Bởi vậy, việc xây dựng chiến lược quốc gia nhằm đối phó và thíchứng với sự biến đổi khí hậu của Việt Nam là một việc làm cấp thiết trong thời gian tới.Trung tâm Thông tin Khoa học và Côn
Trang 1TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
TỔNG LUẬN
TÁC ĐỘNG CỦA BIỂN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU VÀ
SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIỂN
Trang 2Hà Nội, 2008
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI GIỚI THIỆU 1
MỞ ĐẦU 2
I TỔNG QUAN VỀ SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIẾN 4
1.1 TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Các nguyên nhân và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu 5
1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI MỰC NƯỚC BIỂN 10
1.3 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI MỰC NƯỚC BIỂN 11
1.2 CƠ SỞ KHUNG ĐÁNH GIÁ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIỂN 16 II ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIỂN TỚI MỘT SỐ QUỐC GIA CÓ BIỂN VÀ VIỆT NAM 19
2.1 BĂNGLAĐÉT 19
2.2 TRUNG QUỐC 26
2.3 VIỆT NAM 36
2.3.1 Nguy cơ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn 36
2.3.2 Bão và nước dâng do do bão 39
2.3.3 Nguy cơ xói lở 41
2.3.4 Sản xuất nông nghiệp, thuỷ hải sản và du lịch 43
2.3.5 Đa dạng sinh học và hệ sinh thái 46
2.3.6 Giao thông và cơ sở hạ tầng 48
2.3.7 Nước sạch và vệ sinh môi trường 49
III ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG CAO Ở VIỆT NAM 49
3.1 CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH 51
3.2 KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 53
3.3 TÀI CHÍNH 55
3.4 NÂNG CAO NĂNG LỰC, GIÁO DỤC VÀ TRUYỀN THÔNG 56
3.5 HỢP TÁC QUỐC TẾ 56
IV KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà môi trường có nhiều biến đổi: khí hậubiến đổi, nhiệt độ trái đất tăng lên, mực nước biển dâng cao, hạn hán, lũ lụt, ô nhiễmmôi trường, suy giảm đa dạng sinh học… Trong đó, biến đổi khí hậu là một vấn đềhiện đang được các nước trên thế giới quan tâm sâu sắc Biến đổi khí hậu mà tiêu biểu
là sự nóng lên toàn cầu đang diễn ra Nhiệt độ trên thế giới đã tăng thêm khoảng 0,70C
kể từ thời kỳ tiền công nghiệp và hiện đang tăng với tốc độ ngày càng cao Ngoài cácnguyên nhân tự nhiên và tính chất biến đổi phức tạp của các hệ thống khí hậu trên thếgiới, hầu hết các nhà khoa học về môi trường hàng đầu trên thế giới đều khẳng định:các loại khí nhà kính phát thải vào khí quyển do các hoạt động của con người đã làmcho khí hậu toàn cầu nóng lên
Biến đổi khí hậu đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia do những ảnhhưởng hiện nay và hiểm họa trong tương lai đối với xã hội loài người Các hiện tượngkhí hậu dị thường và thiên tai liên tục diễn ra ở nhiều vùng trên thế giới Các nhà khoahọc từ lâu cũng đã lên tiếng cảnh báo hiểm họa nghiêm trọng này nhưng chỉ cho đếngần đây, loài người mới thấy được ý nghĩa quan trọng của việc bảo vệ môi trường vàthực hiện cuộc chiến thực sự chống lại sự biến đổi khí hậu
Để có thể giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu thế giới cần tăng cường các biệnpháp nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính từ các nước công nghiệp và huy động sựtham gia nhiều hơn nữa của các nước đang phát triển, đề ra các biện pháp khuyếnkhích các nước này hạn chế mức phát thải, đồng thời đảm bảo tăng trưởng kinh tế Theo nghiên cứu mới nhất của Liên Hợp Quốc, Việt Nam là quốc gia đang pháttriển thuộc nhóm các nước bị ảnh hưởng nhiều nhất ở khu vực Đông Nam Á từ sự biếnđổi khí hậu này Bởi vậy, việc xây dựng chiến lược quốc gia nhằm đối phó và thíchứng với sự biến đổi khí hậu của Việt Nam là một việc làm cấp thiết trong thời gian tới.Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia biên soạn Tổng luận “TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU VÀ SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIẾN”nhằm giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu cócách nhìn bao quát hơn về nguy cơ biến đổi khí hậu tòan cầu, từ đó đưa ra các quyếtsách hợp lý nhằm thích ứng và đối phó với xu thế này
TRUNG TÂM THÔNG TIN KH&CN QUỐC GIA
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong những năm 80, bằng chứng khoa học về khả năng biến đổi khí hậu toàncầu đã dẫn đến sự quan tâm chung ngày càng tăng Từ năm 1990, một loạt các hộinghị quốc tế đã đưa ra những lời kêu gọi khẩn cấp để có một hiệp ước toàn cầu về vấn
đề này Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) và Tổ chức Khí tượngThế giới (WMO) đã hưởng ứng bằng cách thiết lập nhóm Công tác Liên Chính phủ đểchuẩn bị cho các cuộc hiệp thương của Hiệp ước Đã có sự tiến bộ nhanh chóng, mộtphần do sự nỗ lực của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) và các cuộchọp về biến đổi khí hậu ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu
Đáp lại kiến nghị của Nhóm Công tác, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc tại khóa họpnăm 1990 đã thành lập Ủy ban Hiệp thương Liên Chính phủ cho một Công ước khung vềBiến đổi khí hậu (INC/FCCC) INC/FCCC đã được ủy nhiệm soạn thảo một Công ướckhung và các công cụ pháp lý bất kỳ liên quan được coi là cần thiết Những nhà thươngthuyết từ hơn 150 quốc gia đã gặp nhau trong 5 phiên họp trong khoảng thời gian từ tháng2/1991 đến tháng 5/1992 và đã chấp nhận Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biếnđổi khí hậu vào ngày 9 tháng 5 năm 1992 tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York
Ngay sau đó, tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển, haythường gọi là Hội nghị Thượng đỉnh, đã được tổ chức vào tháng 6 năm 1992, ở Rio deJaneiro, Braxin, 155 quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã ký Công ước Khung của Liên
hợp quốc về Biến đổi khí hậu Mục tiêu của Công ước là nhằm “ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu”
Nghị định thư Kyoto của Công ước khí hậu là văn bản pháp lý để thực hiện Côngước khung về Biến đổi khí hậu có hiệu lực kể từ ngày 16/2/2005 bằng sự phê chuẩn củaNga (tháng 10/2004) Nội dung quan trọng của Nghị định thư Kyoto là đưa ra Chỉ tiêugiảm phát thải khí nhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển và cơ chếgiúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vữngthông qua thực hiện "Cơ chế phát triển sạch"(CDM) Bản thỏa thuận nêu cam kết của cácnước công nghiệp hóa giảm phát thải sáu loại khí nhà kính ở mức 5% vào năm 2012 Tháng 12/2007, Hội nghị về khí hậu của Liên Hợp Quốc được tổ chức tại Bali,Inđônêxia, các đại biểu đến từ gần 190 quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ đã cố gắng tìm ramột lộ trình cho các cuộc đàm phán về một công ước nóng lên toàn cầu mới sẽ có hiệulực vào năm 2012, khi kết thúc thời kỳ cam kết đầu tiên của Nghị định thư Kyoto Hộinghị Bali có ba mục tiêu chính: (1) Mở đầu các đàm phán về ứng phó với biến đổi khíhậu giai đoạn sau năm 2012; (2) Đưa ra lịch trình đàm phán quốc tế; (3) Đạt được Thỏathuận quốc tế mới nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu Các quyếtđịnh đưa ra tại Hội nghị Bali lần này sẽ mở đầu cho quá trình đạt được các thỏa thuậnvào đầu năm 2009, là một dấu hiệu thể hiện sự đoàn kết của cộng đồng quốc tế cùng ứngphó với biến đổi khí hậu Hội nghị các Bên lần này đóng một vai trò quan trọng trongviệc thành lập một chương trình nghị sự ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai
Trang 6Báo cáo “Ảnh hưởng của mực nước biển dâng cao đối với các nước đang phát triển: Phân tích so sánh” của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố đầu năm 2007 cho
biết: Mực nước biển chỉ cần dâng thêm 1m thì sẽ gây hiểm họa lớn đối với các nước
có vùng dân cư và đời sống kinh tế tập trung ở các vùng đồng bằng thấp ở ven biển.Theo Báo cáo Tình trạng môi trường biển của Chương trình hành động toàn cầu thuộcUNEP (2006), thì hiện nay, gần 40% dân số thế giới sống tại các vùng ven biển hẹp(chỉ chiếm 6,7% diện tích bề mặt Trái Đất) và phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiênnhiên Mật độ dân số tại khu vực bờ biển có thể tăng từ 77 người/km2 năm 1990, lêntới 115 người/km2 năm 2025
Với nguy cơ nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đối với các cộngđồng ven biển là không thể tránh khỏi Còn theo đánh giá của Chương trình Phát triểnLiên Hợp Quốc (UNDP, 2007), Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ
bị tổn thương nhất trước sự biến đổi khí hậu Nếu mực nước biển tăng 1m, Việt Nam
sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp
và 10% thu nhập quốc nội (GDP) Nước biển dâng 3-5m đồng nghĩa với một thảm họa
có thể xảy ra ở Việt Nam Việt Nam phải xây dựng kịch bản thích ứng và đối phó chitiết vấn đề khí hậu và nước biển dâng, để từ đó đưa ra các chính sách, chương trìnhhành động đúng, bởi biến đổi khí hậu không chỉ đơn giản là vấn đề của từng ngành,
mà liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế, xã hội khác
Như vậy, Trái đất nóng lên, nước biển dâng cao và biến đổi khí hậu đến naykhông còn là vấn đề riêng của một nước nào mà đó là vấn đề chung, là trách nhiệm
của toàn cầu Các quốc gia trên thế giới đang rất nỗ lực xây dựng và thực hiện các
hành động chiến lược nhằm thích ứng với sự nóng lên toàn cầu, ngăn ngừa và hạn chếtác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan do biến đổi khí hậu như nước biển dâng.Tài liệu này tổng hợp chung về tình hình biến đổi khí hậu và đánh giá những ảnhhưởng của sự gia tăng mực nước biển đối với một số quốc gia có biển trong khu vực,
