TIỂU LUẬN MÔN HỌC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÂNG CAO Nƣớc dƣới đất là nguồn tài nguyên quan trọng phục vụ cấp nƣớc sinh hoạt cho nhân dân và góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Sự phát triển nhanh chóng các hoạt động công nghiệp, dịch vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số đòi hỏi nhu cầu nƣớc ngày càng tăng cả về số lƣợng và chất lƣợng, tạo ra sức ép lớn đối với nguồn nƣớc dƣới đất. Hậu quả, là các nguồn nƣớc dƣới đất có nguy cơ cạn kiệt, ô nhiễm, nguy cơ bị xâm nhập mặn ở nhiều nguồn nƣớc dƣới đất ven biển và tồn tại nhiều thách thức do tác động của biến đổi khí hậu.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
- -
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÂNG CAO
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT CỦA
GVHD : T.S NGUYỄN VĂN PHUỚC
NGUYỄN THÀNH TRUNG
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 3
HIỆN TRẠNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT CỦA TP HỒ CHÍ MINH 3
1.1 Hiện trạng địa chất của Tp HCM 3
1.2 Chất lượng nước dưới đất của Tp HCM 7
1.3 Hệ thống quan trắc 8
1.3.1 Mục đích quan trắc 8
1.3.2 Tầng suất quan trắc 9
1.3.3 Cấu tạo giếng giám sát nước ngầm 9
1.3.4 Số lượng và vị trí các trạm quan trắc 11
1.4 Công tác quản lý nước dưới đất của Tp HCM 13
CHƯƠNG 2 15
KẾT QUẢ QUAN TRẮC NƯỚC DƯỚI ĐẤT CỦA TP HCM 15
2.1 Kết quả quan trắc mực nước dưới đất năm 2011 15
2.1.1 Tầng Pleistocen 15
2.1.2 Tầng Pliocen trên 17
2.1.2 Tầng Pliocen dưới 18
2.2 Kết quả quan trắc chất lượng nước dưới đất năm 2011 20
2.2.1 Tầng Pleistocen 20
2.2.2 Tầng Pliocen trên 25
2.2.3 Tầng Pliocen dưới 28
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31
3.1 Kết luận 31
3.1.1 Mực nước 31
3.1.2 Chất lượng nước 31
3.2 Kiến nghị 32
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thạch học và đặc điểm địa chất thủy văn 3
Bảng 1.2: Các trạm quan trắc nước dưới đất tại TP.HCM 11
Bảng 2.1: Kết quả quan trắc mực nước dưới đất tầng Pleistocen trong năm 2011 15
Bảng 2.2: Kết quả quan trắc mực nước dưới đất tầng Pliocen trên trong năm 2011 17
Bảng 2.3: Kết quả quan trắc mực nước dưới đất tầng Pliocen dưới trong năm 2011 18
Bảng 2.4: Kết quả quan trắc chất lượng nước dưới đất tầng Pleistocen năm 2011 20
Bảng 2.5: Kết quả quan trắc kim loại nặng tại các giếng quan trắc nước dưới đất tầng Pleistocen trên năm 2011 24
Bảng 2.6: Kết quả quan trắc chất lượng nước dưới đất tầng Pliocen trên năm 2011 25
Bảng 2.7: Kết quả quan trắc kim loại nặng tại các giếng quan trắc nước dưới đất tầng Pliocen trên năm 2011 26
Bảng 2.8: Kết quả quan trắc chất lượng nước dưới đất tầng Pliocen dưới năm 2011 28
Bảng 2.9: Kết quả quan trắc kim loại nặng tại các giếng quan trắc nước dưới đất tầng Pleistocen dưới trên năm 2011 28
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Nước giếng bơm đang được nhiều người dân tại TP.HCM khai thác sử
dụng (Ảnh minh họa từ Internet) 8
Hình 1.2: Vị trí các trạm quan trắc nước dưới đất tại TP.HCM 13
Hình 2.1: Diễn biến mực nước dưới đất tầng Pleistocen trong năm 2011 16
