Tòa án Tối cao được thành lập nhưng chịu sự quản lý của Chính phủ; CácThẩm phán của Tòa án đều do Chính phủ bổ nhiệm; Hoạt động xét xử của Tòa án thời kỳ này dựa trên các nguyên tắc: tro
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là địnhhướng cơ bản trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta Tòa án nhândân là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, là cơ quan xét xử của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp
Hệ thống ngành Tòa án đã góp phần to lớn vào việc bảo vệ pháp chế XHCN;bảo vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhànước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm củacông dân Hệ thống Tòa án của nước ta đã trải qua những cuộc cải cách về tổchức và hoạt động qua các thời kỳ theo quy định của các bản Hiến pháp năm
1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 Nhìn chung những thay đổi, cải cách về
hệ thống Tòa án đã mang lại những kết quả tích cực cả về tổ chức và hoạt động,đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ chính trị đặt ra trong từng giaiđoạn lịch sử Tuy nhiên, chưa thể nói tổ chức và hoạt động của TAND hiện nay
đã hoàn thiện, đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháptheo các mục tiêu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta ĐểTòa án thực sự là chỗ dựa, công cụ, biểu tượng của công bằng, bình đẳng và bảo
vệ quyền con người, đáp ứng được đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp đangđặt ra, em xin mạnh dạn chọn đề tài này để nghiên cứu, tìm hiểu các giải phápnhằm đổi mới hơn nữa về tổ chức cũng như hoạt động của Tòa án nhân dântrong tiến trình cải cách tư pháp
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TAND trong những năm gầnđây đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, cán bộ làm côngtác thực tiễn như: Luận án tiến sĩ Luật học của Tiến sĩ Lê Thành Dương năm
2002, “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở nước ta trong giai
Trang 2đoạn hiện nay”; một số bài viết đăng trong Hội thảo khoa học cấp khoa - TrườngĐại học Luật Hà Nội như: “Bài về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa ánnhân dân và Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyềnXHCN và hội nhập quốc tế” của Th.sĩ Nguyễn Thị Hoa…Khóa luận này em xin
tìm hiểu rõ hơn về đề tài “Tổ chức và hoạt động của Tòa án trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là vấn đề tổ chức và hoạt độngTAND đáp ứng yêu cầu của Chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta Phạm vinghiên cứu là các quy định của pháp luật qua các thời kỳ về tổ chức và hoạtđộng của hệ thống TAND Từ đó, đánh giá thực tiễn hoạt động của hệ thốngTAND nhằm đưa ra các giải pháp đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạtđộng của Tòa án trong giai đoạn tới đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp màĐảng và nhà nước ta đang đặt ra
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Khóa luận đóng góp vào việc phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận,thực tiễn về tổ chức và hoạt động của TAND, trên cơ sở đó đề xuất một số giảipháp có tính thực tiễn nhằm hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa TAND đáp ứng yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
5 Kết cấu của Khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo,Khóa luận gồm:
Chương 1 Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong lịch sử lập pháp Việt Nam
Chương 2 Tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam
Trang 3Chương 1 Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động
củaTòa án nhân dân trong lịch sử lập pháp Việt Nam
1.1 Vị trí của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước
1.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của các Tòa án nhân dân Việt
a Tòa án nhân dân giai đoạn trước cách mạng tháng tám - năm 1945 đến năm 1959
Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin thì trong xã hội có giai cấp đốikháng, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác được thể hiện trên cácmặt kinh tế, chính trị, tư tưởng Để đạt được hiệu quả thống trị, giai cấp thống trị
đã sử dụng nhà nước như là một công cụ sắc bén nhất thể hiện và thực hiện ý chícủa giai cấp cầm quyền Nhà nước ban hành ra pháp luật để thực hiện quản lýbắt buộc đối với mọi công dân và để bảo vệ pháp luật, nhà nước đã tổ chức nên
bộ máy nhà nước, trong đó có TAND là một trong những hệ thống cơ quan hợpthành bộ máy nhà nước Các nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản đều có cácTòa án để bảo vệ và duy trì quyền lực thống trị của giai cấp cầm quyền, bắt cácgiai cấp khác phải phục tùng theo ý chí của giai cấp thống trị
Trang 4Ở nước ta, trong thời kỳ Pháp thuộc, nền tư pháp thuộc địa và nửa phongkiến được tổ chức theo chính sách chia để trị của thực dân Pháp Ở Nam kỳ vàcác thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, có các Tòa án thuộc địa dothực dân Pháp trực tiếp nắm và điều khiển, nhằm xét xử các vụ án hình sự, dân
sự đối với người Việt Nam theo pháp luật của Pháp Ở Trung kỳ và Bắc kỳ bọnquan lại phong kiến nắm quyền hành chính đồng thời nắm cả quyền xét xử, xét
xử các vụ án hình sự, dân sự theo pháp luật bản xứ Như vậy, các cơ quan tưpháp thuộc địa và phong kiến là công cụ của bọn thực dân và phong kiến nhằmbảo vệ quyền lực thống trị của chúng, đàn áp cách mạng cũng như quần chúngnhân dân lao động trong xã hội Trong bối cảnh đó, ngay từ khi mới giành đượcchính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 18/SLngày 8/9/1945 bãi bỏ ngạch học quan; Sắc lệnh số 32/SL ngày 13/9/1945 bãi bỏ
2 ngạch quan hành chính và quan tư pháp Đồng thời Đảng và Nhà nước đã khẩntrương xây dựng bộ máy Nhà nước cách mạng trong đó có Tòa án Ngày13/9/1945, Chính phủ lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 33/SL và sau đó bổ sungbằng Sắc lệnh số 21/SL ngày 24/1/1946 thành lập các Tòa án quân sự đảm bảoviệc xử lý tội phạm được kịp thời, ổn định đời sống nhân dân, bảo vệ chínhquyền cách mạng Trong thời kỳ này các Tòa án quân sự đã được thành lập ở HàNội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Vinh, Huế, Quảng Ngãi, Nha Trang,Sài Gòn, Mỹ Tho Các Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử những tội phạmlàm phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và do liên
Bộ Quốc Phòng, Nội Vụ chỉ đạo Việc giải quyết các vụ việc về dân sự, thương
sự, hôn nhân và gia đình kỳ đầu được giao cho Ủy ban hành chính đảm nhiệm.Trong khi pháp luật còn thiếu, Sắc lệnh ngày 10/1/1945 cho phép Tòa án vậndụng các luật lệ của chế độ cũ, trừ những điều trái với nguyên tắc độc lập, tráivới chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa
Để tăng cường hoạt động của bộ máy tư pháp, Chính phủ đã ban hành Sắclệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 quy định về tổ chức các Tòa án và các ngạch
Trang 5Thẩm phán Sắc lệnh số 13 đã quy định cụ thể cách thức tổ chức hệ thống tưpháp, phân định rõ mối quan hệ và thẩm quyền xét xử của các cấp Tòa án Cụthể: Tòa án sơ cấp (được thành lập một tòa tại mỗi quận, phủ, huyện, châu) cóthẩm quyền xét xử sơ thẩm, sơ chung thẩm các vụ án hình sự, dân sự và thương
sự Tòa án đệ nhị cấp (được thành lập một tòa tại mỗi tỉnh và các thành phố HàNội, Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn) có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, sơ chungthẩm các vụ án hình sự, dân sự và thương sự Về dân sự và thương sự Chánh ánxét xử một mình nhưng khi xét xử các việc tiểu hình (những vụ án hình sự màmức phạt tù từ năm năm trở xuống) phải có thêm hai phụ thẩm nhân dân đónggóp ý kiến và khi xét xử các việc đại hình (những vụ án có mức hình phạt tù từnăm năm trở lên), Tòa đệ nhị cấp gồm năm người cùng ngồi xét xử và đều cóquyền quyết định Tòa thượng thẩm (được thành lập một tòa ở mỗi kỳ đặt tại Hànội, Huế và Sài Gòn) có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án của Tòa án sơcấp và Tòa án đệ nhị cấp bị kháng cáo Như vậy, theo quy định của Sắc lệnh số13/SL và sau đó là Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/7/1946 quy định Các Tòa án sơcấp và đệ nhị cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời cả sơ chung thẩm,còn các Tòa án Thượng thẩm chỉ chuyên xét xử phúc thẩm Cũng theo Sắc lệnhtrên, trong các cơ quan Tòa án, Thẩm phán được chia làm hai ngạch đó là Thẩmphán sơ cấp và Thẩm phán đệ nhị cấp Ngạch Thẩm phán sơ cấp có 5 hạng vàngạch Thẩm phán đệ nhị cấp có 7 hạng, được chia thành hai chức vị: Thẩm phánxét xử (do Chánh nhất Tòa án Thượng Thẩm đứng đầu) và Thẩm phán buộc tội(do Chưởng lý đứng đầu) Bộ trưởng Bộ Tư Pháp bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp
và Chủ tịch nước bổ nhiệm Thẩm phán đệ nhị cấp
Đánh giá chung, từ khi Cách mạng tháng tám thành công cho đến khiHiến pháp năm 1946 được thông qua, trong giai đoạn chưa ban hành được Hiếnpháp, các Tòa án được thành lập theo yêu cầu của từng địa bàn về phòng chốngtội phạm, cũng như giải quyết các việc dân sự, thương sự Hệ thống Tòa án thời
kỳ này chưa có Tòa án tối cao, mà tổ chức theo mô hình Tòa án sơ thẩm, Tòa án
Trang 6đệ nhị cấp, Tòa thượng thẩm kỳ Điều này phản ánh sự tiếp thu, kế thừa mô hình
tổ chức Tòa án của chính quyền thực dân cũ Hệ thống Tòa án được thành lập,hoạt động song song với các cấp chính quyền với nhiệm vụ quan trọng đặt ra làbảo vệ thành quả cách mạng mới dành được và sau đó là bảo vệ trật tự xã hội vàquyền lợi của cá nhân Hệ thống Tòa án được thành lập dựa trên sự kết hợp củahai yếu tố Giữa thẩm quyền xét xử với tổ chức đơn vị hành chính lãnh thổ, luôn
có sự chỉ đạo sát sao của các cơ quan hành chính địa phương
Hiến pháp năm 1946 ra đời đánh dấu một bước ngoặt về tổ chức củangành Tòa án Theo quy định của Điều 63 - Hiến pháp năm 1946, cơ quan tưpháp bao gồm: Tòa án Tối cao, Các Tòa Phúc Thẩm, các Tòa đệ nhị cấp và sơcấp Tòa án Tối cao được thành lập nhưng chịu sự quản lý của Chính phủ; CácThẩm phán của Tòa án đều do Chính phủ bổ nhiệm; Hoạt động xét xử của Tòa
án thời kỳ này dựa trên các nguyên tắc: trong khi xử việc hình thì phải có phụthẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyếtđịnh với Thẩm phán nếu là việc đại hình; khi xét xử các viên Thẩm phán chỉtuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp; các phiên toà đềuphải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt; Người bị cáo được quyền tự bàochữa lấy hoặc mượn luật sư; cấm không được tra tấn, đánh đập, ngược đãinhững bị cáo và tội nhân; Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói và chữ viếtcủa mình trước Tòa án Theo Sắc lệnh số 185 ngày 26/5/1948 của Chính phủ ấnđịnh về thẩm quyền của các Tòa án sơ cấp và Tòa án đệ nhị cấp, thì hệ thốngTòa án trong giai đoạn này hoạt động trên cơ sở phân định thẩm quyền khá rạchròi Về hình sự, Tòa án sơ cấp chỉ xét xử những vụ vi cảnh hoặc đòi bồi thường.Tòa đệ nhị cấp xét xử những vụ tiểu hình và đại hình; về dân sự và thương sự,Tòa sơ cấp xét xử những vụ án liên quan đến hộ tịch, những vụ kiện liên quanđến động sản có giá trị thấp; Tòa đệ nhị cấp xét xử những việc liên quan đếnđộng sản có giá ngạch hoặc bất động sản Ngoài ra, Tòa đệ nhị cấp còn có quyềnxét xử phúc thẩm những phán quyết sơ thẩm của Tòa án sơ cấp bị kháng cáo
Trang 7Bước vào giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, hệ thống các Tòa
án cách mạng được tăng cường để đảm bảo thực hiện những nhiệm vụ mà Đảng
và nhà nước ta đã đề ra Bên cạnh Tòa án tư pháp và Tòa án quân sự, Chính phủ
đã ra sắc lệnh thành lập Tòa án binh Các Tòa án binh được thành lập chịu sựquản lý của Ủy ban kháng chiến - hành chính khu và về chuyên môn do CụcQuân Pháp thuộc Bộ Quốc Phòng đảm nhiệm Thẩm quyền của Tòa án binh làxét xử những quân nhân phạm tội, những người có hành vi gây thiệt hại choquân đội hoặc có liên quan đến quân đội và các tội phạm xảy ra ở nơi đang đóngquân của quân đội
Hệ thống Tòa án tư pháp chỉ tồn tại đến nững năm 1950 Bởi tuy là Tòa
án cách mạng nhưng hệ thống và cơ cấu tổ chức về cơ bản vẫn theo thời Phápthuộc Các cán bộ tư pháp làm việc trong các Tòa án thời kỳ này chủ yếu lànhững người làm việc trong bộ máy hành chính và tư pháp của chế độ cũ Họcòn mang nặng tư tưởng của nền tư pháp tư sản Cùng với sự biến đổi quantrọng về tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án cách mạng, Đảng Cộng sảnĐông Dương và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tiến hành cải cách tưpháp, tăng cường tính dân chủ trong hoạt động của Tòa án, nâng cao vị trí, vaitrò và hiệu lực của Tòa án trong bộ máy nhà nước, đồng thời cải tiến luật lệ tốtụng để đảm bảo xét xử nhanh chóng Vì vậy, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh
số 85/SL ngày 22/5/1950 quy định về cải cách tư pháp và Luật tố tụng Các Tòa
án thường được đổi thành Các Tòa án nhân dân, Các Tòa án sơ cấp, đệ nhị cấpđược đổi thành các TAND huyện; các TAND tỉnh; Hội đồng phúc án nay gọi làTòa phúc thẩm; các Phụ thẩm nhân dân được đổi thành Hội thẩm nhân dân.Ngày 12/11/1954 Chính phủ ra Sắc lệnh số 150/SL thành lập Tòa án đặc biệt.Các Tòa án này có nhiệm vụ trừng trị những bọn phản cách mạng, những kẻchống phá chính quyền
Sau hòa bình được lặp lại ở miền Bắc, nhà nước ta tiếp tục tiến hành cảicách tư pháp Tháng 4/1948 Quốc hội quyết định thành lập Tòa án tối cao và
Trang 8Viện Công tố Hai cơ quan này đã không chịu sự quản lý về tổ chức của Bộ TưPháp mà trực thuộc Hội đồng Chính Phủ.