dựa trên tổng hợp thông tin từ các Báo cáo lần thứ 4, xuất bản năm 2007 của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), Báo cáo “Ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao đối với các nước đang phát triển: Phân tích so sánh” của Ngân hàng Thế giới (WB), Báo cáo Phát triển Con người 2007-2008 của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), tài liệu về thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng của
một số quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Bănglađét cùng một số kết quả điềutra khảo sát của các nhà khoa học Việt Nam
Hy vọng rằng những đánh giá trên sẽ cung cấp thông tin cho Việt Nam trong việcxây dựng chiến lược và các chương trình nhằm thích ứng với sự biến đổi khí hậu, giảmthiểu những tổn thất do biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao, góp phần thúcđẩy xã hội phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
Trang 7I TỔNG QUAN VỀ SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIẾN
1.1 TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU
1.1.1 Một số khái niệm
Hiệu ứng nhà kính
Nhiệt độ bề mặt Trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng Mặt trờiđến bề mặt Trái đất và năng lượng bức xạ của Trái đất vào khoảng không gian giữa cáchành tinh Năng lượng Mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổkhí quyển Trong khi đó, bức xạ của Trái đất với nhiệt độ bề mặt trung bình +16oC làsóng dài có năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại Các tác nhân gây ra sự hấpthụ bức xạ sóng dài trong khí quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, mêtan (CH4), CFC Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa Trái đất vớikhông gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển Trái đất Hiệntượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là “hiệuứng nhà kính”
Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài người đang làm cho nồng độkhí CO2 của khí quyển tăng lên Sự gia tăng khí CO2 và các khí nhà kính kháctrong khíquyển Trái đất làm nhiệt độ Trái đất tăng lên Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính củacác chất khí được xếp theo thứ tự sau: CO2 => CFC => CH4 => O3 =>NO2 Sự gia tăngnhiệt độ Trái đất do Hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môitrường Trái đất
Biến đổi khí hậu
Hệ thống khí hậu Trái đất bao gồm khí quyển, lục địa, đại dương, băng quyển vàsinh quyển Các quá trình khí hậu diễn ra trong sự tương tác liên tục của những thànhphần này Quy mô thời gian của sự hồi tiếp ở mỗi thành phần khác nhau rất nhiều.Nhiều quá trình hồi tiếp của các nhân tố vật lý, hóa học và sinh hóa có vài trò tăngtường sự biến đổi khí hậu hoặc hạn chế sự biến đổi khí hậu Công ước khung của LHQ
về biến đổi khí hậu đã định nghĩa: “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt độngtạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khínhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Nhằm hạnchế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khínhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6
Trang 8- CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khínhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh ra tử cáchoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép.
- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thốngkhí, dầu tự nhiên và khai thác than
- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sảnphẩm phụ của quá trình sản uất HCFC-22
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm
- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê
Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống củacon người và các sinh vật trên Trái đất
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp,các đảo nhỏ trên biển
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhaucủa Trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái
và hoạt động của con người
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuầnhoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần củathuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
1.1.2 Các nguyên nhân và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu
Bằng chứng về sự nóng lên của hệ thống khí hậu được thể hiện ở sự gia tăng nhiệt
độ trung bình của không khí và đại dương trên toàn cầu, tình trạng băng tan và tăng mựcnước biển trung bình trở nên phổ biến 11 trong số 12 năm qua (1995-2006) được xếpvào những năm có nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng kỷ lục (từ năm 1850) Xu thế nhiệt độtăng trong 100 năm (kể từ năm 1906 – 2005) là 0,740C (0,560C đến 0,920C), lớn hơn xuthế được đưa ra trong báo cáo đánh giá lần thứ 3 của IPCC là 0,60C (từ 0,40C đến 0,80C)(1901-2000) Sự gia tăng nhiệt độ đang trở nên phổ biến trên toàn cầu và tăng nhiều hơn
ở các khu vực vĩ độ cao ở phía bắc Khu vực đất liền nóng lên nhanh hơn các khu vựcđại dương Những thay đổi về nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, các sol khí, độ chephủ đất và bức xạ mặt trời đã làm thay đổi cân bằng năng lượng của hệ thống khí hậu.Lượng khí thải nhà kính trên toàn cầu do con người đã tăng khoảng 70% so với thời kỳtrước cách mạng công nghiệp, trong khoảng thời gian từ 1970 đến 2004
Khí CO2 là loại khí nhà kính quan trọng nhất do các hoạt động của con người tạo ra
Từ năm 1970 đến năm 2004, phát thải hàng năm của loại khí này tăng khoảng 80% Xuthế giảm dài hạn khí thải CO trên một đơn vị năng lượng đã bị đảo ngược sau năm 2000
Trang 9Năm 2005, nồng độ CO2 trong khí quyển là 379 ppm và CH4 là 1.774 ppm, vượt
xa mức tự nhiên trong hơn 650.000 năm qua Nồng độ CO2 trên toàn cầu tăng chủ yếu
do sử dụng nhiên liệu hoá thạch và thay đổi mục đích sử dụng đất (hoạt động này chỉgóp một phần nhỏ) Tăng nồng độ CH4 chủ yếu do nông nghiệp và đốt nhiên liệu hóathạch Tốc độ tăng CH4 cũng đã giảm kể từ những năm đầu thập kỷ 90
Kể từ 1750, nồng độ CO2, CH4, N2O trong khí quyển toàn cầu tăng rõ rệt do cáchoạt động của con người và hiện nay vượt xa so với mức của thời kỳ trước cách mạngcông nghiệp, làm tan chảy cả các khối băng đã tồn tại qua hàng nghìn năm
Hầu hết sự gia tăng nhiệt độ trung bình trên toàn cầu quan sát được từ giữa thế kỷ
20 có thể do tăng nồng độ khí nhà kính Trong hơn 50 năm qua, nhiệt độ ở các lục địa(trừ Nam Cực) đã tăng lên đáng kể
Nóng lên toàn cầu làm gia tăng mực nước biển Từ năm 1961, mực nước biểntrung bình trên toàn cầu dâng cao với tốc độ trung bình là 1,8 mm/năm (từ 1,3-2,3mm/năm) và từ năm 1993 ở mức 3,1mm/năm (từ 2,4- 3,8 mm/năm), do sự dãn nở vìnhiệt, tan các mũ băng và những tảng băng ở vùng cực Tốc độ băng tan diễn ra nhanhnhất trong thời gian từ 1993 đến 2003 thể hiện sự biến đổi trong một thập kỷ, chứ chưaphải là một xu thế tan chảy dài hạn rõ ràng
Nóng lên toàn cầu làm giảm lượng băng và tuyết Dữ liệu vệ tinh từ năm 1978 chỉ
ra rằng, trung bình hàng năm, diện tích băng biển ở Bắc cực giảm khoảng 2,7%/thập kỷ(từ 2,1-3,3%/thập kỷ), mức giảm lớn nhất trong mùa hè là 7,4%/thập kỷ (5,0-9,8%/thậpkỷ) Độ che phủ băng và tuyết ở vùng núi nhìn chung giảm ở cả hai bán cầu
Từ năm 1900 đến 2005, lượng mưa tăng đáng kể ở các khu vực phía đông của Bắc vàNam Mỹ, Bắc Âu, Bắc và Trung Á, nhưng giảm ở Sahel, Địa Trung Hải, Nam Phi và cáckhu vực Nam Á Tổng diện tích bị ảnh hưởng bởi hạn hán đã tăng lên từ những năm 1970
Rõ ràng là trong hơn 50 năm qua: số ngày lạnh, đêm lạnh và sương giá ít hơn ởhầu hết các khu vực đất liền và tăng số ngày nóng, đêm nóng Các đợt sóng nhiệt trởnên thường xuyên hơn ở hầu hết các khu vực đất liền, tần suất của các hiện tượng nhưmưa lớn tăng ở hầu hết các khu vực và kể từ năm 1975 phạm vi ảnh hưởng của mựcnước biển cao tăng trên toàn thế giới
Bão nhiệt đới gia tăng, xuất hiện với cường độ mạnh ở Bắc Đại Tây Dương từkhoảng năm 1970 và không thấy tăng lên ở những nơi khác Cũng không có xu thế rõràng về số lượng các cơn bão nhiệt đới hàng năm Khó có thể xác định được xu hướnglâu dài về hoạt động của bão, đặc biệt trước năm 1970
Nhiệt độ trung bình của Bắc bán cầu trong nửa sau của thế kỷ 20 cao hơn bất kỳgiai đoạn 50 năm nào trong 500 năm gần đây và có thể cao nhất trong ít nhất 1300năm qua Bằng chứng quan sát được từ tất cả các châu lục và hầu hết các đại dươngchỉ ra rằng, nhiều hệ thống tự nhiên đang bị ảnh hưởng bởi những biến đổi khí hậu khuvực, đặc biệt là nhiệt độ tăng
Những biến đổi về tuyết, băng và các vùng đất đóng băng, kích thước các hồbăng và sự bất ổn ở các vùng núi và vùng đóng băng khác dẫn đến những thay đổi ởmột số hệ sinh thái ở Nam Cực và Bắc Cực
Trang 10Một số hệ sinh thái dưới nước cũng bị ảnh hưởng do tăng lưu lượng nước, ảnhhưởng đến cấu trúc nhiệt và chất lượng nước sông hồ Với các hệ sinh thái trên cạn,mùa xuân đến sớm hơn, xu thế dịch chuyển lên các cực và dịch chuyển lên cao đối vớimột số hệ động vật, thực vật có liên quan đến hiện tượng nóng lên gần đây Còn vớicác hệ sinh thái biển và nước ngọt, những thay đổi về hệ động vật, thực vật và sựphong phú của tảo, sinh vật phù du và cá liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ của nước,cũng như liên quan đến những thay đổi về độ che phủ của băng, độ mặn, hàm lượngôxy và sự lưu thông của nước.
