1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề thực hiện văn hóa công sở tại cơ quan hành chính thực trạng và hướng hoàn thiện

54 428 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề thực hiện văn hoá công sở tại cơ quan hành chính thực trạng và hướng hoàn thiện
Tác giả Nguyễn Hữu Lạc, Nguyễn Thị Bao Yến
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 17,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước đã hiểu quy chế quy định những gì, cần phải thực hiện ra sao nhưng việc thực hiện không đúng vẫn con ton tai lam cho viéc thực

Trang 1

MSSV: 5055032 Lop: Luat Thuong mai - K31

> Can Tho, thang 4/2009 <

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DÂN

Trang 3

NHẬN XÉT CUA HOI DONG PHAN BIEN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

0)8/(06›7.\00Ng.:.: ÔỎ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài - - ky TT Hy khiếu 1

2 Phạm vi nghiên cứu của dé tai ccsesesescseesesseesescsssseseseeseseseeen 1

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài cv rerxrrkd 1

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 6 5s cv tre rverxrrkd 2

5 Cơ cầu của để tài che 2

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VẺ VĂN HÓA GIAO TIẾP 4 1.1.Giới thiệu chung về văn hóa - ¿L5 1xx rreErsrkerred 4 1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa 4 1.1.2.Khái niệm, vai trò và đặc điểm của văn húóa - s55: 5

1.1.2.1 Khái niệm văn hÓa cccc cv n9 ra 5 1.1.2.2 Vai trò của văn hÓa - - s1 ng ng Hy vn 6 1.1.2.3 Đặc trưng và chức năng của văn hóa -. - -+- 6 1.2 Văn hóa giao tÏẾp - Q11 TT TT TH ngu 8 1.2.1 Khái niệm văn văn hóa giao tiẾp - cv srerirsrerreeo 8 1.2.2 Đặc trưng cơ bản cltd Bid0 ED ccceccccisctesctss sees sssessssesssesseees 8 1.2.3 Các đặc trưng cơ bản trong giao tiếp của người Việt Nam 9 1.2.4 chức năng của giao tỈẾp cc ch nrrerrrrerrekrrrrkeo 11 1.2.5 Văn hóa giao tiếp nơi công Sở so te srrkrrrrkeo 13

1.3 Giới thiệu chung về công Sổ G2 33t 3v rrerved 15

Trang 5

1.3.2 Đặc điễm của công SỞ óc HH HH Tre 16 1.3.3 NHIỆM Vụ CÚA CÔN SỞ Ă TQ Ln HH ngàn 16 1.4.Những vấn đề chung về văn hóa công sở - 5-2 x25 +2 17 1.4.1 Khái niệm Văn hóa CÔN SỞ .Ă on teeeeeeenesenseneeennn es 18

1.4.2 Biễu hiện của văn hóa công SỞ St cntrekeverrereesred 18 CHUONG II: NHUNG QUY DINH CUA PHAP LUAT VE VAN HOA CONG

SO TAI CAC CO QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 20

2.1 Những quy định chung c-c cà nhe 20

2.1.1 Phạm vi điều chỉnh và dối tượng điều chỉnh của quy chế 20

2.1.2 Các nguyên tắc thực hiện của quy chế văn hóa công sở 20

2.1.3 Mục đích ban hành quy chế văn hóa công sở 21 2.1.4 Các hành vi bị cắm tại công SỞ - 5 TS éngrkekerrerkrsred 22

2.2 Trang phục giao tiếp và cách ứng Xử - ¿5s seo 23 2.2.1 Trang phục của cán bộ, công chức, viên chức 23 2.2.1.1 Trang DhỤC cs L1 S111 ng ng kg ru 23

2.2.1.2 LỄ phỤC -¿- ¡c2 1E vS E1 1111 Th KH Hy ryrếu 25

2.2.1.3 Thẻ cán bộ, công chức, viên chức - + 26

2.2.2 Giao tiếp và ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức 26 2.2.2.1 Giao tiếp và Ứng XỬ St St tt greg 26 2.2.2.2 Giao tiếp và ứng xử với dân -¿¿¿ + sex sszerree 28 2.2.2.3 Giao tiếp và ứng xử với đồng nghiệp -: 29

2.2.2.4 Giao tiếp qua điện thoại - 5s 1n treo 30 2.3 Bày trÍ cÔng SỞ - TH HH HH nh ng nen 31 2.3.1 Qui hity, QUOC KD voecccccccccccccscscscsssssessscsvssscsesssvscsvevsvessssvessavees 31

2.3.1.1 Treo Quốc huyy - - 5c S12 xxx RE ràng 31

Trang 6

2.3.2 Bày trí khôn VvIÊn CÔHE SỞ HH yên 34 2.3.2.1 Biển tên cơ Quan ¿tt kSxtEEEEEEEEEEkerrsrkrree 34 2.3.2.2 Phòng làm VIỆC - - LG Q Q nnnnHnnnn HS ng ng ng ve 34

2.3.2.3 Khu để phương tiện giao thông s55 cv 35 CHƯƠNG III: TÌNH HÌNH THỰC TẾ VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 37

3.1 Tình hình thực tế hiện nay 25 S3 ềEvEsveEsrrkrveeree 37

3.2 Những hạn chẾ - + 2 231333 3 k3 vn ngành 39

3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 2 + s5 + + zxzxc+2 41

°X y8 207) 007070707 5 43

40097 a

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng ngàn năm lao động sang tạo đấu tranh kiên cường đựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong

đó, văn hóa công sở là một phần quan trọng của bộ mặt văn hóa Việt Nam, qua quá trình giao lưu, chọn lọc, tiếp thu và phát triển những tính hoa văn hóa của nhân loại Hài hòa văn hóa trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay là một nhiệm vụ thiết yếu của Đảng nhà nước và nhân dân ta Trong đó, chủ chốt là sự ý thức của cán bộ, công chức trong việc thực hiện văn hóa nơi công sở

Hiện nay, nền kinh tế đang trên đà phát triển trong lúc sự giao lưu văn hoá giữa các quốc gia ngày càng được đây mạnh thì văn hoá càng trở thành một trong những trung tâm của sự chú ý mà đặc biệt là văn hoá công sở Những năm gần đây Đảng và nhà nước không ngừng quan tâm đến vai trò của văn hoá nói chung và văn hoá công sở nói riêng, đối với việc bồi dưỡng cán bộ, công chức đồng thời phát huy nhân tố con người nhằm tiến tới mục tiêu “xây dựng một nên văn hoá tiên tiễn đậm đà bản sắc dân tộc” Chúng ta đang tiến hành xây phong trào văn minh công sở Đây là việc làm cần thiết

để nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của nền hành chính quốc gia trong tiến

trình hội nhập quốc tế

Trong điều kiện kinh tế mở cửa hội nhập và bước đầu mở rộng quan hệ hợp tác

với các quốc gia trên thế giới như hiện nay thì uy tính và năng lực là những vấn đề

không thể không quan tâm Đề tạo được uy tính đối với bạn bè thế giới thì Đảng, nhà nước và nhân dân ta cần phải nô lực hết mình về mọi mặt Đề có thể tự khẳng định

mình và tự tin đứng vững trên thị trường thế giới thì Việt Nam cần xây dựng bộ máy

nhà nước trong sạch vững mạnh Muốn làm được điều đó thì toàn Đảng toàn dân ta cần phải rèn luyện để nâng cao kiến thức tạo môi trường văn minh, hiện đại Muốn vậy chúng ta cần có những bước đi đúng đắng trong việc khắc phục những hạn chế, tích cực đổi mới nhằm hoàn thiện các chính sách pháp luật Chính vì tầm quan trong đó mà tôi chọn đề tài “Vẫn đề thực hiện văn hoá công sở thực trạng và hướng hoàn thiện”

