh đạo, quản lý điều hành Bộ theo chế độthủ trưởng Với tư cách này, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ lãnh đạo,quyết định và chịu trách nhiệm quản lý về ngành, lĩnh vực mình phụ trách như:Trình Chính phủ kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm của ngành, lĩnh vực; tổchức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch trong phạm vi cả nước; quyết định các tiêuchuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kĩ thuật của ngành thuộcthầm quyền; Đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương,… (Điều 23 Luật Tổ chức Chính phủnăm 2001)
Trong phạm vi quản lý của mình, Bộ trưởng có quyền ban hành các loạivăn bản pháp luật gồm quyết định, chỉ thị, thông tư, Bộ trưởng căn cứ vào cácHiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy banthường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, các văn bản của Chínhphủ, Thủ tướng Chính phủ Từ đó, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành cácvăn bản nêu trên và kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó
Với việc bãi bỏ quy định về thẩm quyền được ban hành các văn bản phápquy của Thủ trường các cơ quan thuộc Chính phủ, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổsung năm 2001 đã nhằm mục đích tăng cường sự giám sát của Quốc hội với hoạtđộng lập quy của Chính phủ, đồng thời để cao tính chịu trách nhiệm của Chínhphủ trong hoạt động này của Chính phủ trước Quốc hội Chỉ cơ quan do Quốchội thành lập mới được quyền ban hành văn bản pháp quy
Khẳng định mối quan hệ giữa Chính phủ với Quốc hội Điều 109 Hiến
pháp 1992 quy định: “Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước” Quy định
mới này cho thấy vai trò của Chính phủ Chính phủ do Quốc hội lập ra với tínhchất là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhấtthì chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội Quy định Chính phủ, Thủ tướng Chínhphủ báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước là đểđảm bảo sự giám sát của các cơ quan này - với tính chất là những cơ quan thamgia thực hiện quyền giám sát với bộ máy nhà nước
Trang 19Bên cạnh đó, Điều 117 Hiến pháp 1992 cũng quy định rõ: “Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách” Như vậy, các thành
viên Chính phủ (Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ) vừa chịu trách nhiệm
về ngành, lĩnh vực mình phụ trách (giống như quy định tại các Hiến pháp trước)vừa phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ Quy định như vậy củaHiến pháp 1992 là nhằm mục đích tăng cường vai trò lãnh đạo của Thủ tướngChính phủ đối với các thành viên khác trong Chính phủ
Hiến pháp 1992 đề cao trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ,các Bộ trưởng và các thành viên khác trước Quốc hội, song chú trọng về tráchnhiệm cá nhân của từng chức danh đó chứ không phải trách nhiệm tập thể chungchung như trước đây
Trang 20Xuất phát từ nội dung, phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa, việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Chínhphủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất ngày càng được quantâm Chính phủ đã đổi mới phương thức hoạt động, phát huy sức mạnh tổng hợpcủa bộ máy Chính phủ, làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức vàquyền hạn của các Bộ, nâng cao vai trò và hiệu lực chỉ đạo đối với chính quyềnđịa phương, vừa bảo đảm sự điều hành, tập trung thống nhất, vừa phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương với sự phân cấp cầnthiết, hợp lý.