Có thể tóm lược những ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến các khu vực trên thếgiới như sau:
Châu Phi - Vào năm 2020, khoảng từ 75 - 250 triệu người sẽ phải chịu áp lực lớn
về nước do biến đổi khí hậu
- Vào năm 2020, ở một số nước, sản lượng nông nghiệp dựa vào nướcmưa có thể giảm tới 50% Sản xuất nông nghiệp tại nhiều nước châuPhi sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu hơn tới an ninhlương thực và tăng tình trạng suy dinh dưỡng
- Đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng sẽ gây ảnh hưởng tới cácvùng trũng ven biển, đông dân cư Chi phí thích ứng có thể chiếm ítnhất từ 5%-10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
- Năm 2080, diện tích đất khô cằn và bán khô cằn ở châu Phi sẽ tăng từ5%-8% theo các kịch bản khí hậu
Châu Á - Đến những năm 2050, lượng nước ngọt có thể sử dụng được ở Trung
Á, Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt tại các lưu vực sông lớn
sẽ giảm
- Vùng ven biển, nhất là các vùng châu thổ rộng lớn đông dân ở Nam Á,Đông Á và Đông Nam Á sẽ chịu rủi ro nhiều nhất, do lũ từ sông, biển
- Biến đổi khí hậu kết hợp đô thị hoá, công nghiệp hoá và phát triển kinh
tế nhanh chóng gây áp lực tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Sự hoành hành của dịch bệnh và tỷ lệ tử vong do tiêu chảy, chủ yếuliên quan đến lũ lụt và hạn hán sẽ gia tăng ở Đông Á, Nam Á và ĐôngNam Á do những thay đổi trong chu trình thuỷ văn
Ôxtrâylia
và New
Zealand
- Vào năm 2020, suy giảm đa dạng sinh học ở mức cao sẽ diễn ra tại một
số điểm giàu đa dạng sinh học, gồm có Rạn san hô Great Barrier và cácvùng nhiệt đới ẩm ướt ở Queensland, Ôxtrâylia
- Đến 2030, các vấn đề về an ninh nguồn nước sẽ trầm trọng hơn ở miềnnam và đông Ôxtrâylia, tại miền Bắc và một số vùng Đông New Zealand
- Vào năm 2030, sản xuất nông, lâm nghiệp sẽ giảm ở hầu hết miền đôngnam Ôxtrâylia và các vùng miền đông New Zealand do hạn hán vàcháy rừng xảy ra nhiều hơn Tuy nhiên, một số vùng khác ở NewZealand sẽ được hưởng những lợi ích ban đầu
Trang 11- Vào năm 2050, phát triển ven biển và tăng dân số ở một số khu vựcthuộc Ôxtrâylia và New Zealand sẽ làm tăng nguy cơ mực nước biểndâng, tăng tần suất và cường độ của bão, lũ ven biển
Châu Âu - Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng sự khác biệt giữa các khu vực Các tác
động tiêu cực bao gồm tăng nguy cơ xảy ra lũ quét trong nội địa, lũ lụtven biển thường xuyên hơn và xói mòn mạnh hơn (do bão lớn và mựcnước biển dâng cao)
- Các vùng núi sẽ phải đối mặt với sự thu hẹp của sông băng, độ che phủcủa tuyết giảm và suy giảm số lượng lớn các loài (vào năm 2080, ở một
số khu vực tỷ lệ suy giảm là 60% tuỳ theo các kịch bản phát thải )
- Ở Nam Âu - vùng đã từng dễ bị tổn thưởng bởi tính bất thường của khíhậu - biến đổi khí hậu sẽ làm cho các điều kiện (nhiệt độ cao và hạnhán) nghiêm trọng hơn và nhìn chung làm giảm khả năng sử dụngnước, tiềm năng thuỷ điện, du lịch và năng suất cây trồng
- Biến đổi khí hậu cũng sẽ làm tăng mối nguy hiểm tới sức khoẻ vì cácđợt sóng nhiệt và tần suất cháy rừng tự nhiên
Châu Mỹ
La tinh
- Giữa thế kỷ này, ở miền Đông Amazôn, nhiệt độ tăng cao kết hợp vớisuy giảm lượng nước sẽ dẫn đến sự thay thế rừng nhiệt đới bằng cáchoang mạc Thảm thực vật bán khô hạn sẽ được thay thế bằng thảmthực vật khô hạn
- Nguy cơ mất đa dạng sinh học ở mức cao là do sự tuyệt chủng các loài
ở nhiều khu vực thuộc vùng nhiệt đới ở Mỹ La tinh
- Năng suất của một số loại cây trồng quan trọng và khả năng sinh sảncủa gia súc sẽ giảm gây hậu quả bất lợi tới an ninh lương thực Nhìnchung, số lượng người có nguy cơ bị đói gia tăng
- Những thay đổi trong các mô hình về lượng mưa và sự biến mất củacác sông băng sẽ gây ảnh hưởng tới khả năng sử dụng nước phục vụcho con người, nông nghiệp và thuỷ điện
Bắc Mỹ - Nóng lên ở các dãy núi miền tây sẽ làm giảm lớp tuyết phủ, tăng lũ lụt
mùa đông và giảm lưu lượng nước mùa hè khiến cho cuộc cạnh tranh
vì tài nguyên nước phân bổ không đều diễn ra khốc liệt hơn
- Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ này, biến đổi khí hậu ở mứcvừa phải sẽ nâng tổng sản lượng của ngành nông nghiệp dựa vàonước mưa thêm từ 5%-20%, nhưng sản lượng tăng thêm lại thay đổitheo vùng
- Các thành phố đang trải qua các đợt sóng nhiệt sẽ gặp phải thách thứclớn hơn vì trong suốt thế kỷ này các đợt sóng nhiệt gia tăng về sốlượng, cường độ và thời gian, gây tác động tiêu cực tới sức khoẻ
- Các cộng đồng và nơi cư trú ven biển sẽ phải chịu ngày càng nhiều áplực do các tác động của biến đổi khí hậu
Trang 12Các vùng
cực
- Các ảnh hưởng chủ yếu sẽ là giảm độ dày và diện tích của các sôngbăng, mũ băng và băng biển, những thay đổi trong các hệ sinh thái tựnhiên gây ảnh hưởng bất lợi tới nhiều sinh vật gồm các loài chim di cư,động vật có vú và các loài ăn thịt
- Đối với các cộng đồng ở Bắc cực, các tác động đặc biệt là những tácđộng do thay đổi trạng thái của băng, tuyết sẽ phức tạp
- Các tác động tiêu cực sẽ bao gồm tác động tới cơ sở hạ tầng và lối sốngtruyền thống của các cộng đồng bản địa
Các đảo
nhỏ
- Mực nước biển dâng sẽ làm gia tăng lũ lụt, dông bão, xói lở và cácthảm hoạ ven biển khác, đe dọa cơ sở các hạ tầng có ý nghĩa quantrọng, nơi ở và các điều kiện hỗ trợ sinh kế của các cộng đồng trên đảo
- Phá huỷ hiện trạng ven biển, ví dụ xói lở bờ biển và tẩy trắng san hô sẽảnh hưởng tới nguồn tài nguyên địa phương
- Vào giữa thế kỷ này, biến đổi khí hậu sẽ làm suy giảm tài nguyên nước
ở nhiều đảo nhỏ, chẳng hạn như biển Caribê và Thái Bình Dươngkhông có đủ nước để đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ mưa ít
- Do nhiệt độ cao hơn nên các loài ngoại lai sẽ tăng cường xâm lấn, đặcbiệt ở các đảo nằm ở vĩ độ trung và cao
Nóng lên toàn cầu và nước biển dâng có thể tiếp diễn trong nhiều thế kỷ do tínhphức tạp và sự phản hồi của các quá trình khí hậu, thậm chí ngay cả khi nồng độ các
khí nhà kính đã ổn định Sau năm 2100, sự thu hẹp của dải băng Greenland sẽ tiếp
diễn, góp phần làm cho mực nước biển dâng cao hơn Các mô hình hiện nay cho thấydải băng tan chảy hoàn toàn sẽ làm cho mực nước biển dâng cao khoảng 7m
Các nghiên cứu mô hình toàn cầu hiện nay dự báo, dải băng ở Nam cực vẫn cònquá lạnh để tan chảy trên bề mặt rộng lớn và vẫn tiếp tục tích tụ do mưa tuyết nhiềuhơn Tuy nhiên, khối lượng băng có thể giảm thực sự giảm nếu xu thế tan chảy trộihơn trong cân bằng khối của dải băng Nóng lên toàn cầu do con người có thể dẫn tớimột số tác động đột ngột hoặc không thể đảo ngược, phụ thuộc vào tốc độ và cường độ
của biến đổi khí hậu.