b Tòa án nhân dân giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980
Hiến pháp năm 1959 ra đời đã cụ thể hóa nội dung Nghị quyết Đai hộiĐảng III về vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước Hiến pháp đã quy định lại vị trí,chức năng, nhiệm vụ của hệ thống TAND và Viện kiểm sát nhân dân Trên cơ
sở Hiến pháp năm 1959, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức TAND ngày14/7/1960 Theo quy định của Luật tổ chức TAND 1960, hệ thống TAND gồmcó: TAND tối cao, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự, trong trường hợpđặc biệt Quốc hội thành lập các Tòa án đặc biệt Các Tòa án quân sự bao gồm:Tòa án quân sự trung ương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa ánquân sự khu vực cũng thuộc hệ thống TAND, nhưng được tổ chức trong quânđội Các TAND được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc: thực hiện chế
độ bầu cử Thẩm phán thay cho bổ nhiệm Thẩm phán trước đó Thẩm phánTAND tối cao do UBTVQH cử và bãi miễn, Thẩm phán của TAND các cấp ởđịa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu và bãi miễn; khi xét xử có Hộithẩm nhân dân tham gia và Hội Thẩm ngang quyền với Thẩm phán; TAND xét
xử tập thể và quyết định theo đa số; khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhândân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa án xét xử công khai trừ trường hợp
do luật định; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo…Để đảm bảo việc thực hiệnnguyên tắc tập quyền XHCN trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước,TAND tối cao phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội vàtrong thời gian giữa hai kỳ họp của Quốc Hội, thì chịu trách nhiệm và báo cáotrước UBTVQH và Chủ tịch nước Việc quản lý TAND địa phương được giaocho TAND tối cao quản lý TAND tối cao có nhiệm vụ nghiên cứu những quyđịnh về tổ chức tư pháp, thủ tục tố tụng, phụ trách việc huấn luyện, đào tạo cán
bộ Tòa án, quản lý về biên chế, khen thưởng, kỷ luật…Do đặc điểm về tổ chứchành chính, các TAND địa phương ở nước ta thời kỳ này ngoài các TAND tỉnh,
Trang 9thành phố trực thuộc trung ương, các TAND cấp huyện còn có các Tòa án khuvực tự trị Tổ chức các Tòa án khu vực tự trị do Hội đồng nhân dân khu vực tựtrị quy định Theo quy định của Hiến pháp năm 1959, ngoài hệ thống TAND thìcác cơ quan Tư pháp còn bao gồm cả Viện Kiểm sát nhân dân Hai hệ thống nàykhông còn trực thuộc Hội đồng Chính phủ mà chịu trách nhiệm và báo cáo trước
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (đó là Quốc hội)
Sau đại chiến mùa xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng,Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam ban hành Sắc lệnh số 01/SLngày 15/3/1976 về tổ chức Tòa án ở miền Nam Đặc biệt, Nghị quyết số 76/CPcủa Hội đồng Chính phủ ngày 25/8/1977 quy định về việc thi hành và xây dựngpháp luật thống nhất trong cả nước, hệ thống Tòa án ở hai miền Nam Bắc đượchợp nhất và được tổ chức và hoạt động theo Luật tổ chức TAND năm 1960 Tòa
án được tổ chức theo cấp hành chính - lãnh thổ kết hợp với thẩm quyền; TANDtối cao quản lý về mặt tổ chức của các TAND địa phương
c Tòa án nhân dân giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1991
Ngày 18/12/1980, Quốc Hội khóa VI kỳ họp thứ VII đã thông qua Hiếnpháp 1980 và để cụ thể hóa Hiến pháp năm 1980 về Tòa án, Quốc hội đã thôngqua Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 3/7/1981 Điểm mới của TAND theoquy định của Hiến pháp 1980 và Luật tổ chức TAND năm 1981 so với Hiếnpháp 1959 và Luật tổ chức TAND năm 1960 là: Việc quản lý TAND dân địaphương do Bộ Tư Pháp đảm nhiệm, Bộ trưởng Bộ Tư Pháp phối hợp chặt chẽvới Chánh án TAND tối cao trong việc thực hiện nhiệm vụ đó Các Tòa án quân
sự trung ương, quân khu, khu vực cũng do Bộ trưởng Bộ Tư Pháp quản lý vềmặt tổ chức, có sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc Phòng và Chánh án TANDtối cao; mở rộng thẩm quyền xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.Tòa án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, táithẩm những bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bịkháng nghị vì có sự vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới có thể làm
Trang 10thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đó; quy định trách nhiệmcủa cơ quan, tổ chức hữu quan và mọi công dân trong việc tôn trọng và nghiêmchỉnh chấp hành những bản án và quyết định đã có hiêu lực pháp luật củaTAND; TAND có quyền kiến nghị với cơ quan, tổ chức khắc phục những thiếusót trong quản lý; ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp như Ban tư pháp xã,
tổ hòa giải để giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dântheo quy định của pháp luật Luật tổ chức TAND năm 1981 quy định cụ thể rõràng hơn về các Tòa chuyên trách như Tòa hình sự, Tòa dân sự và Tòa phúcthẩm Về Thẩm quyền xét xử, TAND cấp huyện đã được mở rộng phạm vi thẩmquyền như xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự mà theo quy định của Bộ luật hình
sự, người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù từ bảy năm trở xuống, trừ các tộiphạm an ninh quốc gia, các tội phạm nghiêm trọng, gây hậu quả lớn, các vụ án
mà bị cáo phạm tội ở nước ngoài hoặc do TAND cấp trên lấy lên để xử
d Tòa án nhân dân giai đoạn từ năm 1992 đến nay
Về tổ chức, xuất phát từ yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị và bộ máy
Nhà nước được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và VII,Ngày 15/4/1992 Quốc hội khóa VII đã thông qua Hiến pháp năm 1992 Để cụthể hóa Hiến pháp các vấn đề về Tòa án, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chứcTAND năm 1992 ngày 6/10/1992 và tiếp sau đó là Luật tổ chức TAND năm
2002 So với Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức TAND năm 1981, pháp luậtthời kỳ này đã mở ra những thay đổi về nguyên tắc tổ chức của ngành Tòa ánnhư: Tòa án đặc biệt chỉ được thành lập “Trong tình hình đặc biệt” và cũng chỉ
do Quốc hội quyết định; chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳcủa Thẩm phán được thay thế cho chế độ bầu và cử Thẩm phán trong Hiến phápnăm 1980 Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán hiện nay (theo Hiến pháp năm 1992 sửađổi, Luật tổ chức TAND năm 2002) đã thể hiện sự phân cấp so với khởi đầuHiến pháp năm 1992 và Pháp lệnh bổ nhiệm Thẩm phán năm 1993 quy định cụthể: Chánh án TAND Tối cao do Quốc hội bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm theo đề
Trang 11nghị của Chủ tịch nước; Thẩm phán TAND tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm,miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trungương; Thẩm phán TAND các cấp địa phương (tỉnh, huyện và tương đương),Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu, khu vực đều do Chánh án TAND tối cao
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Hội đồng tuyển chọn Thẩmphán địa phương Người được bổ nhiệm làm Thẩm phán của TAND các cấpphải đáp ứng các tiêu chuẩn chung và riêng theo quy định của pháp luật (đặcbiệt là tiêu chuẩn riêng theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩmnhân dân năm 2002 có nhiều điểm khác nhau so với quy định của Pháp lệnh bổnhiệm Thẩm phán năm 1993) Thực hiện chế độ cử và bầu Hội thẩm của TANDcác cấp Trong đó, chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với cácTAND địa phương, chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với cácTòa án quân sự quân khu và tương đương, các Tòa án quân sự khu vực So vớiHiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức TAND năm 1981, ở TAND tối cao bỏ hìnhthức xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm nên không còn Hội thẩm của TANDtối cao Ở địa phương, mặc dù vẫn thực hiện chế độ bầu Hội thẩm nhưng việcquy định về tiêu chuẩn và chế đội tuyển chọn chặt chẽ hơn trước Quy định rõChánh án TAND tối cao phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốchội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo côngtác trước UBTVQH và Chủ tịch nước Chánh án TAND địa phương chịu tráchnhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trả lời chất vấncủa đại biểu Hội đồng nhân dân Mặc dù Luật tổ chức TAND năm 1992 vẫn quyđịnh việc quản lý TAND địa phương về mặt tổ chức do Bộ trưởng Bộ tư phápđảm nhiệm Nhưng luật này nhấn mạnh là Bộ trưởng Bộ Tư Pháp phải phối hợpchặt chẽ với Chánh án TAND tối cao Sự phối hợp bảo đảm gắn hoạt động quản
lý con người với công tác chuyên môn, nhằm nâng cao trách nhiệm của cácThẩm phán Luật tổ chức TAND năm 1992 còn quy định Chánh án TAND tốicao, Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền
Trang 12kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật củaTòa án cấp dưới theo quy định của pháp luật tố tụng.
