Khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật Khiếu nại tố cáo năm 2005 quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU………1
I Tính cấp thiết của đề tài 1
II Tình hình nghiên cứu 1
III Phạm vi nghiên cứu đề tài 2
IV Phương pháp nghiên cứu 2
V Bố cục khoá luận 3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ KHIẾU NẠI TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại 4
1.1.2 Tố cáo và giải quyết tố cáo 5
1.2 Đặc điểm của KN – TC về đất đai 5
1.2.1 Chủ thể của KN - TC 6
1.2.2 Đối tượng bị KN - TC 7
1.2.3 Mục đích của KN - TC 8
1.3 Các loại KN - TC về đất đai 8
1.3.1 Các loại khiếu nại về đất đai 8
1.3.2 Các loại tố cáo về đất đai 12
1.4 Các nguyên tắc cơ bản của giải quyết KN - TC về đất đai 13
1.4.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa 13
1.4.2 Nguyên tắc dân chủ và công khai 13
1.4.3 Tôn trọng sự thật khách quan, thận trọng, vô tư 14
1.4.4 Kết hợp giải quyết KN - TC về đất đai với việc giáo dục thuyết phục tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về đất đai 15
1.4.5 Giải quyết nhanh chóng, kịp thời, ngăn chặn và loại trừ các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai 15
Trang 21.5 Sơ lược quá trình phát triển các quy định về giải quyết KN - TC về đất đai
15
1.5.1 Giai đoạn trước năm 1993 15
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1993 – 2003 16
1.5.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay 17
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHIẾU NẠI TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI 19
2.1 Pháp luật hiện hành về giải quyết KN - TC về đất đai 19
2.1.1 Thẩm quyền giải quyết đơn KN - TC về đất đai theo luật đất đai 2003 .19
2.1.2 Trình tự, thủ tục giải quyết KN - TC về đất đai theo luật đất đai 2003 .30
2.2 Thực trạng giải quyết KN - TC về đất đai 36
2.2.1 Tình hình KN - TC của công dân về đất đai trong thời gian qua 36
2.2.2 Nguyên nhân làm phát sinh tình hình KN – TC liên quan đến đất đai trong thời gian qua 42
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI 2003 47
3.1 Những thành tựu đạt được và tồn tại cần khắc phục trong công tác giải quyết KN – TC về đất đai 47
3.1.1 Những thành tựu đạt được trong giải quyết KN - TC 47
3.1.2 Những tồn tại cần khắc phục 48
3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định về giải quyết KN – TC về đất đai 51
3.2.1 Sớm thực hiện công tác tổng kết thực hiện nghị quyết TW 7 Khoá IX 51 3.2.2 Giải pháp về mặt chính sách pháp luật 52
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
LỜI CẢM ƠN
Trang 3Trước hết, em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt thời gian học tập, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận trong thời gian qua.
Đặc biệt, em xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới Thầy – Ths Đỗ Xuân Trọng, người trực tiếp hướng dẫn, đã dành nhiều thời gian và tâm huyết giúp đỡ em hoàn thành khóa luận Em cũng gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người đã quan tâm, động viên em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện khóa luận bằng năng lực của mình, tuy nhiên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn!
Hà Nội, ngày …, tháng …, năm …
Sinh viên
Đinh Quý Đôn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
KN – TC : Khiếu nại, tố cáo
UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt
mà tự nhiên ban tặng cho con người Không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọngcủa đất đai đối với cuộc sống của con người, có ý nghĩa hàng đầu trong môitrường sống, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng của mỗiquốc gia Đất nước ta đang ngày càng phát triển, đất đai đóng vai trò là động lựcphát triển kinh tế, phát triển đất nước Nhà nước đóng vai trò là tác nhân thúc đẩynguồn lợi phát sinh từ đất đai thông qua các chính sách đất đai, các quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong việc sử dụng nguồn tàinguyên đất đai Đất đai ngày càng thể hiện tầm quan trọng trong sự phát triển củanền kinh tế quốc dân khi mà dân số nước ta ngày càng tăng cao làm cho nhu cầu
sử dụng đất tăng theo trong khi quỹ đất có giới hạn
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các địa phương trong quá trình đôthị hoá, đã chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang thành đất ở đô thị,thực hiện xây dựng khu dân cư, điện, đường, trường, trạm… Do đó nhu cầu sửdụng đất, giá trị quyền sử dụng đất ngày càng tăng làm cho giá đất ngày càngtăng Chính vì thế chỉ một mâu thuẫn nhỏ trong việc sử dụng đất của các hộ dân,trong công tác quản lý đất đai của cơ quan nhà nước cũng có thể làm phát sinhtranh chấp, khiếu nại - tố cáo (KN – TC) về đất đai Trong thực tế, tình hình KN– TC ngày càng phát sinh và diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng tới trật tự xã hội
và công tác quản lý của Nhà nước về đất đai Vấn đề giải quyết KN – TC về đấtđai nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của người dân đối với đất đai đồng thời giúptừng bước hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai
II Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp hoàn thiện các quy định giải quyết
KN – TC về đất đai của Luật đất đai 2003 là một đề tài lớn, được nhiều nhà khoahọc thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm Vấn đề này đã được đề cập ở nhiều công
Trang 6trình nghiên cứu, luận văn, luận án và các tạp chí pháp lý chuyên ngành như: Giảiquyết khiếu nại tố cáo: ThS Hoàng văn Sao - cần làm rõ khái niệm khiếu nại,khiếu kiện để giải quyết các quyền ấy của cá nhân cho đúng - Tạp chí luật học số03/2005; Tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn / Bộ Tư pháp Viện Nghiên cứukhoa học pháp lý ; Nguyễn Đức Giao chủ biên; Giải quyết tranh chấp, khiếu nại,
tố cáo trong những quy định của luật đất đai – ThS Nguyễn thị Dung; tạp chí luậthọc 2003; Tính thống nhất của văn bản pháp luật hiện hành về khiếu nại, giảiquyết khiếu kiện hành chính - Nguyễn Tuấn Anh, Lê Anh Đức – tạp chí thanh tra2006; … Mặc dù đã có những nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, song vấn đề
“thực trạng và giải pháp hoàn thiện các quy định giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của Luật đất đai 2003” đang là đề tài được quan tâm từ cả góc độ lý luận
và thực tiễn
III Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ khoá luận, tôi xin đi nghiên cứu đề tài trong phạm vinhững vấn đề:
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết KN – TCtrong lĩnh vực đất đai;
- Nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về giải quyết
KN – TC về đất đai;
- Nghiên cứu quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta vềhoàn thiện pháp luật về giải quyết KN – TC về đất đai
IV Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu khoá luận
đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩaMac – Lênin
- Các phương pháp khác như:
Trang 7+ Phương pháp luận giải, phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử được sử dụng trong chương I;
+ Phương pháp đánh giá, thống kê số liệu trong chương II;
+ Phương pháp bình luận, phương pháp tổng hợp trong chương III
V Bố cục khoá luận
Khoá luận được chia làm 3 chương:
Chương I Khái quát về KN – TC và giải quyết KN – TC về đất đai;
Chương II Thực trạng KN – TC về đất đai;
Chương III Giải pháp hoàn thiện các quy định về giải quyết KN – TC vềđất đai
Trang 8CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ KHIẾU NẠI TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI
khiếu nại, thế nào là tố cáo và thế nào là KN – TC về đất đai
1.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Theo từ điển luật học thì “khiếu nại” là những đề nghị của công dân, cơ
quan tổ chức đối với cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền về việc viphạm hoặc cho là vi phạm quyền và lợi ích chính đáng của mình
Khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật Khiếu nại tố cáo
năm 2005 quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi
đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.”
