Để sử dụng tiết kiệm nguồn nước trên các lưu vực sông, thực tế vận hành đặt ra nhiều bài toán quy hoạch vận hành: Quy hoạch vận hành ngắn hạn. Quy hoạch vận hành dài hạn. Chiến lược điều tiết nguồn nước. Xây dựng các mô hình toán học về đặc tính vận hành các hệ thống thiết bị, công trình thủy điện bậc thang.
Trang 1Trước hết, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô của bộ
môn Hệ Thống Điện thuộc khoa Kỹ Thuật Điện–Điện Tử đã dạy dỗ tôi trong
thời gian học cao học tại trường Bách khoa TP Hồ Chí Minh, đặc biệt tôi bày tỏ
lòng cám ơn sâu sắc đến thầy Hồ Đắc Lộc, người đã tận tình hướng dẫn trực
tiếp để tôi hoàn thành luận văn này
Để hoàn thành luận văn, không thể không có các số liệu về đặc tính các
hệ thống thiết bị, công trình làm cơ sở cho tính toán, tôi xin chân thành cám ơn
Giám đốc nhà máy thuỷ điện Ialy đã cho phép tôi thu thập và công bố các số
liệu của các nhà máy thuộc hệ thống sông Sê San
Tôi xin gửi lời cám ơn các bạn bè học lớp cao học K15, các đồng nghiệp
làm việc tại nhà máy thuỷ điện Ialy đặc biệt là các trưởng ca vận hành nhà
máy Ialy, Sê San 3, Pleikrông đã góp ý kiến về tính thực tiễn của đề tài
Cho phép tôi gửi lời cám ơn ban Giám đốc nhà máy thuỷ điệân Ialy đã tạo
mọi điều kiện để cho tôi được tham dự lớp học trong điều kiện Nhà máy còn
nhiều khó khăn khi mới đưa vào vận hành nhà máy Ialy (6 năm), vừa thử nghiệm
đưa vào vận hành nhà máy Sê San 3, vừa giám sát nghiệm thu và chuẩn bị vận
hành các nhà máy Pleikrông, Sê San 4…
Cuối cùng tôi xin cám ơn mẹ tôi đã cho tôi sức mạnh tinh thần để vượt qua
các khó khăn trong công việc và học tập
TP Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2006
Trang 2TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI Trong bối cảnh các nguồn năng lượng hoá thạch đang bị cạn kiệt và giá cả
tăng lên hằng ngày, đồng thời trong điều kiện Việt Nam đang bị thiết điện trầm
trọng như hiện nay và nhiều năm tới, thì việc khai thác các nguồn nước trên các lưu
vực sông để phát điện là việc làm hết sức cần thiết để giảm lệ thuộc vào năng
lượng nhập khẩu và ổn định sản xuất cho nền kinh tế
Hệ thống bậc thang thuỷ điện trên sông Sê San đóng một vai trò quan trọng
trong việc cung cấp điện năng và giữ vững ổn định hệ thống điện Việt Nam Việc
đưa vào vận hành các nhà máy trên cùng một lưu vực sông cũng đặt ra cho các
công ty, nhà máy vận hành thuỷ điện những thách thức mới đó là tìm biện pháp sử
dụng một cách hiệu quả nguồn nước
Để sử dụng tiết kiệm nguồn nước trên các lưu vực sông, thực tế vận hành
đặt ra nhiều bài toán quy hoạch vận hành: quy hoạch vận hành ngắn hạn, vận hành
dài hạn và chiến lược điều tiết nguồn nước… trong khuôn khổ luận văn này, tác giả
đã đặt ra bài toán vận hành tối ưu ngắn hạn các nhà máy thuỷ điện trên sông Sê
San Với mục tiêu đó, luận văn tập trung vào việc điều tra, khảo sát các số liệu về
hệ thống các thiết bị công trình; xây dựng các mô hình toán học về đặc tính vận
hành các hệ thống thiết bị, công trình; tìm phương pháp thích hợp để xây dựng
thuật toán giải; viết chương trình mô tả thuật toán và áp dụng vào công tác hỗ trợ
quyết định vận hành tối ưu tại các nhà máy thuộc bậc thang thuỷ điện trên sông Sê
San
Hướng mở rộng của luận văn là ngoài việc áp dụng trước mắt cho cụm các
nhà máy thuỷ điện trên sông Sê San, có thể mở rộng áp dụng cho bài toán vận
hành tối ưu của các bậc thang thuỷ điện khác và hướng đề tài đến việc phục vụ cho
việc hỗ trợ quyết định vận hành các cụm thuỷ điện trong thị trường cạnh tranh
nguồn phát
Sau đây, các chương 1-6 sẽ lần lược giải quyết nội dung của luận văn
Trang 3MỤC LỤC
1 CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Phân bố công suất tối ưu hệ thống bậc thang thuỷ điện 2
1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
1.5 Những nội dung chính của đề tài 5
1.6 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài 6
1.7 Phương pháp nghiên cứu 6
2 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN HỆ THỐNG THUỶ ĐIỆN TRÊN SÔNG SÊ SAN 7
2.1 Đặc điểm và tiềm năng thuỷ điện trên lưu vực sông Sê San 8
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 8
2.1.2 Địa hình 8
2.1.3 Khí hậu 9
2.1.4 Độ ẩm và bốc hơi 9
2.1.5 Dòng chảy 9
2.1.6 Năng lực thuỷ điện trên lưu vực sông Sê San 10
2.2 Đặc trưng thuỷ văn lưu vực sông, đặc tính các hồ chứa trên sông Sêsan 12
2.2.1 Đặc trưng thuỷ văn lưu vực sông Sê San 12
2.2.2 Đặc tính các hồ chứa trên sông Sê San 12
2.2.3 Đặc tính các công trình tràn của hồ chứa 14
2.3 Chính sách quản lý-điều tiết hồ chứa 15
2.4 Đặc điểm thiết bị và đặc tính các nhà máy thuỷ điện trên sông Sêsan 18
2.5 Vai trò của hệ thống thuỷ điện trên sông Sêsan đối với hệ thống điện 21
2.6 Phân tích khả năng khai thác tối ưu ngắn hạn công suất, năng lượng theo các hồ chứa trên sông Sêsan 22
2.7 Kết luận 22
3 CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH HỆ THỐNG BẬC THANG THUỶ ĐIỆN 24
3.1 Mô tả hệ thống bậc thang thuỷ điện 24
3.2 Hệ thống điện 25
Trang 43.3 Lựa chọn thuật toán 25
3.4 Các giả thiết chính khi xây dựng bài toán 27
3.5 Xây dựng mô hình hệ thống và hình thành bài toán 28
3.5.1 Mô hình thời gian 28
3.5.2 Sự phụ thuộc thời gian của hệ thống thuỷ điện 29
3.5.3 Xây dựng mô hình bậc thang thuỷ điện 29
3.5.4 Xấp xỉ tuyến tính hoá từng đoạn thành phần phi tuyến 31
3.5.5 Các ký hiệu sẽ dùng trong phần xây dựng mô hình 34
3.5.6 Xây dựng mô hình toán học các biểu thức ràng buộc 35
3.5.7 Xây dựng hàm phạt do vi phạm mức nước mục tiêu của hồ 42
3.5.8 Xây dựng hàm mục tiêu 45
3.6 Kết luận 46
4 CHƯƠNG 4 KỸ THUẬT GIẢI BÀI TOÁN PHÂN BỐ TỐI ƯU CÔNG SUẤT .47
4.1 Phạm vi tính toán 47
4.2 Thiết lập bài toán 48
4.3 Phương pháp quy hoạch tuyến tính 49
4.4 Các thuật toán 50
4.5 Ngôn ngữ mô hình đại số Ngôn ngữ tính toán kỹ thuật Matlab 59
4.6 Các dữ liệu của bài toán 60
4.6.1 Dữ liệu đầu vào 60
4.6.2 Dữ liệu đầu ra 72
4.7 Kết quả chương trình 72
4.7.1 Phân bố công suất theo thời gian 72
4.7.2 Diễn biến mức nước hồ theo thời gian 73
4.7.3 Diễn biến dung tích hồ theo thời gian 73
4.7.4 Diễn biến xả tràn các hồ chứa 74
4.8 Phân tích các kết quả 74
4.9 Kết luận 75
5 CHƯƠNG 5 CHƯƠNG TRÌNH ÁP DỤNG 76