Mất một phần dải băng ở vùng cực nghĩa là mực nước biển sẽ dâng cao hàng mét,đường bờ biển sẽ có nhiều thay đổi và các vùng thấp/trũng bị nhấn chìm, gây ảnh hưởnglớn tới các vùng châu thổ sông và các đảo thấp Những thay đổi này sẽ diễn ra trong thiênniên kỷ nhưng cũng không loại trừ trong thế kỷ này mực nước biển tăng nhanh hơn Biến đổi khí hậu có thể gây ra một số tác động lớn Cho đến nay, theo ước tính,khoảng từ 20%-30% loài có nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăngkhoảng 30C (tương ứng từ năm 1980-1999) Khi nhiệt độ toàn cầu tăng hơn 3,50C, dựbáo mô hình cho thấy trên toàn cầu sẽ có từ 40%-70% loài tuyệt chủng
Trang 131.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI MỰC NƯỚC BIỂN
Do những hoạt động khác nhau của con người, nồng độ CO2 và các khí nhà kínhkhác tích luỹ trong khí quyển của Trái đất và gây ra nóng lên toàn cầu Mực nước biểndâng cao là một trong những tác động có quy mô lớn nhất do hậu quả của nóng lêntoàn cầu Các yếu tố góp phần khiến mực nước biển dâng cao trong thế kỷ 20-21 là:
• Sự giãn nở nhiệt do lớp bề mặt đại dương nóng lên
• Sự bổ sung nước cho các đại dương do các vùng có băng tuyết tan chảy, như ở Hymalaya, Alaska, Patagogia… và các mũ băng ở vùng cực, như Nam Cực và Greenland
• Sự trao đổi nước với các nguồn trên lục địa như nước ngầm, các tầng ngậm nước,các đập nước, hồ chứa…
Các chỏm băng lớn ở vùng cực chính là nguồn bổ sung nước tiềm tàng cho cácđại dương Nước bổ sung cho các đại dương theo hai cơ chế chung: 1) Tan chảy băngtrên vùng đất, sau đó tạo thành dòng chảy đổ ra các đại dương và 2) Do tính chất độnglực học của băng, tạo thành dòng từ đất liền ra biển Khi băng được chuyển ra biển,ngay lập tức nước biển dâng cao Cho đến nay, các tính chất động lực học của băngvẫn không hề thay đổi, nhưng các bằng chứng mới đây cho thấy lượng băng đổ ra cácđại dương ngày càng nhiều, diễn ra ở cả Bắc cực và Nam cực
Kể từ Báo cáo đánh giá thứ 3 của IPCC năm 2001, đã có nhiều nỗ lực trong việc
đo lượng băng mất đi ở Greenland và sự góp phần của hiện tượng này vào xu thế nướcbiển dâng Ringot và Kanagaratnam (2006) đã phát hiện ra sự tăng lên nhanh chóngcủa các dòng sông băng lớn ở vùng vĩ độ thấp trong những năm 1996- 2000, và lanrộng đến vùng vĩ độ cao vào năm 2005 Kết quả cho thấy tổng lượng băng tan chảy đãtăng gấp đôi so với thập kỷ trước So sánh sự đóng góp của lượng băng tan củaGreenland đối với nước biển dâng với ước tính của IPCC trong thế kỷ 20, các đo đạcmới lớn hơn khoảng từ 2-5 lần
Tại Nam Cực, sử dụng vệ tinh GRACE, các nhà khoa học đã xác định được sự thayđổi lớn của các tảng băng ở Nam Cực trong giai đoạn 2002-2005 Kết quả cho thấy rằngkhối lượng băng đã giảm đáng kể, với tốc độ 152 ± 80 km3/năm; phần lớn khối lượng này
từ các tảng băng phía Tây của Nam Cực Tỷ lệ này lớn hơn gấp nhiều lần so với dự đoáncủa IPCC trong bản Báo cáo thứ ba, và IPCC cũng đã thừa nhận rằng báo cáo cuối cùng
đã không xem xét đến những thay đổi động của các tảng băng phía Tây của Nam Cực Bản Báo cáo thứ ba của IPCC cho thấy từ cuối thế kỷ 19 nhiệt độ trung bình bềmặt Trái đất đã tăng xấp xỉ 0,2-0,6oC Thập kỷ 90 của thế kỷ 20 là thập kỷ nóng nhấttrong 1000 năm qua ở bán cầu Bắc Hai giai đoạn có nhiệt độ tăng nhanh nhất là 1910-
1945 và từ 1976 đến nay với khoảng 0,15oC/thập kỷ Mức tăng nhiệt độ của biển chỉbằng khoảng một nửa mức tăng nhiệt độ không khí bề mặt đất Những phân tích mớicho thấy hàm lượng nhiệt của đại dương toàn cầu tăng lên rõ rệt từ những năm 1950,
Trang 14trong đó hơn một nửa lượng nhiệt tăng lên này xảy ra ở lớp nước bên trên, tươngđương với mức tăng khoảng 0,040C/thập kỷ.
Hình 1 Sự thay đổi nhiệt độ đại dương và đất liền trên toàn cầu (Nguồn: IPCC 2007)
Mực nước biển tăng đặt ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho nhiều quốc đảo nhỏđang phát triển và cho tất cả các vùng trũng trên thế giới Báo cáo Phát triển Con người2007-0008 (UNDP) đưa ra dự báo nếu nhiệt độ tăng thêm 3-4oC, 330 triệu người phải didời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt Hơn 70 triệu người Bănglađét, 6 triệu người ở vùngđồng bằng thấp của Ai cập và 22 triệu người Việt Nam có thể bị ảnh hưởng Các quốcđảo nhỏ ở Thái Bình Dương và vùng Caribê có thể bị thiệt hại hết sức nghiêm trọng Sựthay đổi hình thái dòng chảy và hiện tượng băng tan sẽ gây ra thêm các áp lực sinh thái,ảnh hưởng xấu đến lưu lượng nước tưới và sự định cư của con người Trung Á, BắcTrung Quốc và khu vực phía bắc của Nam Á phải đối mặt với các nguy cơ rất lớn liênquan đến sự tan chảy của các núi băng với tốc độ 10-15m/năm ở dãy Hymalaya Khi cácnúi băng tan chảy, 7 hệ thống sông lớn của châu Á sẽ có lưu lượng tăng lên trongkhoảng thời gian ngắn, sau đó lại hạ xuống, ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước và duytrì nguồn cung lương thực cho hàng trăm triệu người ở khu vực Nam Á
Nước biển ấm lên sẽ sinh ra những cơn bão nhiệt đới mạnh hơn Với hơn 344triệu người hiện đang phải đối mặt với nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các xoáy thuận nhiệtđới, các cơn bão mạnh hơn có thể gây thiệt hại nặng nề cho một số nước Hiện có 1 tỷngười đang sống ở các khu nhà ổ chuột đô thị, trên các triền đồi có nguy cơ bị sạt lở,hay bên các bờ sông luôn bị ngập lụt đang phải đối mặt với nguy cơ tổn thươngnghiêm trọng
1.3 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI MỰC NƯỚC BIỂN
Rất khó có thể đánh giá đầy đủ về những ảnh hưởng gián tiếp của mực nước biểndâng cao do biến đổi khí hậu Song, có thể nhận thấy các khu vực duyên hải, ven biển
sẽ chịu nhiều tác động nhất, mà khu vực này lại là nơi tập trung các đô thị lớn, dân cưđông đúc và các cơ sở hạ tầng quan trọng Một đánh giá của Chương trình Đánh giáquy mô của Con người đến Sự thay đổi môi trường toàn cầu (UNU-IHDP) cho thấy:hiện nay có rất nhiều trung tâm đô thị đặt tại các vùng thấp ven biển Đó là các vùngđất tiếp giáp với biển, ở độ cao dưới 10m so với mực nước biển, chiếm 2% diện tích
bề mặt Trái đất nhưng tập trung tới 10% dân số thế giới và 13% dân số đô thị Có 10nước có số đông dân số sống ở các vùng ven biển có độ cao dưới 10m, với tổng số 463triệu người, chiếm 73% dân số thế giới sống trong khu vực này (9/10 nước này là ở
Trang 15khu vực châu Á) Trong số 180 nước có dân số sống ở các vùng ven biển thì có tới70% có các đô thị lớn nhất mở rộng ra sát biển
Những hậu quả của nước biển dâng cao sẽ liên quan đến các một số lĩnh vực tiềmtàng như thuỷ sản, nông nghiệp, đa dạng sinh học, du lịch Mực nước biển dâng caocòn dẫn tới những khủng hoảng sinh thái, kinh tế và xã hội như tạo ra các dòng người
di cư (tị nạn môi trường) thoát khỏi các vùng bị ảnh hưởng, gây xáo trộn về trật tự xãhội và các vấn đề khác về sức khoẻ môi trường Có thể tóm lược các ảnh hưởng tiềmtàng về kinh tế xã hội chính của mực nước biển dâng như sau:
- Tăng nguy cơ thiệt hại về tài sản và các nơi cư trú vùng ven biển
- Tăng rủi ro ngập lụt và tỷ lệ thương vong
- Phá huỷ các công trình bảo vệ bờ biển và các công trình cơ sở hạ tầng khác
- Suy giảm các nguồn tài nguyên tái tạo và sinh kế
- Suy giảm các chức năng du lịch, giải trí và giao thông
- Thiệt hại về các giá trị về văn hóa
- Nảy sinh các vấn đề mới về tái định cư
- Tác động đến nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản do suy giảm chất lượng đất và nước
Tài liệu “Tác động của mực nước biển dâng cao đến các nước đang phát triển: Phân tích so sánh” của Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện tháng 2/2007 đã đánh giá