Như vậy, qua việc giải thích khiếu nại trong Luật Khiếu nại tố cáo và theo
từ điển Luật học ta có thể hiểu khiếu nại về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổchức đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định hànhchính, hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó làtrái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình về quyền củangười sử dụng đất
Giải quyết khiếu nại là việc cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền tiếpnhận, xem xét đơn, thư khiếu nại của công dân về quyết định hành chính hayhành vi hành chính của cơ quan đó Sau đó tổ chức Thanh tra, kiểm tra, thu thập
Trang 9chứng cứ, đối thoại với các bên có liên quan và đi đến kết luận cuối cùng về tínhđúng, sai của quyết định hay hành vi hành chính đó và bảo vệ được quyền và lợiích hợp pháp của các bên có liên quan, xác định rõ trách nhiệm thuộc về ai mộtcách hợp tình, hợp lý, đảm bảo được yêu cầu của công tác quản lý.
1.1.2 Tố cáo và giải quyết tố cáo
“Tố cáo” theo từ điển Luật học là “việc công dân, theo thủ tục pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật đất đai của cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”.
Khoản 2 Điều 2 Luật Khiếu nại tố cáo quy định: “tố cáo là việc công dân theo thủ tục do luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.”
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, tố cáo về đất đai đai là việc côngdân theo thủ tục do pháp luật quy định báo cáo cho cơ quan Nhà nước có thẩmquyền những hành vi vi phạm pháp luật của một đối tượng nào đó trong việcquản lý và sử dụng đất đai
Giải quyết tố cáo về đất đai đai là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyềntiếp nhận đơn thư tố cáo của công dân, xem xét và tổ chức thanh tra, kiểm tra, thuthập chứng cứ từ đó đi đến kết luận giải quyết tố cáo một cách đúng đắn nhất,hợp tình, hợp lý
1.2 Đặc điểm của KN – TC về đất đai
KN – TC là quyền dân chủ cơ bản của công dân, các quyền này đã đượcghi nhận trong Hiến pháp 1992 cũng như các văn bản pháp luật chuyên ngànhkhác Nó cũng là một quyền dân chủ cơ bản của người sử dụng đất Bởi Nhànước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Trang 10Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu, thay mặt nhân dân thực hiện hoạt động quản
lý, phục vụ cho lợi ích của chủ sở hữu đích thực là toàn dân, cũng như phục vụcho quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người sử dụng đất
1.2.1 Chủ thể của KN - TC
* Chủ thể khiếu nại là cá nhân, cơ quan, tổ chức gọi chung là người sửdụng đất Theo quy định tại Điều 9 Luật đất đai 2003 thì người sử dụng đất làngười được Nhà nước cho phép được sử dụng đất bằng một trong các hình thứcnhư giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển nhượng, công nhận quyền sử dụngđất ổn định, lâu dài Người sử dụng đất theo quy định tại Điều 9 bao gồm:
“1 Các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế – xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất;
2 Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất;
3 Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất;
4 Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất;
5 Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức
Trang 11năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất;
6 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư, hoạt động văn hoá, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở;
7 Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất.”
Các chủ thể trên khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vihành chính của cơ quan Nhà nước đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp củamình thì có quyền KN
* Chủ thể tố cáo về đất đai là cá nhân là người sử dụng đất hoặc khôngphải người sử dụng đất
1.2.2 Đối tượng bị KN - TC
Đối tượng bị khiếu nại là các quyết định hành chính, hành vi hành chínhtrong quản lý đất đai của cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ trong cơ quanhành chính nhà nước được thể hiện ở nhiều công việc như đăng ký quyền sửdụng đất, lập, quản lý hồ sơ địa chính hay cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính… Tuy nhiên, theo quy địnhcủa Luật đất đai 2003 thì chỉ những quyết định hành chính, hành vi hành chínhcủa Chủ tịch UBND huyện, tỉnh trong quản lý đất đai tại Điều 162 nghị định181/2004/NĐ-CP quy định các quyết định hành chính, hành vi hành chính bịkhiếu nại sẽ được giải quyết theo quy định của Luật đất đai về trình tự thủ tụcgiải quyết, còn đa phần quyết định hành chính, hành vi hành chính khác về đấtđai sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo
Trang 12Đối tượng của tố cáo về đất đai là các hành vi vi phạm pháp luật đất đaicủa bất kỳ ai không kể là các nhân, cơ quan, tổ chức gây thiệt hại đến quyền vàlợi ích của mình hoặc của nhà nước, tập thể.