Trang 55.1 Xây dựng chương trình và hướng dẫn áp dụng 76
5.2 Đánh giá kết quả chương trình 79
5.3 Kết luận 79
6 CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN 80
6.1 Các nội dung đề tài đã giải quyết 80
6.2 Triển vọng phát triển đề tài 81
6.2.1 Các yếu điểm bộc lộ từ đề tài 81
6.2.2 Hướng phát triển mở rộng đề tài 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Phụ lục 1 Sơ đồ hệ thống bậc thang thuỷ điện trên sông Sê San PL1-1
Phụ lục 2 Các chương trình được sử dụng trong luận văn PL2-1
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ các nhà máy thuỷ điện trên sông Sê San (nguồn: Ily, 2003) 1
Hình 2.1 Quá trình điều tiết hồ chứa 16
Hình 2.2 Đặc tính vận hành turbine Pleikrông (nguồn: Ily, 2006) 18
Hình 2.3 Đặc tính vận hành máy phát Pleikrông 19
Hình 2.4 Đặc tính vận hành turbine Ialy (nguồn: Ily, 1998) 19
Hình 2.5 Đặc tính vận hành máy phát Ialy (nguồn Ily,1998) 20
Hình 2.6 Đặc tính vận hành turbine Sê San 3 (nguồn Ily, 2005) 20
Hình 2.7 Đặc tính vận hành máy phát Sê San 3 (nguồn Ily, 2005) 21
Hình 3.1 Hệ thống bậc thang thuỷ điện 24
Hình 3.2 Mô tả hệ thống điện 25
Hình 3.3 Mô hình hệ thống mạng thuỷ điện 30
Hình 3.4 Xấp xỉ tuyến tính hoá từng đoạn hàm phi tuyến 31
Hình 3.5 Đặc tính phát của tổ máy 38
Hình 3.6 Đặc tính xả tràn của hồ chứa 41
Hình 3.7 Mô tả các dạng đặc tính hàm phạt do vi phạm mức nước mục tiêu.43 Hình 3.8 Đặc tính tuyến tính hoá hàm phạt 44
Hình 4.1 Phạm vi tính toán 47
Hình 4.2 Quan hệ dung tích theo mức nước hồ và sai số nội suy hồ Plk 63
Hình 4.3 Quan hệ dung tích theo mức nước hồ và sai số nội suy hồ Ily 65
Hình 4.4 Quan hệ dung tích theo mức nước hồ và sai số nội suy hồ Ss3 66
Hình 4.5 Lưu lượng nước tự nhiên về các hồ (nguồn: Ily) 67
Hình 4.6 Đặc tính hiệu suất turbine của Plk (nguồn: Ily, 2006) 68
Trang 7Hình 4.7 Đặc tính hiệu suất turbine của Ily (nguồn: Ily, 1998) 69
Hình 4.8 Đặc tính hiệu suất turbine của Ss3 (nguồn: Ily, 2005) 69
Hình 4.9 Thay đổi mức nước hồ trong một năm (đối với hồ điều tiết năm) 70
Hình 4.10 Biểu đồ huy động công suất và yêu cầu dự trữ công suất (nguồn: Ily) 72
Hình 4.11 Kết quả phân bố công suất của các nhà máy 72
Hình 4.12 Diễn biến mức nước các hồ theo thời gian 73
Hình 4.13 Diễn biến dung tích các hồ theo thời gian 73
Hình 4.14 Xả tràn của các hồ chứa 74
Hình 5.1 Giao diện chính của chương trình 76
Hình 5.2 Bảng nhập thông số các hồ chứa và thời gian khảo sát 77
Hình 5.3 Bảng nhập các dữ liệu dạng bảng (Pd, Pr, B…) 77
Hình 5.4 Kiểm tra dữ liệu đầu vào 78
Hình 5.5 Trình đơn xem kết quả tối ưu của chương trình 78
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Đặc trưng hình thái lưu vực sông Sê San (nguồn: PECC1,2002) 8
Bảng 2.2 Thông số các công trình chính trên sông Sê San (nguồn: PECC1).10 Bảng 2.3 Đặc trưng thuỷ văn các hồ chứa lưu vực sông SêSan (nguồn: PECC1) 12
Bảng 2.4 Quan hệ mức nước và dung tích hồ Pleikrông (nguồn: Ily) 13
Bảng 2.5 Quan hệ mức nước và dung tích hồ Ialy (nguồn: Ily) 13
Bảng 2.6 Quan hệ mức nước và dung tích hồ Sê San 3 (nguồn: Ily) 14
Bảng 4.1 Nội suy quan hệ mức nước và dung tích hồ Plk 62
Bảng 4.2 Nội suy quan hệ mức nước và dung tích hồ Ily 64
Bảng 4.3 Nội suy quan hệ mức nước và dung tích hồ Ss3 66
Bảng 4.4 Các thông số hồ chứa (nguồn: Ily) 67
Bảng 4.5 Đặc tính xả tràn các hồ chứa 67
Bảng 4.6 Đặc tính phát nhà máy Plk (nguồn Plk, 2006) 71
Bảng 4.7 Đặc tính phát nhà máy Ily (nguồn Ily, 2006) 71
Bảng 4.8 Đặc tính phát nhà máy Ss3 (nguồn Ily, 2006) 71
Trang 9CÁC ĐƠN VỊ THƯỜNG DÙNG
m3/s mét khối trên giây,
l/s.km2 lít trên giây ứng với một kilômét vuông,
Trang 10CÁC ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT
A0 Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia,
PECC1 Công ty tư vấn xây dựng điện 1,
IEEE Viện các kỹ sư kỹ thuật điện-điện tử quốc tế,
LP quy hoạch truyến tính,
NLP quy hoạch phi tuyến,
GAMS Ngôn ngữ mô hình đại số tổng hợp,
Tkt Nhà máy thuỷ điện Thượng Kon Tum,
Plk Nhà máy thuỷ điện Pleikrông,
Ily Nhà máy thuỷ điện Ialy,
Ss3 Nhà máy thuỷ điện Sê San 3
S3a Nhà máy thuỷ điện Sê San 3A
Ss4 Nhà máy thuỷ điện Sê San 4
MNDBT Mực nước dâng bình thường
Trang 111 CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nước được coi là nguồn than trắng cho sản xuất điện, không những là dạng
năng lượng rẻ tiền, tái sinh, mà trong bối cảnh giá cả các loại năng lượng hoá thạch
truyền thống (dầu, ga, than…) đang leo thang từng ngày và nhiệm vụ chống ô
nhiễm môi trường đang đặt lên hàng đầu… Thì việc khai thác tối ưu các nguồn
nước cho sản xuất năng lượng điện là việc làm cần thiết
Khi nói đến “bậc thang thuỷ điện” hay cụm thuỷ điện trên một dòng sông là
nói đến hoạt động của các hệ thống hồ, đập nối tiếp nhau từ thượng lưu xuống hạ
lưu Việc khai thác vận hành các hồ chứa ở thượng lưu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
lưu lượng nước về ở các hồ hạ lưu, mà lưu lượng nước về hồ là yếu tố quyết định
đến công suất và sản lượng phát của các nguồn phát thuỷ điện Nên cần tính toán
để điều tiết lượng nước về của từng hồ trong toàn cụm các nhà máy thuỷ điện trên
sông Sêsan
Việt Nam còn nghèo, nguồn vốn đầu tư cho phát triển nguồn điện phải dựa
vào vốn vay nước ngoài, do đó việc tìm biện pháp sử dụng tối ưu, tiết kiệm nguồn
nước của bậc thang các hồ thuỷ điện đã xây dựng trên các lưu vực sông là việc làm
quốc sách
Hình 1.1 Sơ đồ các nhà máy thuỷ điện trên sông Sê San (nguồn: Ily, 2003)
Trang 12Các công trình thuỷ điện trên bậc thang thuỷ điện sông Sêsan (hình 1.1) gồm
Nhà máy thuỷ điện Ialy (đã vận hành từ năm 2000), Sêsan 3 (năm 2006), Pleikrông
(năm 2006), Sêsan 3A (năm 2006), Sêsan 4 (2008), Thượng Kontum (2009) đã và
sẽ lần lượt đưa vào vận hành Việc đặt ra và giải bài toán khai thác tối ưu nguồn
nước trên bậc thang sẽ dẫn đến khai thác tối ưu sản lượng cho hệ thống
Cụm các Nhà máy thuỷ điện trên sông Sêsan có tổng công suất lắp đặt
1730MW (sản lượng điện trung bình năm khoảng 8,5 tỉ kWh), sẽ cung cấp điện trực
tiếp đến trạm 500kV Pkieku là “điểm giữa” của hệ thống điện Việc cung cấp một
lượng công suất đáp ứng nhu cầu của hệ thống với sản lượng điện tối ưu trong năm
tại nút Pleiku sẽ góp phần lớn cho ổn định và vận hành kinh tế hệ thống điện Việt