các tác động của mực nước biển dâng cao đối với tất cả các nước đang phát triển bằngcách sử dụng bộ chỉ số đồng nhất các chỉ thị và với các kịch bản khác nhau về mựcnước biển dâng cao Có thể nói, đây là tài liệu đầu tiên được thực hiện theo hình thứcnày Năm 2006, Mendelsohn và các cộng sự đã đưa ra thêm bằng chứng, bằng việcđánh giá các tác động của biến đổi khí hậu đối với thị trường tại các nước giàu vànghèo theo các kịch bản khí hậu khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu này đã không đánhgiá tác động của mực nước biển dâng cao đến các chỉ thị tự nhiên và xã hội Với tàiliệu này, WB đã chia 84 nước đang phát triển ở ven biển thành 5 nhóm theo 5 vănphòng khu vực của WB gồm: Mỹ Latin và Caribê (25 nước); Trung Đông và Bắc Phi(13 nước); Châu Phi cận Xahara (29 nước); Đông Á (13 nước); và Nam Á (4 nước).Với mỗi nước và khu vực, các nhà khoa học đánh giá tác động của mực nước biểndâng cao theo 6 chỉ thị: đất đai, dân số, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), diện tích đôthị và đất ngập nước Cuối cùng, các tác động này được tính toán theo các kịch bản vềmực nước biển dâng cao từ 1-5m
Các nhà khoa học đã sử dụng phần mềm của Hệ thống thông tin địa lý (GIS) đểchồng ghép 6 yếu tố quan trọng bị tác động của các vùng có nguy cơ nhấn chìm theo 5kịch bản nước biển dâng từ 1-5m Đánh giá cũng sử dụng các nguồn dữ liệu khônggian phân tán tại nhiều trung tâm như Trung tâm Nghiên cứu các Hệ thống môi trường(CESR), Trung tâm quốc tế Mạng thông tin về Khoa học Trái đất (CIESIN), Trungtâm Quốc tế về Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT), Viện Nghiên cứu Chính sách Lương
Trang 16thực Quốc tế (IFPRI), Cơ quan Hàng không và Không gian Quốc gia (NASA), Cơquan Quản lý Hải dương và Khí quyển quốc gia (NOAA) và WB
Các kết quả nghiên cứu cho thấy 0,31% (194.309 km2) vùng lãnh thổ của 84nước đang phát triển bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 1m Tỷ lệ bị ngập cóthể tăng lên 1,2% theo kịch bản nước biển dâng cao 5m Cho dù tỷ lệ này nhỏ song sẽ
có khoảng 56 triệu người (hay 1,28% dân số) ở 84 nước đang phát triển bị ảnh hưởngkhi mực nước biển dâng cao 1m Tác động của mực nước biển dâng cao đến GDP caohơn chút ít so với tác động đến dân số Các vùng đất ngập nước cũng chịu tác độngđáng kể cho dù nước biển chỉ dâng 1m Sẽ có 7,3% các vùng đất ngập nước ở 84 nước
bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 5m
Với mỗi chỉ thị, WB đưa ra danh sách 10 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất Theo đó,với kịch bản nước biển dâng cao 1m, Bahamas (khu vực Mỹ latinh và Caribê) là nước bịảnh hưởng nặng nhất xét về diện tích bị ảnh hưởng (12% tổng diện tích) Việt Namđứng đầu danh sách 10 nước bị ảnh hưởng về dân số, khu vực đô thị và đất ngập nước(khoảng 10%) Nông nghiệp của Ai Cập bị ảnh hưởng nhiều nhất, gần 13% 28% diệntích đất ngập nước của Việt Nam, Jamaica và Belize có thể bị ảnh hưởng khi mực nướcbiển dâng cao 1m Xét về tất cả các chỉ thị, theo Báo cáo của WB, Việt Nam nằm trongdanh sách 5 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất cùng với Ai Cập, Suriname và Bahamas
Bảng 1 Tác động của mực nước biển dâng cao đến khu vực Đông Á
Trang 17% 2,67 4,14 5,86 8,10 9,57
Nguồn: WB, 2007
Đông Á sẽ bị ảnh hưởng rất lớn bởi nước biển dâng Khi nước biển dâng 5m, Đông
Á là khu vực ảnh hưởng nghiêm trọng nhất trong khối các nước đang phát triển Với cáckịch bản nước biển dâng tương ứng từ 1m đến 5m, dân số bị ảnh hưởng là khoảng 2%đến 8,6%, trong khi ảnh hưởng đến GDP là 2,09% đến 10,2% Khu vực đô thị và diệntích các vùng đất ngập nước cũng bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng khi nước biển dâng Theo đánh giá này, Việt Nam là nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi nướcbiển dâng: khoảng 16% tổng diện tích của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng khi nước biểndâng 5m, đưa Việt Nam trở thành nước thứ hai sau Bahamas (60% tổng diện tích) trong
số các nước được phân tích trong nghiên cứu này Đa số ảnh hưởng này tác động đếnĐồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long Một phần lớn dân cư Việt Nam
và các hoạt động kinh kế nằm ở vị trên vùng đồng bằng của hai con sông này 10,8%dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng khi nước biển dâng 1m Đây là tỷ lệ lớn nhất trong số
84 quốc gia (tiếp theo là Ai Cập với 10,56%) Dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng đến35% với nước biển dâng ở mức 5m Ảnh hưởng của nước biển dâng đến GDP của ViệtNam và khu vực đô thị gần với mức ảnh hưởng đến dân số của Việt Nam
GDP của Thái Lan cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Tuy nhiên, ảnh hưởngnày sẽ đáng kể chỉ khi nước biển dâng ở mức 4m đến 5m Trong tất cả các chỉ thị, khuvực nông nghiệp Việt Nam sẽ ảnh hưởng nặng nhất ở các nước Đông Á Đồng thời,nông nghiệp của Myanmar, cũng như các vùng đất ngập nước cũng sẽ bị ảnh hưởng rấtlớn Hầu hết các vùng đất ngập nước của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng của nước biểndâng
Bảng 2 Tác động của mực nước biển dâng cao ở Nam Á
Trang 19Hình 3 Diện tích đất các quốc gia bị ảnh hưởng theo các kịch bản nước biển dâng ở Đông Á
tự điều chỉnh và thích ứng với những biến đổi trên Các vùng ven biển là khu vực bịtác động nhiều nhất khi nước biển dâng Vùng ven biển chính là nơi diễn ra các quátrình tương tác giữa các hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội
Cả hai hệ thống này đều được đặc trưng bởi các mức ảnh hưởng (tiếp xúc), tính nhạy cảm và khả năng thích ứng trước mực nước biển dâng cao và các thay đổi khác
liên quan đến khí hậu và các áp lực không liên quan đến khí hậu Tính nhạy cảm vàkhả năng thích ứng kết hợp với mức độ tiếp xúc sẽ xác định tính dễ tổn thương củamỗi hệ thống
Trang 20Hình 5 Cơ sở khung đánh giá Tính tổn thương và tác động của sự dâng cao nước
biển đối với vùng ven biển
Nguồn: Nicholl, 2002 Mức tiếp xúc được xác định là tính chất và mức độ, mà một hệ thống khi tiếp xúc
với các thay đổi về khí hậu như nước biển dâng
Tính nhạy cảm, là mức độ mà một hệ thống khi bị ảnh hưởng, hoặc bị ảnh hưởng
nghiêm trọng hoặc hưởng lại từ sự thay đổi khí hậu
Khả năng tự thích ứng, biểu hiện là các phản ứng tự nhiên thích ứng trước mực
nước biển dâng cao Các quá trình thích ứng tự nhiên thường bị giảm nhẹ, hoặc ngừnglại bởi các áp lực do con người
Khả năng thích ứng theo kế hoạch (đã xuất hiện trong hệ thống kinh tế xã hội) có thể giúp
giảm thiểu tính tổn thương bằng rất nhiều giải pháp Sự tương tác giữa các hệ thống tự nhiên vàkinh tế xã hội ở các vùng ven biển diễn ra rất phức tạp Do vậy, các hình thức thích ứng và điềuchỉnh trong mỗi hệ thống và giữa hai hệ thống thường nhằm giảm cường độ của các tác độngtiềm tàng khi các tác động này xảy ra Nhờ đó, các tác động thực thường bớt nghiêm trọng hơn sovới tác động tiềm tàng được dự báo ban đầu
Các kịch bản tương lai về nước biển dâng
Báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC đưa ra năm 2007 dự báo về mực nước biển dâng caotheo các kịch bản khác nhau: Trong 2 thập kỷ tới, nhiệt độ Trái đất sẽ tăng khoảng 0,20C mỗi thập
Tính nhạy cảm về kinh tế-xã hội
Các áp lực không liên quan đến khí hậu
Khả năng thích ứng tự nhiên
Tính nhạy cảm
tự nhiên
Khả năng tự thích ứng
Tính tổn thương tự nhiên
Các ảnh hưởng địa-vật lý
sinh-Khả năng thích ứng theo kế hoạch
HỆ THỐNG KT-XH
Trang 21kỷ Thậm chí nếu nồng độ của các khí nhà kính và các sol khí khác vẫn giữ ở mức năm 2000 thìnhiệt độ trung bình Trái đất vẫn tăng thêm 0,10C mỗi thập kỷ.