KN – TC về đất đai đều phát sinh khi có sự vi phạm pháp luật đất đai, đềunhằm phản ánh những mâu thuẫn bất thường trong các mối quan hệ giữa cơ quannhà nước có thẩm quyền với người sử dụng đất, giữa cá nhân với tập thể, giữangười sử dụng đất này với người sử dụng đất khác KN - TC về đất đai đều làhình thức đấu tranh đối với những việc làm trái chính sách pháp luật đất đai của
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, đều nhằm chấm dứt việc làm trái pháp luật đểkhôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; bảo vệ lợi íchnhà nước
1.2.3 Mục đích của KN - TC
Khiếu nại về đất đai với mục đích là bảo vệ và khôi phục các quyền, lợi íchhợp pháp của chính người khiếu nại Còn mục đích của tố cáo về đất đai lại làbảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổchức
KN - TC khác với các hình thức yêu cầu, kiến nghị của nhân dân trong lĩnhvực đất đai ở điểm KN - TC luôn chứa đựng các thông tin, chứng cứ nhất định về
sự vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập thể hay Nhànước Tuy nhiên việc KN - TC cần phải có căn cứ, căn cứ này là quyền KN - TCcủa công dân Căn cứ đó có thể đúng hay sai tuỳ thuộc vào kết quả điều tra của
cơ quan nhà nước
1.3 Các loại KN - TC về đất đai
1.3.1 Các loại khiếu nại về đất đai
Khiếu nại về đất đai là việc người dân, cơ quan tổ chức đề nghị cơ quan, tổchức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hànhchính trong quản lý về đất đai khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính,
Trang 13hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp phápcủa mình Thông thường trên thực tế có một số dạng khiếu nại về đất đai như:
a) Khiếu nại về quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng và tái định cư
Thực tế có hàng loạt dự án đã và đang đưa vào thực hiện, cùng hàng loạt
dự án, quy hoạch khác đã và đang được phê duyệt Do đó, công tác bồi thường vàtái định cư đóng vai trò quyết định đối với việc thực hiện dự án Tuy nhiên,không phải bao giờ việc thực hiện công tác này cũng thuận lợi, một dự án hayquy hoạch từ khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đến khi đưa vào thực
hiện phải trải qua một thời gian dài, trừ những quy hoạch “treo” thì có những dự
án đã thực hiện đến giai đoạn bồi thường, giải toả, các quyết định bồi thường,giải phóng mặt bằng, tái định cư khi vừa ban hành thì có nhiều người dân khôngđồng tình với mức giá hoặc chính sách nên làm đơn khiếu nại, cũng có trườnghợp do thực hiện việc quy hoạch quá dài, giá đất tăng cao theo thời gian nên mặc
dù đã có quyết định bồi thường tái định cư lâu rồi nhưng người dân vì thấy giátăng nên khiếu nại đòi tăng giá bồi thường Một dự án quy hoạch khi được đưavào phê duyệt và thực hiện thì có nhiều người dân được hưởng lợi, họ đồng tình,chấp nhận với các quyết định bồi thường tái định cư; tuy nhiên cũng có không ítngười dân bị thiệt hại về quyền và lợi ích chính đáng, hết sức bức xúc với cácquyết định đó nên đã gửi đơn khiếu nại Và thực tế số vụ việc khiếu nại quyếtđịnh về bồi thường, tái định cư diễn ra hết sức phức tạp với số lượng lớn gây khókhăn cho cơ quan chức năng trong việc thực hiện các dự án, quy hoặc và các cơquan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai
b) Khiếu nại về việc cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Dạng khiếu nại này phát sinh do những sai sót của cơ quan có thẩm quyền
cụ thể như sau:
Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nhưng có sai sótnhư sai tên chủ sử dụng đất, sai sơ đồ thửa đất, sai diện tích…loại khiếu nại nàychiếm số lượng lớn nhất trong tổng số các vụ việc khiếu nại về cấp GCNQSDĐ,
Trang 14nguyên nhân chủ yếu là do sự sai sót của cán bộ cấp giấy, lỗi trong quá trình inấn…
Không cấp GCNQSDĐ mà không có lý do chính đáng hoặc lý do không rõràng, nguyên nhân chính dẫn đến các vụ khiếu nại này là do cơ quan có thẩmquyền không chịu giải thích rõ cho dân hiểu lý do không cấp giấy, do quy hoạchtreo hoặc do người dân không chấp nhận dù lý do không cấp GCNQSDĐ chínhđáng…
Giải quyết hồ sơ chậm, gây phiền hà, sách nhiễu, đòi hỏi nhiều thủ tục tráivới quy định của pháp luật… đây là dạng khiếu kiện rất phổ biến hiện nay Ngườidân đã phải mất một thời gian dài khi làm GCNQSDĐ, một phần do thủ tục hànhchính phức tạp, rườm rà, một phần do cán bộ địa chính do có dấu hiệu tiêu cực cốtình kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn cho người sử dụng đất
c) Khiếu nại quyết định xử phạt hành chính về vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất đai
Một số bộ phận người dân không nắm rõ về Luật Đất đai và Luật khiếunại, tố cáo nên phát sinh tình trạng vi phạm pháp luật hoặc là các trường hợp lấnchiếm, vi phạm quy tắc xây dựng nhưng vẫn không chấp nhận mình sai vì khônghiểu luật hoặc có nhiều người nắm luật rất rõ nhưng vẫn cố tình vi phạm, khi bịphát hiện và xử phạt thì ngoan cố khiếu nại Loại khiếu nại này phát sinh donhững sai sót sau:
+ Ra quyết định xử phạt sai đối tượng, bị nhầm lẫn, sai tên chủ sử dụng;+ Việc thi hành quyết định xử phạt có sai sót hoặc sai pháp luật;
+ Việc ra quyết đinh không đúng căn cứ pháp luật;
+ Việc ra quyết định quá nhẹ hoặc quá nặng hoặc thiếu trách nhiệm, thiếukhách quan
d) Khiếu nại về thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, đặc biệt đối với những nơi tình hình chuyển nhượng đất đai sôi động.
Trang 15Việc phát sinh khiếu nại trong việc làm thủ tục chuyển nhượng là khôngthể tránh khỏi bởi những sai sót sau:
+ Làm thủ tục phiền hà, sách nhiễu, đòi hỏi những thủ tục không đúng quyđịnh;
+ Thực hiện làm thủ tục chuyền nhượng quyền sử dụng đất nhưng sai sót
về giấy tờ như: họ tên, diện tích, vị trí, ranh giới, loại đất…
e) Khiếu nại quyết định thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai như nghĩa
vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền chuyển mục đính sử dụng đất, thuế sử dụng đất, lệ phí địa chính.
f) Khiếu nại việc cơ quan nhà nước quyết định không đúng quy định của pháp luật trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa, cải tạo công thương nhiệp tư ban tử doanh; khiếu nại đòi lại đất mà chính quyền cũ đã lấy để làm căn cứ quân
sự, ấp chiến lược trước năm 1975, nay Nhà nước đã bố trí sử dụng vào mục đích khác.