Hình 2.2: Biểu đồ so sánh mực nước dưới đất tầng Pleistocen năm 2010 và năm 2011 16 Hình 2.3: Diễn biến mực nước dưới đất tầng Pliocen trên trong năm 2011 17
Hình 2.4: Biểu đồ so sánh mực nước dưới đất tầng Pliocen trên năm 2010 và 2011 18
Hình 2.5: Diễn biến mực nước dưới đất tầng Pliocen dưới trong năm 2011 19
Hình 2.6: Biểu đồ mực nước dưới đất tầng Pliocen dưới 19
Hình 2.7: Diễn biến pH tại các trạm quan trắc nước dưới đất năm 2011 21
Hình 2.8: Diễn biến nồng độ TDS tại các trạm quan trắc nước dưới đất năm 2011 21
Hình 2.9: Diễn biến độ cứng tổng tại các trạm quan trắc nước dưới đất năm 2011 22
Hình 2.10: Diễn biến nồng độ Nitrat tại các trạm quan trắc nước dưới đất năm 2011 23 Hình 2.11: Diễn biến nồng độ Fe tổng tại các trạm quan trắc nước dưới đất năm 2011 23
Trang 5Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT CỦA TP.HCM & ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
Trang 6MỞ ĐẦU
Nước dưới đất là nguồn tài nguyên quan trọng phục vụ cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sự phát triển nhanh chóng các hoạt động công nghiệp, dịch vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số đòi hỏi nhu cầu nước ngày càng tăng cả
về số lượng và chất lượng, tạo ra sức ép lớn đối với nguồn nước dưới đất Hậu quả, là các nguồn nước dưới đất có nguy cơ cạn kiệt, ô nhiễm, nguy cơ bị xâm nhập mặn ở nhiều nguồn nước dưới đất ven biển và tồn tại nhiều thách thức do tác động của biến đổi khí hậu
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh (năm 2011), hiện nay tổng lượng nước khai thác gần 600.000 m3/ngày và việc khai thác nước ngầm chủ yếu tập trung tại các địa phương chưa có hệ thống cấp nước chung hoặc chưa phủ khắp như quận 12, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Chánh, Củ Chi… nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất nhỏ Một mặt, nhiều cấp, ngành trên địa bàn thành phố chưa nhận thấy hết được tầm quan trọng của nguồn nước ngầm như khả năng của nguồn nước có hạn, sự mất cân bằng sẽ dẫn đến hạ thấp mặt nước… Mặt khác, nhận thức của người dân về bảo
vệ nguồn nước cũng còn hạn chế, một bộ phận không nhỏ người dân chưa tuân thủ pháp luật về bảo vệ, tiết kiệm nguồn tài nguyên nước…
Vấn đề được đặt ra là với mức độ khai thác và sử dụng nước dưới đất bừa bãi như hiện nay thì liệu trong tương lai không xa, trữ lượng nước dưới đất có còn đáp ứng được nhu cầu của người dân hay không? Làm cách nào để chúng ta có thể duy trì và gia tăng được trữ lượng nước dưới đất để đáp ứng nhu cầu đó? Đó là lý do thực hiện đề tài
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT CỦA TP.HCM & ĐỀ XUẤT
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ”./
Trang 7CHƯƠNG 1 HIỆN TRẠNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT CỦA TP HỒ CHÍ MINH
1.1 Hiện trạng địa chất của Tp HCM
Tp Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến
25 mét Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9 Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét
Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi, hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu
bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò
Bảng 1.1: Thạch học và đặc điểm địa chất thủy văn
(m)