2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài vẫn đề thực hiện văn hoá công sở thực trạng và hướng hoàn thiện là một đề

tài tương đối rộng, đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, để tìm hiểu và nghiên cứu nhưng

do thời gian ngắn và lượng kiến thức có giới hạn nên tác giả chỉ nghiên cứu đề tài trong phạm vị “văn hóa công sở trong cơ quan hành chính nhà nước”

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trang 8

Hiện nay, đã có quy chê quy định cụ thê về văn hóa công sở Tuy nhiên, vân đề

áp dụng nó vào trong đời sống thực tế hay nói cách khác là áp dụng vào trong công sở

hành chính nước ta hiện nay vẫn còn rất nhiều khó khăn vướn mắt Mặc dù cán bộ,

công chức trong cơ quan hành chính nhà nước đã hiểu quy chế quy định những gì, cần phải thực hiện ra sao nhưng việc thực hiện không đúng vẫn con ton tai lam cho viéc thực hiện quy chế văn hóa nơi công sở không có gì đôi mới Chúng ta phải làm thế nào

dé giải quyết tốt những van đề đặt ra một cách hiệu quả nhất để xây dựng một nên văn

minh công sở tiên tiễn những đậm đà bản sắc dân tộc trong tương lai

Và nhằm nâng cao kiến thức của bản thân về lĩnh vực văn hóa công sở để giúp

ích cho công việc sau này Chính vì lẽ đó mà người nghiên cứu thấy rằng mình cần

phải đi sâu vào tìm hiểu các chính sách pháp luật để làm rõ hơn các vấn đề văn hóa

công sở hiện nay, tìm ra ưu khuyết điểm trong việc áp dụng và thực hiện quy chế trong

quản lý và xử lý , trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp và tìm ra một hướng đi cụ

thé

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã sử dụng rất nhiều phương pháp để làm rõ những vẫn dé của đề tài như: phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp sưu tầm, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp tài liệu

Trong đó phương pháp sưu tầm,phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp tài liệu đã được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài của tác giả

5, Cơ cầu của đề tài

Đề thuận lợi cho quá trình nghiên cứu của tác giả và để tiện cho việc theo dõi đề tài của người đọc tác giả đã chia bỗ cục của đề tài ra lam ba phan:

Thứ nhất là lời mở đầu Ở đây, tác giả đùng phần này như một lời dẫn để khi đọc

ta có thể hiểu sơ lược các vẫn đề cơ bản của đề tài như: sự cần thiết của đề tài đối với

xã hội, mục tiêu nghiên cứu đề tài của tác giả hay nói cách khác thì ở đây tác giả nghiên cứu đề tài với mục tiêu gì cho bản thân và cho xã hội, và cuối cùng là tác giả đã

sử dụng những phương pháp nào đề nghiên cứu đề tai

Thứ hai là phần nội dung đây là phần tương đối quan trọng Do đó, để nghiên cứu

hết tổng thể các mặt của đề tài tác giả đã chia phần này ra làm ba chương Trong đó, chương một là lý luận chung về văn hóa giao tiếp qua phần này tác giả muốn cho người đọc có một cái nhìn hết sức tổng quát từ cái chung đó là nền văn hóa lâu đời của Việt Nam đến cái riêng đó là văn hóa công sở ttrong các cơ quan hành chính nhà nước,

để từ đó người đọc có thể hiểu một cách tổng quan về văn hóa công sở từ lịch sử tới hiện tại và cũng để cho người đọc hiểu sâu hơn về bản sắc văn hóa của dân tộc ta Đến chương hai những quy định của pháp luật về văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước Ở đây người đọc sẽ thấy được sự quan tâm của Đảng và nhà

Trang 9

nước ta dén van dé văn hóa công sở thông qua những quy định khá chi tiết trong quy

chế như: trang phục, lễ phục, bản tên, cách giao tiếp của cán bộ, công chức, biển tên

cơ quan , được quy định rất cụ thể Tiếp theo là chương ba thực trạng và hướng

hoàn thiện Qua chương này tác giả đã chỉ ra những thiếu sót cũng như những mặt

còn hạn chế tồn tại khá nhiều trong ý thức chấp hành quy chế của cán bộ, công chức

và trong việc quản lý cán bộ, công chức của nhà nước ta Bên cạnh đó tác giả cũng đã

đưa ra một số biện pháp nhằm để góp phần hoàn thiện bộ mặt công sở nói chung và

văn hóa công sở nói riêng Qua chương này tác giả cũng mong người đọc có thể nhìn nhận khách quan về sự yếu kém trong việc thực hiện văn hóa nơi công sở để có thể đóng góp một phần nào đó nhằm xây dựng một nền văn minh nơi công sở đậm đà bản sắc dân tộc

$ Mặc dù đã cỗ găng tìm hiểu và nghiên cứu nhưng thời gian có hạn và do lượng

kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót Mong quý thầy cô bỏ qua

và góp ý đề bài luận văn của em được hoàn chỉnh hơn

Em xin cám ơn thây Nguyễn Hữu Lạc đã tận tình hướng dẫn cho em, trong suốt

quá trình làm bài em có gì thiếu sót mong thầy bỏ qua cho em

Em chân thành cám ơn quý thầy cô!

Trang 10

CHUONGI

LY LUAN CHUNG VE VAN HOA GIAO TIEP 1.1.Giới thiệu chung về văn hóa

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triễn của văn hóa

Nhìn lại tiễn trình lịch sử Việt Nam hàng nghìn năm qua, dòng chảy chủ đạo của

tư tưởng triết lý là triết lý nhân sinh, luôn gắn liền với cuộc sống thiết thực của cộng đồng: Nhà —- Làng - Nước Con người cá nhân không tồn tại đơn lẻ mà sống trong thế

ứng xử với các cộng đồng đó

Xét từ cội nguồn, cộng đồng người Việt hình thành sớm trên cơ sở những xã nông thôn — nông nghiệp trồng lúa trên một địa bàn không lớn, cái nôi ban đầu là lưu vực sông Hồng đến sông Mã

Công xã nông thôn, cộng đồng làng xã là tổ chức đã hình thành sớm và tổn tại hàng ngàn năm trong lịch sử, là nơi bảo lưu văn minh lúa nước, văn hoá xóm làng Có

làng trước rồi mới có nước Nước là làng mở rộng, là tập hợp nhiều làng Văn hoá xóm

làng được bảo đảm bởi nền tảng kinh tế là chế độ ruộng công, tồn tại đến tháng 8 —

1945, thậm chí đến cải cách ruộng đất 1955 — 1956 ở miền Bắc Thực chất ruộng công

đó là ruộng do công sức, mồ hôi của nhiều thế hệ thành viên công xã khai phá, phải làm thuỷ lơi, đào đắp đê điều, chăm sóc bảo vệ mùa màng mới có hạt thóc, hạt ngô, củ

khoai, củ sắn Do vậy mà nảy sinh tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau v.v

Đến khi có nhà nước, có chế độ phong kiến, bộ máy nhà nước thiết lập, bao trùm lên,

áp đặt lên bộ máy tự quản của làng xã, ruộng làng là ruộng công là ruộng vua, nhưng thực chất vẫn do làng xã quản lý Vì thế mới có tình trạng “phép vua thua lệ làng” Trong gia đình người Việt, “thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”, “con hơn cha nhà có phúc” Gia đình mẫu hệ còn ảnh hưởng đậm nét và lâu bền nên My Châu Công chúa con vua An Dương Vương lấy Trọng Thuý, Thuỷ ở rễ là thuận lý hợp tình, nếu giải mã theo quan điểm hệ thống thân tộc mẫu hệ Đến đầu Công nguyên Hai