g) Khiếu kiện xin lại đất đai cũ đã được đưa vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất mà hiện nay các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất này đã bị giải thể, chính quyền địa phương đã giao cho người khác sử dụng đất đai Đây là vấn đề nổi
cộm, phức tạp, đặc biệt là tập trung ở vùng nông thôn Nam bộ Việc khiếu kiệnnày đã có từ lâu nhưng trở lên phức tạp từ những năm 1991, đối tượng chủ yếu lànhững người dân nguyên là chủ sở hữu của những phần đất đang bị tranh chấp,khiếu kiện Đặc biệt, tại một số địa phương Nam bộ như Bến Tre và một số tỉnhkhác, việc tranh chấp, khiếu kiện đã dẫn đến xô sát, hành hung, gây thương tích
và chết người, nhiều hộ dân mất trắng đất sản xuất, tình hình trên đã gây hậu quảrất xấu về mặt an ninh trật tự xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo sợ không yêntâm sản xuất trong nội bộ nhân dân
h) Khiếu kiện đòi lại đất đai trong quá trình thực hiện chủ trương
“nhường cơm, sẻ áo” thời kỳ 1975 – 1980 mà hiện nay người được nhường đất
Trang 16không sản xuất nông nghiệp mà bán đất kiếm lời trong khi người trước đây đã nhường đất đời sống gặp rất nhiều khó khăn, thiếu đất sản xuất.
i) Khiếu kiện đòi lại đất trước đây vì những lý do khác nhau đã cho người khác mượn, ở nhờ, …nay người mượn lại đem bán hoặc cho thuê nên những người chủ đất cũ bức xúc đòi lại.
k) Khiếu kiện đòi lại đất hương hoả, đất nhờ người khác trông coi, người được nhờ trông coi qua thời gian dài đã coi như của mình, nay chủ cũ có nhu cầu sử dụng đòi lại.
l) Khiếu kiện tranh chấp lối đi trong ngõ, xóm, ranh giới đất ở, đất vườn, đất sản xuất thuộc quyền sử dụng của các hộ gia đình cũng diễn ra khá phổ biến
ở nhiều địa phương trong cả nước.
m) Khiếu kiện tranh chấp giữa người dân về những vùng đất bãi bồi ven sông, ven biển để nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản cũng diễn biến khá phức tạp
ở một số địa phương.
1.3.2 Các loại tố cáo về đất đai
Nội dung tố cáo về đất đai tập trung ở một số nội dung chủ yếu sau:
a) Tố cáo cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lợi dụng các chươngtrình, dự án của Nhà nước để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất đai, nhất là đốivới chương trình trồng rừng, các dự án phát triển khu dân cư, các dự án tái địnhcư;
b) Tố cáo cán bộ cửa quyền, nhũng nhiễu trong thực hiện các thủ tục hànhchính về đất đai như giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyền nhượng quyền sửdụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
c) Tố cáo UBND giao đất trái thẩm quyền, giao đất, cho thuê đất khôngđúng đối tượng, không đúng quy hoạch, sử dụng tiền thu từ quỹ đất công ích(5%) trái quy định của pháp luật;
Trang 17d) Tố cáo hành vi gian lận trong việc lập phương án bồi thường để tham ônhư lập hai phương án bồi thường (cho người bị thu hồi đất riêng, để thanh toánvới nhà nước riêng).
e) Tố cáo hành vi trục lợi về đất đai thông qua việc lập phương án hoặcđiều chỉnh phương án quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nôngthôn không phù hợp với thực tế gây xáo trộn không cần thiết đối với đời sốngnhân dân
1.4 Các nguyên tắc cơ bản của giải quyết KN - TC về đất đai
1.4.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Tuân theo Hiến pháp và pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt trong tất cả cáchoạt động của cơ quan nhà nước cũng như trong hoạt động của bất kỳ cơ quan, tổchức, cá nhân nào Đối với hoạt động giải quyết KN - TC, việc tuân theo các quyđịnh của pháp luật là nguyên tắc mang tính chất cơ bản nhất
Tuân theo Hiến pháp, pháp luật trong giải quyết KN - TC nói chung cũngnhư trong giải quyết KN - TC trong lĩnh vực đất đai nói riêng có nghĩa là phảituân theo pháp luật cả trong xác định thẩm quyền, trong tiếp nhận đơn thư, trongxác minh, trong nghiên cứu vụ việc, trong ra quyết định giải quyết KN - TC vàtrong việc tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệulực Có như thế mới có thể giải quyết KN - TC một cách đúng đắn, triệt để, đạthiệu quả cao
1.4.2 Nguyên tắc dân chủ và công khai
Đảng và Nhà nước ta không ngừng phấn đấu để xây dựng một nhà nướcdân chủ, thực sự của dân, do dân, vì dân Để thực hiện tốt điều đó nguyên tắc dânchủ công khai đang được đặt ra đối với mọi hoạt động quản lý nhà nước
KN - TC được coi là phương thức trực tiếp để thực hiện quyền dân chủ củacông dân Bởi vậy dân chủ công khai trong giải quyết KN - TC càng là một đòihỏi quan trọng Nguyên tắc này đòi hỏi người giải quyết KN - TC phải lắng nghe
ý kiến của các bên, đảm bảo tự do dân chủ, bình đẳng trước pháp luật
Trang 18Hoạt động giải quyết KN - TC từ lúc tiếp nhận đơn cho tới khi ra quyếtđịnh giải quyết KN - TC cuối cùng phải công khai, minh bạch, mọi trình tự thủtục, mọi quyết định liên quan tới vụ việc mà người giải quyết đưa ra phải đượccông bố công khai cho người KN - TC; người bị KN - TC và người có quyền vàlợi ích liên quan được biết Hiện nay việc công khai minh bạch vẫn chưa đượcđảm bảo Vì thế yêu cầu phải đề cao nguyên tắc này ngày càng cần thiết.