Nam
Kết luận: Việc nghiên cứu giải quyết bài toán phân bố tối ưu công suất cho
cụm các nhà máy trên bậc thang thuỷ điện Sê San là rất cần thiết
1.2 Phân bố công suất tối ưu hệ thống bậc thang thuỷ điện
Bài toán phân bố tối ưu công suất trên bậc thang thuỷ điện là bài toán quy
hoạch vận hành phức tạp, đã được đặt ra và tìm phương pháp giải trong vài thập kỷ
qua Điển hình của các bài toán dạng này là tối thiểu hoá chi phí vận hành hệ
thống thuỷ điện bậc thang dựa trên rất nhiều các ràng buộc như cân bằng sản lượng
hệ thống điện, cân bằng lưu lượng nước, các ràng buộc về tưới tiêu, giao thông,
luật bảo vệ môi trường và các cam kết sử dụng nguồn nước đối với các Uỷ hội
sông quốc tế (tức các ràng buộc về vật lý và luật lệ) Bài toán này được áp dụng
phổ biến nhất là trong các hệ thống bậc thang thuỷ điện vùng Bắc Aâu và Nam
Mỹ-nơi có nhiều bậc thang thuỷ điện và đã có thị trường điện phát triển Cho đến nay,
ở Việt Nam vẫn chưa thấy công bố công trình nào nghiên cứu về quy hoạch vận
hành hệ thống bậc thang thuỷ điện Đối với thị trường điện Việt Nam, tuy đã hình
thành thị trường cạnh tranh nguồn phát, nhưng đối với các nhà máy thuỷ điện lớn
Trang 13(Hoà Bình, Ialy, Trị An) vẫn còn sở hữu 100% vốn nhà nước và chưa tham gia thị
trường điện cạnh tranh nguồn phát, hơn nữa chi phí vận hành cụm thuỷ điện trên
sông Sê San chỉ chiếm 0,2% trong cơ cấu giá thành điện (nguồn: Nhà máy Ialy), do
đó luận văn này không đặt ra việc tối thiểu chi phí sản xuất hệ thống bậc thang mà
chỉ tập trung vào việc tối đa hoá giá trị năng lượng tích trữ ở các hồ chứa vào cuối
chu kỳ khảo sát, tức là tương đương với việc tối thiểu lượng nước chạy máy và xả
tràn bằng cách phân bố tối ưu công suất phát trên các nhà máy
Bài toán quy hoạch vận hành bậc thang thuỷ điện thường gặp phải những
khó khăn chính là: các ràng buộc động về lưu lượng giữa các hồ chứa; các thiết bị
sản xuất điện chưa có mô hình toán học chặt chẽ; các đặc tính của hồ chứa và thiết
bị sản xuất điện đều là dạng phi tuyến; các đặc tính vùng cấm vận hành; các quan
hệ về thuỷ lực phức tạp giữa các hồ chứa liền kề nhau; các tổn thất thuỷ lực khi
vận hành các tổ máy trong cùng một đường ống áp lực; các yếu tố bất định như dự
báo khí tượng thuỷ văn, lưu lượng nước tự nhiên về các hồ và biểu đồ huy động
công suất của hệ thống điện… để giải bài toán trên, trong luận văn này sẽ tiến hành
lập mô hình toán của các hồ chứa, thiết bị sản xuất điện Lựa chọn phương pháp và
thuật toán giải thích hợp với tình hình vận hành thực tế của hệ thống bậc thang
thuỷ điện và đảm bảo độ chính xác chấp nhận được
1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là tìm lời giải thích hợp cho việc phân bố tối ưu công
suất giữa các nhà máy trên bậc thang thuỷ điện để tối đa giá trị năng lượng tích trữ
trong các hồ chứa vào cuối thời gian khảo sát Trong luận văn này, hàm mục tiêu
sẽ là tối đa giá trị năng lượng tích trữ vào cuối thời gian khảo sát dựa trên các dữ
liệu đã biết gồm lưu lượng tự nhiên về hồ, biểu đồ huy động công suất từ hệ thống,
các mức nước hồ mục tiêu vào cuối thời gian khảo sát và các ràng buộc khác
Các nhiệm vụ chính sẽ được nghiên cứu trong đề tài:
Trang 14- Lựa chọn thuật toán giải thích hợp cho bài toán phân bố tối ưu công suất
trên cụm các nhà máy bậc thang
- Xây dựng hàm mục tiêu là tối đa năng lượng tích trữ trong các hồ chứa vào
cuối thời gian khảo sát ngắn hạn
- Xây dựng mô hình toán học cho các đặc tính hồ chứa, đặc tính thiết bị sản
suất điện gồm turbine và máy phát điện tương ứng với các cột áp và hiệu suất khác
nhau
- Thiết lập các phương trình ràng buộc: phương trình cân bằng nước, phương
trình cân bằng năng lượng hệ thống điện, các ràng buộc vật lý của đặc tính hồ chứa
và thiết bị…
- Tiến hành giải bài toán với nghiệm quyết định là công suất phát của các
nhà máy tại các thời điểm trong thời gian khảo sát
- Thiết lập chương trình giải bài toán khi có những thay đổi từ thông số đầu
vào, kết quả của chương trình là phân bố lại công suất phát của các nhà máy tại
các thời điểm trong thời gian khảo sát
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Bài toán quy hoạch vận hành gồm nhiều dạng bài toán: bài toán quy hoạch
ngắn hạn (1 ngày đến 1 tuần) dựa trên cơ sở lưu lượng tự nhiên tất định, bài toán
dài hạn (1 tuần đến 1 năm và nhiều năm) [AlB1984] với lưu lượng tự nhiên bất
định… Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ xét đến bài toán phân bố công
suất tối ưu ngắn hạn, trên cơ sở các số liệu lưu lượng nước về tất định Nhu cầu hệ
thống và các mức nước mục tiêu coi như đã biết trước Trong các ràng buộc của bài
toán, thì tổn thất truyền tải từ các nhà máy đến hệ thống điện được giả định bỏ qua
Mặc dù các nguồn điện đã tham gia thị trường cạnh tranh nguồn phát, nhưng giá
điện sử dụng trong luận văn này được coi như cố định
Trang 15Do những khó khăn về thu thập số liệu, phần áp dụng sẽ chỉ tính toán cho
cụm các nhà máy thuỷ điện trên sông Sê San
1.5 Những nội dung chính của đề tài
Phần còn lại của luận văn gồm những nội dung chính sau đây:
Chương 2 trình bày tổng quan về hệ thống thuỷ điện trên sông Sê San, trong
đó chủ yếu là nêu lên các đặc điểm tự nhiên về đặc trưng khí hậu, thuỷ văn, địa
hình, dòng chảy của lưu lực sông Sê San Giới thiệu tiềm năng thuỷ điện đã được
nghiên cứu và quy hoạch trên lưu vực Phần kế tiếp của chương giới thiệu về đặc
tính của các hồ chứa, đặc điểm thiết bị công trình đã được xây dựng Một phần của
chương cũng giới thiệu chính sách vận hành hồ chứa dài hạn để đảm bảo phục vụ
tốt công tác điều tiết hệ thống bậc thang hồ chứa Phần cuối giới thiệu sơ bộ vị trí
và vai trò của hệ thống bậc thang thuỷ điện trên sông Sê San đối với hệ thống điện
Việt Nam
Trong chương 3, phương pháp giải bài toán thích hợp cho bài toán quy hoạch
vận hành hệ thống bậc thang thuỷ điện được tác giả chọn lựa Phần chính của
chương là phương trình toán học của các hệ thống thiết bị, công trình của các nhà
máy trên lưu vực sông được xây dựng, có nhiều phương pháp thiết lập mô hình toán
học các hệ thống, trong luận văn này mô hình tuyến tính hoá các đặc tính được lựa