Việc điều chỉnh, sắp xếp cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ được thựchiện theo nguyên tắc Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực Trong vòng 8 năm, tổng
số các đầu mối của Chính phủ từ 48 cơ quan đến năm 2007 chỉ còn 30 cơ quan,bao gồm 22 Bộ, cơ quan ngang bộ và 8 cơ quan thuộc Chính phủ Đến năm
2007, không còn loại cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhànước Chức năng quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực được tập trung
về các Bộ, cơ quan ngang bộ Hiện nay, cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủcũng được sắp xếp phù hợp với sự điều chỉnh chức năng quản lý nhà nước củaChính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước Chính phủ có nhiều đổi mớitrong tổ chức bộ máy, hợp lý hóa và gọn nhẹ hơn qua việc sáp nhập một số Bộ
để chỉ còn 22 Bộ và cơ quan ngang bộ; giải thể một số tổ chức không cần thiết,
Trang 21sáp nhập một số cơ quan thuộc Chính phủ và cơ cấu của các Bộ, phân cấp mạnhhơn cho các Bộ trưởng về tổ chức và công tác cán bộ
Cơ cấu bên trong các Bộ, cơ quan ngang bộ cũng được điều chỉnh, sắpxếp tương đối phù hợp theo hướng xác định rõ tính chất, chức năng của từngloại cơ cấu tổ chức trực thuộc, loại bỏ những cơ cấu trung gian, phân biệt rõ cácđơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước với các tổ chức sựnghiệp cung cấp dịch vụ công
Cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương cũng được đổimới, sắp xếp phù hợp với tổ chức ngành ở trung ương và điều kiện cụ thể củađịa phương Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định về cơ cấu các cơquan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, khẳng định mô hình tổchức cứng, được tổ chức nhất quán theo quy định của trung ương và đồng thờitrao quyền cho địa phương tự quyết định các loại tổ chức mềm phù hợp
Việc điều chỉnh, sắp xếp các cơ quan trong hệ thống hành chính, nhất làđối với các cơ quan của Chính phủ làm cho bộ máy hành chính nhà nước từTrung ương đến địa phương trở nên gọn nhẹ hơn, minh bạch và hoạt động cóhiệu lực, hiệu quả hơn
Thành viên Chính phủ nhiệm kì mới trẻ hơn, được đào tạo chính quy bàibản hơn các nhiệm kì trước Hiện nay, thành phần của Chính phủ khóa mớinhiều nhà chính trị hơn, nhiều đồng chí có bằng cấp, học hàm học vị cao so vớithành phần của Chính phủ các khóa trước đây
Sau khi ổn định tổ chức các Bộ và cơ quan ngang bộ, Chính phủ đã chỉđạo các Bộ khẩn trương rà soát chức năng, nhiệm vụ, không để chồng chéotrong quản lý nhà nước giữa các Bộ và không để lĩnh vực, nhiệm vụ nào không
có cơ quan quản lý, không có người chịu trách nhiệm Chính phủ chủ trương tổchức việc đánh giá kết quả đạt được trong công tác cải cách hành chính và đề ranhững việc cần làm tiếp theo, trong đó đã tiến hành tập trung rà soát các thủ tụchành chính, làm rõ những thủ tục cần loại bỏ hoặc sửa đổi nhằm tạo thuận lợinhất cho người dân, cho doanh nghiệp Việc cải cách thủ tục hành chính đã tạothuận lợi cho sự vận hành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
Trang 22nghĩa, xóa bỏ nhiều quy định mang tính quan liêu, bao cấp, gây phiền hà chodoanh nghiệp và nhân dân Phương thức quản lý một dấu, một cửa đã được thíđiểm và vận dụng ở hầu hết các ngành và địa phương
Những thành tựu mới của khoa học quản lý và công nghệ hiện đại đã đangtừng bước được ứng dụng vào hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ vàcác ngành Năng lực chuyên môn, trình độ kĩ thuật hành chính, phẩm chất vànăng lực thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy Chínhphủ đã được nâng cao một bước