Bảng 4 Các kịch bản và nhiệt độ và nước biển dâng theo IPCC (2007)
vào những năm giữa thế kỷ và nhiều công nghệ mới hiệu suất cao sẽ được đưa vào sửdụng Kịch bản A1 chia làm 3 nhóm với các hướng thay đổi khác nhau trong công nghệ:
- Nhiên liệu hóa thạch (A1F1)
- Nhiên liệu phi hóa thạch (A1T)
- Cân bằng giữa các loại năng lượng (A1B)
Kịch bản B1: Dân số toàn cầu cũng đạt cực đại vào những năm giữa thế kỷ giống
kịch bản A1 nhưng có sự thay đổi nhanh hơn trong cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ
và kinh tế nông thôn
Kịch bản B2: Sự tăng trưởng kinh tế và dân số ở mức trung bình, các giải pháp
phát triển kinh tế, xã hội và môi trường bền vững khu vực được chú trọng
Kịch bản A2: dân số toàn cầu tăng trưởng nhanh trong khi phát triển kinh tế và
chuyển giao công nghệ chậm
Trang 22II ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIỂN TỚI MỘT SỐ QUỐC GIA CÓ BIỂN VÀ VIỆT NAM
2.1 BĂNGLAĐÉT
Bănglađét là một trong những vùng châu thổ lớn trên thế giới với 230 hệ thốngsông ngòi dày đặc phân bố khắp đất nước Trong đó lớn nhất là Hệ thống sông Hằng,Brahmaputra và Meghna Địa hình Bănglađét thoải từ phía Bắc xuống phía Nam với
710 km đường bờ biển Dải ven biển phía Nam nằm song song với Vịnh Bengal ở mũiphía Bắc của Ấn Độ Dương, nông và có dạng hình cung lõm, thường xuyên bị bão tấncông, gây ra sóng lớn Dải ven biển tập trung 19 trong số 64 quận của Bănglađét, trong
đó có 12 quận tiếp giáp với biển hoặc nằm trên vùng cửa sông Dân số vùng ven biển
là 35,1 triệu người, chiếm 28% tổng dân số (năm 2003) Mật độ dân số ở vùng duyênhải là 482 người/km2, trong khi có những nơi tập trung tới 1.012 người/km2 Nuôitrồng thuỷ sản, nông nghiệp, nuôi tôm, sản xuất muối và du lịch là các hoạt động kinh
tế chính ở vùng ven biển Bănglađét
Bănglađét là nước tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thiếu vốn đầu tư và cơ sở hạtầng cần thiết, thiếu năng lực thể chế, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên Những đặc điểm này khiến cho Bănglađét rất dễ tổn thương trước các ảnh hưởng củabiến đổi khí hậu, và dân cư ở dải ven biển tổn thương nhiều hơn so với dân cư ở cáckhu vực khác nếu xảy ra các tác động Theo đánh giá của Chương trình Phát triển LiênHợp Quốc (UNDP) năm 2007, mực nước biển dâng 1m sẽ nhấn chìm 18% diện tíchđất, trực tiếp đe doạ 11% dân số Tác động của mực nước sông do mực nước biển dângcao có thể ảnh hưởng đến 70 triệu người Nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng tớidiện tích rộng lớn vùng ven biển và vùng đồng bằng ngập lũ Điều này sẽ ảnh hưởngđến việc thực hiện các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, gây ra dòng người tị nạn môitrường Các đối tượng bị tổn thương nhiều nhất khi nước biển dâng 1m là tài nguyênvùng ven biển, tài nguyên nước, nông nghiệp và đa dạng sinh học, trong đóSundarbans là khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất Khu vực Sundarbans là nguồn sinh kếduy trì cuộc sống cho khoảng 10 triệu người Các hoạt động chính ở Sundarbans làkhai thác thuỷ sản, gỗ và mật ong (Bảng 5)
Bảng 5: Nước biển dâng và những ảnh hưởng tiềm tàng ở Bănglađét
(6.300 km 2 )
17,5 % diện tích đất (25,000
km 2 ).
Các khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất gồm Patuakhali, Khulna và Barisal
Bão
1991 trận bão, lốc diễn ra, với mức tăng 10% về cường độ, tốc độ gió tăng
từ 225 đến 248 km/h;
Bão làm nước dâng 7,4-9,1m và làm mực nước biển dâng cao 1 m.
Ngập lụt Ngập lụt tăng 20% Tăng ngập lụt ở sông
đồng bằng ngập lũ sông Meghna và sông Hằng.
Ngập trong mùa mưa làm
Tăng diện tích bị ngập mức độ
lũ lụt
Trang 23tăng thiệt hại mùa màng
Nông nghiệp
Nước biển dâng làm giảm 0,2% sản lượng do ngập.
Giảm 1% sản lượng
so với mức hiện nay.
Mực biển dâng cao 0,3m làm giảm 0,5% sản lượng
do ngập.
Giảm 2% so với mức hiện nay.
Lũ tàn phá làm thiệt hại trong nhiều năm
Xâm nhập mặn Tăng Tăng Tăng
Nguồn: WB, 2000.
Ngoài các nguyên nhân do băng tan và nước dãn nở do nhiệt, thì sự sụt lún vànâng lên của nền đất là các yếu tố quan trọng góp phần vào nước biển dâng ởBănglađét Một nghiên cứu do Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng (SAARC) thực hiệnnăm 2003 dựa trên 22 bộ dữ liệu năm về thuỷ triều tại 3 trạm đo ven biển cho thấytốc độ nước biển dâng trong 22 năm qua là khá cao Mức triều dâng ở Hiron Point,Char Changa và Cox’s Bazar tương ứng với các mức 4,0 mm/năm, 6,0 mm/năm và7,8 mm/năm trong khoảng thời gian từ 1977-1998 Tốc độ triều dâng ở dải ven biểnphía tây cao gấp đôi dải ven biển phía đông Sự khác biệt này có thể do sự sụt lún vànâng lên của nền đất, tuy nhiên xu thế sụt lún là chủ yếu Để đánh giá chính xác mứcnước biển dâng lên ở vùng ven biển Bănglađét, cần có những đo đạc về lượng phù sa
ở các vùng châu thổ và tốc độ nâng lên hay sụt lún của nền đất trong đó phải kể đếnhai hệ thống sông lớn là sông Hằng và sông Brahmaputra vận chuyển gần 1,6 tỷ tấnphù sa mỗi năm
Các tác động liên quan đến nước do biến đổi khí hậu và nước biển dâng lànhững vấn đề nghiêm trọng nhất ở Bănglađét, đặc biệt là liên quan đến ngập lụt venbiển và ven sông Những thay đổi về nền đáy sông do quá trình vận chuyển phù sa
và trầm tích, cũng như những thay đổi về đặc điểm hình thái do biến động mựcnước và lưu lượng dòng chảy theo mùa cũng có ý nghĩa quan trọng Nguy cơ xói lởtăng lên khi mực nước biển và nước sông dâng cao Nước biển dâng cuốn trôi lớpđất bề mặt ở dải ven biển, khiến cho khu vực trở nên dốc hơn Dải ven biển củaBănglađét được thành tạo bởi đất bùn và cát do vậy rất dễ tổn thương trước nướcbiển dâng Xói lở còn là nguyên nhân khiến con người phải di dời Hầu hết ngườinghèo ở Bănglađét không có đất Nhà có thể bị sập do xói lở và nhiều lần sập nhưvậy khiến họ càng nghèo khổ hơn Một nghiên cứu của Viện nghiên cứu Chính sáchTrái đất năm 2004 cho thấy sẽ có khoảng 40 triệu người Bănglađét trở thành tị nạnmôi trường do nước biển dâng 1m Xu thế di cư ra các vùng ven biển khá rõ ràng ởBănglađét Trong khi tốc độ tăng dân số của nước này là 1,2% (2000-2005) thì tốc
độ tăng dấn số ở các vùng ven biển thấp dưới 10m là 2,1%, ở khu vực đô thị là2,8% Dòng người tị nạn môi trường này ngoài một số di dời vào sâu trong nội địa,
Trang 24một số khác tìm đường sang các nước láng giềng như Ấn Độ và Pakistăng, gâynhững bất ổn về xã hội trong khu vực
Nước biển dâng sẽ làm tăng các hoạt động làm thay đổi đặc điểm hình thái họccủa sông, gia tăng lưu lượng dòng chảy và do vậy làm tăng khả năng xói lở bờ Xói lở
bờ ở các khu vực cồn đôi khi còn xóa sổ chúng trên bản đồ của Bănglađét Trong giaiđoạn 1972-1987, đã có khoảng 196 km2 cồn bị xói lở và tổng số 11 cồn biến mất tạilưu vực sông Meghna
Xói lở bờ sông là hiện tượng phổ biến dọc theo các Hệ thống sông Hằng, Jamuna
và Tista Trong giai đoạn 1973-1996, đã có khoảng 1,7 triệu ha vùng ngập lũ nhạy cảmvới quá trình xói lở bờ sông Trong khi có 73.552 ha đất bị xói lở chỉ có 10.628 ha đấtđược bồi tụ Mức độ xói lở trầm trọng còn phụ thuộc vào lưu lượng dòng chảy sông vàlưu lượng này thay đổi lớn theo mùa Bănglađét là quốc gia có tài nguyên nước dồidào, song thực tế là có tới hơn 92% lưu lượng dòng chảy hàng năm là từ bên ngoàilãnh thổ Vào mùa mưa tổng lưu lượng của sông Hằng và sông Brahmaputra có thểđạt đỉnh điểm 80.000 – 140.000 m3/s vào tháng 7-8 hoặc đầu tháng 9, trong khi lưulượng của sông Hằng vào tháng 2 và tháng 4 chỉ là gần 1.000 m3/s, sông Brahmaputrathấp hơn 4.000 m3/s trong khoảng tháng 3 và tháng 4 Ngập lụt là một hiện tượng phổbiến ở Bănglađét Ngập lụt ảnh hưởng tới 80% diện tích lãnh thổ mà nguyên nhân cóthể do lũ quét, mưa lớn, ngập lụt theo mùa và ngập lụt vùng ven biển do nước dângkèm theo bão Trong những năm bình thường, 20-25% lãnh thổ bị ngập lụt do nướcsông dâng hoặc tắc nghẽn dòng chảy Nghiên cứu năm 2003 của SAARC cho thấy xuthế ngày càng tăng của các cơn bão lớn trên Vịnh Bengal trong thời gian từ tháng 11năm trước đến tháng 5 năm sau
Hộp 1: Trận lụt lịch sử ở Bănglađet
Lũ lụt là chuyện bình thường về sinh thái ở Bănglađét Khi khí hậu biến đổi, lũ lụt bấtthường có thể sẽ là đặc điểm nổi bật trong tương lai Kinh nghiệm sau trận lụt năm 1998 -thường gọi là trận lụt thế kỷ - nêu bật nguy cơ lũ lụt gia tăng sẽ dẫn đến những thụt lùi lâudài về phát triển con người Trận lụt năm 1998 là một hiện tượng cực đoan Trong nămbình thường thì khoảng ¼ đất nước bị ngập lụt Khi lên tới đỉnh điểm, trận lụt 1998 ngậptrắng 2/3 đất nước Trên 1.000 người chết và 30 triệu người thành vô gia cư Khoảng 10%diện tích trồng lúa toàn quốc mất trắng Ngập lụt kéo dài không thể trồng cấy lại nên hàngchục triệu hộ phải đối mặt với khủng hoảng lương thực
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng gấp đôi sau lụt Mười lăm tháng sau lụt, 40% trẻ có tìnhtrạng dinh dưỡng kém vào thời gian ngập lụt vẫn chưa trở lại được mức dinh dưỡng cũ.Việc đối phó với trận lụt 1998 đôi khi được coi là bài học thành công về xử lý thiên tai.Tuy nhiên, lũ lụt có tác động xấu về lâu dài, rõ nhất là về tình trạng dinh dưỡng của trẻvốn đã suy dinh dưỡng Trẻ bị tác động có thể không bao giờ có khả năng phục hồi sauhậu quả Hộ nghèo phải chịu đựng trong thời gian trước mắt do cắt giảm tiêu dùng vàbệnh tật gia tăng, và do phải gánh chịu nợ nần chồng chất hơn
Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người 2007-2008, UNDP.