chọn phát triển nhằm phục vụ cho bài toán quy hoạch tuyến tính Các mô hình
được xây dựng đóng vai trò như là các phương trình ràng buộc bài toán quy hoạch
tuyến tính Trong số các phương trình, quan trọng nhất, hàm mục tiêu được xây
dựng theo hướng sử dụng hiệu quả lượng nước tích trữ trong các hồ chứa của hệ
thống, cụ thể là tối đa hoá lượng nước tích trữ ở các hồ vào cuối chu kỳ khảo sát
Trên cơ sở các phương trình toán học được xây dựng ở chương 3, chương 4
chủ yếu tập trung giới thiệu các thuật toán có thể áp dụng giải hệ các phương trình
quy hoạch tuyến tính trên Trong đó, 2 thuật toán nổi tiếng được trình bày là thuật
toán đơn hình và thuật toán điểm trong dựa theo phương pháp tỉ lệ affine được đề
Trang 16cập Phần còn lại của chương liệt kê chi tiết các đầu vào và đầu ra của thuật toán
nhằm phục vụ cho chương trình tính toán tối ưu
Trên cơ sở phương pháp giải và mô hình toán học của chương 3, số liệu đầu
vào và đầu ra của chương 4, chương 5 giới thiệu chương trình tính toán tối ưu được
xây dựng dựa trên cơ sở công cụ tối ưu của Matlab 7.0
Cuối cùng, phần kết luận và nhận xét của luận văn được kết luận ở chương
6
1.6 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài
- Luận văn đã đặt ra và tìm phương pháp giải cho bài toán quy hoạch vận
hành ngắn hạn cụm các nhà máy bậc thang trên một lưu vực sông, đặc biệt trong
điều kiện ở Việt Nam chưa có công trình nào tương tự được công bố
- Về mặt khoa khọc, luận văn không có nhiều những đóng góp mới bởi các
mô hình toán học được xây dựng trên cơ sở đơn giản hoá các đặc tính thực tế còn
phương pháp giải quy hoạch tuyến tính đã được áp dụng tương đối phổ biến trong
việc giải các bài toán tối ưu Nhưng tính thực tiễn của đề tài rất cao, vì hiện nay ở
Việt Nam nhiều công trình thuỷ điện đã, đang và sẽ được xây dựng, trong đó có
nhiều bậc thang thuỷ điện được hình thành, trước hết là bậc thang thuỷ điện trên
sông Sê San, kế tiếp là bậc thang sông Đồng Nai, sông Sêrêpok, Sông Đà, Sông
Vu Gia-Thu Bồn… và đề tài này có thể áp dụng để phát triển, mở rộng và giải cho
toàn bộ các hệ thống bậc thang thuỷ điện ở Việt Nam
1.7 Phương pháp nghiên cứu
- Xây dựng và ứng dụng mô hình toán học cho các hệ thống thiết bị công
trình của các hệ thống thuỷ điện bậc thang,
- Ứng dụng các kết quả chủ yếu từ các phương pháp quy hoạch toán học để
giải bài toán quy hoạch vận hành ngắn hạn hệ thống bậc thang thuỷ điện,
- Xây dựng chương trình tính toán tối ưu như một công cụ tối ưu các hệ thống
bậc thang thuỷ điện thực tế
Trang 172 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN HỆ THỐNG THUỶ ĐIỆN TRÊN SÔNG SÊ
SAN
Trong chương này sẽ tập trung giới thiệu tổng quan về tiềm năng khai thác
thuỷ điện trên sông Sê San Tình hình khí tượng thuỷ văn ảnh hưởng đến bài toán
vận hành tối ưu Phần chính sẽ tập trung vào việc giới thiệu đặc tính các hồ chứa,
đặc tính thiết bị của hệ thống nhà máy thuỷ điện và mô hình toán các đặc tính hồ
chứa và đặc tính thiết bi Phần cuối cùng sẽ sơ lược về vai trò của hệ thống bậc
thang thuỷ điện trên sông Sê San và khả năng khai thác tối ưu ngắn hạn hệ thống
Trong các phần sau của chương này tập trung trình bày cho tất cả các hồ chứa và
thiết bị của các công trình trên lưu vực sông Sê San, tuy nhiên cho đến này số liệu
của các công trình Thượng Kon Tum, Sê San 3A và Sê San 4 chưa có sẵn, nên tác
giả chỉ khảo sát chủ yếu cho 3 công trình Pleikrông, Ialy và Sê San 3
Cũng giống như bất kỳ hệ thống bậc thang thuỷ điện nào, khi khảo sát hệ
thống thuỷ điện trên sông Sê san phải quan tâm đến các quá trình vật lý, thuỷ văn
sau đây:
- Lưu lượng nước về tự nhiên
- Lượng mưa, lượng nước bốc hơi và lượng nước thấm của các hồ
- Tích nước và xả nước của các hồ
- Lưu lượng vật lý của các cửa xả tràn
- Dòng chảy của nước trong các kênh dẫn (kín và hở…)
- Nước phục vụ cho các mục đích nông nghiệp, công nghiệp, giao thông,
tiêu dùng
- Cân bằng nước của các hồ chứa
- Lượng nước để phát điện của các nhà máy
- Tổn thất nước trong các kênh dẫn
Trang 18- Tổn thất cột áp trong các kênh dẫn
Để thấy rõ các khía cạnh trên, phần sau của chương sẽ trình bày khái quát
các đặc điểm trên của hệ thống thuỷ điện trên sông Sê San
2.1 Đặc điểm và tiềm năng thuỷ điện trên lưu vực sông Sê San
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Sông Sê San là phụ lưu bên bờ trái của sông Mê Kông Sông bắt nguồn từ
phía bắc cao nguyên Gia Lai –Kon Tum với 2 nhánh chính thượng nguồn là sông
Krông Pôkô và sông ĐăkBla Hai nhánh sông này hợp lưu thành sông Sê San rồi
tiếp tục chảy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam ra hướng biên giới Việt
Nam-Cambodia Tại đây, nhập với nhánh sông Sa Thầy ở bờ phải rồi đổ vào đất
Cambodia Sông Sê San nhập vào Sông Mê Kông trên đất Cambodia tại thị trấn
Stung Treng Tổng diện tích lưu vực sông Sê San trên lãnh thổ Việt Nam là
11450km2 chiếm 61,65% tổng diện tích lưu vực sông (18570km2) Như vậy, đặc
điểm hình thái của các nhánh chính tạo thành lưu vực sông Sê San như bảng 2.1
Bảng 2.1 Đặc trưng hình thái lưu vực sông Sê San (nguồn: PECC1, 2002)
TT Tên nhánh sông Diện tích lưu vực [km2] sông [km] Chiều dài Độ rộng trung bình [km] Độ dốc trung bình [%]
Địa hình lưu vực sông Sê San khá phức tạp, bị chia cắt mạnh Phần phía bắc
của lưu vực có địa hành rất cao, điển hình là đỉnh núi Ngọc Linh cao 2598m, phần
phía tây có núi Ngọc Bin San cao 1939m và phía đông có dãy Ngọc Cơ Rinh cao
2025m Do đặc điểm địa hình vùng này bị chia cắt mạnh dẫn đến sự khác biệt đáng
Trang 19kể về khí hậu trên từng phần của lưu vực đặc biệt là chế độ mưa, chế độ ẩm của
không khí
2.1.3 Khí hậu
Khí hậu của lưu vực mang đặc điểm của khí hậu Tây Trường Sơn, thể hiện
cả trong chế độ nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm và các yếu tố khác Khí hậu chia thành
2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa trên lưu vực từ tháng 5 đến tháng 10,
thời gian mưa kéo dài với lượng mưa lớn nhất xảy ra vào các tháng 8, 9 và 10
Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80-90% lượng mưa trong năm Lượng mưa trung
bình năm dao động từ 2600-3000mm ở vùng núi phía bắc và vùng cao nguyên