Trong công tác điều hành vĩ mô các lĩnh vực cụ thể, về phát triển kinh tế,Chính phủ đã chú trọng đề ra các giải pháp thúc đẩy nền kinh tế phát triểnnhanh, nhưng luôn quán triệt quan điểm tăng trưởng kinh tế phải gắn kết chặtchẽ với kiểm soát và ổn định kinh tế vĩ mô, coi ổn định kinh tế vĩ mô là điềukiện hàng đầu để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững Trêntinh thần đó, Chính phủ đã phân bổ hợp lý các nguồn lực và quản lý chặt chẽviệc sử dụng theo hướng bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo cơ sở choviệc triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Công tác quản lý, điều hành giá cả, Chính phủ chỉ đạo thực hiện hệ thốngcác giải pháp tạo hiệu ứng mạnh cho việc giảm áp lực tăng giá Khống chế mứctăng giá của một số mặt hàng thiết yếu trong biên độ nhất định, tập trung ổn địnhthị trường tiền tệ, giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, điều hành linh hoạt cơchế tỉ giá; chỉ đạo các giải pháp đẩy mạnh sản xuất, lưu thông, không để thiếuhụt nguồn hàng; tăng cường chống đầu cơ, buôn lậu; giá cả phù hợp trên nguyêntắc của nền kinh tế thị trường không mở rộng và đã có dự kiến dần chấm dứtviệc nhà nước bù lỗ về giá
Đồng thời với chỉ đạo phát triển kinh tế, các lĩnh vực xã hội cũng đượcChính phủ chú trọng điều hành để đưa đời sống nhân dân ngày càng được nângcao Với chủ trương phát triển kinh tế bền vững là lấy người nghèo làm trungtâm: xóa đói, giảm nghèo là nâng cao kiến thức, giúp họ học nghề tự vươn lênthoát nghèo, có chương trình, chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, đồng bào dân tộcmiền núi, vùng sâu, vùng xa như cho các hộ nghèo vay vốn sản xuất, thu hồi đất
Trang 23của các nông, lâm trường giao cho hộ đồng bào dân tộc nghèo; cải thiện điềukiện đời sống, sinh hoạt, viêc làm của nhân dân vùng khó khăn, vùng lũ, vùnglòng hồ thủy điện,…
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Chính phủ đã chỉ đạo đẩy mạnhchống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích; chỉ đạo đổi mới nâng cao chấtlượng giáo dục đại học; xây dựng và thực hiện đề án về nâng cao chất lượng độingũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, phát triển giáo dục mầm non
Chính phủ chỉ đạo triển khai các đề án về phát triển văn hóa, thông tin,thể dục – thể thao, các đề án phát triển du lịch vùng và địa phương nhằm khaithác đầy đủ tiềm năng, lợi thế về du lịch của đất nước Tăng cường chỉ đạo về antoàn thực phẩm; thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; phòng,chống buôn bán phụ nữ, trẻ em được quan tâm và phân cấp đầy đủ trách nhiệmcho các cơ quan chức năng thực hiện
Công tác phòng chống tham nhũng đã được xác định là một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ và được tổ chức triển khai khẩn trương,trước tiên là hoàn thiện về hệ thống văn bản pháp lý Chính phủ đã có quy định
cụ thể về minh bạch hóa tài sản cá nhân, hướng dẫn thi hành một số điều củaLuật Phòng chống tham nhũng, thực hiện quy định hạn chế thanh toán bằng tiềnmặt và trả lương qua tài khoản, ban hành Quy chế về việc tặng quà, nhận quà vànộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước và của cán
bộ, công chức, viên chức; quy định tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý và sửdụng phương tiện đi lại trong các cơ quan nhà nước; quy định chế độ quản lý, sửdụng xe ô tô lễ tân nhà nước Thông qua việc thực hiện chế độ báo cáo của cácngành chức năng về thực hiện chương trình kế hoạch công tác về phòng, chốngtham nhũng, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng đã trực tiếp chỉ đạo xử lý kết luậnthanh tra một số đơn vị, dự án lớn, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phải thanhtra, kiểm tra tất cả các dự án thuộc thẩm quyền và giao các cơ quan chức nănglàm rõ các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực mà báo chí và nhân dânphản ánh