Ngày 28/12/1993 Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 4 đã thông qua luật sửađổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức TAND năm 1992 Theo quy định củaLuật tổ chức TAND sửa đổi, trong cơ cấu tổ chức của TAND tối cao, các TANDtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bên cạnh các Tòa hình sự, dân sự cònthành lập thêm 3 Tòa chuyên trách mới đó là: Tòa lao động; Tòa hành chính;Tòa kinh tế Luật tổ chức TAND còn quy định trường hợp cần thiết, UBTVQHquyết định thành lập các tòa chuyên trách khác Mở rộng thành phần Hội đồngxét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế, lao động, hành chính Bảo đảm số Thẩm phánnhiều hơn Hội thẩm nhân dân (gồm: hai Thẩm phán và một Hội thẩm nhân dân).Thực hiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán theo nhiệm kỳ với tiêu chuẩn cao hơn sovới Pháp lệnh năm 1993; đã có một bước tiến mới về cải cách chế độ tiền lương,phụ cấp đối với Thẩm phán, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với công tácxét xử của ngành Tòa án
Về Thẩm quyền, để nhằm mục đích bảo vệ hơn nữa quyền lợi của người
phạm tội, pháp luật hiện hành đã bỏ thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chungthẩm của TAND tối cao Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phốtrực thuộc tỉnh mặc dù được tăng thẩm quyền xét xử nhưng mô hình tổ chức vẫngiống quy định của Hiến pháp năm 1980 là không có Ủy ban Thẩm phán và cácTòa chuyên trách như TAND tối cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trungương Theo quy định của pháp luật hiện hành, TAND tối cao được phân công lạiviệc quản lý các Tòa án ở địa phương (về mặt tổ chức) Hay nói cách khác, theoquy định của Hiến pháp năm 1980, việc quản lý các Tòa án ở địa phương về mặt
tổ chức do Bộ trưởng Bộ tư pháp quản lý (con người, cơ sở vật chất), TAND tốicao chỉ quản lý nghiệp vụ chuyên môn của Tòa án (quản lý công tác xét xử vàhướng dẫn công tác áp dụng pháp luật trong xét xử) thì hiện nay, hoạt động củaTAND tối cao không chỉ tác động lên phạm vi hoạt động xét xử của Tòa án mà
Trang 13còn kết hợp với quản lý nhân sự của ngành nhằm quản lý nhân sự gắn kết vớihoạt động chuyên môn để việc đánh giá, bình xét hàng năm của ngành đối vớicông tác cán bộ sát với thực tế, khách quan hơn.
Bên cạnh đó, mở rộng thẩm quyền xét xử và thành lập các Tòa chuyêntrách phù hợp với sự phát triển các quan hệ xã hội về kinh tế, dân sự…và quátrình dân chủ hóa Việt Nam thời kỳ đổi mới Các TAND được giao thêm thẩmquyền xét xử các vụ án kinh tế, lao động, hành chính liên quan đến việc giảiquyết phá sản doanh nghiệp, các tranh chấp lao động, các cuộc đình công, giảiquyết các khiếu kiện hành chính Việc thành lập thêm các Tòa chuyên trách đápứng đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Đối với TAND huyện, quận, thị xã,thành phố trực thuộc tỉnh, các Thẩm phán bên cạnh xét xử các vụ án hình sự,dân sự, hôn nhân gia đình, còn có quyền xét xử các vụ việc về kinh tế, lao động,hành chính theo quy định của pháp luật Cùng với đó là phân định lại Thẩmquyền xét xử của Tòa án các cấp theo hướng tăng thẩm quyền xét xử cho TANDcấp huyện (hiện đang thí điểm ở một số huyện, Tòa án quân sự khu vực cókhung hình phạt tù từ 15 năm trở xuống) để giảm tải hoạt động xét xử củaTAND cấp tỉnh, giảm lượng án tồn đọng hàng năm Đồng thời chuyển công tácthi hành án dân sự từ TAND tối cao sang Chính phủ thực hiện và Bộ Tư Phápđược Chính phủ giao quản lý trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án tậptrung hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm là xét xử
1.1.2 Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân
Bộ máy nhà nước XHCN nói chung, nhà nước ta hiện nay được tổ chứctheo nguyên tắc tập quyền XHCN, khác với nguyên tắc phân quyền tư sản ởchỗ, tất cả mọi quyền lực nhà nước đều tập trung thống nhất vào nhân dân, nhândân thực hiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dâncác cấp do mình trực tiếp bầu ra Đó là hệ thống cơ quan đại diện mà cao nhất làQuốc hội Theo nguyên tắc tập quyền XHCN, quyền lực nhà nước là thống nhất,không phân chia, nhưng trong tổ chức bộ máy nhà nước có sự phân công rành
Trang 14mạnh chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.Đây là sự thể hiện phân công lao động quyền lực hợp lý giữa các cơ quan trong
bộ máy nhà nước, nhằm tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn trong nhiệm vụ vàchức năng của từng cơ quan, bảo đảm sự phối hợp nhịp nhàng đồng bộ của cả
bộ máy nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước Là bộ phận hợpthành của bộ máy nhà nước, Tòa án là biểu hiện tập trung của quyền lực tưpháp, là nơi phản ánh một cách đầy đủ và sâu sắc nhất bản chất nền công lý củachế độ ta Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong bộ máy nhà nước,TAND có một vị trí đặc biệt TAND tối cao, các TAND địa phương, các Tòa ánquân sự và các tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nướcCHXHCN Việt Nam (Điều 127- Hiến Pháp) Chỉ có các Tòa án mới có quyềnxét xử các vụ án hình sự, các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh
tế, hành chính và giải quyết các vụ việc khác theo quy định của pháp luật Bằnghoạt động của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN; bảo vệ chế độXHCN và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể,bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩn của công dân.Đồng thời thông qua hoạt động xét xử, Tòa án góp phần giáo dục công dân ýthức pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, tham gia vào cuộcđấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác
Vị trí của Tòa án còn thể hiện ở chỗ, tất cả các Thẩm phán đều hình thànhthông qua con đường bổ nhiệm Trong đó, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức đối với Thẩm phán TAND Tối cao còn Thẩm phán TAND địaphương, Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu, Tòa án quân sự khu vực doChánh án TAND Tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của cácHội đồng Thẩm phán TAND Tối cao quản lý về tổ chức nhân sự đối với cácTAND địa phương, các Tòa án quân sự Hoạt động của TAND các cấp đặt dưới
sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp và sự chỉ đạo, lãnh đạo
Trang 15của TAND cấp trên trực tiếp Các TAND địa phương chịu sự quản lý về chuyênmôn của TAND tối cao
1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
1.2.1 Chức năng của Tòa án nhân dân
a Khái niệm và bản chất hoạt động xét xử của TAND