Pleiku; từ 1700-1800mm ở vùng Tây Nam lưu vực; vùng trũng Kon Tum và phía
nam lưu vực do bị chắn bởi các dãy núi cao nên lượng mưa trung bình khoảng
1700mm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Số ngày mưa trong năm
khoảng 160 ngày ở các vùng có lượng mưa lớn và khoảng 110 ngày ở các vùng có
lượng mưa nhỏ Khoảng 90% số ngày mưa rơi vào các tháng có ảnh hưởng của gió
mùa Tây Nam và Tây
2.1.4 Độ ẩm và bốc hơi
Độ ẩm tương đối trung bình năm thay đổi từ 78,2 đến 81,2% cao nhất là
100% và thấp nhất là 8%
Do độ ẩm khống khí có giá trị cao, nên bốc hơi trong lưu vực không lớn
Lượng bốc hơi lớn nhất xảy ra vào tháng 2 đến tháng 4 đạt đến mức 259,1mm Từ
tháng 8 đến tháng 10 do mưa nhiều nên bốc hơi giảm xuống còn 52mm, lượng bốc
hơi ngày đêm nhỏ nhất là 10mm Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm vào khoảng
426,5mm
2.1.5 Dòng chảy
Do ảnh hưởng của khí hậu, dòng chảy trên sông Sê San chia thành 2 mùa:
mùa lũ và mùa kiệt Mùa lũ từ tháng 8-11, mùa kiệt từ tháng 12 đến tháng 7 của
Trang 20năm sau Dòng chảy của lưu vực sông Sê San khá dồi dào, mô dun dòng chảy thay
đổi không nhiều từ 32-39 l/s.km2
2.1.6 Năng lực thuỷ điện trên lưu vực sông Sê San
Có rất nhiều quy hoạch phát triển thuỷ điện trên sông Sê San được thực hiện
bởi Uỷ hội sông Mê Kông, Công ty Nippon Koei (Nhật bản), Trung tâm nghiên cứu
và thiết kế thuỷ điện, Viện quy hoạch thuỷ lợi, Viện năng lượng, Công ty
SWECO… Theo kết quả nghiên cứu của công ty SWECO đã được Thủ tướng chính
phủ phê duyệt, có 6 công trình thuỷ điện chính trên lưu vực sông Sê San với các
thông số chính như bảng 2.2
Bảng 2.2 Thông số các công trình chính trên sông Sê San (nguồn: PECC1)
Trang 21E0 Triệu kWh 944,5 417,2 3842,2 1302,8 499,4 1388,1
Ghi chú: Flv là diện tích lưu vực hồ,
MNDBT là mực nước dâng bình thường (so với mực nước biển), MNC là mực nước chết (so với mực nước biển),
Vtb là dung tích toàn bộ hồ chứa (với mực nước cao trình đỉnh đập),
Vc là dung tích chết của hồ chứa (tức ứng với MNC), Vhi là dung tích hữu ích của hồ chứa (tức ứng với MNDBT), Pđb làø công suất đảm bảo,
Plm là công suất lắp máy, Hmin, Hmax, Htt là cột áp nhỏ nhấât, lớn nhất và tính toán,
E0 là sản lượng điện trung bình năm (khi toàn bộ các hồ chứa được đưa vào làm việc),
∆E0 là sản lượng điện tăng thêm khi đưa đầy đủ các hồ vào vận hành (so với các hồ vận hành riêng lẻ)
Nhận xét: ở bảng 2.2, trong số 6 công trình hồ thì chỉ có 3 công trình bao
gồm Ialy, Pleikrông và Sê San 4 là những hồ có dung tích hữu ích khá lớn Hồ
Thượng Kon Tum cũng có dung tích hữu ích khá lớn nhưng hạ lưu nhà máy xả nước
về đông Trường Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) Các hồ Sê San 3 và 3A có dung tích rất
nhỏ
Trang 222.2 Đặc trưng thuỷ văn lưu vực sông, đặc tính các hồ chứa trên sông
Sêsan
2.2.1 Đặc trưng thuỷ văn lưu vực sông Sê San
Đặc trưng thuỷ văn các hồ chứa trong lưu vực được tổng hợp ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Đặc trưng thuỷ văn các hồ chứa lưu vực sông SêSan (nguồn: PECC1)
T
T Đặc trưng thuỷ văn
Ký hiệu
Đơn
3 Lớp dòng chảy năm Yo mm 1258,9 1105,0 1109,5 1112,7
6 Tổng lượng dòng chảy năm Wo 106m3 4037 8270 8640 10370
7
Dòng chảy năm
ứng với tần suất
Như đã trình bày trong mục 2.1.6 và bảng 2.2, trên lưu vực sông Sê San có
06 hồ chứa gồm hồ Thượng Kon Tum, Pleikrông, Ialy, Sê San 3, Sê San 3A và Sê
San 4 Trong đó điều tiết năm có hồ Thượng Kon Tum, điều tiết mùa có hồ
Pleikrông, Ialy và Sê San 4, điều tiết ngày có hồ Sê San 3 và Sê San 3A
Phần sau sẽ trình bày đặc tính các hồ chứa (hay còn gọi là đặc tính Zhồ) cho
dưới dạng bảng quan hệ giữa chiều cao mức nước và dung tích hồ (Số liệu được thu
thập theo thiết kế kỹ thuật các hồ chứa và có hiệu chỉnh theo khối lượng bồ lắng
lòng hồ sau thời gian vận hành)
Trang 232.2.2.1 Hồ Pleikrông
Bảng quan hệ mức nước và dung tích hồ trong đoạn dung tích hữu ích hồ
(mực nước chết-cao trình 537m, cao trình đỉnh đập 575m):
Bảng 2.4 Quan hệ mức nước và dung tích hồ Pleikrông (nguồn: Ily)
Bảng quan hệ mức nước và dung tích hồ trong đoạn dung tích hữu ích hồ
(mực nước chết-cao trình 490m, đến cao trình đỉnh đập 520m):
Bảng 2.5 Quan hệ mức nước và dung tích hồ Ialy (nguồn: Ily)
Trang 242.2.2.3 Hồ Sê San 3
Hồ chứa của nhà máy thuỷ điện Sê San 3 rất nhỏ, dung tích hữu ích của hồ
là 3,8 triệu m3 (theo bảng 2.2) Trong luận văn này, có thể coi nhà máy Sê San 3
không có hồ chứa, do đó nhà máy sẽ phải phát công suất mỗi khi có lưu lượng nước
về hồ Tuy nhiên, với các số liệu của hồ ta phân tích chi tiết quan hệ dung tích và
mức nước từ mức nước chết-cao trình 303,2m đến cao trình đỉnh đập-cao trình
Ghi chú: Đối với các hồ chứa Thượng Kon Tum, Sê San 3A và Sê San 4, do
chưa có số liệu chính thức của hồ chứa nên luận văn này chưa xét đến các hồ chứa
của 3 nhà máy trên
2.2.3 Đặc tính các công trình tràn của hồ chứa
Đập tràn là công trình quan trọng nhằm đảm bảo vận hành an toàn cho đập
dâng và các công trình khác thuộc phạm vi lòng hồ Đập tràn phải có đặc tính phù
Trang 25hợp nhằm khi xả nước ở lưu lượng lớn không ảnh hưởng đến kết cấu của đập dâng
Các đập tràn trên các đập dâng của sông Sê San có kết cấu tương đối giống nhau,
bằng nhau về số lượng cửa xả và khả năng giải phóng nước ở tần suất 0.1 %
Trong bài toán quy hoạch ngắn hạn, do thời gian khảo ngắn (<168h), thì mức
nước hồ được biết trước do tuân thủ theo mức nước quy định của điều tiết hồ dài
hạn, do đó công trình tràn có thể không tham gia vào bài toán vì lưu lượng xả tràn
bằng không Khi lưu lượng xả tràn khác không thì công trình tràn được mô hình và
đưa vào bài toán Chi tiết mô hình toán học biểu diễn quan hệ lưu lượng xả tràn với
mức nước hồ được xây dựng trong chương 3
2.3 Chính sách quản lý-điều tiết hồ chứa
Ưu điểm của hệ thống thuỷ điện là tích nước với giá rẻ vào mùa lũ để sử
dụng với giá trị cao hơn vào các mùa kiệt Tuy nhiên, do hạn chế về dung tích hồ
chứa đã làm cho công tác điều tiết hồ chứa trở thành công việc khó khăn, càng khó
khi dung tích hồ chứa càng nhỏ Điều tiết hồ chứa là chính sách vận hành hồ dài
hạn nhằm xác định các mức nước mục tiêu phù hợp cho từng tháng trong năm,