1.4.3 Tôn trọng sự thật khách quan, thận trọng, vô tư
Nguyên tắc này không chỉ là yêu cầu riêng đối với hoạt động giải quyết
KN - TC về đất đai mà nó còn là yêu cầu chung đối với cả hoạt động giải quyếttranh chấp đất đai cũng như xử lý vi phạm pháp luật đất đai Nguyên tắc này đòihỏi công dân, cơ quan, tổ chức khi thực hiện việc KN - TC phải phản ánh trungthực, đúng sự thật mọi tình tiết, diễn biến của sự việc, không lợi dụng quyền KN
- TC để vu khống, vu cáo người khác Bởi nếu cung cấp thông tin không chínhxác sẽ dẫn đến việc giải quyết KN - TC không chính xác của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
Đối với người giải quyết KN - TC , nguyên tắc này đòi hỏi phải nhìn nhận
sự việc một cách trung thực như nó vốn có, không phụ thuộc vào ý muốn của cácbên đương sự, cũng như không phụ thuộc vào ý nghĩ chủ quan của bản thânngười giải quyết khiếu nại tố cáo, bởi nếu không sẽ dẫn tới ngộ nhận, ra quyếtđịnh giải quyết KN - TC không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân
1.4.4 Kết hợp giải quyết KN - TC về đất đai với việc giáo dục thuyết phục tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về đất đai.
Nâng cao kiến thức của người dân không chỉ có ý nghĩa trong hoạt độnggiải quyết KN - TC, nó là đòi hỏi chung trong công cuộc xây dựng nhà nướcpháp quyền ngày nay Khi kiến thức pháp luật được nâng cao người dân sẽ dễdàng hiểu và chấp hành các quy định của pháp luật một cách nghiêm chỉnh Còntrong công tác giải quyết KN - TC sẽ tránh được tình trạng KN - TC tràn lan,
Trang 19không nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định giải quyết KN - TC, từ đó gópphần nâng cao hiệu quả công tác giải quyết KN - TC
1.4.5 Giải quyết nhanh chóng, kịp thời, ngăn chặn và loại trừ các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
Yêu cầu này không chỉ là yêu cầu đối với giải quyết KN - TC mà còn đốivới giải quyết tranh chấp đất đai và xử lý vi phạm pháp luật đất đai Việc giảiquyết nhanh chóng kịp thời sẽ tránh được những bức xúc, thiếu tin tưởng trongnhân dân, đồng thời tiết kiệm được nhiều tiền của của nhân dân cũng như củaNhà nước do KN - TC dây dưa kéo dài Trong giai đoạn hiện nay, giải quyết KN
- TC kịp thời và nhanh chóng đang là một nguyên tắc cần được đề cao
1.5 Sơ lược quá trình phát triển các quy định về giải quyết KN - TC về đất đai
1.5.1 Giai đoạn trước năm 1993
Sự kiện quan trọng và nổi bật trong giai đoạn này là việc lần đầu tiên banhành Luật Đất đai vào năm 1987 Luật Đất đai năm 1987 đã đánh dấu một thời
kỳ mới của nhà nước trong việc quản lý toàn diện đất đai bằng pháp luật, là cơ sởpháp lý quan trọng, là nền tảng để nhà nước thống nhất quản lý đất đai
Tuy nhiên, luật Đất đai 1987 ra đời trong bối cảnh đất nước ta đang chuyểntiếp từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, các cơ chế cũ vẫn chưađược xoá bỏ, có cơ chế mới nhưng chỉ mang tính định hướng nên còn nhiều hạnchế Bởi vậy, pháp luật đất đai trong giai đoạn này vẫn chịu ảnh hưởng của cơchế bao cấp; thể hiện ở việc Nhà nước chưa từng thừa nhận khung giá đất Người
sử dụng đất được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất Quan hệ đất đai
bị đóng khung trong mối quan hệ chiều dọc: Nhà nước giao đất cho người sửdụng đất sử dụng, khi họ không có nhu cầu sử dụng đất thì Nhà nước thu hồiđất Do vậy trong luật Đất đai 1987 dường như còn ít quy định về khiếu nại, tốcáo Năm 1990 chính phủ ban hành nghị định về đền bù khi Nhà nước thu hồi đấtnông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh,lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; trong đó có đề cập đến quyền khiếu nại về
Trang 20vấn đề này Tuy nhiên, quy định về quyền khiếu nại, tố cáo mới chỉ dừng lại ởmức độ khái quát, chưa được cụ thể ở các thông tư hướng dẫn Điều này được lýgiải bởi nguyên nhân cơ bản là trong giai đoạn này đất đai chưa được thừa nhận
là loại tài sản đặc biệt và giá trị chưa cao, nên các khiếu nại tố cáo về đất đai trênthực tế còn xảy ra ít
Như vậy, Luật Đất đai năm 1987 đã không hoàn thành được sứ mệnh lịch
sử của mình nói chung và trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai nóiriêng Thực tiễn đã đòi hỏi phải có sự thay đổi trong chính sách quản lý, giảiquyết các khiếu nại, tố cáo của người dân về đất đai một cách cụ thể
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1993 – 2003
Trước xu thế phát triển của thời đại và sự phát triển nhanh chóng của tìnhhình kinh tế - xã hội ở nước ta, các quy định của Luật Đất đai năm 1987 đãkhông còn phù hợp nữa Và như một sự tất yếu thì pháp luật về KN - TC về đấtđai trong giai đoạn này đã phát triển mạnh mẽ với việc ra đời của Hiến pháp
1992, Luật Đất đai 1993 và Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật sửa đổi bổsung luật đất đai 1998 và 2001 và các văn bản hướng dẫn thi hành Hiến pháp
năm 1992 ghi nhận: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào” Thể chế hoá quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong Hiến pháp năm
1992 về đất đai, khoản 8 điều 73 luật Đất đai năm 1993 quy định cụ thể người sử
dụng đất có quyền : “được khiếu nại, tố cáo về hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và các hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai” Như
vậy, Luật Đất đai năm 1993 ra đời cùng với việc ban hành các văn bản pháp luậtnêu trên đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc và tạo điều kiện thuận lợi cho công dânthực hiện việc KN - TC; làm cơ sở cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyềntrong việc giải quyết khiếu tố
Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, do những biến động của nền kinh
tế thị trường và bản thân quan hệ đất đai vốn đã phức tạp nên đã nảy sinh những
Trang 21vấn đề mới về giải quyết KN - TC mà Luật Đất đai 1993 chưa quy định Do đó,Quốc hội đã 2 lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai vào các năm
1998 và năm 2001 Qua đó, các vấn đề về giải quyết KN - TC đã ngày càng đượcđơn giản hoá, cơ chế bao cấp từng bước được xoá bỏ Việc pháp luật đất đai liêntục được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình xã hội của đất nước đã gópphần không nhỏ đối với sự tăng trưởng, ổn định nền kinh tế - xã hội của quốc gia
1.5.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
Trong một giai đoạn ngắn ngủi từ năm 1993 đến năm 2001, Quốc hội nước
ta đã hai lần sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai 1993 cùng với hàng trăm văn bảnđược ban hành để hướng dẫn thực thi Với một hệ thống văn bản pháp luật đồ sộ,luôn thay đổi nên hệ thống văn bản pháp luật nước ta thiếu tính đồng bộ, mangtính chắp vá, tình trạng vừa thừa luật, vừa thiếu luật diễn ra khá phổ biến đã gâykhó khăn trong quá trình áp dụng