Bà Trưng dựng cờ nghĩa đánh đuôi giặc ngoại xâm được toàn dân hưởng ứng, trong

một thời gian ngắn giành lại 65 thành trì; thăng lợi rồi Hai Bà trở thành “vua Bà”, dưới

trướng còn có nhiều “tướng bà” v.v

Kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước với tư liệu sản xuất chính là ruộng đất, nước, sức sản xuất quan trọng nhất là người nông dân cần cù, nông dân làm theo mùa vụ với kinh nghiệm sản xuất, mong cho có đây niêu cơm là đã thoả mãn, không đòi hỏi tư duy khoa học, sáng tạo

Điểm lại một số giá trị tinh thần, đạo đức truyền thống hàng nghìn đời cha ông ta để lại, giá trị lớn nhất là lòng yêu nước, trong thời đại mới được nâng lên thành chủ nghĩa

yêu nước Dường như trong mỗi người Việt Nam đều tiềm ẩn một lòng yêu nước, yêu

quê hương Mỗi khi vận nước bị nguy nan thử thách, lòng yêu nước đó lại bùng lên

Trang 11

như sóng trào lửa cháy quét sạch quân thù Tính cộng đông, cân cù là những giả trị

đáng quý, nhưng phải đánh giá đúng, đầy đủ mặt tích cực và tiêu cực của nó Suy cho

cùng, những giá trị trên đây cũng mới chỉ định tính, chưa được đúc kết thành những chuẩn mực, quy phạm đạo đức

1.1.1.Khái niệm, vai trò va dic diém cia văn hóa

1.1.2.1 Khái niệm văn hóa

a) khái niệm văn hóa :

Nghiên cứu về văn hóa nơi công sở, trước hết không thê không làm rõ khái niệm

văn hóa

Đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu luận bàn về khái niệm hay định nghĩa về văn hoá, nhưng cho đến nay, giới nghiên cứu khoa học, giảng dạy về văn hoá trong nước cũng như trên thế giới vẫn chưa thống nhất được một khái niệm chung

nhất

_ Văn hoá là một trong những mặt cơ bản của đời sống xã hội

_là 1 hệ thống (các giá trị, các cơ cau, ky thuat, thé ché cac tu tưởng .) được

hình thành trong quá trình hoạt động sáng tạo của con người, được bảo tồn và truyền

lại qua các thế hệ sau

_ Hệ thống văn hóa có chức năng như là l khuôn mẫu chuẩn mực các hành vi xã

hội

Tóm lại: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân

và các cộng đồng trong quá khứ và hiện tại Qua các thế hệ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.”

Văn hóa còn được hiểu qua khái niệm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá

trị vật chất và tinh thần do con người sang tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.”

b)Biểu hiện của văn hóa trong thực tế :

Văn hóa được biểu hiện trong các yếu tố cơ bản sau:

Các giá trị tính thần là các sản phẩm tinh than mà các cá nhân hay cộng đồng sáng tạo ra trong lịch sử và còn được dùng cho đến ngày nay Các giá trị này gồm 2 loại sau :

Các giá trị xã hội là tông thể các quan niệm của cộng đồng về sự tồn tại và phát triển cộng đồng vững mạnh vì sự phôn vinh hạnh phúc cho nhân dân

Các kỹ thuật chế tác là các yếu tô kỹ thuật và công nghệ do các cá nhân hay công

động sáng tạo ra từ xưa đến nay đang được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày

!'T§ Phan Quốc Anh “lại nói về khái niệm văn hóa” trang dân trí, thứ hai, 11/8/2008

? Cơ sở văn hóa Việt Nam PGS TS Trần Ngọc Thêm, NXB giáo dục 1997

Trang 12

Như vậy văn hóa là các yếu tố bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội và trở thành

nền tảng xã hội cho cuộc sống của cá nhân và cộng đồng

1.1.2.2 Vai trò của văn hóa

a Văn hóa là cơ sở xã hội hóa các cả nhân

Trong thực tế cuộc sống của mỗi cá nhân, văn hóa được thê hiện là những nhận thức xã hội của mỗi người để đảm bảo đời sống của chính họ Tất cả những điều đó

các cá nhân học hỏi và lĩnh hội được thông qua quá trình xã hội hóa các cá nhân Do

đó văn hóa là cơ sở của nền văn hóa đã trở thành con người của xã hội, hòa đồng vào

xã hội

b Văn hóa là cơ sở phát triển kinh tế:

Toàn bộ các yếu tố văn hóa được biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế là các cơ sở vật chất dùng cho sản xuất kinh doanh và năng lực lao động của con người Các nhà kinh

tế thường gọi các yếu tố là tài sản hữu hình và tài sản vô hình, đây là cơ sở

c Văn hóa và sự phát triển xã hội

Văn hóa bao giờ cũng gắn liền với sự phát triển, là chìa khóa của phát triển và mọi sự phát triển, tiễn bộ xã hội đều bắt nguồn từ văn hóa

Văn hóa và phát triển gan bó với nhau một cách hưu cơ, mọi sự phát triển của xã hội đều có cội nguồn từ văn hóa, trong văn hóa và văn hóa trở thành mục tiêu, động lực và hệ điều tiết của phát triển

1.1.2.3 Đặc trưng và chức năng của văn hóa

Văn hóa là một vẫn đề rất cũ, nhưng đang rất mới Văn hóa là khái niệm rộng,

nên cần phải làm rõ những đặc tính cơ bản:

Thứ nhất, văn hóa trước hết phải có tính hệ thống Đặc trưng này cần để phan biệt

hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện

tượng, sự kiện thuộc một nên văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó

Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tô chức xã hội Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết

đê ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Nó là nên tảng của xã hội — có

Trang 13

Các giá trị văn hóa, theo mục đích có thê chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tỉnh thần); theo ý nghĩa có

thể chia thành giá tri sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thâm mĩ; theo thời gian có thể

phân biệt giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho

phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của

sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan — phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời

Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội

Thứ ba, đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa với một hiện tượng xã hội (do con người sang tạo) với các gia tri ty

nhiên Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người

Do gắn liền với con người và hoạt động của con người trong xã hội, văn hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng Chức năng giao tiếp là chức năng quan trọng

thứ ba của văn hóa Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung

của nó

Thứ tư, văn hóa còn có tính lịch sử Văn hóa bao giờ cũng hình thành trong một

quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày,

một chiều sâu; nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiếng hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tình lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ôn định (những kinh nghiệm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cỗ định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục,

tập quán, nghỉ lễ, luật pháp, dư luận

Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa Nhưng văn hóa thự hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách (trồng

Trang 14

người) Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phát sinh là đảm bảo tính kê tục của lịch sử: nó là một thứ “gien” xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế

hệ mai sau

Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của

cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hang ngay

về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"

Những sản phẩm do con người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng

những giá trị

1.2 Văn hóa giao tiếp

1.2.1 Khái niệm văn văn hóa giao tiếp

Giao tiếp là một trong những phạm trù trung tâm của tâm lý học Tư tưởng về giao tiếp được đề cập đến từ thời cô đại qua thời kỳ phục hưng và đến giữa thế kỷ XX thì hình thành nên một chuyên ngành Tâm lý học giao tiếp Ngay từ khi còn là các tư tưởng về giao tiếp đến khi xuất hiện Tâm lý học giao tiếp thì khái niệm, bản chất giao tiếp chưa bao giờ thống nhất hoàn toàn Mỗi tác giả đề cập đến một mặt, một khía cạnh của hoạt động giao tiếp.”