ngày trong tháng, thậm chí giờ trong ngày đối với các hồ chứa nhỏ… dựa trên các
kế hoạch sửa chữa thiết bị, số liệu dự báo khí tượng, lưu lượng nước về hồ và số
liệu thuỷ văn quá khứ (đối với các nhà máy trên sông Sê San đã có được chuỗi
thuỷ văn 45 năm) Tuy nhiên, đối với quy hoạch vận hành dài hạn thì các số liệu
khí tượng và thuỷ văn được coi là các yếu tố bất định
Các mức nước hiện hành và mức nước mục tiêu vào cuối thời kỳ khảo sát
ngắn hạn được căn cứ vào chính sách vận hành dài hạn của từng hồ chứa Chi tiết
về chính sách vận hành dài hạn các hồ chứa không nằm trong phạm vi của luận
văn này Tuy nhiên, phần sau đây sẽ mô tả sơ bộ chính sách điều tiết hồ chứa
[AND2005]
Trang 26là mức nước trên và dưới kế hoạch của hồ chứa, tương ứng là các dung tích Vup,
Vlo Đường h là mức nước dao động thực tế Trong đó, Hup định ra mức nước mà
dưới mức Hup thì tại thời điểm t tuỳ ý đến cuối chu kỳ T, nếu có xác suất lũ lụt xảy
ra thì mức nước vẫn không vượt quá mức nước quy định của nhà máy Tương tự, Hlo
định ra mức nước mà trên mức đó thì tại thời điểm t tuỳ ý đến cuối thời kỳ T, nếu
có xác xuất hạn hán xảy ra thì nước nước hồ không nằm dưới mức nước quy định
của nhà máy Dung tích giới hạn bởi Vlo và Vup gọi là dung tích cắt lũ Như vậy, h
hay v được điều tiết sao cho Hlo≤h≤Hup hay Vlo≤v≤Vup Hay thể hiện dưới dạng toán
học như (2.3) và (2.9)
hay cụ thể P(v2≤Vup,v3≤Vup,…,VK+1≤Vup)≥1-α (2.4)
trong đó P là xác suất, K là số ngày của thời gian điều tiết, vk là dung tích hồ
chứa của đầu ngày k, α là biên trên của xác suất xả lũ
Từ phương trình (2.4) cho thấy sẽ không có xả lũ trong ngày K nếu vK+1≤Vup
Đồng thời, vì kRvK+1=kRvK+BK-Qmax, nên suy ra:
Trang 27với BK là lưu lượng nước về hồ trong ngày K, Qmax là tổng lưu lượng cực đại
chạy máy và tràn cho phép của hồ, kR là hệ số chuyển đổi thể tích sang lưu lượng
Khi dung tích hồ của ngày K là vK≤Vup, thì kết luận rằng ngày K không xả lũ
khi và chỉ khi vK≤ϑK = min(Vup,Vup +(Qmax-BK)1/kR) Và sẽ không xả lũ trong ngày
K và K-1 khi:
Biểu thức (2.6) thực chất là biểu thức (2.5) khi thay Vup bằng ϑK Vì ϑK≤Vup
nên sẽ không xả lũ trong ngày K-1 và K nếu
vK-1≤ϑK-1 = min(Vup,ϑK+(Qmax-BK)1/kR) (2.7)
Một cách tổng quát, để không xả lũ trong ngày k thì dung tích điều tiết cần
phải: vk≤ϑK = min(Vup,ϑk+1+(Qmax-BK)1/kR) với k=1,2, ,K (2.8)
Tương tự, trường hợp xác suất kiệt nước:
với β-biên trên của xác suất kiệt nước
Và để không kiệt nước trong ngày k thì dung tích điều tiết cần phải:
vk≤ϑK = max(Vlo,ϑk+1+(Qmin-BK)1/kR) với k=1,2, ,K (2.10)
Khi mức nước h≥hup,k+1 thì phải tiến hành giải phóng nước khỏi hồ theo biểu
thức:
Qk=min(Qmax,vk-vup,k+1+Bk/kR) (2.11)
Và khi mức nước h≤ hlo,k+1 thì phải tiến hành giải phóng nước khỏi hồ theo
biểu thức
Qk=max(Qmin,vk-vlo,k+1+Bk/kR) (2.12)
với vup,k+1, vlo,k+1 là mức nước biên trên và dưới ngày k của hồ chứa
Trang 28Như vậy, căn cứ vào chiến lược điều tiết hồ chứa dài hạn được trình bày
trong mục 2.3, mức nước hiện hành và mức nước mục tiêu của từng giai đoạn khảo
sát ngắn hạn sẽ được xác định như theo các công thức (2.8) và (2.10)
2.4 Đặc điểm thiết bị, đặc tính các nhà máy thuỷ điện trên sông Sêsan
Phần này sẽ phân tích đặc tính của turbine và máy phát của các nhà máy
thuỷ điện trên sông Sê San Do một số nhà máy chưa có tài liệu, nên chỉ tập trung
vào 3 nhà máy Pleikrông, Ialy và Sê San 3
2.4.1 Đặc tính turbine và máy phát Pleikrông
Do cột áp thấp (Htt=31m), turbine nhà máy thuỷ điện Plk sử dụng loại
turbine Kaplan1 Đặc tính vận hành turbine của nhà máy Plk khá phức tạp, cụ thể
như hình 2.2
Ghi chú:
P1: Công suất phát, a0: độ mở cánh hướng, η: hiệu suất
Hình 2.2 Đặc tính vận hành turbine Pleikrông (nguồn: Ily, 2006)
1 là loại turbine hướng tâm, cánh xoay, dùng cho cột áp thấp 3:60m
Trang 29Máy phát được sử dụng ở Pleikrông là loại trục đứng có đặc tính vận hành
như hình 2.3
Hình 2.3 Đặc tính vận hành máy phát Pleikrông 2.4.2 Đặc tính turbine và máy phát Ialy
Loại turbine được sử dụng ở nhà máy thuỷ điện Ialy là Francis2, 16 cánh, cột
áp 190m, tốc độ 250 vòng/phút Đặc tính được thể hiện ở hình 2.4
Hình 2.4 Đặc tính vận hành turbine Ialy (nguồn: Ily, 1998)
2 Là loại turbine xuyên tâm hướng trục, dùng cho cột áp trung bình 10:400m
Trang 30Máy phát được sử dụng ở Ialy là loại trục đứng, kiểu dù, 24 cực, có đặc tính
vận hành như hình 2.5
Hình 2.5 Đặc tính vận hành máy phát Ialy (nguồn Ily,1998)
2.4.3 Đặc tính turbine và máy phát Sê San 3
Loại turbine được sử dụng ở nhà máy thuỷ điện Sê San 3 là Francis, 13
cánh, cột áp 60m, tốc độ 125 vòng/phút Đặc tính được thể hiện ở hình 2.6
Hình 2.6 Đặc tính vận hành turbine Sê San 3 (nguồn Ily, 2005)
Máy phát được sử dụng ở Sê San 3 là loại trục đứng, 48 cực, có đặc tính vận
hành như hình 2.7
Trang 31Hình 2.7 Đặc tính vận hành máy phát Sê San 3 (nguồn Ily, 2005)
2.5 Vai trò của hệ thống thuỷ điện trên sông Sêsan đối với hệ thống
điện Việt Nam
Các nhà máy thuỷ điện trên sông Sê San nằm ở “điểm giữa” của hệ thống
Việt Nam Trước khi có Nhà máy thuỷ điện Ialy (năm 2000), đường dây 500kV
Hoà Bình –Phú Lâm là đường dây dài và việc điều chỉnh điện áp ở các nút Hà
Tĩnh, Đà Nẵng, Pleiku rất khó khăn Sau khi có Ialy và các Nhà máy khác trên
sông Sê San, điện áp tại điểm Pleiku được giữ cố định (phát Q vào giờ cao điểm và
thu Q vào giờ thấp điểm) Do đó, vai trò của các Nhà máy trên sông Sê San là giúp
vận hành đường dây 500kV được ổn định và tăng cường khả năng truyền tải của
đường dây
Bên cạnh việc giữ điện áp nút Pleiku, các Nhà máy trên sông Sê San đóng
góp một sản lượng đáng kể cho hệ thống với công suất khoảng 1730MW và điện
lượng bình quân năm khoảng 8,5 tỉ kWh (khi vận hành đầy đủ)
Ngoài các yếu tố kỹ thuật và kinh tế đối với hệ thống điện, việc đưa vào vận
bậc thang các hồ chứa trên sông Sê San góp phần cắt lũ và điều hoà nguồn nước
trên dòng sông Sê San Cụ thể là, cắt một phần lũ tần suất kiểm tra đến 0,02% vào
Trang 32mùa mưa, lưu lượng điều hoà tối thiểu về hạ du vào mùa kiệt được duy trì ở mức
160m3/s)
2.6 Phân tích khả năng khai thác tối ưu ngắn hạn công suất, năng
lượng theo các hồ chứa trên sông Sêsan
Các nhà máy thuỷ điện trên sông Sê San có tầm quan trọng đối với hệ thống