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Quốc hộikhoá XI, kỳ họp thứ 4 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thôngqua Luật Đất đai năm 2003 Kế thừa và phát huy những thành tựu pháp luật vềkhiếu nại, tố cáo trong đất đai của các giai đoạn trước, các quy định về vấn đềnày đã được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng đòi hỏi của quá trình tiếp tục đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Các văn bản pháp luật về khiếunại, tố cáo trong thời kỳ này được ban hành nhiều, dần hoàn thiện và phù hợphơn với thực tế hơn Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã được sửa đổi vào cácnăm 2004, 2005 và sắp tới Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo sẽ có hiệu lực vào1/7/2012… Việc ra đời các văn bản pháp luật này đã góp phần vào việc hìnhthành hệ thống pháp luật về việc giải quyết KN - TC nói chung và KN - TC vềđất đai nói riêng Điều này tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền KN - TCtrong lĩnh vực đất đai; đồng thời đưa công tác giải quyết KN - TC về đất đai từngbước đi vào nề nếp và tuân thủ pháp luật
Trang 22CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHIẾU NẠI TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI
2.1 Pháp luật hiện hành về giải quyết KN - TC về đất đai
2.1.1 Thẩm quyền giải quyết đơn KN - TC về đất đai theo luật đất đai 2003
Thứ nhất, thẩm quyền giải quyết đơn khiếu nại về quyết định giải quyết tranh chấp đất đai: Quá trình sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân được Nhà
nước giao quyền quản lý và sử dụng không tránh khỏi những tranh chấp Vì vậy,Nhà nước đã có những cơ chế để giải quyết khi tranh chấp phát sinh mà các tổchức, cá nhân không tự giải quyết được Theo quy định của Điều 136 Luật Đấtđai năm 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủhướng dẫn thi hành Luật Đất đai, thì việc giải quyết tranh chấp về đất đai đượcthực hiện theo hai cách: giải quyết tại Tòa án và giải quyết tại các cơ quan hànhchính nhà nước:
Tại Toà án, theo quy định tại Khoản 1 Điều 136 Luật đất đai 2003 Toà án
có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất mà các đương
sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các giấy tờ sau:
những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 (tức là trước khi Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực thi hành) do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính; giấy tờ hợp pháp thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất; giấy
tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, bán nhà ở gắn liền với đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất (Khoản 1 Điều 50 Luật
Trang 23đất đai 2003) Hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất có một trong các giấy tờ nói trên mà trên giấy tờ có ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp (Khoản 2 Điều 50 Luật đất đai 2003) Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành (Khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai).
Tại Cơ quan hành chính Nhà nước, trước đây theo Khoản 2 Điều 136
Luật đất đai 2003; Điều 160 Nghị định 181/2004/NĐ-CP về thi hành luật đất đai,đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy tờ chứngnhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các giấy tờ quy định như nói ởtrên thì được giải quyết như sau:
- Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết đốivới tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau;
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giảiquyết các khiếu nại về quyết định giải quyết tranh chấp do Chủ tịch Ủy ban nhândân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu, quyết định này
là quyết định giải quyết cuối cùng; Đối với tranh chấp giữa tổ chức, cơ sở tôngiáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nướcngoài với nhau hoặc giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ởnước ngoài với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sẽ do Chủ tịch UBNDtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết lần đầu;
- Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền giải quyết khiếunại về quyết định giải quyết tranh chấp đất đai đối với quyết định do Chủ tịch UỷUBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu Quyết định củachủ tịch UBND tỉnh giải quyết lần hai và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài
Trang 24nguyên và Môi trường giải quyết lần hai là quyết định cuối cùng Người sử dụngđất có trách nhiệm thi hành quyết định đó.
Nay theo Khoản 1 Điều 264 Luật Tố tụng hành chính 2010 đã sửa đổi
Khoản 2 Điều 136 của Luật đất đai như sau: “2 Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:
a) Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính;
b) Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”
Như vậy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 264 Luật tố tụng hành chính
2010, đối với quyết định giải quyết tranh chấp về đất đai được Chủ tịch UBNDhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu; Chủ tịch Ủy bannhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một trongcác bên không đồng ý thì có quyền lựa chọn hoặc là tiếp tục khiếu nại lên cơquan hành chính cấp trên trực tiếp quản lý về đất đai để được giải quyết tranhchấp lần hai, hoặc là lựa chọn khởi kiện ra Toà án nhân dân để Toà án thụ lý giảiquyết tranh chấp về đất đai Đối với quyết định giải quyết tranh chấp lần hai củaChủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, quyết định giải quyếttranh chấp lần hai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, khi một tronghai bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai này thì cóquyền khởi kiện ra Toà án giải quyết Quy định mới này đã mở rộng quyền khiếu
Trang 25kiện cho người sử dụng đất, được quyền chọn Toà án hay cơ quan hành chính đểgiải quyết tranh chấp.
Thứ hai, Thẩm quyền giải quyết đơn khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai: trước đây theo Khoản 2 Điều 138 Luật
đất đai 2003 quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBNDhuyện , Chủ tịch UBND tỉnh và Toà án nhân dân, cụ thể:
Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyềngiải quyết khiếu nại lần đầu đối với các quyết định hành chính, hành vi hànhchính về quản lý đất đai
Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giảiquyết khiếu nại lần đầu đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính vềquản lý đất đai; giải quyết khiếu nại lần hai đối với các đơn tái khiếu đã đượcChủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầunhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó
Toà án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại quyết định hànhchính, hành vi hành chính đã được Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh; Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyếtlần đầu nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại
và khởi kiện ra Toà án nhân dân
Quy định trên của điều 138 Luật đất đai còn tồn tại nhiều điểm bất cập ởchỗ:
Một là, đối với trường hợp Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý vớiquyết định giải quyết khiếu nại thì không thể tiếp tục khiếu nại lên cơ quan hànhchính cấp trên mà chỉ có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân
Hai là, trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại
của quyết định của Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,người sử dụng đất không khởi kiện ra Toà án mà tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch
Trang 26UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Vì quyết định của Chủ tịch UBNDtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết khiếu nại cuốicùng nên nghiễm nhiên trong trường hợp này người sử dụng đất mất quyền khởikiện ra Toà án.