Độ dẫn nước (m 2 /ngày)
Đơn vị địa chất thủy văn
thô đến sỏi trung
10-35 550 Tầng chứa nước
khai thác mạnh cho dân dụng và công nghiệp
Pleistocen dưới
(Q1)
Sét bột đến bột:
màu xám vàng chứa carbonat
Cát/sỏi : cát mịn – trung chứa sỏi
50-80 500-900 Tầng chứa nước,
khai thác công nghiệp
Trang 8Thành tạo Mô tả thạch học Chiều dày
(m)
Độ dẫn nước (m 2 /ngày)
Đơn vị địa chất thủy văn
Pliocen trên ( N22) Sét/ sét bột : màu
vàng loang lỗ chứa cacbonat
Cát/sỏi : cát mịn- trung chứa sỏi
40-60 700-1200 Tầng chứa nước,
khai thác bằng các bãi giếng cho mạng cấp nước Tp
Pliocen ( N21) Sét/ sét bột : màu
vàng loang lỗ chứa cacbonat
Cát/sỏi : cát mịn- trung chứa sỏi
khai thác công nghiệp hạn chế
Đá gốc (J3-J2) Cát kết, bột kết, sét
kết
Rất nghèo nước
Thành tạo Pleistocen giữa trên (Q n-m )
Thành tạo Pleistocen giữa trên (Qn-m) gặp ở phần lớn diện tích vùng nghiên cứu,
lộ ra ở vùng trung tâm, ở các huyện phía Bắc và phía đông như Hóc Môn, Củ Chi và Thủ Đức Chiều sâu mái của thành tạo này nhìn chung tăng theo hướng tây nam, từ 0-10m ở vùng lộ, cận lộ đến 30m ở Hóc Môn và tối đa 40m ở Nhà bè và Bình Chánh
Ở vùng Thủ Đức thành tạo chủ yếu gồm bột và bột cát chứa các thấu kính cát có lượng nước ngầm hạn chế Về phía tây thành tạo này gồm phần trên dày 5-15m đóng vai trò cách nước, và phần dưới là cát trung đến thô chứa sỏi dày 10-35m, là tầng chứa nước (QI-II)
Tầng chứa nước được bổ cập bở lượng nước mưa thấm trực tiếp từ vùng lộ và thấm từ sông Đồng Nai và Sài Gòn tạo thành biên không đổi (nguồn bổ cập) cho tầng Chất lượng nước thay đổi tùy thuộc vào nguồn bổ cập Nước ngầm mặn ở phía nam Thành phố và dọc theo sông Đồng Nai ở phần bị xâm nhập mặn Nước ngầm nhìn chung
là nhạt ở vùng phía bắc Thành phố bao gồm Củ Chi, Tân Bình, Hóc Môn, Gò Vấp và Thủ Đức Tuy nhiên độ pH thấp, khoảng 4,5 đến 6 do ảnh hưởng của đất phèn và lượng nitrate cao, khoảng 6 đến 15 mg/l Cả hai thông số Nitrat và vi sinh đều vượt quá tiêu chuẩn của nước uống Điều này chứng tỏ rằng tầng nước dễ bị nhiễm bẩn
Các thí nghiệm bơm cho thấy các giếng có lưu lượng thay đổi từ 1 đến 8l/s ở Thủ Đức, và khoảng 10-50l/s ở các vùng còn lại Do đó tầng giàu nước và được khai thác phổ biến cho hộ gia đình và nhu cầu tiểu thủ công nghiệp Tuy nhiên tầng dễ bị nhiễm bẩn và nhiễm mặn
Trang 9 Thành tạo Pleistocen dưới (Q1)
Thành tạo Pleistocen dưới (Q1) nằm dưới thành tạo Pleistocen dưới – trên gặp ở
phần lớn diện tích vùng nghiên cứu Thành tạo này lộ ra ở vùng rìa của lưu vực, phía đông của vùng nghiên cứu Chiều sâu mái của thành tạo tăng từ bắc xuống nam và đông sang tây, thay đổi từ 20m ở Thủ Đức, 30-50m ở Củ Chi đến 60-80m ở Bình Chánh và Cần Giờ
Thành tạo bao gồm phía trên là lớp cách nước sét, sét bột màu xám vàng loang
lổ, dày 10-15m Phần dưới là tầng chứa nước với thành phần là cát mịn đến trung chứa sỏi, dày khoảng từ 50m tăng lên đến 80m ở trung tâm Thành phố Tầng chứa nước là có
áp hoặc bán áp bở lớp cách nước, tuy nhiên có thể thấm xuyên từ tầng Q II-III trong vùng nghiên cứu Nguồn bổ cập từ lượng mưa thấm trực tiếp, thấm ngang từ sông Sài Gòn và Đồng Nai ở vùng lộ phía đông Thành phố, và thấm xuyên từ các tầng chứa nước bên trên