Tuy vậy, số đông các tác giả đều hiểu giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người

với người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm Giao tiếp là phương thức tồn tại Của con người

Nói tóm lại, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về giao tiếp, và như vậy dẫn đến rất nhiều phương pháp tiếp cận, nghiên cứu các vẫn đề về giao tiếp Các quan điểm trên đây còn nhiều điểm khác nhau nhưng đã phần nào phác họa nên diện mạo bề ngoài của giao tiếp Giao tiếp và hoạt động không tổn tại song song hay tôn tại độc lập,

mà chúng tồn tại thống nhất, chúng là hai mặt của sự tồn tại xã hội của con người Giao tiếp được coi như:

- Qúa trình trao đối thông tin

- Sự tác động qua lại giữa người với người

- SỰ tri giác con người bởi con người

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của giao tiếp

Cá nhân ý thức được mục đích giao tiếp, nhiệm vụ, nội dung của tiến trình giao tiếp, phương tiện giao tiếp; ngoài ra còn có thể hiểu đặc trưng được của giao tiếp là

3 www.tamlyhoc.net, giao tiếp — khái niệm giao tiếp trong tâm lý học

Trang 15

khả năng nhận thức và hiểu biệt lần nhau của các chủ thê giao tiêp, nhờ đó tâm lý, ý

thức con người không ngừng được phát triển

Dù với bất kì mục đích nào, trong quá trình giao tiếp cũng xảy ra sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan Nhờ đặc trưng này mà

mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình theo những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của nghề

nghiệp, của vị trí xã hội mà họ chiếm giữ Cũng nhờ đặc trưng này, những phẩm chất tâm lý, hành vi ứng xử, thái độ biểu hiện của con người được nảy sinh và phát triển

theo các mẫu hình “nhân cách” mà mỗi cá nhân mong muốn trở thành

Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội

Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện thông qua giao tiếp người - người Con người vừa là thành viên tích cực của các mỗi quan hệ xã hội vừa hoạt động tích cực cho sự tôn tại và phát triển của chính các quan hệ xã hội đó

Cao tiếp bao giờ cũng được cá nhân thực hiện với nội dung cụ thê, trong khung cảnh không gian và thời gian nhất định

Giao tiép ban thân nó chứa đựng sự kế thừa, sự chọn lọc, tiếp tục sảng tạo những giá trị tỉnh thần, vật chất thông qua các phương tiện giao tiếp nhằm lưu giữ, gìn giữ những dấu ấn về tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm của con người Giao tiếp được phát triển liên tục không ngừng đối với cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, cộng đồng tạo thành nền văn hoá, văn minh của các thời đại

Qua trinh giao tiép được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể: một người hoặc nhiều

người Các cá nhân trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tượng luôn đổi chỗ cho

nhau, cùng chịu sự chỉ phỗi và tác động lẫn nhau tạo thành “các chủ thể giao tiếp” Mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp và hiệu quả giao tiếp phụ thuộc

rất nhiều vào các đặc điểm cá nhân của chủ thể như vị trí xã hội, vai trò xã hội, tính

cách, uy tín, giới tính, tuổi tác cũng như các mỗi quan hệ và tương quan giữa họ

Sự biểu cảm thê hiện đầu tiên bằng nét mặt có ý nghĩa tiến hoá sinh học cũng như

ý nghĩa tâm lý - xã hội, nó phản ánh khả năng đồng cảm, ảnh hưởng lẫn nhau của con người Sự chuyền toả các trạng thái cảm xúc này hay khác không thể nằm ngoài khuôn

khổ của giao tiếp xã hội

1.2.3 Các đặc trưng cơ bản trong giao tiếp của người Việt Nam

Thứ nhất, bản chất con người chỉ bộc lộ ra trong giao tiếp Trước hết, xét về thái

độ đối với việc giao tiếp, có thể thấy đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp , lại vừa rụt rè

Người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi trọng giữ gìn các mỗi quan hệ tốt với mọi thành viên trong cộng đồng, chính tính cộng đồng này là

* www.tamlyhoc.net, giao tiếp — khái niệm giao tiếp trong tâm lý học

Trang 16

nguyên nhân khiên người Việt Nam đặc biệt coi trọng việc giao tiệp, rât thích giao

tiếp Việc giao tiếp này thể hiện chủ yếu ở hai điểm:

Từ gốc độ của chủ thể giao tiếp, thì người Việt Nam có tính thăm viếng Đã thân

với nhau, thì cho dù hàng ngày có gặp bao nhiêu lần đi nữa, lúc rảnh rỗi họ vẫn tới thăm nhau Thăm viếng không còn là nhu cầu công việc (như ở phương tây) mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ

Với đối tượng giao tiếp thì người Việt Nam có tính hiếu khách Có khách đến

nhà, dù quen hay lạ thân hay sơ, người Việt đù nghèo khó đến đâu cũng cố gắn tiếp

đón chu đáo và tiếp đãi thịnh tình, dành cho khách các tiện nghỉ tốt nhất, đồ ăn ngon nhất: “khách đến nhà chẳng gà thì gỏi”, “bỡi lẽ đói năm không ai đói bữa” Tính hiếu

khách này càng tăng lên khi ta về những miền quê hẻo lánh, những miễn rừng núi xa XÔI

Đồng thời cùng với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại có đặc tính hầu như

ngược lại là rất rụt rè đều mà những người quan sát nước ngoài rất hay nhắc đến Sự tôn tại đồng thời của hai tính cách trái ngược nhau (thích giao tiếp và rụt rè) này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị Hai tính cách tưởng như trái ngược nhau ay không hề mâu thuần với nhau chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất Là biểu hiện cho cách ứng xử linh hoạt của người Việt Nam

Thứ hai, xét về quan hệ giao tiếp, văn hóa nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử: “yêu nhau cau sáu

bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”; “yêu nhau mọi việc chang nề, dẫu trăm chỗ

lệch cũng kê cho bằng”

Nếu nói khái quát, người Việt Nam lấy sự hài hòa âm dương làm trọng nhưng

vẫn thiên về âm hơn Thì trong cuộc sống, người Việt Nam sống có lý có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn: “một bồ cái lý không bằng một tí cái tình” người Việt Nam luôn coi trong tinh cam hon mọi thứ ở đời

Thứ ba, với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá Mặc khác, do lỗi sống trọng tình cảm, mỗi cập giao tiếp đều có cách

xưng hô riêng, nên nếu không đủ thông tin thì không thể nào lựa chọn từ xưng hô cho

thích hợp được Biết tính cách người để lựa chọn đỗi tượng giao tiếp thích hợp: “chọn mặt gửi vàng”, khi không được lựa chọn thì người Việt Nam dung chiến lược thích ứng linh hoạt: “đi với bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”

Thứ tư, tính cộng đông còn khiến người Việt Nam, dưới gốc độ chủ thê giao tiếp,

có đặc điểm là trọng danh dự; “đói cho sạch, rách cho thơm”

Lối sống trọng danh dự dẫn đến cơ chế tin đồn, tạo nên dư luận như một thứ vũ

khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để di trì sự ôn định của làng xã

Trang 17

Thứ năm, về cách thức giao tiêp, người Việt Nam ưa sự tê nhị, ý tứ và trọng sự

hòa thuận

Lỗi giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy coi

trọng các mối quan hệ Nó tạo nên một thói quen đắn đo cân nhắc kỹ càng khi nói năng: “ăn có nhai, nói có nghĩ”

Tâm lý ưa hòa thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn: “một

su nhin, chin sự lành”

Thứ sáu, người Việt Nam có hệ thống nghỉ thức lời nói rất phong phú

Trước hết, đó là sự phong phú của hệ thống xưng hô Tiêng việt sử dụng một số lượng lớn các danh từ chỉ quan hệ họ hàng để xưng hô và những danh từ thân tộc này

có xu hướng lấn át các đại từ nhân xưng

Hệ thống xưng hô này có các đặc điểm: thứ nhất, có tính chất than mật hóa Thứ hai, có tính chất cộng đồng hóa cao — trong hệ thống này, không có những từ xưng hô chung chung mà phụ thuộc và tuôi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian g1ao tiếp cụ thể Thứ ba, thể hiện tính tôn tỉ kỹ lưỡng: người Việt Nam xưng và hô theo nguyên tắc

“xưng khiêm hô tôn” (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính)