Trang 25Hai phần ba trong số 40 triệu lao động có sức khoẻ ở Bănglađét tham gia làmnông nghiệp và các hoạt động liên quan khác Tỷ lệ đất canh tác bị thu hẹp hàng năm
là 100.000 ha, do đô thị hoá và phát triển các khu định cư Với tốc độ mất đất này,kèm theo các nguy cơ nhiễm mặn và thoái hóa đất, nền nông nghiệp tự cung tự cấp củaBănglađét chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong tương lai Nhiễm mặn tăng
do nước biển dâng làm giảm sản lượng nông nghiệp do thiếu nguồn nước ngọt và thoáihóa đất Độ mặn làm giảm mức năng lượng và khả năng nảy mầm của một số loài thựcvật Trong số 2,85 triệu ha diện tích vùng ven biển thì có tới 1,2 triệu ha đất canh tác bịnhiễm mặn ở các mức độ khác nhau Ngập triều trong mùa mưa, ngập trực tiếp donước mặn và nước lợ, ranh mặn tiến sâu trong mùa khô và ngập nước lợ do nuôi tôm
là các nguyên nhân chính gây nhiễm mặn ở vùng ven biển Bănglađét
Người dân Bănglađét chủ yếu nuôi loài tôm hùm Ấn Độ (Peneaus monodon) Độ
mặn cần thiết cho sự phát triển tối ưu của loài tôm này là 5-25 ppt và chúng không thểnuôi trong môi trường nước ngọt Sự xâm nhập mặn tại các vùng duyên hải một mặtgiúp nông dân mở rộng diện tích nuôi tôm mang lại thu nhập, nhưng đồng thời cũnggây ra các ảnh hưởng môi trường tiềm tàng khác Các diện tích đất lớn được chuyểnđổi thành các cánh đồng nước mặn diễn ra hàng ngày Diện tích nuôi tôm tại 3 quậnSatkhira, Khulna và Bagerhat tính đến năm 2004 là 115.900 ha, tăng gấp 87 lần so vớinăm 1975 Đây cũng là chỉ số về sự xâm nhập mặn tăng lên ở các vùng ven biển ởBănglađét Trong 3 thập kỷ qua, nhiễm mặn đã làm suy thoái chất lượng đất và nôngdân không thể trồng được cây gì trên các vùng đất nhiễm mặn này Bằng chứng về sựgia tăng nhiễm mặn ở vùng ven biển Bănglađét thể hiện rất rõ Ví dụ, nhà máy điệncủa thành phố Khulna đã phải ngược lên thượng lưu để lấy nước ngọt làm mát nồi hơi,trong khi các nhân tố khác cũng góp phần làm tăng nhiễm mặn như khai thác nướcngầm quá mức ở Farakka mà nguyên nhân là do Ấn Độ nắn dòng chảy về Calcutta Một đánh giá năm 2005 về sản lượng nông nghiệp sụt giảm cho thấy sản lượnggạo tại làng thuộc quận Satkhira năm 2003 thấp hơn 1.151 tấn so với năm 1985, tươngứng với mức giảm 69% Trong đó, 77% mức giảm sản lượng này là do các cánh đồngtrồng lúa bị chuyển thành các ao nuôi tôm và 23% còn lại là do giảm năng suất Tốc
độ thoái hóa đất do nuôi tôm cũng góp phần khiến sản lượng nông nghiệp giảm Tốc
độ thoái hóa đất ngày càng tăng và diễn ra phổ biến tại các quận Khulna, Satkhira vàBagerhat Gạo là nguồn lương thực chủ lực của Bănglađét Ước tính nước này cókhoảng 10.000 giống lúa, gồm Aus, Aman, Boro và các giống của Viện Nghiên cứuLúa Quốc tế (IRRI) Nước biển dâng làm tăng tần suất ngập lụt và độ mặn, đe doạ đếnsản lượng của Aman và Boro Nước biển dâng cũng có thể làm tăng rủi ro về sứckhoẻ, các bệnh lây nhiễm qua đường nước như tiêu chảy, tả…Do nguồn nước ngọtkhan hiếm, người dân có khi phải sử dụng nguồn nước bị nhiễm bẩn
Ngoài ra, vùng ven biển còn là nơi tập trung 21 trung tâm dịch vụ nghề cá củanhà nước Các trung tâm này nằm rất gần bờ biển và cửa sông, có nguy cơ bị nhấnchìm cao khi nước biển dâng Đối với người dân Bănglađét, cá là nguồn prôtêin chính,chiếm 60-80% nguồn prôtêin động vật Suy giảm sản lượng cá có thể dẫn đến các vấn
đề về sức khoẻ và xã hội khác như suy dinh dưỡng và nghèo đói
Trang 26Năm 2003, có khoảng 60 khu nuôi tôm và 124 nhà máy chế biến tôm đặt tại cácvùng ven biển, tập trung ở Teknaf, Ukhia và Sadar thana Nước biển dâng cao có thểnhấn chìm các ao nuôi tôm Trận lụt năm 2000 ở Bănglađét đã gây thiệt hại ít nhất 500triệu USD do cây trồng, các trại nuôi cá, tài sản và cơ sở hạ tầng bị hư hại Ngành nuôitôm là ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất, với mức thiệt hại ước tính 250 triệu USD Bănglađét còn là một trong những nước sản xuất muối lớn trên thế giới Bờ biển ởCox’s Bazar rất phù hợp với việc sản xuất muối Khoảng 19.670 ha được sử dụng để sảnxuất muối dọc theo bờ biển Cox’s Bazar Tại đây có 216 hồ muối với diện tích 8.153 hachỉ riêng ở Chakaria và Sadar thana, sản xuất ra 175.030 tấn muối hàng năm Hơn nữa,các nhà máy chế biến muối đều đặt gần bờ biển Ngành công nghiệp này bị ảnh hưởngnghiêm trọng khi mực nước biển dâng Hai mươi triệu người trực tiếp hay gián tiếp liênquan đến sản xuất muối bị ảnh hưởng và có thể rơi vào tình trạng thất nghiệp
Nước biển dâng còn làm thay đổi vị trí của các cửa sông, gây ra sự thay đổi lớn đốivới các nơi cư trú và bãi đẻ của các loài sinh vật do tăng hàm lượng muối, phân mảnh vàthu hẹp nơi cư trú Bănglađét còn nổi tiếng với Sundarbans, một di sản thế giới đượcUNESCO công nhận Sundarbans chính là rừng ngập mặn lớn nhất trên thế giới, nằm ởphía Đông Nam của Bănglađét trải rộng cả 3 quận Khulna, Satkhira và Bagerhat Khurừng này còn là điểm nóng về đa dạng sinh học, trong đó có nhiều loài bị đe dọa tuyệtchủng trong Sách Đỏ của IUCN và là nơi cư trú cuối cùng còn sót lại cho loài hổ Bengal
(Panthera tigris) Theo đánh giá năm 2000 của WB, Sundarbans sẽ bị nhấn chìm 15%
khi nước biển dâng 10 cm, 40% khi nước biển dâng cao 25 cm và bị nhấn chìm hoàntoàn khi mực nước biển dâng 1m Mất Sundarbans có nghĩa mất di sản, mất đa dạngsinh học, nguồn lợi thuỷ sản, sinh kế và sau cùng là mất đi hệ sinh thái có năng suất cao.Bănglađét còn là nơi thu hút khách du lịch bởi có những bãi biển đẹp ở KuakataPatenga, Cox’s Bazar Ngành du lịch ở Kuakata bị ảnh hưởng nhiều hơn do nằm gần
bờ biển và ở khu vực dễ bị tổn thương hơn so với Cox’s Bazar và Chittagong Ngoài
ra, còn có rất nhiều cơ sở hạ tầng du lịch khác được xây dựng ở khu vực ven biển.Trước nguy cơ nước biển dâng, các tài sản này sẽ bị đe doạ và tiềm năng du lịch thiênnhiên cũng bị ảnh hưởng
Với một nước có địa hình thấp trũng như Bănglađét, thì các tác động của nước biểndâng là quá rõ ràng Các hoạt động sinh kế của người dân và các hệ sinh thái quan trọng
bị ảnh hưởng Nước biển dâng sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn tại củaBănglađét Chính vì vậy, Chính phủ Bănglađét cần phải có những nỗ lực lớn để giải quyếtvấn đề, thông qua một chiến lược tổng thể nhằm đối phó với biến đổi khí hậu và nướcbiển dâng, nhằm đảm bảo tính toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ sự an toàn cho cư dân củamình Chiến lược quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu của Bănglađét là một phản ứngcủa chính phủ trước phiên họp lần thứ 7 Hội nghị các bên tham gia Công ước khung củaLiên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu Chương trình thích ứng quốc gia (NAPA) đã đưa racác biện pháp thích ứng dưới dạng một loạt các hành động bổ sung cho các mục tiêu quốcgia và các hiệp ước quốc tế mà Bănglađét đã ký kết NAPA cũng có mối liên hệ chặt chẽ