Theo từ điển Luật học, chức năng được hiểu là phương diện, mặt hoạtđộng chủ yếu của một thiết chế (cơ quan, tổ chức) Theo nghĩa Hán Việt, chức làviệc phần mình; năng là sức làm được Từ đó, chức năng của các cơ quan nhànước là những phương diện hoạt động chủ yếu của các cơ quan đó nhằm gópphần thực hiện chức năng chung của nhà nước Đối với TAND có nhiều hoạtđộng khác nhau, nhưng xét xử được coi là chức năng chính, chủ yếu của TAND.Thông qua xét xử Tòa án nhân danh nhà nước đưa ra các phán xét, phán quyếtđối với các vụ án theo quy định của pháp luật Điều 127 Hiến pháp năm 1992 đãđược sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Điều 1 Luật tổ chức TAND năm 2002 quyđịnh: “Toà án nhân dân tối cao, các TAND địa phương, các Toà án quân sự vàcác Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam” Xét xử là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, nhândanh nhà nước, thể hiện ý chí của giai cấp công dân và nhân dân lao động, dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, để đưa ra phán quyết cuối cùng nhằmkết thúc vụ án Hoạt động xét xử là hoạt động mang tính chất pháp lý đặc thù, đó
là hoạt động mà nội dung của nó là căn cứ vào pháp luật để giải quyết nhữngtranh chấp hoặc vi phạm pháp luật và ra những bản án, quyết định có hiệu lựcpháp luật có tính chất bắt buộc các cơ quan, tổ chức và người có liên quan phảichấp hành [15,19] Như vậy, hoạt động xét xử của TAND không phải là hoạtđộng xây dựng pháp luật mà là quá trình áp dụng pháp luật vào việc giải quyếtcác tranh chấp, xét xử các vi phạm pháp luật cụ thể
Do kết quả của hoạt động xét xử có thể dẫn đến chỗ công dân, pháp nhân,
tổ chức được hưởng các quyền và lợi ích hoặc phải gánh chịu những nghĩa vụ
Trang 16nhất định Đặc biệt là việc xét xử trên lĩnh vực hình sự thì kết quả của hoạt độngxét xử sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý rất nghiêm trọng đối với người bị kết
án (như tước của người bị kết án một số quyền lợi thiết thân về vật chất, tinhthần, tự do và thậm chí cả tính mạng của họ) Vì vậy, hoạt động xét xử của Tòa
án có tính tổ chức rất chặt chẽ Tòa án khi xét xử một vụ việc cụ thể phải tuântheo những trình tự, thủ tục luật định một cách nghiêm ngặt được ghi nhận trongnhững quy định của pháp luật tố tụng Quyết định của Tòa án có thể bị khángcáo hoặc kháng nghị và bị Tòa án cấp trên xem xét lại theo các thủ tục phúcthẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm để cải, sửa hoặc hủy bỏ bản án đó
Hoạt động xét xử của Tòa án là một hoạt động sáng tạo của TAND, thôngthường khi xây dựng pháp luật, nhà làm luật không thể dự kiến được hết các tìnhtiết, hoàn cảnh sự việc, hành vi diễn ra trong hiện thực cuộc sống Do đó, đòi hỏiThẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu kỹ lưỡng, toàn diện mọi chitiết, điều kiện, hoàn cảnh liên quan đến vụ án đó để có cách thức giải quyết tốtnhất, hợp lý nhất phù hợp với quy định nêu ra trong quy phạm pháp luật Để cóbản án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đòi hỏi Thẩm phán và Hộithẩm phải có tri thức tổng hợp về cuộc sống, về pháp luật, có kinh nghiệm sốngphong phú và sâu sắc trên các lĩnh vực của đời sống, để giúp Thẩm phán cũngnhư Hội thẩm có được những quyết sách đúng đắn hợp lòng dân và bảo đảm sựtuân thủ pháp luật
b Đối tượng xét xử của Tòa án nhân dân
Đối tượng xét xử của TAND là tổng hợp các loại việc mà TAND cóquyền thụ lý để tiến hành xét xử sơ thẩm TAND xét xử những vụ án hình sự,dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết nhữngviệc khác theo quy định của pháp luật (Điều 1 Luật tổ chức TAND năm 2002)
Đối với các vụ án hình sự: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành
vi theo tội danh mà Viện kiển sát nhân dân truy tố; Tòa án xét xử các vụ án hình
Trang 17sự nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân tránh những việclàm tùy tiện, và không phải bất cứ cơ quan, tổ chức nào cũng có quyền kết tộimột công dân; chỉ có Tòa án là cơ quan có đủ điều kiện để xác định một người
có tội hay không có tội và áp dụng loại và mức hình phạt phù hợp với hành viphạm tội; quy định chỉ có TAND là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ ánhình sự phù hợp với nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kếttội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”
Đối với các vụ án dân sự: Tòa án chỉ xét xử các vụ án dân sự trong trường
hợp công dân, pháp nhân, tổ chức khởi kiện hoặc Viện kiểm sát khởi tố yêu cầuTòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của tập thể, của nhà nướchay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm Những vụ án dân sự thuộcđối tượng giải quyết của Tòa án bao gồm: tranh chấp về quyền sở hữu tài sản;quyền sở hữu công nghiệp; các tranh chấp hợp đồng dân sự giữa công dân vớicông dân, giữa công dân với pháp nhân và giữa các pháp nhân với nhau Cáctranh chấp về quyền thừa kế, quyền tác giả của tác phẩm văn học nghệ thuật,nhà ở…
Đối với các vụ án hôn nhân và gia đình: Tòa án tiến hành xét xử những
vụ việc như: ly hôn do một bên yêu cầu; chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu cấpdưỡng khi ly hôn; giao con chưa thành niên cho một bên nuôi dưỡng; hủy việckết hôn trái pháp luật; chia tài sản chung vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại;yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
Đối với những vụ án lao động: Tòa án xét xử những khiếu nại của công
nhân viên chức bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc; Học sinh họcnghề trong nước, học nghề bị buộc phải bồi thường phí tổn đào tạo cho nhànước vì bị kỷ luật; Người đi hợp tác lao động với nước ngoài bị buộc phải bồithường phí tổn cho nước ngoài vì vi phạm hợp đồng, bị kỷ luật buộc trả về nướctrước thời hạn
Trang 18Đối với việc xét xử những vụ án kinh tế: Tòa án xét xử các tranh chấp về
hợp đồng kinh tế; tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau liên quanđến việc thành lập; giữa mua bán cổ phiếu, trái phiếu; tranh chấp kinh tế khác
Đối với những vụ án hành chính: Tòa án xét xử các khiếu kiện quyết định
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính với hình thức giáo dục tại xã; khiếu kiệnquyết định buộc thôi việc trái pháp luật; khiếu kiện quyết định trưng dụng, trưngmua tài sản, quyết định tịch thu tài sản…
Ngoài ra, TAND còn giải quyết các vụ việc khác theo quy định của phápluật như: xác định công dân đã chết hoặc mất tích; khiếu nại liên quan đến hộtịch; khiếu nại về danh sách cử tri; khiếu nại cơ quan báo chí về việc không cảichính thông tin có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác
1.2.2 Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