Nghi thức trong cách nói lịch sự cũng rất phong phú Do truyền thống tình cảm

và linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ cám ơn, xin lỗi chung chung cho mọi trường hợp như phương tây Với mỗi trường hợp có thể có một cách cám ơn, xin lỗi khác nhau: “quý hóa quá”, “anh quá khen”, “bác bày vẽ quá”

Văn hóa nông nghiệp ưa ôn định, sống chú trọng đến không gian, nên người Việt Nam phân biệt kĩ các lời chào theo quan hệ xã hội và theo sắc thái tình cảm Trong khi

đó văn hóa phương tây ưa hoạt động lại phân biệt kĩ các lời chào theo thời gian như

chào gặp mặt, chào chia tay, chào buổi sang, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối, `

1.2.4 chức năng của giao tiếp

“Giao tiếp có một ý nghĩa hết sức lớn lao đối với đời sống con người Nhu cầu liên quan tới một số lượng lớn những nhu cầu cơ bản của con người bởi vì giao tiếp là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người với tư cách là một thành viên của xã hội, một nhân cách R.Notbe - một nhà khoa học người Đức đã viết

“Căm thù người khác còn hơn phải sống cô độc” Vì vậy, giao tiếp đối với người khác

là một nhu cầu thiết yếu của con người

Có rất nhiều cách phân chia và nhiều quan điểm khác nhau về chức năng của giao tiếp

Theo tác giả Trần Hiệp, chức năng cơ bản của giao tiệp bao gôm:

- Chức năng thông tin liên lạc

Š Cơ sở văn hóa Việt Nam PGS TS Tran Ngọc Thêm, NXB giáo dục 1997

Trang 18

Chức năng này bao quát tât cả các quá trình truyền và nhận thông tin Với tư

cách là một quá trình truyền tín hiệu, chức năng này có cả ở người và động vật Tuy

nhiên, con người khác con vật ở chỗ có hệ thống tín hiệu thứ hai, quá trình truyền tin được phát huy đến tối đa tác dụng của nó và kết quả là con người có khả năng truyền

di bat cứ thông tin, tín hiệu gì mình muốn Chức năng ngày thể hiện ở cả chủ thể giao

tiếp và đối tượng giao tiếp, nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó như nhu cầu truyền tin, nhu

cầu tình cảm, nhu cầu tiếp xúc, giải trí Nhưng cũng chính vì con người có hệ thống

tín hiệu thir hai, có ý thức, có trí tuệ phát triển hơn so với các động vật khác mà hiệu quả của quá trình này có thể được tăng lên hay giảm đi

- Chức năng điều chỉnh điều khiển hành vi

Thông qua giao tiếp, cá nhân không chỉ có khả năng điều chỉnh hành vi của mình

mà còn có thể điều chỉnh hành vi của người khác Chức năng này chỉ có ở người với

sự tham gia của quá trình nhận thức, của ý chí và tình cảm Khi tiếp xúc, trao đổi thông tin với nhau, các chủ thê giao tiếp đã hoặc đang ý thức được mục đích, nội dung

giao tiếp, thậm chí còn có thể dự đoán được kết quả đạt được sau quá trình giao tiếp Nhằm đạt được mục đích mong muốn, các chủ thẻ thường linh hoạt tuỳ theo tình

huống thời cơ mà lựa chọn, thay đổi cách thức hoặc phương hướng, phương tiện giao tiếp sao cho phù hợp Chức năng này thể hiện khả năng thích nghỉ lẫn nhau của các chủ thể giao tiếp, ngoài ra nó còn thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt của các phẩm chất tâm lý cá nhân trong giao tiếp Hơn thế nữa, chức năng này còn thể hiện vai trò tích cực của các chủ thê giao tiếp trong quá trình giao tiếp, điều này chỉ có được trong giao tiếp xã hội

- Chức năng kích động liên lạc

Chức năng này có liên quan đến lĩnh vực cảm xúc của con người Trong quá trình giao tiếp, không chỉ xảy ra các quá trình truyền tin hay các tác động điều chỉnh, mà còn xuất hiện các trạng thái cảm xúc của những người tham gia Qua quan sát thực tế cuộc sống, ta thấy giao tiếp thường nảy sinh trong chính những thời điểm mà người ta muốn thay đổi trạng thái cảm xúc của mình Các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ

có tác dụng rất lớn đối với chức năng này

Ngoài cách phân chia chức năng của giao tiếp như trên, người ta có thể phân chia

chức năng của giao tiếp thành: tổ chức hoạt động chung, nhận thức giữa người với

người, hình thành và phát triển quan hệ liên nhân cách

Cả hai kiểu phân loại chức năng giao tiếp trên không loại trừ lẫn nhau, mà chúng chứng tỏ rằng giao tiếp cần được nghiên cứu như một quá trình nhiều mặt đặc trưng bởi tính năng động cao và đa chức năng, tức là việc nghiên cứu giao tiếp đặt ra việc sử dụng các phương pháp phân tích hệ thống

Theo GS.TS.Phạm Minh Hạc, chức năng giao tiếp được phân chia thành hai nhóm

Trang 19

- Nhóm các chức năng thuân tuý xã hội bao gôm các chức năng giao tiêp phục

vụ các nhu cầu chung của xã hội hay của một nhóm, các tập thể, các tổ chức tạo thành

xã hội

- Nhóm các chức năng tâm lý - xã hội là các chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu của từng thành viên xã hội với người khác Tránh cho người khác rơi vào tình trạng cô đơn, một trạng thái nặng nề khủng khiếp, nhiều khi dẫn đến bệnh tật hoặc sự

tự sát

Theo B.Ph.Lômôy và A.A.Bôđaliôy thì giao tiếp có ba chức năng:

- Chức năng thông tin

- Chức năng điều khiên, điều chỉnh

- Chức năng đánh giá thái độ giao tiếp

Theo Ngô Công Hoàn nếu coi giao tiếp la một pham trù của Tâm lý học hiện dai thi

bản thân quá trình giao tiếp thực hiện các chức năng:

- Chức năng định hướnghoạt động của con người

- Chức năng điều chỉnh, điều khiển hành vi của con người

Các quan điểm trên xuất phát từ những quan điểm khác nhau, những hướng nghiên cứu khác nhau nên cũng có những điểm khác nhau Song tựu trung lại các quan

điểm trên đều đã nêu ra được các chức năng cơ bản của giao tiếp theo nhiều hướng

tiếp cận khác nhau.”

1.2.5 Văn hóa giao tiếp nơi công sở

Công sở là nơi diễn ra thường xuyên các mỗi quan hệ giữa người và người trong

nội bộ và ngoài công sở Thông qua những mỗi quan hệ đó, cán bộ, công chức nơi

công sở bộc lộ bản chất của mình vì bản chất con người thường bộc lộ trong quá trình

giao tiếp

Thể thức giao tiếp là những quy ước về cách thức biểu lộ thái độ, bày tỏ tình cảm

trong khi gặp gỡ, thăm hỏi, bàn bạc giải quyết công việc tiếp đãi người khác thể

thức giao tiếp bao gồm những quy tắc tương đối ôn định về lời nói, cử chỉ, ăn mặc, đi

đứng cần phải tuân theo trong các trường hợp giao tiếp và trong các nghỉ lễ ở nơi

công cộng

Giao tiếp là một vấn đề lịch sử Sự hình thành và phát triển của giao tiếp không tách rời sự hình thành và phát triển của con người và xã hội Giao tiếp là một nhu cầu

không thể thiếu của con người trong quá trình phát triển xã hội Cùng với sự phát triển

của xã hội loài người, g1ao tiếp luôn vận động và biến đối, từ sơ khai đến hiện đại, từ

tự phát đến tự giác, từ đơn giản đến phức tạp

5 www.tamlyhoc.net, giao tiếp — khái niệm giao tiếp trong tâm lý học

Trang 20

Giao tiép duoc thực hiện thông qua các công cụ truyền tải như tiếng nói, ngôn

ngữ, hành vi, tâm lý Công cụ giao tiếp thể hiện dưới nhiều dạng, ngôn ngữ lời nói, ngôn ngữ văn tự, ngôn ngữ cử chỉ hành vi