Chất lượng nước phân bố tương tự như tầng chứa nước Q II-III, ngoại trừ đường đẳng 1000mg/L nằm xa hơn về phía bắc, bao trùm cả huyện Nhà Bè và nửa phía nam huyện Bình Chánh và phần diện tích xung quanh điểm hợp lưu giữa sông Sài Gòn và Đồng Nai Về phía nam của đường đẳng này độ khoáng hóa tăng từ 1đến 25g/l Ở phía bắc đường đẳng nước nhạt, tổng khoáng hóa vào khoảng 100-600mg/l và nhạt dần về phía cùng cấp, đến 70-300mg/l Lượng sắt hòa tan cao, khoảng 1-5mg/l, nhưng có thể đạt đến 12mg/l
Nước ngầm của tầng nước chứa nước Q1 được sử dụng rộng rãi cho nhu cầu sinh hoạt và tiểu thủ công nghiệp, trữ lượng an toàn của tầng Pleistocen giữa – trên và Pleistocen dưới ở vùng Thành phố vào khoảng từ 62.000 đến 90.000 m3
/ngày
Thành tạo Pliocen trên (N 2 2 )
Thành tạo Pliocen trên (N22) lộ ra ở phía đông của lưu vực, còn lại trên toàn bộ
vùng nghiên cứu chúng nằm dưới các Thành tạo pleistocen Chiều sâu đến mái tăng từ
bắc xuống nam và từ đông sang tây, từ 50-60m ở Củ Chi và Thủ Đức tăng về phía tây đến 70m-100m ở Bình Chánh và khu vực trung tâm Thành phố, và tăng về phía nam đến 110-160m ở nam Nhà Bè và Cần Giờ
Thành tạo có cấu tạo tương tự gồm phần trên là lớp sét, bột sét, thấm nước yếu, dày 10-15m Bên dưới là tầng chứa nước gồm cát mịn đến trung chứa ít sạn sỏi, bề dày tăng dần về phía tây nam, từ nhỏ hơn 50m ở Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức đến 100m ở phía tây Bình Chánh
Đây là tầng chứa nước có áp đến bán áp, không có liên hệ thủy lực với các tầng bên trên toàn diện tích vùng nghiên cứu Về phía bắc và đông bắc nơi tầng chứa nước mỏng dần ở rìa lưu vực có khả năng có liên hệ thủy lực giữa các tầng và tầng nhận bổ
Trang 10cập từ các sông Sài Gòn, Đồng Nai, Sông Bé Bổ cập cũng từ thấm do mưa qua vùng bán lộ ở rìa phía đông của lưu vực
Chất lượng nước cũng tương tự như của tầng Pleistocen dưới Vùng phía nam Thành phố (Cần Giờ, Nhà Bè), quanh khu vực hợp lưu của sông Sài Gòn và Đồng Nai nước mặn với tổng khoáng hóa từ 1 đến 25g/l, trong khi ở phía bắc nước nhạt Tổng khoáng hóa ở Bình Chánh và Bắc Nhà Bè ở khoảng 100 – 600mg/l, giảm dần về phía miền cấp đến 70 – 30mg/l Lượng sắt hòa tan cao, thường ở khoảng 5 – 15mg/l, một số nơi lên đến 50mg/l
Tầng chứa nước được khai thác rộng rãi như nguồn nước ngầm cho công nghiệp bằng các giếng hô tự khoan, và bằng các bãi giếng của Công ty cấp nước cho mạng cấp nước Thành phố Nhìn chung tầng chứa nước khá sâu đối với các giếng khoan gia đình Lưu lượng của các giếng khai thác vào khoảng 10-30l/s Trữ lượng an toàn của tầng Pliocen trên ở vùng Thành phố vào khoảng 229.000m3/ngày
Thành tạo Pliocen dưới ( N 2 1 )
Thành tạo Pliocen dưới (N21) phủ bất chỉnh hợp lên đá gốc Đây là tầng chứa nước sâu nhất có nguồn gốc trầm tích trong vùng nghiên cứu, chủ yếu có mặt ở phía tây sông sài Gòn Chiều sâu mái trung bình của thành tạo này vào khoảng 110-130m ở phía bắc thành phố, tăng đến 190 – 210m ở phía Tây Nam Bình Chánh Thành tạo có cấu tạo gồm phần trên là lớp thấm nước yếu sét, sét bột có chiều dày 7-15 cm Bên dưới là lớp chứa nước gồm cát mịn đến thô chứa sạn sỏi, có chiều dày tăng về phía tây nam, từ 20m