Nay Điều 138 Luật Đất đai 2003 đã được sửa đổi lại tại Điều 264 Khoản 2Luật tố tụng hành chính 2010 Theo quy định mới này thì thẩm quyền giải quyếtKhiếu nại về đất đai sẽ tuân theo quy định của Luật Khiếu nại tố cáo Luật sửađổi bổ sung một số điều của luật Khiếu nại - tố cáo 2005 quy định thẩm quyềngiải quyết khiếu nại về đất đai như sau:
* Thẩm quyền của cơ quan hành chính Nhà nước
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật Khiếu nại - tố cáo năm 2005 quyđịnh khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính Nhànước là khiếu nại của các cá nhân, cơ quan, tổ chức theo thủ tục do Luật khiếunại, tố cáo và các luật khác quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩmquyền xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính cơquan đó khi có căn cứ cho rằng quyết định hay hành vi đó là trái pháp luật, xâmphạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chínhhoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người cóthẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước được áp dụng một lần đối vớimột hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lýhành chính
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính Nhà nước hoặc củangười thuộc cơ quan hành chính Nhà nước khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ theoquy định của pháp luật Khác với quyết định hành chính, hành vi hành chínhkhiếu nại có thể là hành vi của công chức Nhà nước không làm đúng hoặc làmtrái các quy định của pháp luật về một vấn đề cụ thể nào đó hoặc làm trái các quyđịnh của pháp luật có thể hành vi này diễn ra dưới dạng không hành động, nghĩa
Trang 27là cán bộ, công chức không làm việc mà đúng ra theo quy định của pháp luật họ
có trách nhiệm phải thực hiện
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại được xác định theo nguyên tắc: Khiếu nạiđối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của nhân viên thuộc quyềnquản lý của cơ quan nào thì Thủ trưởng cơ quan đó phải có trách nhiệm giảiquyết Khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủtrưởng cơ quan nào thì Thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Nhữngkhiếu nại quá thời hạn mà không được giải quyết hoặc người khiếu nại khôngđồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại lên cấp trên trực tiếp củangười đã giải quyết để yêu cầu giải quyết lại, trừ những khiếu nại đã có quyếtđịnh giải quyết cuối cùng Dựa trên nguyên tắc đó, quyền và trách nhiệm cụ thểtrong giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng các cơ quan hành chính Nhà nước theoquy định như sau:
Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)
Theo quy định tại Điều 19 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của LuậtKhiếu nại - tố cáo 2005, Điều 10 Nghị định 136/2006/NĐ-CP quy định chi tiết vàhướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo và các Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo quy định: Chủ tịch UBND cấp
xã có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vihành chính của chính mình hoặc của người có trách nhiệm do mình quản lý trựctiếp theo trình tự, thủ tục theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo Nếu thấy vụviệc khiếu nại có nội dung rõ ràng, có đủ căn cứ để giải quyết thì Chủ tịch UBNDcấp xã ra quyết định giải quyết ngay Ngược lại, nếu thấy vụ việc khiếu nại cónội dung chưa rõ ràng, chưa đủ căn cứ để giải quyết thì Chủ tịch UBND cấp xãphải tiến hành thẩm tra, xác minh, gặp gỡ trực tiệp người khiếu nại, người bịkhiếu nại, người có quyền lợi liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu củangười khiếu nại trước khi ra quyết định giải quyết khiếu nại Căn cứ vào kết quảthẩm tra, xác minh và quy định của pháp luật, Chủ tịch UBND cấp xã ra quyếtđịnh giải quyết khiếu nại trong thời hạn quy định
Trang 28Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện)
Theo quy định tại Điều 20 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của LuậtKhiếu nại - tố cáo 2005, Điều 12 Nghị định 136/2006/NĐ-CP quy định chi tiết vàhướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo và các Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo quy định: Chủ tịch UBND cấphuyện có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại đối với quyết định hành chính,hành vi hành chính của mình; Khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp xã, Thủ trưởngcác phòng ban chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đã giải quyết nhưng còn cókhiếu nại Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếunại, Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định giải quyết khiếu nại trong thời hạnquy định
Giám đốc Sở và cấp tương đương thuộc UBND cấp tỉnh (gọi chung là Giám đốc Sở)
Theo quy định tại Điều 21 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của LuậtKhiếu nại - tố cáo 2005, Điều 13 Nghị định 136/2006/NĐ-CP quy định chi tiết vàhướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo và các Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo quy định: Giám đốc Sở có thẩmquyền giải quyết: Khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chínhcủa cán bộ công chức do mình quản lý trực tiếp Giám đốc Sở giao cho Thủtrưởng phòng, ban chuyên môn thuộc Sở hoặc Chánh Thanh tra Sở xem xét, kếtluận, kiến nghị về việc giải quyết; Khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Sở đãgiải quyết nhưng còn khiếu nại Trường hợp này giao cho Chánh Thanh tra cấp
Sở tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết Căn cứ vào báo cáoxác minh, kết luận và kiến nghị giải quyết của Chánh Thanh tra Sở hoặc Thủtrưởng các phòng ban chuyên môn thuộc Sở, Giám đốc Sở ra quyết định giảiquyết trong thời hạn quy định của Luật khiếu nại, tố cáo
Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung
là cấp tỉnh)
Trang 29Theo quy định tại Điều 23 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của LuậtKhiếu nại - tố cáo 2005, Điều 14 Nghị định 136/2006/NĐ-CP quy định chi tiết vàhướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo và các Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo quy định: Chủ tịch UBND cấptỉnh có thẩm quyền giải quyết: khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vihành chính của mình, Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao cho Thủ trưởng các cơ quanchuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh hoặc Chánh Thanh tra tỉnh xem xét, kết luận
và kiến nghị việc giải quyết; Khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp huyện đã giảiquyết nhưng còn khiếu nại, khiếu nại mà Giám đốc Sở đã giải quyết nhưng cònkhiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý của mình Trường hợp này, Chủtịch UBND cấp tỉnh giao cho Chánh Thanh tra tỉnh tiến hành xác minh, kết luận
và kiến nghị việc giải quyết Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận và kiến nghịgiải quyết của Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn hoặc Chánh Thanh tra tỉnh,Chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định giải quyết khiếu nại hoặc uỷ quyền choChánh Thanh tra tỉnh ra quyết định giải quyết