điện và nền kinh tế như vừa nêu ở trên, do đó bài toán quy hoạch vận hành hệ
thống bậc thang để đạt kết quả khai thác hiệu quả là rất cần thiết Đối với vận
hành toàn hệ thống điện, Trung tâm điều độ hệ thống điện thường đặt ra bài toán
khai thác phối hợp thuỷ nhiệt điện (hydrothermal cooperation) nhằm đạt mục tiêu
vận hành kinh tế hệ thống điện Đối với các Nhà máy trên sông Sê San, do cùng
phát điện vào một điểm trên hệ thống (trạm Pleiku), tức là coi các Nhà máy phát
lên cùng một thanh cái của hệ thống, giả thiết tổn thất từ các Nhà máy đến trạm
Pleiku là không đáng kể, lúc đó các Nhà máy trên sông Sê San trở thành một cụm
các Nhà máy trên hệ thống Do đó, cần huy động tổ máy nào có lợi cho hệ thống
bậc thang nhất Đó là tổ máy có hiệu suất cao nhất, suất tiêu hao nước thấp nhất và
việc vận hành tổ máy đó làm xả tràn hệ thống hồ thấp nhất, hay tích luỹ thuỷ năng
của hệ thống bậc thang vào cuối thời kỳ khảo sát là cao nhất
Trong thời gian tới (sau năm 2007), khi các Nhà máy thuỷ điện trên sông Sê
San tham gia vào thị trường điện cạnh tranh nguồn phát, quyền chủ động công bố
công suất khả dụng thuộc về các Nhà máy điện, thì bài toán quy hoạch vận hành
ngắn hạn càng có ý nghĩa trong việc tính toán phân bố công suất tối ưu giữa các
nhà máy trong cụm bậc thang thuỷ điện, làm cơ sở cho việc chào giá điện phát
hằng ngày, giờ
2.7 Kết luận
Chương này trình bày các thông số chính của hệ thống bậc thang các Nhà
máy thuỷ điện trên sông Sê San, các đặc điểm về khí hậu, thuỷ văn, địa hình lưu
vực sông Sê San Chiến lược điều tiết của các hồ chứa điều tiết năm được giới
Trang 33thiệu cho thấy được vai trò của điều tiết hồ chứa trong vận hành hiệu quả các Nhà
máy thuỷ điện Các đặc tính vận hành thiết bị chính như máy phát, turbine cũng
được trình bày
Trang 343 CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH HỆ THỐNG BẬC THANG THUỶ ĐIỆN
Trong chương trước, đã giới thiệu tổng quan hệ thống thuỷ điện trên sông Sê
San- tiềm năng và các thách thức đặt ra khi đưa toàn bộ hệ thống các nhà máy vào
vận hành Chương này, sẽ tập trung vào việc lựa chọn thuật toán giải bài toán quy
hoạch vận hành và xây dựng mô hình bài toán đặc trưng cho hệ thống các thuỷ
điện bao gồm hàm mục tiêu là tối hoá năng lượng tích luỹ vào cuối thời gian khảo
sát ngắn hạn (1 ngày đến 1 tuần [AlB1984])
Tổ chức của chương như sau: mục 3.1 sẽ mô tả tổng quát hệ thống, mục 3.2
trình bày lựa chọn thuật toán, mục 3.3 sẽ trình bày các giả thiết cần đặt ra khi xây
dựng bài toán Mô hình hệ thống thuỷ điện, mô hình toán học các ràng buộc
phương trình và bất phương trình, mô hình tổ máy thuỷ lực và nhà máy thuỷ điện
tích luỹ, hàm mục tiêu của bài toán được xây dựng ở mục 3.4 Chi tiết được trình
bày ở các phần sau
3.1 Mô tả hệ thống bậc thang thuỷ điện
Như trình bày ở chương 2, hệ thống bậc thang thuỷ điện trên sông Sê San có
6 nhà máy trên 3 lưu vực sông Mục đích của việc xây dựng mô hình để tiến hành
giải phân bố tối ưu công suất của 6 nhà máy trên Tuy nhiên, để không mất tính
tổng quát, giả thiết ta xét một hệ thống bậc thang thuỷ điện gồm L hồ chứa Các
nhà máy thuỷ điện này có quan hệ chặt chẽ về mặt thuỷ văn tức là lượng nước sử
dụng hoặc xả tràn của hồ chứa này sẽ là lượng nước về của hồ chứa hạ lưu trực
Trang 353.2 Hệ thống điện
Các nhà máy điện tương ứng với các hồ chứa này phát điện chung lên hệ
thống điện quốc gia, điển hình hệ thống điện được mô tả như hình 3.2 Trong quá
trình xét hệ thống thuỷ điện coi hệ thống điện là một thanh cái đơn chỉ lấy điện của
hệ thống thuỷ điện để cấp cho nhu cầu hệ thống mà không xét đến trào lưu công
suất trên hệ thống điện cũng như không quan tâm đến vấn đề vận hành ổn định hệ
Hệ thống điện
Hệ thống bậc thang hồ chứa
bL
Hình 3.2 Mô tả hệ thống điện
3.3 Lựa chọn thuật toán
Đối với các bài toán quy hoạch vận hành hệ thống, có một số phương pháp
giải bài toán bằng quy hoạch toán học như phương pháp quy hoạch tuyến tính (LP)
trình bày trong [AMJ1990], [MTR1994], một số phương pháp lặp phi tuyến (NLP)
trong [AlB1984], phương pháp phương pháp quy hoạch số nguyên (MILP) trong
[GMJ2001], [JEJ2001], phương pháp quy hoạch dòng trên mạng trong [PMS1994],
phương pháp quy hoạch động (DP) [XPH1994], [CEA1997], phương pháp phân rã
[OLD1998], [XPL1995], [EXR1999], ứng dụng giải thuật di truyền (GA) để phân
Trang 36bố tối ưu các nhà máy có quan hệ thuỷ lực [PoH1996], ứng dụng mạng nơ ron nhân
tạo (ANN) [R.J2000]…
Đối với bài toán đặt ra trong luận văn này, do đặc tính vận hành tổ máy luôn
luôn không lồi ở vùng công suất thấp, số ràng buộc và biến trạng thái của bài toán
nhiều (khi tính đủ 6 nhà máy, khoảng 70 ràng buộc và 500 biến trạng thái) cần
khối lượng tính toán lớn, nên phương pháp quy hoạch phi tuyến không phù hợp Vì
lý do tương tự và do những quan hệ động về thuỷ văn giữa các hồ nên phương pháp
quy hoạch động không được lựa chọn
Do các hồ chứa được mô hình bằng các nút, các đường dẫn nước giữa các hồ
là các nhánh và lựa chọn các nút/nhánh này làm biến trạng thái, bài toán phù hợp
với phương pháp quy hoạch tuyến tính dòng trên mạng (network flow linear
programming) Tuy nhiên, phương pháp này gặp phải khó khăn khi đưa các ràng
buộc về cân bằng công suất hệ thống, các khó khăn khi đưa các hàm phạt vào hàm
mục tiêu… do đó phương pháp này cũng không được lựa chọn
Từ các loại bỏ trên, tác giả quyết định lựa chọn phương pháp quy hoạch
tuyến tính để giải bài toán Nhược điểm của phương pháp này là khối lượng tính
toán khá lớn, tuy nhiên với tốc độ máy tính hiện nay, nhược điểm này có thể bỏ
qua Ưu điểm của phương pháp này là có thể đưa các ràng buộc vào hệ các phương
trình một cách dễ dàng bằng cách tăng số dòng của ma trận ràng buộc Việc hình
thành bài toán rất đơn giản bằng cách tuyến tính hoá các phương trình ràng buộc
phi tuyến
Đối với các bài toán mô hình các hệ thống thực tế thì chủ yếu là phi tuyến
Tuy nhiên, trong quá trình tính toán ta có thể tuyến tính hoá các hàm thành tuyến
tính [GMJ2001]
Chi tiết các mô hình hệ thống phục vụ cho việc giải hệ thống bằng phương
pháp quy hoạch tuyến tính sẽ được xây dựng trong phần sau
Trang 373.4 Các giả thiết chính khi xây dựng bài toán