Trang 24Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã tập trung xem xét và giải quyết dứtđiểm nhiều vụ khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài; chỉ đạo các cơquan chức năng đổi mới công tác tiếp dân, trọng tâm là đổi mới nhận thức, tổchức và hoạt động của cơ quan tiếp dân, phối hợp chặt chẽ để giải quyết kịpthời, dứt điểm các vụ việc ngay tại địa phương, cơ sở bảo đảm tính dân chủ côngkhai, minh bạch
Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh được tăng cường, củng cố Chính trị, xãhội ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho những bước đi lên mạnh mẽ của đấtnước
Công tác đối ngoại cũng giành được những thành tựu to lớn, thực hiệnđường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, Nhà nước ta tích cực, chủ động thiết lậpquan hệ ngoại giao, củng cố quan hệ hữu nghị, mở rộng quan hệ hợp tác vớinhiều nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị khác nhau
2.2 Những tồn tại, hạn chế
Những thành tựu trong việc xây dựng tổ chức, bộ máy cũng như hoạtđộng chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trong những năm gần đây là hết sức tolớn, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đó, tổ chức bộ máy, hoạt độngcủa Chính phủ vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần khắc phục
2.2.1 Về cơ sở pháp lý đối với tổ chức và hoạt động của Chính phủ
Hiện nay tổ chức và hoạt động của Chính phủ được điều chỉnh trong Hiếnpháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, Quychế làm việc của Chính phủ; hàng loạt các Nghị định về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các Quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ Những văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọngcho tổ chức và hoạt động của các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp Các vănbản được ban hành gần đây đã thể hiện tư tưởng tăng cường hiệu quả của bộmáy hành pháp như tinh thần cải cách hành chính, phân công và phân cấp quản
lý Nhà nước Tuy nhiên các văn bản chủ đạo là căn cứ cho hoạt động hành chínhcòn có một số hạn chế nhất định:
Trang 25Về Hiến pháp: một số quy định của Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ
sung một cách khiên cưỡng, thiếu toàn diện và thiếu sự thuyết phục dưới góc độ
khoa học Liên quan đến Chính phủ, Điều 2 của Hiến pháp có nhắc tới “quyền hành pháp” Tuy nhiên, các quy định tiếp theo của Hiến pháp hoàn toàn thoát ly
với thuật ngữ nói trên Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp mới đạt mục đích làtăng cường trách nhiệm của Chính phủ trước cơ quan cao nhất của quyền lực
Nhà nước mà chưa thể hiện được tính độc lập tương đối vốn có của “quyền hành pháp”
Về Luật tổ chức Chính phủ: tương tự như Nghị quyết sửa đổi, bổ sung
Hiến pháp, ngoài những điểm có tính cải cách và tiến bộ, Luật Tổ chức Chínhphủ năm 2001 còn bộc lộ rõ một số lúng túng trong cách quy định Cụ thể:
- Về địa vị pháp lý của Chính phủ: trong mối quan hệ với Quốc hội, Hiếnpháp và Luật Tổ chức Chính phủ giữ một khuôn mẫu truyền thống là Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụQuốc hội Riêng đối với Thủ tướng Chính phủ với tinh thần công khai hóa hoạtđộng hành chính, Luật còn quy định trách nhiệm báo cáo trước nhân dân (Điều20) [5] Tuy nhiên, những vấn đề có tính lý luận về chế độ chịu trách nhiệm củatập thể Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ với tư cách cá nhân và của cácthành viên Chính phủ chưa được tiên lượng hết và chưa thể hiện rõ ràng, gâykhó khăn cho việc thực hiện Cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội đối vớingười do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (trong đó có các thành viên Chính phủ)cũng còn những điểm thiếu rõ ràng và chưa toát lên vai trò, ý nghĩa cần thiết đểgiải quyết mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong cơ chế tổ chức quyềnlực đặc thù như ở nước ta là toàn bộ hoạt động của Nhà nước đặt dưới sự lãnhđạo của một chính đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam
- Về chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ: Chức năng, nhiệm vụ củaChính phủ vẫn còn không ít bất cập, chậm đổi mới, điều chỉnh, nhất là chứcnăng của Chính phủ trong mối quan hệ giữa Nhà nước với thị trường, giữa Nhànước với doanh nghiệp, giữa Nhà nước với xã hội chưa được thể chế một cáchđầy đủ, rõ ràng Vai trò, chức năng của Chính phủ trong mối quan hệ phân công,
Trang 26phối hợp giữa quyền hành pháp với quyền lập pháp, quyền tư pháp chưa đồng
bộ, còn không ít vấn đề chưa rõ làm hạn chế việc tổ chức thực hiện quyền hànhpháp và hành chính trong việc quản lý, điều hành các mặt đời sống kinh tế - xãhội
- Về tổ chức của Chính phủ: trải qua những lần cải cách cơ cấu Chínhphủ, có hàng loạt vấn đề mà Luật chưa giải quyết một cách thấu đáo và có phầnnóng vội do thiếu căn cứ lý luận và thực tiễn
Luật chưa thể chế hóa một cách cơ bản chủ trương và định hướng củaĐảng về thành lập Bộ đa ngành, đa lĩnh vực Bản thân nội hàm của “bộ đangành, đa lĩnh vực” chưa lý giải chính xác và nhất quán dưới góc độ chínhthống Từ đây, dẫn đến việc sáp nhập vội vàng một số cơ quan thuộc Chính phủ
và Bộ nhưng kết quả là do quá tải về điều hành nên những cơ quan thuộc Chínhphủ “bị sáp nhập” vẫn được trao quy chế độc lập gần như một chủ thể quản lýNhà nước trước đây Điều này gây ra sự thiếu nhất quán và thiếu triệt để trongcải cách
- Về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các
Bộ, cơ quan ngang bộ trong cơ cấu Chính phủ vẫn còn một số tồn tại Mặc dù sốlượng các Bộ, cơ quan ngang bộ đã được rút xuống còn 22 đầu mối, nhưng vẫncòn một số Bộ, cơ quan ngang bộ như Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Ủyban dân tộc… chưa được tổ chức theo nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnhvực Giữa một số Bộ, cơ quan vẫn còn tình trạng chồng chéo, trùng lặp chứcnăng, nhiệm vụ hoặc quy định chức năng, nhiệm vụ chưa rõ ràng, nhất là cơ cấubên trong các Bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục tăng lên, các đầu mối trung gianchưa được khắc phục Ở địa phương, tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủyban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện vẫn còn cồng kềnh nhiều đầu mối, dập khuônnhư Trung ương, tổ chức bộ máy chính quyền thiếu sự phân biệt rành mạch giữa
tổ chức của chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn
Nhìn chung, sự trùng lặp, chồng chéo về chức năng, thẩm quyền từ Chínhphủ, các Bộ, ngành đến chính quyền địa phương trên nhiều lĩnh vực chậm đượckhắc phục Việc thực hiện phân cấp theo ngành, lĩnh vực giữa Trung ương và
Trang 27địa phương còn chậm và lúng túng, chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đặt ra “đến năm 2005, về cơ bản xác định xong và thực hiện được các quy định mới về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương” Chủ trương phân biệt quản lý nhà nước theo địa bàn
đô thị - nông thôn, xác định tiêu chí phân loại đơn vị hành chính lãnh thổ đãđược đề ra nhưng chậm triển khai thực hiện
Luật Tổ chức Chính phủ (Điều 32) quy định: “Chính phủ làm việc theo chế độ kết hợp trách nhiệm tập thể với việc đề cao quyền hạn và trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ và mỗi thành viên Chính phủ” Luật cũng quy
định những vấn đề mà Chính phủ phải thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa
số Tuy nhiên trên thực tế, nguyên tắc làm việc tập thể của Chính phủ khôngđược tuân thủ nghiêm ngặt hoặc bị “biến tướng” bằng hình thức thảo luận quaPhiếu xin ý kiến của thành viên Chính phủ Các câu hỏi trong Phiếu xin ý kiếnđôi khi thiếu tính khoa học và chưa thể hiện một cách thực chất những vấn đềcần được tập thể Chính phủ giải quyết Có phiếu chỉ ghi một câu hỏi duy nhất là:
“Đồng chí có đồng ý với việc ban hành văn bản hay không?”.