ở vùng rìa lưu vực đến khoảng 100m ở Bình Chánh Đây là tầng chứa nước có áp đến bán áp
Theo số liệu quan trắc của Liên đoàn địa chất thủy văn 8, tầng chứa nước không
có quan hệ thủy lực với các tầng nằm trên ở vùng Thành phố Miền cấp của tầng ở vùng
lộ phía đông bắc, nơi có sự liên hệ với các tầng khác Nguồn bổ cập có thể thông qua thấm xuyên từ các tầng trên, do vậy từ sông Sài Gòn và Đồng Nai
Nước nhạt ở giữa tầng phía bắc Thành phố, từ Bình Chánh đến Củ Chi và ở phía tây sông Sài Gòn với tổng khoáng hóa ở khoảng 100-800mg/l, độ pH 6-8 và hàm lượng sắt 0,8-3mg/l ở nửa phía nam thành phố (Cần Giờ) và phía đông sông Sài Gòn (Nhà Bè, Thủ Đức, Quận 2, Quận 9) nước bị mặn với tổng khoáng hóa 3-5g/l và hàm lượng sắt cao
Tầng chứa nước được khai thác hạn chế so quá sâu và bên trên đã có các tầng nước nhạt Một vài cơ sở công nghiệp như Nhà máy Bia Sài Gòn khai thác tầng này bằng các giếng sâu với lưu lượng cao Trữ lượng an toàn của tầng Pliocen dưới ở vùng Thành phố vào khoảng 217.000m3/ngày
Trang 11 Đá gốc
Đá gốc là các đá trầm tích có tuổi Mezozoi (J3-J2), gồm cát kết, bột kết, sét kết bị xâm nhập bởi granit, lộ ra ở phía đông Thành phố
Trong vùng nghiên cứu bề mặt đá gốc chìm về phía nam, tây nam và nằm dưới các trầm tích không gắn kết trẻ hơn Nước ngầm chứa ít trong các khe nứt và không có ý nghĩa cho cấp nước
Tóm lại ở vùng Thành phố Hồ Chí Minh là hệ thống các tầng chứa nước sâu đến 250m, Các tầng này được ngăn cách với nhau bởi các lớp sét có tính thấm nước yếu đến cách nước, ngăn cản sự trộn lẫn giữa các tầng ngoại trừ ở vùng rìa khu vực Nước được
bổ cập ở vùng ngoại thành Thành phố và ở phía đông, đông bắc của câu thổ sông Cửu Long Hướng vận động chủ yếu từ vùng cấp về phía nam và tây nam Ở vùng trung tâm
và phía bắc Thành phố các tầng cung cấp nước nhạt với trự lượng lớn.Tuy nhiên về phía nam và phía đông là nước ngoạt và nước lợ
1.2 Chất lượng nước dưới đất của Tp HCM
Từ trước đến giờ, giới khoa học thường chỉ lo ngại về khả năng thành phố bị lún
do tình trạng khai thác nước ngầm quá mức nhưng nay họ đã có thêm mối bận tâm khác: Sức khỏe những người dân đang ngày ngày phải sử dụng nước ngầm bị nhiễm bẩn Tại TP.HCM, thực trạng nguồn nước này hiện nay có dấu hiệu suy giảm về lượng và chất do tác động của khai thác sử dụng và do tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH)
Nước ngầm được sử dụng khá nhiều tại TP.HCM Với ba trong năm tầng chứa nước có tổng lưu lượng khai thác 2,5 triệu m3/ngày, trữ lượng khai thác an toàn là 800.000 m3/ngày Hiện nay, nước ngầm được khai thác cho các mục đích khác nhau với tổng số giếng nước khai thác là 257.479 giếng, trong đó số giếng trong hộ dân và các tổ chức khai thác quy mô nhỏ là 256.131 giếng; tổng lưu lượng khai thác nước trên toàn
TP khoảng 606.992 m3/ngày Với khối lượng khai thác này, gần tiệm cận với trữ lượng khai thác an toàn và có nguy cơ thiếu an toàn, có thể dẫn đến giảm sút về chất lượng và tăng thêm do tác động của BĐKH đến nguồn nước này