Trong giao tiếp, ngôn ngữ lời nói là tiêu chuẩn để định vị nhân cách của cá nhân, cách sống của gia đình, phong trào nhóm xã hội và cách sinh hoạt của xã hội thông qua nội dung và hình thức biểu lộ của ngôn ngữ lời nói, người ta có thể cảm nhận, đánh giá một con người nào đó về mặt tư cách, tính khí và cả phẩm chất đạo đức Ngôn ngữ lời nói vốn đa dạng như sự đa dạng của con người và cuộc sống xã hội nhưng ngôn ngữ lời nói cũng cần có sự định hướng đúng đắn, tuân theo những định chuẩn, quy ước về cách ăn nói, thưa gửi, chào hỏi từ trong gia đình, đến người xung quanh, láng giềng tộc họ và xã hội Có tuân theo định hướng giá trị xã hội trong ngôn

ngữ lời nói, con người mới có điều kiện đạt đến tiêu chuẩn con người thanh lịch về lời

nói

Con người không chỉ giao tiếp bằng lời nói mà còn cả bằng ngôn ngữ văn tự Ngôn ngữ văn tự là công cụ để con người biểu lộ, ghi nhận những ý tưởng, xúc cảm của mình và giao đãi với nhau thông qua thư từ và các hình thức khác có sử dụng chữ viết Khác với ngôn ngữ lời nói, ngôn ngữ văn tự có thể diễn đạt dưới những hình thức văn, thơ, truyện và những hình thức thể hiện ngôn ngữ khác, tạo nên những sản phẩm bậc cao của giao tiếp

Ngôn ngữ cử chỉ hành vi đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp nhóm và cộng đồng xã hội có những ngôn ngữ cử chỉ đã trở thành những biểu trưng, quy tắc ước lệ để nhận biết đặc trưng dân tộc Đặc trưng của những tình huống

giao tiếp

Từ sự nhận thức một cách chung nhất khái niệm giao tiếp như trên, vẫn đề đặc ra đối với cán bộ, công chức nơi công sở trong quá trình quản lý văn hóa là sự thực hiện

giao tiếp có văn hóa Giao tiếp có văn hóa (mà cốt lõi của nó là văn hoá giao tiếp) là

toàn bộ những giao tiếp ở tất cả các lĩnh vực khác nhau trong xã hội đạt đến trình độ nhất định của cái đẹp, cai tốt, cái thật, phù hợp với tiêu chuẩn định hướng về văn hóa

“øiao tiếp có văn hóa là những loại giao tiếp ứng xử mang tính đại diện, tính biểu trưng, tính biểu tượng mang trong nó những thuộc tính đại điện, tính tiêu chuẩn có tính văn hóa, đạo đức và thâm mỹ phù hợp với cảm quan và trí tuệ của một dân tộc

Người giao tiếp có văn hóa lấy tình cảm chân thành làm giá trị

Người giao tiếp có văn hóa còn là người thể hiện đạo đức mới trong quá trình

giao tiếp

Trong giao tiếp có những cử chỉ và lời nói không thê thiếu được Cái bắt tay thân

mật, lời chào hỏi ân cần, lời cảm ơn, tiếng xin lỗi là những thể thức có từ lâu trong

Trang 21

phép lịch thiệp của nhân dân ta Thiêu những cử chỉ đó là vi phạm những quy tắc tôi thiêu của cuộc sống

1.3 Giới thiệu chung về công sở

Đề nghiên cứu về công sở và những vẫn đề liên quan đến công sở nói chung và công sở hành chính nói riêng, trước hết cần phải có được những nhận thức chung về các tổ chức xã hội làm nền tảng Sở dĩ như vậy là vì công sở bắt nguồn từ tổ chức và luôn hoạt động với tư cách là một tổ chức của xã hội con người (khác với các tô chức

tự nhiên), được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của từng

thời kỳ nhất định

Trên phương diện lịch sử, thuật ngữ “công sở” được sử dụng rộng rải ở Châu Âu

từ cuối thế ký thứ XVIII cùng với thuật ngữ “cơ quan” Nó được hiểu theo cả nghĩa

rộng và nghĩa hẹp Đó vừa là cơ quan quản lý, vừa là trụ sở làm việc của các cơ quan

Trên thực tế, khi sử dụng thuật ngữ này nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cũng quan niệm công sở với cơ quan hành chính là một

1.3.1 Khái riệm công sở

Theo nghĩa cổ điển, công sở là một tổ chức đặt đưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước để tiễn hành một công việc chuyên ngành của nhà nước

Các tô chức mang tính chất công ích, được nhà nước công nhận thành lập, chịu

sự điều chỉnh của luật hành chính và các bộ luật khác đều có nghĩa là những công sở Như vậy công sở thật chất là một loại t6 chức và do đó có đặc trưng của một tô chức

Xét về nội dung công việc, hoạt động của công sở nhằm thỏa mãn các lợi ích chung của cộng đồng, do vậy, cần được sự bảo vệ nhu cầu này

Xét về hình thức tổ chức, công sở là một tập hợp có cơ cấu tô chức, có phương

tiện vật chất và con người được nhà nước bảo trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình Hình thức tô chức của công sở do nhà nước quy định và lệ thuộc vào phương thức điều hành của bộ máy nhà nước Hiện nay ở nước ta có các loại công sở như công sở sự

nghiệp, công sở hành chính

Xét trên ý nghĩa tô chức nhà nước, khái niệm công sở gần nghĩa với cơ quan

trong hệ thống bộ máy nhà nước Từ đó có thể coi công sở là trụ sở làm việc của cơ

quan nhà nước, do nhà nược lập ra Công sở có thâm quyên để giải quyết công vụ

Từ phân tích trên ta có thể hiểu: Công sở là một tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính, là nơi soạn thảo và sử lý các văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, nơi phối hợp hoạt động thực hiện một nhiệm vụ được nhà nước giao Là nơi tiếp nhận đề nghị,

yêu cầu, khiếi nại của đân Do đó, công sở là bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế

bộ máy quản lý nhà nước

Trang 22

Khái niệm công sở cũng được quy định tại khoản I điều 70 của Luật cán bộ, công chức: “công sở là trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tô chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập có tên gọi riêng, có địa chỉ

cụ thể, bao gồm công trình xây dựng, các tài sản khác thuộc khuôn viên trụ sở làm việc.”

1.3.2 Đặc diễm của công sở

Có nhiều tiêu chí khác nhau có thể áp dụng đề phân loại và nghiên cứu công sở Nếu theo tích chất và nội đung hoạt động của công sở có thể xếp thành công sở hành chính, công sở sự nghiệp

Nếu dựa trên phạm vi hoạt động, có thể phân loại công sở thành công sở trung

ương, công sở của trung ương đóng ở địa phương, công sở do các cơ quan địa phương

quản lý

Nhưng dù phân loại theo nguyên tắc nào thì công sở nói chung cũng đều có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

-Là một pháp nhân;

-Là cơ sở để đảm bảo công vụ;

-Có quy chế cần thiết dé thực hiện các chuyên môn do nhà nước quy định

Để có thê có cơ sở trong quá trình hoạt động, công sở được quy định những thầm quyền cụ thể và có một đội ngũ cán bộ, công chức để thực thi công vụ Các hành vi diễn ra trong công sở được đặt trong những định chế pháp lý thích ứng và được gọi là

các hành vi hành chính Khi giải quyết các vẫn đề hành chính theo luật định được gọi

là nghĩa vụ hành chính

Là nơi thực hiện các giao dịch hành chính, công sở hành chính thường được thiết

kế theo những mô hình thích hợp Ngoài ra, cần chú ý vị trí nơi công sở đóng sao cho việc giao dịch được thực hiện thuận lợi Yếu tổ này tạo nên nét đặc thù trong công sở hành chính