Một vấn đề khác cần được khắc phục hiện nay là sự vi phạm quy trìnhgiải quyết công việc của Chính phủ nói chung và quy trình thông qua văn bảncủa Chính phủ nói riêng Những biểu hiện cụ thể trong đó là: Không thành lậpBan soạn thảo theo quy định của pháp luật; một số văn bản được phó thác chomột cơ quan chủ trì nên thể hiện tính cục bộ rõ nét; một số văn bản không đượcgửi thẩm định, không được gửi lấy ý kiến theo quy định nhưng vẫn được trìnhlên Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
2.2.2 Bộ máy hành pháp
Bộ máy hành chính nhà nước vẫn chưa thoát khỏi một cách hoàn toàn cácquy định cũng như các cách thức điều hành theo cơ chế tập trung quan liêu baocấp, vẫn nặng nề việc điều hành trực tiếp nền kinh tế mà chưa thấy tầm quantrọng trong việc đề ra các đường lối chủ trương, nhất là trách nhiệm phải trình
dự án luật trước Quốc hội – lập pháp; còn ít cơ chế tự kiểm tra nhằm phòngngừa trước những tệ nạn quan liêu, tham nhũng của bộ máy nhà nước
Trang 28Phương thức hoạt động, lề lối làm việc của Chính phủ chưa được đổi mới
cơ bản, chậm có sự chuyển biến, phương thức hoạt động của các cơ quan hànhchính hiện nay vẫn chưa theo kịp yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước
Hoạt động chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chínhphủ chưa được sự thống nhất, thông suốt từ trung ương đến địa phương, cơ sở.Mệnh lệnh hành chính chưa được chấp hành nghiêm túc; vẫn phổ biến tình trạng
kỷ luật, kỷ cương hành chính lỏng lẻo, sa sút
Việc quy định và thực hiện trách nhiệm, quyền hạn của Bộ trưởng, Thủtrưởng cơ quan ngang bộ chưa được thể hiện rõ và đầy đủ vai trò của một thànhviên Chính phủ, thực hiện những nhiệm vụ trên cương vị là đại diện cho Chínhphủ, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đi làm việc với địa phương.Việc phối hợp công tác giữa các Bộ, cơ quan của Chính phủ còn kém hiệu quả,chưa làm rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan trong quan hệ phối hợp,thẩm tra, thẩm định Công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các vănbản và các nhiệm vụ được giao chưa thực sự có hiệu quả, chưa được đặt đúngvào vị trí quan trọng trong hoạt động của Chính phủ
Một biểu hiện đáng lo ngại khác trong phương thức hoạt động của Chínhphủ là tình trạng giải quyết công việc không đúng thẩm quyền: Bộ trưởng, Thủtrưởng cơ quan ngang bộ thay vì giải quyết công việc thuộc trách nhiệm củamình lại chuyển lên để Thủ tướng, Phó Thủ tướng giải quyết Có những việc có
lẽ cần được quy trách nhiệm cho một chủ thể thì lại được đề nghị để thành lập
Ủy ban liên ngành gây ra tính hình thức và sự cồng kềnh bộ máy, khó quy kếttrách nhiệm cho một người cụ thể
Đề cập tới hạn chế trong phương thức làm việc thuộc thẩm quyền củaChính phủ, không thể không nói tới tình trạng ủy quyền một cách tràn lan vàthiếu căn cứ như hiện nay Một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hànhdưới hình thức Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ lại được ủy quyềncho Phó Thủ tướng kí Tương tự như vậy với các văn bản quy phạm pháp luật
Trang 29của Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân Đây là một nguyên nhân dẫn đến
sự mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật
Hiện nay, ngoài sự tham mưu của các Bộ, cơ quan ngan Bộ là những chủthể quản lý nhà nước, Thủ tướng Chính phủ còn có khả năng tranh thủ ý kiếncủa các tổ chức tư vấn riêng của mình và những cá nhân có liên quan Tuynhiên, phương thức hoạt động của các tổ chức tư vấn còn thiếu rõ ràng và chồnglấn lên chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan của Chính phủ, chẳng hạnnhư một số ban nghiên cứu, tổ chức tư vấn trực thuộc Thủ tướng lại dự kiếnđược trao những thẩm quyền như những cơ quan quản lý nhà nước