Theo đánh giá, đại đa số các giếng khai thác nước trong các hộ gia đình phục vụ cho sinh hoạt (trừ Bình Chánh, Nhà Bè, quận 7) đều được khai thác từ tầng hai với lưu lượng khai thác là khoảng 260.000 m3/ngày, do ở tầng hai lưu lượng khai thác chưa quá trữ lượng khai thác an toàn, các giếng nước khai thác lại rải khá đều do đó mực nước của tầng chứa này ít giảm Số còn lại khai thác khoảng 340.000 m3/ngày khai thác từ tầng ba và tầng bốn phục vụ cho sản xuất và các mục đích khác Mặc dù lưu lượng khai thác còn nằm trong khả năng cho phép, tuy nhiên do sự khai thác nước một cách tập trung với lưu lượng lớn ở phía Tây Nam của TP, đã làm cho mực nước tầng ba và bốn
có xu hướng giảm so với cân bằng nước
Trang 12Hình 1.1: Nước giếng bơm đang được nhiều người dân tại TP.HCM khai thác sử
dụng (Ảnh minh họa từ Internet)
Theo TS.Nguyễn Văn Ngà, Trưởng phòng Quản lý tài nguyên nước và khoáng sản (Sở TN&MT TP.HCM), tình hình khai thác nước dưới đất đang tập trung nhiều ở quận 12, Gò Vấp, Thủ Đức, Tân Phú, Bình Tân, Bình Chánh, Củ Chi Các quận, huyện trên hiện chưa có hệ thống cấp nước chung hoặc có nhưng chưa phủ khắp Công tác quản lý tài nguyên nước nói chung và nước ngầm chưa đáp ứng yêu cầu quản lý Chẳng hạn khả năng khai thác của nước ngầm còn nhiều vấn đề chưa thực hiện được; sự xâm nhập mặn theo chiều ngang và thẳng đứng; tác động môi trường do khai thác nước ngầm (lún mặt đất),…Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do các cấp, ngành chưa thấy hết được tầm quan trọng của nguồn nước này Khả năng khai thác của nguồn nước có hạn, việc khai thác quá mức sẽ dẫn đến sự mất cân bằng áp lực trong các tầng chứa nước và dẫn đến sự suy kiệt cả về trữ lượng và chất lượng của nguồn nước Sự mất cân bằng trên càng lớn sẽ dẫn đến sự hạ thấp mặt đất, kéo theo là sự các hệ lụy như ngập úng, ảnh hưởng đến môi trường sống của con người và tình trạng sẽ trầm trọng thêm khi có ảnh hưởng của BĐKH và mực nước biển dâng Bên cạnh đó, mạng cấp nước sạch của TP chưa phủ khắp và áp lực, chất lượng nước từ hệ thống cấp nước chưa ổn định, đặc biệt
Xác định gradient thuỷ lực, tốc độ và hướng dòng chảy nước ngầm;
Trang 131.3.3 Cấu tạo giếng giám sát nước ngầm
Giếng khoan được cấu tạo bởi lỗ khoan có đường kính từ 250 mm hoặc 150 mm, được chống bằng ống lắng, ống lọc Ống chống nhựa uPVC Bình Minh đường kính 168
mm hoặc 114 mm Ống lọc là ống nhựa uPVC Bình Minh khoan lỗ và quấn bằng lưới nylon Chiều sâu các giếng tăng dần từ 15 – 45 m Các giếng được kết cấu bằng ống chống đến khoảng 0,4m trên mặt đất
Sau khi lắp đặt ống chống, ống lọc, khoảng trống hình vành khăn giữa lỗ khoan
và cột ống được đổ sỏi bọc chung quanh ống lọc đến 5m trên ống lọc, tiếp lên là cát khoảng 0,5m trên lớp cát là sét bentonít khoảng 2m phần nhô lên khỏi mặt đất được bảo vệ bằng ống thép inox có khoá Toàn bộ các giếng trong trạm đều nằm trong nhà bảo vệ bằng gạch có kích thước 2,4 x 2,4m
Cấu trúc cụ thể của giếng được thể hiện trong hình 1.2
Trang 14Hình 1.2: Cấu trúc cụ thể của giếng
Trang 151.3.4 Số lượng và vị trí các trạm quan trắc
Từ năm 2007 đến năm 2011, hệ thống quan trắc nước ngầm khu vực Tp Hồ Chí Minh do Chi cục Bảo vệ Môi trường Tp Hồ Chí Minh Từ tháng 1/2012 Hệ thống này được quản lý bởi Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường, bao gồm 15 trạm