Trong các công sở hành chính, theo nghĩa là trụ sở hoạt động của cơ quan trên cơ

sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan do luật định, mỗi cán bộ,công chức khi làm việc

đều giữ một vị trí nhất định tức là có một công việc nhất định của mình Trong quá

trình thực hiện các nhiệm vụ được giao, theo vi trí được xác định tại công sở, cần bộ, công chức thuộc công sở sẽ đưa ra những giải pháp theo quyền hạn, trách nhiệm của mình và hợp tác với các cán bộ có liên quan đến công việc chung để hoàn thành nhiệm

vụ người ta gọi đó là quy trình làm việc

1.3.3 Nhiệm vụ của công sở

Công sở là nơi thường xuyên tiếp xúc và giải quyết công việc hằng ngày của người dân Vì vậy, từ việc xây dựng nền nếp hoạt động của công sở cho đến thái độ

7 Luật cán bộ, công chức NXB chính trị quốc gia — 2008

Trang 23

tiêp dân, phong cách làm việc có tân tình và có tính chuyên nghiệp hay không đều ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả công việc

Công sở thực hiện nhiệm vụ (quen gọi là công việc) của khối gián tiếp, nhằm

thực hiện chức năng của tổ chức, cơ quan Ở đây, cán bộ, công chức của bộ máy hành chính tham gia vào các hoạt động chung như xây dựng văn bản, xử lý hồ sơ, thông tin,

tô chức thực hiện các quyết định hành chính, Theo chức trách của mình và theo một

quy chế nhất định

Làm việc trong các công sở là công chức theo quy chế công vụ và lao động hợp đồng theo thỏa thuận Nhìn chung, công sở hành chính có những nhiệm vụ chủ yếu dưới đây:

-Quản lý công vụ theo pháp luật;

-Tổ chức, phối hợp công việc giữa các bộ phận của cơ quan;

-Tổ chức công tác thông tin trong cơ quan và giữa cơ quan với các cơ quan khác; -Thực hiện việc kiểm tra, theo dõi công việc của cán bộ, công chức thuộc cơ quan theo cơ chế chung và các quy chế khác do cơ quan, đơn vị ban hành dựa trên các quy định chung của nhà nước;

-Tổ chức việc giao tiếp với dân, với các cơ quan trong bộ máy nhà nước và các tô chức xã hội; làm đại điện cho nhà nước đề thực thi công vụ;

-Quản lý tài sản của cơ quan để sử đụng vào mục đích chung, quản lý ngân sách; -Tham mưu trong hoạt động chính sách, xây dựng pháp luật, các quy chế, quyết định cho cơ quan, tô chức nhà nước có thâm quyên

1.4.Những vẫn đề chung về văn hóa công sở

Đề xem xét các khía cạnh khác nhau của văn hóa tô chức trong công sở, mà ở đây

cụ thể được gọi là văn hóa công sở Nhìn chung, văn hóa tổ chức được quan niệm là hệ thống những giá trị, niềm tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ chức, tac động qua lại với các cơ cầu chính thức và tạo nên những chuẩn mực hành động như những giã thuyết không bị chất vẫn về truyền thống và cách thức làm việc của tổ chức mà

mọi người trong đó đều tuân theo khi làm việc

Chính văn hóa tổ chức cho phép người ta phân biệt được các tổ chức với nhau

thông qua những phương thức điều hành khác nhau Gọi là “văn hóa” vì nó hướng tô chức tới những giá trị về tinh thần và ảnh hưởng đến nếp suy nghĩ, làm việc của các

thành viên khi gia nhập vào tô chức, chấp nhận nó như một truyền thống Văn hóa tô

chức ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tô chức, đến phương thức tồn tại và phát triển của tổ chức

Trên những ý nghĩa tương đồng chúng ta có thê nói đến văn hóa tổ chức công sở

như là một hệ thống giá trị hình thành trong quá trình hoạt động của công sở, tạo nên

Trang 24

niềm tin, giá trị về thái độ của các nhân viên làm việc trong công sở, ảnh hưởng đên

cách làm việc của công sở và hiệu quả hoạt động của nó trong thực tế

1.4.1 Khái niệm văn hóa công sở

Thuật ngữ văn hóa công sở được các nhà nghiên cứu giải thích từ các góc độ rộng, hẹp khác nhau:

“Có ý kiến cho rằng văn hóa công sở đồng nghĩa với văn hóa giao tiếp ứng xử trong công sở: “văn hóa công sở được hiểu là những quy tắc, các chuẩn mực ứng xử của cán bộ, công chức nhà nước với nhau và với đối tượng giao tiếp là các công dân nhằm phát huy tối đa năng lực của những người tham gia giao tiếp để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc công sở”

Trong từ điển tra cứu về quản lý nhà nước và quản lý địa phương của Học viện

Công vụ Liên bang Nga, văn hóa công sở (hay văn hóa cơ quan) được tiếp cận từ góc

độ rộng hơn, đó là “tập hợp các định hướng và giá trị, chuẩn mực đo truyền thống hay

thói quen tạo nên, đặc trưng riêng của hoạt động công vụ tại các cơ quan nhà nước thể hiện ở mục tiêu của tô chức, quan điểm, thái độ của con người đối với công việc, cách

xử lý các xung đột”

Văn hóa công sở xuất phát từ vai trò của chính công sở trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bộ máy hành chính mà nó là một bộ phận câu thành Trong khái niệm này chúng ta có thể kế đến những khía cạnh quan trọng nhất của nó như quan hệ giữa cán bộ công chức trong công việc, các chuẩn mực xử sự, nghỉ thức tiếp xúc hành

chính, phương pháp giải quyết các bất đồng trong cơ quan, cách lãnh đạo, chỉ huy và ý

thức chấp hành kỷ luật trong và ngoài công sở của nhân viên,

1.4.2 Biéu hién của văn hóa công sở

Xây dựng văn hóa công sở là xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, có kỷ cương dân chủ Nó đòi hỏi các nhà lãnh đạo, quản lý cũng như toàn bộ thành viên của

cơ quan phải quan tâm đến hiệu quả hoạt động chung của cơ quan mình Muốn vậy cán bộ phải tôn trọng kỷ luật cơ quan, phải chú ý đến danh dự cơ quan trong cư xử với mọi người, đoàn kết và hợp tác trên những nguyên tắc chung, chống lại bệnh quan lieu, hách dịch, cơ hội Như thế niềm tin của cán bộ với cơ quan sẽ được cũng cố, phát triển cùng với quá trình xây dựng cơ quan công sở

Biểu hiện của văn hóa công sở có thể thấy trong các quy chế, quy định, nội quy điều lệ hoạt động có tính chất bắt buộc mọi thành viên của cơ quan thực hiện

Những đặc trưng văn hóa đòi hỏi các quy chế, quy định qua một thời gian áp dụng lâu dài tại công sở, tạo nên những thói quen về nề nếp làm việc có tính chuẩn mực mà mọi người đều tự giác thực hiện Với mong muốn và tin tưởng ở sự lớn mạnh

® Tap chi quan ly nhà nước — số 149 (6-2008) TS Nguyễn Thị Thu Vân về ““văn hóa công sở và giải pháp xây

dựng văn hóa công sở

Trang 25

của cơ quan mình, theo truyên thông văn hóa công sở, các quy chê điêu lệ sẽ được các

thành viên trong công sở thực hiện mà không cần có một sự áp đặt thường xuyên nào Chính tính tự giác làm cho một công sở này vượt lên khác với một công sở khác, cho

dù đôi khi chúng có thể cùng hoạt động trong một lĩnh vực và có một môi trường như nhau

Văn hóa công sở cũng có thể xem xét thông qua các mối quan hệ giữa các thành viên trong công sở, chặt chế hay lỏng lẻo; đoàn kết hay cục bộ,