Nhiệm vụ của TAND là mục tiêu mà Tòa án cần đạt tới, là các vấn đề màTAND cần phải giải quyết Trong những nhiệm vụ của TAND có nhiệm vụchung, cơ bản và lâu dài Để thực hiện những nhiệm vụ chung ấy, TAND cầnthực hiện những nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng của đất nước.Theo quy định của Điều 126 Hiến pháp năm 1992 và Điều 1 Luật tổ chứcTAND năm 2002 quy định: “Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án cónhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa vàquyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệtính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Bằng hoạt độngcủa mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấphành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ýthức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác”.Nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN, chế độ XHCN và bảo vệ các quyền tự do,dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài của
Trang 19TAND Nó thể hiện rõ nét bản chất dân chủ và nhân đạo của TAND của nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
TAND thực hiện chức năng xét xử nhằm bảo đảm việc nghiêm chỉnh chấphành pháp luật, tôn trọng pháp chế XHCN Mọi hành vi xâm phạm lợi ích hợppháp của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phải được phát hiệnkịp thời xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật, không làm oan người ngay, nhưngcũng không để lọt tội phạm Thông qua hoạt động xét xử, TAND có nhiệm vụgiáo dục công dân lòng chung thành với tổ quốc Việt Nam, với sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội, có ý thức chấp hành nghiệm chỉnh pháp luật, tôn trọngnhững quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tộiphạm và các vi phạm pháp luật khác Những vụ án đưa ra xét xử công khai lànhằm giáo dục công dân ý thức tôn trọng pháp luật, góp phần vào sự hình thành
và phát triển nền văn hóa pháp lý XHCN với tư cách là một bộ phận cấu thànhcủa nền văn hóa nói chung
Để nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật của hoạt động xét xử TAND cáccấp đã dành nhiều quan tâm đến việc tổ chức nội dung và hình thức phiên tòaxét xử, người có tội phải bị xét xử đúng pháp luật Phán quyết của Tòa án phảithể hiện sự công minh, công bằng, bình đẳng pháp luật Để làm được việc đócần nâng cao trình độ, phẩm chất và trách nhiệm của cán bộ tiến hành tố tụng tạiphiên tòa, phải quan tâm thích đáng tới cơ sở vật chất của toàn ngành Tòa án,tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, xây dựng ngành Tòa án vữngmạnh về mọi mặt
1.3 Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
TAND là bộ phận của bộ máy nhà nước nên tổ chức và hoạt động củaTAND phải tuân theo 5 nguyên tắc chung như các cơ quan nhà nước khác như:nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nguyên tắc Đảng lãnhđạo đối với nhà nước; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc bình đẳng, đoàn
Trang 20kết giữa các dân tộc; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, TAND
là cơ quan tài phán, có vị trí đặc biệt trong hệ thống các cơ quan nhà nước Côngtác của TAND cũng có những nét đặc thù so với công tác của các cơ quan nhànước khác, nên hoạt động xét xử của TAND phải tuân theo những nguyên tắcriêng dựa trên nền tảng của những nguyên tắc chung Những nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của TAND là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo trong tổchức và hoạt động của TAND
Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán, bầu và cử Hội thẩm nhân dân
Ở nước ta, trước đây theo quy định của Hiến pháp năm 1946 chế độ bổnhiệm Thẩm phán được thực hiện ở tất cả các cấp Tòa án Thẩm phán xét xử vàThẩm phán buộc tội đều do Chính phủ bổ nhiệm Nhưng từ Hiến pháp năm 1959đến trước khi có Hiến pháp năm 1992 chế độ bầu cử Thẩm phán đã được thựchiện ở các cấp TAND Thẩm phán TAND tối cao do UBTVQH cử (Hiến phápnăm 1959), Hội Đồng nhà nước cử (Hiến pháp năm 1980); Thẩm phán củaTAND các cấp địa phương do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp bầu ra vàbãi miễn
Chế độ bầu cử Thẩm phán có ưu điểm là đảm bảo cho nhân dân lao độngtrực tiếp thực hiện quyền dân chủ trong việc lựa chọn những người thay mặtmình thực hiện công tác xét xử Tuy nhiên, việc thực hiện chế độ Thẩm phánbầu bên cạnh những ưu điểm còn có những hạn chế của nó như: việc thực hiệnbầu Thẩm phán ở nhiều địa phương còn rất hình thức, chưa lựa chọn đượcnhững người có trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt để làm Thẩm phán.Nhiệm kỳ hoạt động ngắn làm cho Thẩm phán không có ý thức trau dồi kiếnthức chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt không yêu tâm công tác, hoạt động xét xửcủa Tòa án không bảo đảm nguyên tắc độc lập chỉ tuân theo pháp luật vì tâm lýnếu không được lòng chính quyền…Để khắc phục những hạn chế của chế độbầu Thẩm phán, Điều 128 Hiến pháp năm 1992 và Điều 3 Luật tổ chức TANDquy định chế độ bổ nhiệm Thẩm phán thay cho chế độ bầu Thẩm phán Các
Trang 21Thẩm phán của TAND các cấp đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệmcách chức theo đề nghị của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán các cấp Nhiệm kỳhoạt động của Thẩm phán là năm năm (riêng Chánh án TAND Tối cao do Quốchội bầu và bãi nhiệm, miễn nhiệm) Để thực hiện chế độ bổ nhiệm đối với Thẩmphán TAND các cấp, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh về Thẩm phán và Hộithẩm nhân dân năm 1993, trong đó quy định rõ tiêu chuẩn cụ thể về chuyênmôn, nghiệp vụ, chính trị, đạo đức của Thẩm phán Trước khi được bổ nhiệmlàm Thẩm phán, người đó phải qua sự sơ tuyển của Hội đồng tuyển chọn.
Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán bảo đảm cho nhà nước lựa chọn đượcnhững người có đủ điều kiện về trình độ, nghiệp vụ, về tư cách đạo đức chínhtrị, đạo đức nghề nghiệp để thực hiện chức năng xét xử của Tòa án Thẩm phánđược bổ nhiệm sẽ yên tâm công tác, có điều kiện để tích lũy kiến thức, kinhnghiệm xét xử, nâng cao trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm cá nhânđảm bảo thực hiện được nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhândân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật
Nguyên tắc khi xét xử có Hội thẩm nhân dân (Hội thẩm quân nhân tham gia), Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 129 Hiến Pháp năm 1992 và Điều
4 Luật tổ chức TAND năm 2002 Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyềnvới Thẩm phán là điều kiện để Hội thẩm nhân dân phát huy được vai trò làngười đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án
Nguyên tắc này giúp bảo đảm tính nghiêm minh, đúng pháp luật và họgần gũi với nhân dân và quân nhân, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng, do vậykhi tham gia xét xử giúp cho Hội đồng xét xử nắm bắt được phong tục tập quán,nguyện vọng quần chúng, đặc điểm tình hình địa phương…để các bản án vàquyết định của Tòa án mang tính giáo dục cao Trên thực tế, để Hội thẩm nhândân ngang quyền với Thẩm phán trong quá trình xét xử, một yêu cầu cần thiết
Trang 22hiện nay là nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho các Hội thẩm nhândân.
Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật
Điều 130 Hiến Pháp và Điều 5 Luật tổ chức TAND quy định về nguyêntắc này Theo đó, khi xét xử tất cả các vụ án ở tất cả các trình tự tố tụng, Thẩmphán và Hội thẩm nhân dân chỉ căn cứ vào chứng cứ và các quy phạm pháp luậtcần áp dụng để giải quyết các vụ việc và ra các bản bán, quyết định cụ thể,không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp của bất kì ai Các thành viên trong hộiđồng xét xử cũng độc lập với nhau trong việc xác định chứng cứ, lựa chọn cácquy phạm pháp luật cần được áp dụng để định tội và lượng hình đối với các vụ
án hình sự, quyết định quyền và nghĩa vụ của đương sự trong các vụ án Đối vớimột bản án có thể phải xét xử nhiều lần theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm,giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Đối với các bản án xét xử sơ thẩm thì không phảixin ý kiến chỉ đạo của Tòa án cấp trên Ngược lại, khi xét xử phúc thẩm, giámđốc thẩm hoặc tái thẩm không lệ thuộc vào chứng cứ, kết luận và quyết định củatòa án đã xét xử sơ thẩm mà phải tự mình xác định chứng cứ, quy phạm phápluật cần được áp dụng để có quyết định cụ thể
Nguyên tắc này đảm bảo cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lậpkhông bị lệ thuộc bởi sự tác động của cơ quan và cá nhân nào, có vậy hoạt độngxét xử mới đánh giá một cách khách quan mọi khía cạnh của vụ việc và áp dụngpháp luật một cách công tâm nhằm ra phán quyết đúng đắn, chính xác Để đảmbảo việc thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dânphải luôn luôn đề cao ý thức cá nhân với tư cách là người nhân danh nhà nướcthực hiện chức năng xét xử để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân Các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải thật
sự chí công vô tư, kiên quyết bảo vệ pháp luật
Trang 23 Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Nguyên tắc này được quy định từ Hiến pháp năm 1980 đến Hiến phápnăm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 (Điều 131) và các Luật tổ chức TANDnăm 1960, năm 1981, năm 1992, năm 2002
Hội đồng xét xử sơ thẩm của các TAND địa phương: gồm một Thẩmphán và hai Hội thẩm nhân dân Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêmtrọng, phức tạp thì hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba hội thẩm nhândân Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt cómức cao nhất là tử hình thì Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba hội thẩmnhân dân; Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợpcần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm nhân dân Tòa chuyên trách TAND Tốicao hoặc Tòa án quân sự trung ương gồm ba Thẩm phán Nếu Ủy ban Thẩmphán hoặc Hội đồng Thẩm phán giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì thành viêntham gia xét xử phải chiếm 2/3 tổng số các thành viên của Ủy ban Thẩm phánhoặc Hội đồng thẩm phán tham gia Nguyên tắc này phát huy được trí tuệ tập thể
và bảo đảm việc xét xử của Tòa án thận trọng, khách quan, toàn diện, chống độcđoán Hội đồng xét xử làm việc tập thể và chịu trách nhiệm trước những phánquyết của mình mọi thành viên Hội đồng xét xử ngang quyền nhau
Nguyên tắc Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định
Nguyên tắc này được quy định từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến phápnăm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và cụ thể hóa trong các luật tổ chứcTAND năm 1960, năm 1981, năm 1992, năm 2002
Nguyên tắc xét xử công khai là một trong những nguyên tắc dân chủ củahoạt động xét xử XHCN Nguyên tắc này góp phần vào việc giáo dục và nângcao ý thức tôn trọng pháp luật, thu hút đông đảo nhân dân tham gia vào cuộc đấutranh, chống tội phạm và các vi phạm Mặt khác nguyên tắc này đảm bảo chonhân dân quyền tham dự phiên tòa, tạo điều kiện cho nhân dân giám sát hoạt
Trang 24động của Tòa án cũng như các cơ quan chức năng khác, nâng cao ý thức tráchnhiệm của những người tiến hành tố tụng và do đó nguyên tắc này là một trongnhững bảo đảm cho hoạt động xét xử được thực hiện theo pháp luật.
Tính công khai trong hoạt động xét xử được hiểu là việc xét xử các vụ ánhình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động, hành chính được tiếnhành công khai tại phiên tòa, mọi công dân từ 16 tuổi trở lên đều có quyền tham
dự và theo dõi diễn biến của phiên tòa Tòa án có thể niêm yết kế hoạch xét xửtại trụ sở Tòa án hoặc thông báo việc xét xử trên các phương tiện thông tin đạichúng để nhân dân biết, tham dự hoặc Tòa án tổ chức các phiên tòa lưu động ởdưới địa phương Ngoài xét xử công khai, Tòa án có thể xét xử kín trong một sốtrường hợp Đó là những trường hợp vụ án có liên quan đến bí mật quốc giahoặc thuần phong mĩ tục của dân tộc cũng như để giữ bí mật của các đương sựtheo yêu cầu chính đáng của họ Tòa án có thể xử kín một phần cũng có thể xửkín toàn bộ vụ án, nhưng tuyên án phải công khai để mọi người được biết
Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc này là một nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ XHCN đượcquy định tại Điều 52 Hiến pháp năm 1992 và Điều 8 Luật tổ chức TAND năm2002: “Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước phápluật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội,địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sởsản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước phápluật.”
Theo quy định trên thì mọi tội phạm, mọi tranh chấp pháp lý do bất kì aithực hiện đều phải được TAND xét xử công bằng, không thiên vị Mặt khác, khixét xử Tòa án phải đảm bảo sự bình đẳng của công dân về quyền và nghĩa vụkhi họ tham gia vào các thủ tục tố tụng do pháp luật tố tụng đã quy định Tronghoạt động xét xử, Tòa án phải tôn trọng nguyên tắc này để đảm bảo cho vụ án
Trang 25được xét xử khách quan, toàn diện, triệt để và đầy đủ Để nguyên tắc mọi côngdân đều bình đẳng trước pháp luật được thực hiện trên thực tế đòi hỏi các Thẩmphán và Hội thẩm nhân dân phải tinh thông về nghiệp vụ, trong sáng về đạo đứcnghề nghiệp, có tinh thần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thực
sự “chí công vô tư” trong hoạt động xét xử, chống sự áp đặt từ bên ngoài
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Đây là nguyên tắc được quy định trong các bản Hiến pháp năm 1946 đếnnăm 1992 và các Luật tổ chức TAND năm 1960, năm 1981, năm 1992, năm
2002, là nguyên tắc dân chủ trong hoạt động tố tụng của Tòa án Nội dungnguyên tắc này quy định bị cáo có quyền bào chữa hoặc nhờ luật sư, bào chữaviên nhân dân, người đại diện hợp pháp của bị cáo bào chữa cho bị cáo Bảođảm quyền bào chữa của bị cáo là nhằm làm cho việc xét xử của Tòa án đượckhách quan, toàn diện và chính xác Quyền bào chữa là quyền cần thiết và quantrọng của công dân được quán triệt trong các giai đoạn tố tụng
Để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo trong nhữngtrường hợp do luật định thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêucầu Đoàn luật sư của người bào chữa cho họ Đó là các trường hợp bị can, bị cáophạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại BộLuật hình sự; bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm vềthể chất hoặc tinh thần người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tự mình hoặc có quyền nhờ luật sưbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ
Nguyên tắc công dân Việt Nam có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án
Nguyên tắc này thể hiện rõ chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta.Nhà nước ta thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân
Trang 26tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết giữ gìn bản sắc dân tộc vàphát huy những phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình(Điều 5 Hiến pháp năm 1992) Tại Điều 133 Hiến pháp năm 1992 và Điều 10Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định: “Tòa án bảo đảm cho những ngườitham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước tòa án”.
Nguyên tắc này bảo đảm cho những người tham gia tố tụng dùng tiếngnói, chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án không những bảo đảm quyền dùngtiếng nói, chữ viết của các dân tộc mà đó còn là điều kiện để bảo đảm cho việcxét xử được chính xác, đúng sự thật khách quan của sự việc, bảo đảm nâng caohiệu quả xét xử Bởi vì nguyên tắc này tạo điều kiện cho người tham gia tố tụng
có điều kiện trình bày một cách dễ dàng, chính xác, đầy đủ về sự thật của vụ án,chứ không nhất thiết diễn đạt bằng tiếng nói, chữ viết phổ thông khi mà nhiềungười dân tộc sử dụng không thành thạo đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, các dântộc ít người thuộc quốc gia Vì vậy, khi người tham gia tố tụng trình bày bằngngôn ngữ dân tộc thì Tòa án phải cử người phiên dịch
Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân chịu sự giám sát của các
cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 135 Hiến Pháp năm 1992 và Điều
16 Luật tổ chức TAND năm 2002
TAND chịu sự giám sát của Quốc hội; Chánh án TAND tối cao phải chịutrách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội khônghọp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBTVQH và Chủ tịch nước
và trả lời chất vấn các Đại biểu Quốc hội TAND địa phương chịu sự giám sátcủa Hội đồng nhân dân cùng cấp Chánh án TAND địa phương chịu trách nhiệmbáo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trả lời chất vấn của Đạibiểu Hội đồng nhân dân
Nguyên tắc Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử
Trang 27Theo quy định của Điều 11- Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002:
“Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử” Nội dung của nguyên tắc này là bản
án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân có thể bị kháng cáo, kháng nghịtheo quy định của pháp luật tố tụng Bản án, quyết định sơ thẩm không bị khángcáo, kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định thì có hiệu lực pháp luật.Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phảiđược xét xử phúc thẩm
Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TAND là hệ thống tư tưởngchỉ đạo của Đảng và Nhà nước được quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chứcTAND Việc tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TAND có ýnghĩa quan trong, nó bảo đảm cho Tòa án xét xử khách quan, đúng người, đúngtội, đúng pháp luật đồng thời bảo đảm cho bị cáo và đương sự bảo vệ quyền làlợi ích hợp pháp của đương sự
1.4 Nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức của Tòa án nhân dân các cấp
Là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam, các TAND hợp thành một hệ thống thống nhất gồm: TAND tối cao;các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Các TAND huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh; Các Tòa án quân sự; Các Tòa án khác do luật định.Các Tòa án trong hệ thống TAND hoạt động theo những nguyên tắc riêng màLuật tổ chức TAND năm 1992 (sửa đổi năm 2002) quy định
1.4.1 Tòa án nhân dân tối cao
Theo quy định tại Điều 18 của Luật tổ chức TAND năm 2002, thì TANDtối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam
a Nhiệm vụ, quyền hạn của TANDTC
Về nhiệm vụ của TAND tối cao
Trang 28- Hướng dẫn các TAND địa phương và các Tòa án quân sự áp dụng thống nhấtpháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án các cấp.