Đối với trường hợp giải quyết đối với khiếu nại hành vi hành chính, quyếtđịnh hành chính của chính Chủ tịch UBND tỉnh là quyết định giải quyết khiếu nạilần đầu, còn trường hợp giải quyết khiếu nại mà cấp sở đã giải quyết nhưng cònkhiếu nại thì đây là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng Đối với những vụviệc phức tạp thì trước khi ký quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, Chủ tịchUBND cấp tỉnh phải tham khảo ý kiến của Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộcChính phủ về những nội dung có liên quan đén chức năng quản lý của bộ, ngành
đó Khi tham khảo ý kiến phải nêu rõ nội dung vụ việc và những nội dung cầntham khảo ý kiến Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ nhận được đềnghị tham khảo ý kiến có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 15 ngày kể từ ngàynhận được đề nghị
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng)
Trang 30Theo quy định tại Điều 25 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của LuậtKhiếu nại - tố cáo 2005, Điều 15 Nghị định 136/2006/NĐ-CP quy định chi tiết vàhướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo và các Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo quy định: Bộ trưởng có thẩmquyền giải quyết: Khiếu nại đối với quyết định, hành vi hành chính của mình, củacán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp Bộ trưởng giao cho Thủ trưởng cục,
vụ, đơn vị chức năng hoặc Chánh Thanh tra cùng cấp xem xét, kết luận và kiếnnghị việc giải quyết; Khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết nhưng còn khiếu nại; Khiếu nại màChủ tịch UBND cấp tỉnh, khiếu nại mà Giám đốc sở đã giải quyết nhưng cònkhiếu nại mà nội dung khiếu nại thuộc thẩm quyền quản lý Nhà nước của bộ,ngành mình Bộ trưởng sẽ giao cho Chánh Thanh tra cùng cấp tiến hành xácminh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết
Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận, kiến nghị giải quyết của Thủtrưởng cục, vụ, đơn vị chức năng hoặc Chánh Thanh tra bộ, Bộ trưởng ra quyếtđịnh giải quyết khiếu nại Đối với trường hợp giải quyết khiếu nại đối với hành
vi, quyết định hành chính của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủtrưởng cơ quan thuộc Chính phủ là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu; cònđối với trường hợp giải quyết tái khiếu thì đây là quyết định giải quyết cuối cùng
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Thủ tướng Chính phủ
Theo quy định tại Điều 28, 29 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của LuậtKhiếu nại - tố cáo 2005 quy định: Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyếtcuối cùng đối với: Khiếu nại mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ , cơquan thuộc Chính phủ đã giải quyết nhưng còn khiếu nại, trừ khiếu nại đã cóquyết định giải quyết cuối cùng; Khiếu nại đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiềuđịa phương, nhiều lĩnh vực quản lý Nhà nước
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc giải quyết hoặc ra quyết định giải quyếtkhiếu nại khi có kiến nghị của Tổng Thanh tra Nhà nước, hay khi phát hiện quyếtđịnh giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích
Trang 31của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì Thủtướng Chính phủ ra quyết định giải quyết hoặc giao cho Tổng Thanh tra Nhànước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chínhphủ xem xét, báo cáo để Thủ tướng Chính phủ ra quyết định giải quyết khiếu nạicuối cùng.
* Quyền và trách nhiệm của Tổng Thanh tra Nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại:
Theo quy định tại Điều 26 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của LuậtKhiếu nại - tố cáo 2005, Điều 16 Nghị định 136/2006/NĐ-CP quy định chi tiết vàhướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo và các Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại - tố cáo quy định: Tổng Thanh tra Nhànước được uỷ quyền để giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủtướng Chính phủ; trường hợp có ý kiến khác nhau giữa Tổng Thanh tra Nhà nước
và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chínhphủ về việc giải quyết thì Tổng Thanh tra Nhà nước báo cáo với Chính phủ đểchỉ đạo việc giải quyết hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc giảiquyết, ra quyết định giải quyết Tổng Thanh tra Nhà nước có thẩm quyền thanhtra, kiểm tra việc chấp hành về khiếu nại, tố cáo Nếu phát hiện quyết định giảiquyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhànước, quyền và lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người đã raquyết định xem xét lại quyết định giải quyết đó, trong thời hạn 15 ngày, nếu yêucầu đó không được thực hiện thì áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để yêucầu đó được thực hiện hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét giải quyết.Thanh tra Nhà nước có Thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùngđối với khiếu nại đã được Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ giải quyếtnhưng còn khiếu nại, trừ khiếu nại đã có quyết định giải quyết của Thủ trưởng cơquan thuộc Chính phủ là Bộ trưởng
* Thẩm quyền của Toà án nhân dân các cấp
Trang 32Theo Điều 5 Luật Tố tụng hành chính 2011 quy định: “Cá nhân, cơ quan,
tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này.” Khoản 1 Điều 28 quy định
Toà án có thẩm quyền giải quyết các quyết định hành chính, hành vi hành chính.Như vậy, đương sự có quyền khởi kiện ra Toà án các quyết định hành chính,hành vi hành chính về đất đai
Thứ ba, thẩm quyền giải quyết tố cáo: Theo quy định tại Khoản 2 Điều
139 Luật đất đai, thẩm quyền giải quyết tố cáo về đất đai sẽ thực hiện theo quyđịnh của Luật Khiếu nại - tố cáo
Theo các Điều 59, 60 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Khiếu nại tốcáo 2005, thẩm quyền giải quyết tố cáo được xác định theo nguyên tắc sau: Tốcáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của
cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết; Tố cáohành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan nào thìngười đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết; Tố cáo hành vi viphạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan tổ chức nào thìngười đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó cótrách nhiệm giải quyết; Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quanđến chức năng quản lý của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.Còn tố cáo hành vi phạm tội do các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quyđịnh của Luật tố tụng hình sự;
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc thẩmquyền, trường hợp cần thiết thì giao cho cơ quan thanh tra hoặc cơ quan có thẩmquyền khác để tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận và kiến nghị biện pháp xử
lý tố cáo (Điều 61)
Thẩm quyền giải quyết tố cáo cụ thể như sau:
- Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc thực hiện giải quyết những tố cáo cónội dung đặc biệt phức tạp, quyết định xử lý tố cáo mà Tổng Thanh tra Nhà nước
đã kết luận, kiến nghị việc giải quyết (Điều 64)