Như thế văn hóa công sở trên một chừng mực nhất định phản ánh những giá trị

xã hội có thực liên quan đến quá trình điều hành công sở Mối quan hệ giữa văn hóa

công sở và văn hóa truyền thống của dân tộc đòi hỏi các cơ quan, công sở trong khi

xây dựng các chuẩn mực điều hành cần phải hướng tới sự chấp nhận chung của xã hội, không thê cục bộ và càng không thể đối lập với nhu cầu của cuộc sống cộng đồng rộng lớn Vì vậy, trong các công sở của chúng ta, thái độ cầu thị, đoàn kết, khiêm tốn luôn luôn được đề cao Trái lại, thói hách dịch, cục bộ, vô tổ chức luon bị lên án, mặc dù những điều đó không phải bao giờ cũng được ghi vào các quy chế thành văn một cách

day du

Đề xem xét các khía cạnh khác nhau của văn hóa tổ chức trong một công sở cụ thể, mà ở đây được gọi là văn hóa công sở, chúng ta có thể dựa vào một số biểu hiện

cụ thể của các hành vi điều hành và hoạt động của công sở đó như sau:

- Tỉnh thần tự quản tự giác của cán bộ, công chức làm việc tại công sở cao hay

thấp Thái độ trách nhiệm trước công việc và các cơ hội mà mọi người có được đẻ

vươn lên luôn là biểu thị của môi trường văn hóa cao trong công sở và ngược lại

- Mức độ áp dụng các quy chế để điều hành, kiểm tra công viêc

- Thái độ chỉ huy dân chủ hay độc đoán

- Cán bộ, công chức của từng cơ quan và các đơn vị của cơ quan có tỉnh thần đoàn kết, tương trợ, tin cậy lẫn nhau như thế nào Mức độ của bầu không khí cởi mở trong công sở

- Các chuẩn mực đề ra thích đáng và mức độ hoàn thành công việc theo chuẩn

mực cao hay thấp Một công sở làm việc không có chuẩn mực thống nhất là sự biểu

hiện của văn hóa công sở kém

- Các xung đột nội bộ được giải quyết thỏa đáng hay không

Các biểu hiện hành vi của văn hóa công sở rõ ràng rất đa dạng và phong phú

chúng đòi hỏi phải xem xét tỉ mỉ mới có thể đánh giá được hết mức độ ảnh hưởng của

chúng tới năng suất lao động quản lý, tới hiệu quả hoạt động của công sở nói chung

Trang 26

CHUONG II

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHAP LUAT VE VAN HOA CONG SO TAI CAC

CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

2.1 Những quy định chung

2.1.1 Phạm vi điều chỉnh và dối tượng điều chỉnh của quy chế

“Quy chế này quy định về trang phục, giao tiếp và ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành nhiệm vụ, bài trí công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm:

Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

Ủy ban nhân dân các cấp

Quy chế này không áp dụng đối với các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt

Nam ở nước ngoài.””

2.1.2 Các nguyên tắc thực hiện của quy chế văn hóa công sở

“Việc thực hiện văn hoá công sở tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

Phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc và điều kiện kinh tế - xã hội;

Phù hợp với định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên

nghiệp, hiện đại;

Phù hợp với các quy định của pháp luật và mục đích, yêu cầu cải cách hành

chính, chủ trương hiện đại hoá nền hành chính nhà nước.”

Đề thực hiện tốt các nguyên tắc trên thì Đảng và nhà nước ta chủ trương thực hiện xây dựng đời sống văn hóa nơi công sở:

Xây dựng đời sống văn hóa nơi công sở không thể gặp khuôn về nội dung, mỗi

cơ quan theo đặc trưng chức năng, nhiệm vụ của mình mà lựa chọn mục tiêu phù hợp

Xây dựng đời sống văn hóa công sở phải bắt đầu từ nhận thức rõ cán bộ, công chức là

công bộc của dân, mọi hành vi của họ phải thê hiện tính nhân văn Các chỉ tiêu xây dựng cơ quan, công sở văn hóa phải dựa trên cơ sở các cuộc vận động của nhà nước,

của địa phương, của ngành Trước hết, cần hoàn thiện thể chế quản lý cán bộ, công

chức nhà nước, các chế độ, chính sách tuyển dụng, quản lý, đào tạo, tiền lương, thi tuyến, nâng bậc, phân định thẩm quyên mỗi cơ quan còn tổ chức thanh tra công vụ

để quản lý chặt chẽ cán bộ, công chức, hạn chế tình trạng lạm quyền, nâng cao tỉnh

thần phục vụ, khen thưởng đúng mức, kỷ luật nghiêm minh

? Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước - Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 2-8-

2007 của Thủ tướng Chính phủ quyêt định ban hành quy chê văn hóa công sở tại cắn cơ quan hành chính nhà

nước

'° Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước - Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 2-8-

2007 của Thủ tướng Chính phủ quyêt định ban hành quy chê văn hóa công sở tại cắn cơ quan hành chính nhà

nước

Trang 27

Xây dựng đời sông văn hóa của cán bộ, công chức cân chú trọng hoạt động văn hóa giáo dục nhằm nâng cao trình độ giác ngộ, phát triển toàn diện nhân cách, đặc biệt

là các phẩm chất liêm khiết trung thực, tiết kiệm, thật thà, chính trực Mặt khác, cần

quan tâm tô chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, các hoạt động xã hội, xây dựng môi trường văn hóa nhằm nâng cao mức hưởng thụ văn hóa

Trong việc xây dựng môi trường văn hóa nơi công sở, việc xây dựng bầu không khí tâm lý có vai trò rất quan trọng Bầu không khí tâm lý và sự hòa hợp tỉnh than noi công sở tạo nên sức mạnh tỉnh thần, đảm bảo thành quả công việc Bầu không khí tâm

lý là tính chất của các mỗi quan hệ qua lại giữa mọi người, tâm trạng chủ đạo trong tập thể, cũng như mức độ thỏa mản của cản bộ, công chức về công việc thực hiện

Bầu không khí tâm lý khi đã hình thành trong một tập thể thường có tác động

mạnh tới năng suất lao động và tính ôn định trong một tập thê

2.1.3 Mục đích ban hành quy chế văn hóa công sở

Việc thực hiện văn hoá công sở nhằm các mục đích sau đây:

“Bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước;

Mục đích việc thực hiện văn hóa công sở nhằm bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước; xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.”

Phương hướng hoạt động của công sở tạo nên giá trị cho nó Công sở hoạt động

vì mục tiêu đặc thù mà không có ở tổ chức nào khác, đó là nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước và phục vụ lợi ích chung của xã hội, hướng tới phục vụ nhân dân, bảo vệ các quyền lợi và giải quyết nhu cầu chính đáng của nhân dân Trong xu hướng chuyển từ nền hành chính “cai trị” sang nên hành chính “phục vụ”, cán bộ, công chức

là công bộc của dân và công dân chính là “khách hàng” của nhà nước

Tạo sự chuyên biến về nhận thức trong cấp ủy Đảng, chính quyên, các cấp, các ngành từ trong cơ quan nhà nước đến ngoài xã hội, trong cán bộ, đảng viên, các tầng

lớp nhân dân về vai trò vị trí của văn hóa nơi công sở và nhân tố con người đối với sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây đựng và bảo vệ tổ quốc

Phối hợp và đây mạnh các phong trào quần chúng hiện có trong phong trào chung

“toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đồng thời lồng ghép nội dung văn hóa vào phong trào hiện có của các bộ, ban, ngành, đoàn thể, các địa phương

" Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước — Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 2-8-

2007 của Thủ tướng Chính phủ quyêt định ban hành quy chê văn hóa công sở tại cắn cơ quan hành chính nhà

nƯớc

Ngày đăng: 11/08/2014, 11:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w