Bảng 1.2: Các trạm quan trắc nước dưới đất tại TP.HCM
hiệu
Ký hiệu giếng
Tầng quan trắc
Ghi chú Logger
1 Đông Thạnh Bãi rác Đông Thạnh -
CTĐT_A Pleistocen CTĐT_B Pleistocen CTĐT_C Pleistocen
2 Gò Cát Bãi rác Gò Cát - Bình
GC_A Pleistocen GC_B Pleistocen GC_C Pleistocen
3 Linh Xuân Nhà máy Rubimex,
KDC An Lộc - Gò Vấp (Cạnh sông Vàm Thuật)
GV
GV_A Pleistocen GV_B Pleistocen GV_C Pleistocen
6 Tân Sơn Nhất Cty Sagel, Phường 9 -
TSN_A Pleistocen x TSN_B Pliocen trên x TSN_C Pliocen dưới x
7 Bàu Cát Công viên Bàu Cát -
CVBC_A Pleistocen CVBC_B Pleistocen CVBC_C Pleistocen
8 Phú Thọ Trường đua Phú Thọ -
PT_A Pleistocen PT_B Pliocen trên PT_C Pliocen dưới
9 Tân Tạo Tân Tạo - Bình Tân TaT
TaT_A Pleistocen x TaT_B Pliocen trên x TaT_C Pliocen dưới x
10 Bình Hưng Bình Hưng - Bình
BH_A Pliocen dưới x BH_B Pleistocen x
Trang 16TT Tên trạm Vị trí Ký
hiệu
Ký hiệu giếng
Tầng quan trắc
Ghi chú Logger
BH_C Pleistocen x
11 Tân Phú Trung Tân Phú Trung – Củ
TTT_A Pleistocen x TTT_B Pliocen trên x TTT_C Pliocen dưới x
15 Thạnh Mỹ Lợi Thạnh Mỹ Lợi - Quận
TML_A Pliocen trên TML_B Pleistocen TML_C Pleistocen
Trang 17Hình 1.3: Vị trí các trạm quan trắc nước dưới đất tại TP.HCM
1.4 Công tác quản lý nước dưới đất của Tp HCM
Công tác quản lý nước dưới đất tại thành phố Hồ Chí Minh từ trước tới nay thực
sự chưa có hiệu quả, mực mước và chất lượng nước ngày càng giảm đi Sỡ dĩ như vậy là
do sự khó khăn trong sự phối hợp các ban ngành, yếu tố xã hội, kinh tế và kỹ thuật
Theo thống kê từ Sở TN-MT, khoảng một phần ba dân số thành phố phải sử dụng nước ngầm để sinh hoạt và sản xuất Cho đến đầu năm nay, người ta ước tính thành phố
có khoảng 200.000 giếng khoan các loại với công suất khai thác trên 1 triệu m³/ngày Đa phần các giếng khoan đều không phép Như vậy tính ra nước ngầm do người dân khai thác đã nhiều gấp 4-5 lần nguồn cung của nước ngầm tự nhiên
Năm 2007, UBND TPHCM đã ban hành Quyết định số 69/2007/QĐ-UBND quy định khá chi tiết về việc hạn chế và tiến tới cấm khai thác nước dưới mặt đất tại một số khu vực Thế nhưng đến nay việc khai thác nước ngầm trái phép vẫn càng lúc càng diễn biến phức tạp Tình trạng người dân thành phố phải khai thác nước ngầm nhiều như vậy
là do hệ thống nước máy chưa phủ kín địa bàn, nước sạch chưa đến tay người có nhu cầu Thống kê của ngành cấp nước thành phố cho thấy, hiện nay ngành cũng chỉ có khả
Vị trí các trạm quan trắc nước dưới đất
Trang 18năng cung cấp trên dưới 1,2 triệu m³ nước sạch/ngày, trong khi nhu cầu của thành phố 8 triệu dân tính ra phải từ 1,7 triệu m³/ngày trở lên
Mặt khác, số liệu điều tra cơ bản về nước ngầm vẫn còn thiếu, công tác kiểm tra,
xử lý vi phạm hiệu quả chưa cao, quy hoạch chung chưa gắn kết với quy hoạch nguồn nước
Trên thực tế hiện nay, nhiều ban ngành trên địa bàn thành phố chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của nguồn nước ngầm như khả năng của nguồn nước có hạn,
sự mất cân bằng sẽ dẫn tới hạ thấp mặt nuớc Ngoài ra, nhận thức của người dân về bảo
vệ nguồn nước cũng còn hạn chế, một bộ phận không nhỏ người dân chưa tuân thủ pháp luật về bảo vệ, tiết kiệm nguồn tài nguyên nước