- Giám đốc việc xét xử của các Tòa án các cấp; giám đốc việc xét xử của Tòa ánđặc biệt và các tòa án khác, trừ trường hợp có quy định khác khi thành lập cáctòa án đó
- Trình Quốc hội dự án Luật và trình UBTVQH dự án Pháp lệnh theo quy địnhcủa pháp luật
Về thẩm quyền của TAND tối cao
- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực phápluật của tòa án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định củapháp luật tố tụng
- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tốtụng
- Giải quyết các vụ việc khác theo quy định của pháp luật như thẩm quyền giảiquyết khiếu nại của các Tòa phúc thẩm đối với các quyết định của TAND tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương về tuyên bố phá sản doanh nghiệp, giải quyếtcác cuộc đình công theo quy định của pháp luật…
b Tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao
Tổ chức của TAND tối cao hiện nay được quy định trong Chương II Luật
tổ chức TAND năm 2002 Thành phần của TAND tối cao gồm có: Chánh án,các Phó Chánh án, Các Thẩm phán, các Thư ký Để thực hiện nhiệm vụ, thẩmquyền của mình có hiệu quả, TAND tối cao có cơ cấu tổ chức bao gồm: Hộiđồng Thẩm phán, các Tòa chuyên trách, các Tòa phúc thẩm và bộ máy giúpviệc Như vậy, trong cơ cấu tổ chức của TAND tối cao hiện nay không còn Ủyban thẩm phán
Trang 29 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Hội đồng thẩm phán TAND tối cao gồm có Chánh án, các Phó chánh án,các Chánh Tòa, Phó Chánh Tòa chuyên trách và một số thẩm phán TAND tối
cao được Chánh án TAND tối cao cử và được UBTVQH phê chuẩn Hội đồng
thẩm phán là cơ quan xét xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, đồngthời là cơ quan hướng dẫn công tác xét xử của các Tòa án các cấp
Theo quy định của pháp luật hiện hành, Hội đồng Thẩm phán TAND tốicao có nhiệm vụ, quyền hạn sau: Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương bị kháng nghị; hướng dẫn Tòa án các cấp ápdụng thống nhất pháp luật bằng các Thông tư, Nghị quyết; tổng kết kinh nghiệmxét xử; chuẩn bị các dự án Luật để trình Quốc Hội, dự án Pháp lệnh để trìnhUBTVQH Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao làm việc tập thể và quyết địnhtheo đa số Các cuộc họp của Hội đồng thẩm phán phải có ít nhất 2/3 tổng sốthành viên tham dự và các quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối caophải được quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng thẩm phán biểu quyết tánthành mới có giá trị
Các Toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao
Các tòa chuyên trách của TAND tối cao gồm: Tòa hình sự, Tòa dân sự,Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính, các Tòa phúc thẩm Thành phần cáctòa chuyên trách TAND tối cao bao gồm: Chánh tòa, các phó Chánh tòa, Thẩmphán, Thư ký
Các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
Các Tòa phúc thẩm TAND tối cao có trụ sở tại: Hà Nội, Đà Nẵng, Thànhphố Hồ Chí Minh Các Tòa phúc thẩm có nhiệm vụ, quyền hạn sau: Phúc thẩmnhững vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của
Trang 30TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bị kháng cáo, kháng nghị theoquy định của Luật tố tụng; giải quyết khiếu nại đối với các quyết định củaTAND cấp tỉnh về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của TAND cấp tỉnh về việc giảiquyết các cuộc đình công theo quy định của pháp luật.
Bộ máy giúp việc Tòa án nhân dân tối cao
Bộ máy giúp việc và các cơ quan trực thuộc TAND tối cao gồm có: Vụ tổchức cán bộ, Văn phòng, Viện nghiên cứu khoa học xét xử, Tạp chí Tòa án, Tậpsan người bảo vệ công lí, Trường bồi dưỡng cán bộ Tòa án Các cơ quan nàyđược thành lập nhằm phục vụ cho hoạt động xét xử và hướng dẫn xét xử củaTAND tối cao
1.4.2 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
a Nhiệm vụ, quyền hạn của TAND cấp tỉnh
- TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền theo quy địnhcủa pháp luật tố tụng hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyệnnhưng TAND cấp tỉnh lấy lên để xét xử Đó là những vụ án phức tạp, những vụ
án có những tình tiết khó đánh giá về tính chất vụ án
- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực phápluật của tòa án cấp dưới bị kháng cáo,kháng nghị theo quy định của pháp luật tổtụng
- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật của TAND cấp huyện bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tốtụng
- Giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật
Riêng Tòa kinh tế TAND tỉnh còn có nhiệm vụ và quyền hạn giải quyếtviệc phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và Tòa lao động TAND
Trang 31tỉnh còn có nhiệm vụ và quyền hạn giải quyết các cuộc đình công theo quy địnhcủa pháp luật.
b Tổ chức của TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Tổ chức của TAND cấp tỉnh được quy định trong Chương III Luật tổchức TAND năm 2002, trong đó quy định cơ cấu tổ chức TAND cấp tỉnh gồm
có Ủy ban Thẩm phán, các Tòa chuyên trách và Bộ máy giúp việc Thành phầncủa TAND cấp tỉnh bao gồm: Chánh án, các phó Chánh án,Thẩm phán và Thưký
Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh
Ủy ban thẩm phán gồm có Chánh án, các phó Chánh án; các Chánh Tòahình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Ủy ban Thẩm phán là tổ chức xét
xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, đồng thời có nhiệm vụ, quyền hạn:Hướng dẫn TAND cấp huyện thực hiện các Nghị quyết, Thông tư hướng dẫncủa TAND tối cao; bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật tại Tòa án mình
và các Tòa án cấp dưới; tổng kết kinh nghiệm xét xử, thông qua báo cáo củaChánh án TAND cấp tỉnh về công tác của các Tòa án ở địa phương để báo cáotrước Hội đồng nhân dân cùng cấp và với TAND tối cao Tổng số thành viêncủa Ủy ban thẩm phán TAND tỉnh không quá chín người Phiên họp của Ủy banthẩm phán TAND tỉnh phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia.Quyết định của Ủy ban thẩm phán TAND tỉnh phải được quá nửa tổng số thànhviên biểu quyết tán thành
Các Tòa chuyên trách TAND cấp tỉnh
Các tòa chuyên trách TAND tỉnh gồm có: Tòa hình sự, tòa dân sự, tòakinh tế, tòa lao động, tòa hành chính Các tòa chuyên trách này có Chánh tòa,phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thư kí
Bộ máy giúp việc của TAND cấp tỉnh