Mục đích của bài toán là tối ưu năng lượng phát của hệ thống thuỷ điện bậc
thang trên cơ sở nhu cầu phụ tải do A0 cung cấp thông qua phương thức huy động
các nguồn điện Do đó, nhu cầu phụ tải của hệ thống điện coi như đã biết trước
trong toàn bộ thời gian khảo sát
Lưu lượng tự nhiên của nước về các hồ được dự báo qua các bản tin dự báo
tình hình thuỷ văn ngắn hạn do Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn khu vực Bắc
Tây Nguyên cung cấp Do đó, lưu lượng tự nhiên về từng hồ coi như đã biết trước
Do các hồ trên bậc thang thuỷ điện trên sông Sê San nằm rải rác tương đối
dều trên lưu vực sông Sê San và khoảng cách giữa các hồ không quá xa Do đó, giả
thiết thời gian nước từ hạ lưu của hồ trên về đến hồ dưới kế tiếp là không đáng kể,
có thể bỏ qua
Các hồ nằm rải rác trên cùng lưu vực sông, có quan hệ chặt chẽ về thuỷ văn
nhưng bỏ qua quan hệ về ghép nối thuỷ lực Do đó, quan hệ ghép nối thuỷ lực giữa
các hồ kề nhau coi như không có Cụ thểø, trường hợp có quan hệ thuỷ lực nặng
nhất là giữa hồ Ialy và Sêsan3 Mức nước hạ lưu của Ialy là 303m, với mức nước
thượng lưu cao nhất của hồ Sêsan3 là 304,5m Suy ra quan hệ thuỷ lực là
304,5-303,0=1,5m Trong khi đó cột áp tính toán của nhà máy Ialy là 190m Như vậy tỉ lệ
phần trăm của quan hệ thuỷ lực là 1,5/190x100%=0,8% là rất nhỏ so với 10% quan
hệ thuỷ lực chấp nhận được
Trong thời gian khảo sát ngắn hạn, cột áp của các nhà máy có hồ chứa được
coi là hằng số vì thời gian ngắn, nên thay đổi mức nước không đủ lớn làm thay đổi
đặc tính phát của tổ máy Các nhà máy không có hồ chứa coi như vận hành trong
điều kiện cột áp không đổi [JSV2005]
Bài toán tập trung vào việc phân bố công suất giữa các nhà máy một cách
tối ưu để cực đại năng lượng tích trữ ở các hồ chứa vào cuối thời gian khảo sát, nên
Trang 38coi hệ thống điện là một bus đơn và không xét đến tổn thất từ các nhà máy đến hệ
thống điện quốc gia (thực tế khoảng cách này rất ngắn, điển hình là 25km-điện áp
500kV)
Bài toán không xét đến phát công suất phản kháng Q cho hệ thống, hoạt
động chạy bù của các nhà máy được coi như trách nhiệm thực hiện hợp đồng dịch
vụ cung cấp công suất phản kháng của nhà máy với A0
Thời gian khởi động/dừng máy của các tổ máy thuỷ điện rất nhỏ so với thời
gian khảo sát, nên bỏ qua thời gian này
Chi phí vận hành các nhà máy thuỷ điện bao gồm chi phí sản xuất điện và
chi phí khởi động Trong đó chi phí sản xuất điện rất nhỏ, có thể bỏ qua
[AJM2002] Chi phí khởi động có ảnh hưởng đến bài toán tối ưu ngắn hạn
[OnD1997-1], [OnD1997-2], nhưng trong khuôn khổ luận văn này, để đơn giản bài
toán, sẽ chỉ xét bổ sung nhưng không đưa vào hàm mục tiêu
Cuối cùng, hàm mục tiêu xây dựng trong bài toán này sẽ là cực đại năng
lượng tích trữ của toàn hệ thống sau thời gian khảo sát hơn là tính cực tiểu chi phí
vận hành Vì thực tế, hiện tại, tuy các nhà máy điện đã tham gia vào thị trường giai
đoạn 1- cạnh tranh nguồn phát, nhưng riêng các nhà máy thuỷ điện lớn như Hoà
bình, Ialy, Trị An vẫn còn sở hữu 100% vốn nhà nước và chưa tham gia thị trường
cạnh tranh
3.5 Xây dựng mô hình hệ thống và hình thành bài toán
3.5.1 Mô hình thời gian
Chu kỳ thời gian khảo sát ngắn hạn (một ngày, một tuần, một tháng hay một
năm) được chia thành T khoảng thời gian rời rạc, t=1 T Độ dài thời gian của mỗi
khoảng thời gian có thể là 0,5h, 1h hay dài hơn tuỳ thuộc vào thời gian khảo sát,
mức độ chính xác yêu cầu cũng như dữ liệu có sẵn (dữ liệu về lưu lượng nước về,
Trang 39nhu cầu phụ tải của hệ thống…) Tất cả các biến trong các phương trình của hệ
thống được giả thiết là hằng số trong mỗi khoảng thời gian này
3.5.2 Sự phụ thuộc thời gian của hệ thống thuỷ điện
Phát điện ở các nhà máy thuỷ điện là quá trình chuyển năng lượng rẻ tiền
được tích trữ trên các hồ chứa thành năng lượng điện có giá trị cao để đáp ứng nhu
cầu hệ thống điện Tuy nhiên, lượng năng lượng rẻ tiền này bị hạn chế bởi dung
tích các hồ chứa là có hạn
Xét toàn hệ thống điện, thì việc quyết định sử dụng lượng nước tích trữ trong
hồ hôm nay sẽ trả giá bằng việc đốt nhiên liệu đắt tiền ở nhiệt điện để phát điện
ngày mai nếu như lượng nước về hồ ngày mai bị hạn chế Ngược lại, việc tích trữ
nước trong hồ hôm nay thì phải đốt nhiên liệu đắt tiền để phát nhiệt điện, đồng thời
phải trả giá bằng việc xả tràn các hồ chứa ngày mai, gây lãng phí, nếu như lượng
nước về hồ lớn hơn khả năng tích trữ của hồ
Tóm lại, khác với nhiệt điện, không phụ thuộc vào thời gian, vận hành hệ
thống thuỷ điện phụ thuộc chặt chẽ với thời gian Quyết định vận hành hôm nay sẽ
ảnh hưởng đến sự an toàn năng lượng cũng như chi phí vận hành hệ thống điện ở
tương lai
3.5.3 Xây dựng mô hình bậc thang thuỷ điện
Để tạo cơ sở toán học cho việc lập hàm mục tiêu và các biểu thức ràng
buộc, và do tính phức tạp của bậc thang thuỷ điện trên các lưu vực sông-các nhà
máy vừa nối tiếp vừa nối song song với nhau, nên cần thiết phải xây dựng hoàn
chỉnh một mô hình bậc thang thuỷ điện Phần này sẽ xây dựng mô hình hệ thống
thuỷ điện bậc thang trên một lưu vực sông, chi tiết như hình 2.2
Các nút l thuộc tập L, l=1 L đặc trưng cho các hồ chứa Kèm theo hồ chứa
có thể có hoặc không có nhà máy thuỷ điện
Trang 40Các nhánh jl đặc trưng cho dòng nước chảy từ hồ j đến hồ l, j thuộc Ωl là tập
hợp các hồ chứa thượng lưu trực tiếp của hồ l Nhánh jl có thể là một trong các
đường sau đây:
Nút l
Ql,tHồ chứa dưới
bl,tNhà máy
Nút j
Qj,t sj,t
Nút k
Hình 3.3 Mô hình hệ thống mạng thuỷ điện
- Đường nước chạy qua nhà máy j để phát điện, với lưu lượng phát điện tại
thời điểm t ký hiệu là Qj,t
- Hoặc hoặc chảy trực tiếp từ hồ j đến hồ l, thông qua các kênh dẫn kín
hoặc hở, trong trường hợp hồ l không có nhà máy thuỷ điện
- Hoặc là lưu lượng nước thừa của hồ j được xả qua tràn tại thời điểm t, ký
hiệu là sj,t
Các đường nước từ j có thể chảy về hồ l hoặc không, do cấu hình cụ thể của
hệ thống sẽ quyết định
Ngoài lượng nước chảy giữa các hồ, mỗi hồ còn được đặc trưng bởi lượng
nước về tự nhiên tại thời điểm t, ký hiệu là bl,t
Nếu là đường nước chạy qua nhà máy, thì công suất điện phát ra của các tổ
máy được tính toán là hàm của lưu lượng nước Ql,t và cột cáp Hl,t Cột áp của tổ