Việc ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ, nhất là công nghệthông tin vào hoạt động quản lý điều hành của Chính phủ và bộ máy hành chínhcòn rất chậm, hiệu quả thấp
Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính vẫn chưa đáp ứngđược yêu cầu quản lý nhà nước trong cơ chế mới Mức độ chuyên nghiệp, tínhchuyên sâu, kỹ năng hành chính của cán bộ, công chức còn thấp Nội dung vàphương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tuy đã có một số đổi mới,nhưng nhìn chung vẫn chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra Tệ cửa quyền,quan liêu, tham nhũng vẫn còn là vấn nạn, tính công khai, minh bạch của nềnhành chính còn nhiều thách thức Một bộ phận cán bộ, công chức suy giảm lýtưởng, lối sống, vi phạm đạo đức công vụ, thiếu ý thức trách nhiệm và tinh thầnphục vụ, vô cảm trước yêu cầu của nhân dân đang gây bất bình trong nhân dân
Những giải pháp mang tính đổi mới, theo hướng hiện đại hóa công tácquản lý cán bộ, công chức (như phân cấp, tăng cường trách nhiệm và thẩmquyền của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công…) chậm đượctriển khai, dẫn đến các cơ quan hành chính vẫn ôm đồm nhiều việc và cản trở,can thiệp sâu vào hoạt động của các đơn vị cơ sở
Công tác quản lý, tuyển dụng, sử dụng, thi tuyển, thi nâng ngạch, đánhgiá, luân chuyển, đề bạt cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế Các phương phápkhoa học trong đánh giá kết quả công tác của từng cán bộ, công chức chậm được
Trang 30áp dụng để thay thế phương pháp đánh giá dựa vào tập thể là chủ yếu (bìnhquân, bầu chọn, biểu quyết…).
Từ những yếu kém mang tính chủ quan của bộ máy quản lý nhà nước,công cuộc cải cách hành chính chưa đem lại hiệu quả cao, tổ chức bộ máy và độingũ cán bộ còn chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, những yếu tố khó lường của sựbiến động về giá cả, thiên tai, dịch bệnh… luôn tiềm ẩn tác động không thuậnđến công tác điều hành của Chính phủ
2.2.3 Tính chịu trách nhiệm của Chính phủ
Nhìn lại những năm gần đây, hoạt động của Chính phủ nổi lên hai vấn đềrất đáng quan tâm, một là tính chịu trách nhiệm của Chính phủ và các thành viêncủa Chính phủ; hai là hoạt động của Chính phủ chưa thật sự là một tập thể thốngnhất Ngoài ra vấn đề trách nhiệm phải đề ra đường lối chủ trương, chính sáchcho nhà nước và trách nhiệm phải từ chức của các vị Bộ trưởng cũng như tập thểChính phủ đang nổi lên là một vấn đề sôi động
Trong nhiều phiên trả lời chất vấn, các thành viên của Chính phủ hầu nhưmuốn đổ lỗi cho cơ chế mà không nhận thấy trách nhiệm của mình trong việcphải thay đổi cơ chế cũng như con người Chưa thấy được con người với cơ chế
là một Văn hóa từ chức chưa được nhận thức rõ trong hàng ngũ các vị Bộtrưởng và chính khách ở Việt Nam
Trong các quy định của Hiến pháp và nhất là thực tế, nhận thức của chúng
ta vẫn còn không ít khó khăn cho việc thực hiện bản tính chịu trách nhiệm củaChính phủ - hành pháp
Thứ nhất, mặc dù theo quy định của Hiến pháp, Thủ tướng phải chịu trách
nhiệm trước Quốc hội, tức là về nguyên tắc Thủ tướng phải chịu trách nhiệm cánhân về những thành công cũng như thất bại của Chính phủ nhưng trên thực tếvới quyền hành pháp về cơ bản được giao cho nhiều người đảm nhiệm, cộng với
tư duy nhận thức của nền văn hóa tư tưởng Việt Nam, trách nhiệm cá nhân vẫncòn lu mờ nằm xen lẫn trong trách nhiệm của tập thể bao gồm tất cả các thànhviên hợp thành Chính phủ;