Trang 27với các chính sách và các chương trình khác về môi trường như Kế hoạch Hành độngquốc gia về đa dạng sinh học, Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý môi trường… Tuy nhiên, việc thực hiện các hành động thích ứng với biến đổi khí hậu ởBănglađét gặp phải một số trở ngại Thứ nhất, thiếu nhận thức về mức độ và quy mô củavấn đề cũng như các hành động cần phải thực hiện - trở ngại lớn nhất trong số những trởngại Sự thiếu nhận thức này tồn tại ở cả các cấp, gồm các nhà ra chính sách cấp quốcgia cho đến cấp ngành và địa phương, các nhóm xã hội dân sự và cả các cộng đồng dễ bịtổn thương Thứ hai, thiếu sự lồng ghép các tác động của biến đổi khí hậu vào quá trìnhxây dựng và triển khai các chính sách, các chương trình ở các lĩnh vực nhạy cảm vớibiến đổi khí hậu Trở ngại cuối cùng trong thực hiện các hành động là thiếu các công cụphù hợp, tri thức và phương pháp luận để hướng dẫn cho người ra quyết định
Trong thời gian trước khi có NAPA, kể từ Kế hoạch 5 năm lần thứ 4 và cuốicùng là Kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1997-2020), vấn đề bảo tồn và bảo vệ môi trườnghướng tới phát triển bền vững nền kinh tế đã được Chính phủ Bằnglađét chú ý đến vàtiếp theo đó là Chiến lược Giảm nghèo đói (PRSP) Trong khoảng thời gian từ đó đếnnay, Chính phủ Bănglađét đã có những hành động nhằm hạn chế các tác động bất lợicủa biến đổi khí hậu Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ trong thời gian diễn rathảm họa đã phối hợp hành động, giảm thiệt hại về người và tài sản Các sáng kiến banđầu đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và ghi nhận Chính phủ Bănglađét đã choxây dựng gần 2.000 khu nhà tránh bão ở vùng duyên hải, khoảng 200 khu nhà tránh lũlụt trên nền đất cao cho những người bị đe doạ bởi bão và ngập lụt Khoảng 3.931 km
đê bao vùng ven biển đã được xây dựng qua các năm nhằm bảo vệ đất khỏi bị nhiễmmặn do thuỷ triều và nước dâng do bão và đào thêm 4.774 km hệ thống kênh thoátnước Chính phủ cũng đã thực hiện Dự án Vành đai Xanh ở các vùng ven biển với sựtham gia của cộng đồng địa phương Chương trình tái trồng rừng này nhằm giảm thiểunhững ảnh hưởng bất lợi của thiên nhiên, nhất là các ảnh hưởng do bão và nước dâng,đồng thời cải thiện sinh kế cho người dân địa phương
Gia tăng nhiễm mặn đã làm trầm trọng thêm vấn đề cung cấp nước sạch ở cácvùng duyên hải Công nghệ thu gom nước mưa được chính phủ và các nhóm phi chínhphủ tuyên truyền và phổ biến rộng rãi Nền nông nghiệp thích nghi với ngập lụt đượcthúc đẩy thông qua nghiên cứu các giống lúa chịu mặn ; lắp đặt hệ thống ống dùng chotưới tiêu gần mặt đất nhằm giảm tác động của độ mặn…
Các giải pháp thích ứng được đề xuất cho Bănglađét nhằm giảm thiểu các tácđộng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng dựa trên các cơ chế hiện nay, các thựctiễn và các chiến lược tương lai Các giải pháp này được chia thành 2 nhóm, gồmnhóm ‘can thiệp’ và nhóm ‘hỗ trợ’
Nhóm các giải pháp can thiệp bao gồm:
1 Thúc đẩy áp dụng nền canh tác vùng ven biển trong điều kiện độ mặn tăng
2 Thúc đẩy ngư nghiệp vùng ven biển thông qua ương, nuôi, đa dạng hóa các thựctiễn nuôi các loài cá có khả năng chịu mặn ở các vùng ven biển của Bănglađét
3 Xây dựng các khu nhà tránh lũ, thành lập trung tâm thông tin và hỗ trợ cho tìnhhình ngập lụt ngày càng tăng
Trang 284 Giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu thông qua tái trồng rừng với sựtham gia của cộng đồng địa phương.
5 Cung cấp nước sạch cho các cộng đồng vùng ven biển nhằm giải quyết tình trạngnhiễm mặn gia tăng do nước biển dâng
6 Tăng tính ‘đàn hồi’ của cơ sở hạ tầng độ thị và các ngành công nghiệp trước cáctác động của biến đổi khí hậu, như ngập lụt và bão
Nhóm các giải pháp hỗ trợ bao gồm:
1 Xây dựng năng lực về lồng ghép biến đổi khí hậu vào quá trình quy hoạch, thiết
kế xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý xung đột
2 Tìm kiếm các giải pháp về bảo hiểm trước các thảm hoạ về biến đổi khí hậu
3 Lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu vào các chính sách và các chương trìnhtrong các ngành/lĩnh vực khác nhau
4 Đưa vấn đề biến đổi khí hậu vào chương trình giảng dạy ở cấp trung học trở lên
5 Phổ biến thông tin về biến đổi khí hậu và các giải pháp thích ứng cho các cộngđồng dễ bị tổn thương, các giải pháp ứng phó khẩn cấp và nâng cao nhận thức vềcác thảm hoạ liên quan đến khí hậu
6 Thúc đẩy nghiên cứu các giống cây trồng có khả năng chống mặn, ngập lụt nhằm
hỗ trợ cho việc thích ứng trong tương lai
7 Tìm kiếm và phổ biến các tri thức/kinh nghiệm về thích ứng (bao gồm cả các trithức bản địa) với khả năng biến đổi của khí hậu
(Giám đốc Dự án Quốc gia,
Điều phối viên dự án quốc
Hội thảo khởi động
Thảo luận về Phương pháp luận đánh giá tính tổn thương và khả năng thích ứng theo ngành
Tổng hợp các tác động
Chiến lược, tính tổn thương, các thách thức và
xu thế phát triển, cơ sở khung triển khai
Nhóm chuyên gia đa ngành và
Nhóm công tác theo ngành
Tư vấn cho các bên có vai trò ở cấp vùng
Xác định các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu, các chiến lược và giải pháp thích ứng trong tương lai
Báo cáo đánh giá theo ngành
để ưu tiên các giải pháp thích ứng
Tư vấn cho các bên tham gia có vai trò ở cấp
quốc gia
Ưu tiên và sắp xếp các dự án/biện pháp thích ứng
NAPA hoàn chỉnh
Khung chính sách thích ứng Phương pháp và cơ sở khung được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây
Các nghiên cứu trước đây Báo cáo về các chiến lược cho các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt.
Kế hoạch quản lý tài nguyên nước quốc gia.
Chiến lược về giảm đói nghèo.
Kế hoạch Phát triển Quốc gia Các kế hoạch Phát triển của ngành.
Trang 292.2 TRUNG QUỐC
Đã có những bằng chứng cho thấy nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng cao
đã gây ra những tác động đối với các vùng ven biển Trung Quốc, gồm gia tăng xói lở,suy thoái các hệ sinh thái, tăng nhiễm mặn, tần suất và cường độ bão Những tác độngnày khác nhau ở từng khu vực, tuỳ thuộc vào các điều kiện vật lý, sinh thái, kinh tế xãhội của từng địa phương Các hoạt động của con người ở vùng ven biển cũng góp phầnlàm gia tăng những ảnh hưởng này
Dọc bờ biển Trung Quốc có 14 đơn vị hành chính, trong đó có 8 tỉnh, 2 thànhphố lớn (Thượng Hải và Thiên Tân), hai khu hành chính đặc biệt (Hồng Kông và MaCao) với tổng diện tích khoảng 1,6x106km2, chiếm 16,8% tổng diện tích lãnh thổTrung Quốc, nhưng tập trung tới 41,9% dân số và đóng góp 72,5% GDP Dải ven biểnphía Đông này chính là khu vực tập trung dân cư và kinh tế phát triển năng động nhất.Tuy nhiên, các vùng châu thổ thấp và đồng bằng ven biển này lại được đánh giá là khuvực dễ bị tổn thương nhất do nóng lên toàn cầu và nước biển dâng Dự báo trongtương lai nóng lên toàn cầu và nước biển dâng sẽ tiếp diễn và gia tăng, kèm theonhững thảm họa do bão và mưa lớn Trong thời gian gần đây, phát triển kinh tế nhanhchóng diễn ra đồng thời với việc thu hút số đông dân cư đổ về các vùng duyên hải và
đô thị hóa đã gây ra sức ép ngày càng lớn đến tài nguyên vùng ven biển ở Trung Quốc.Các hoạt động của con người tăng lên làm cho những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
và mực nước dâng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn (Bảng 6)
Bảng 6 Số liệu thống kê 14 đơn vị hành chính ven biển ở Trung Quốc
Nguồn : Uỷ ban Thống kê Nhà nước, Trung Quốc 2000.
Trang 30Trong những năm gần đây, kinh tế Trung Quốc bùng nổ là nhờ có các chính sáchkhuyến khích sự phát triển của các vùng duyên hải Những chính sách đó đã thúc đẩy
xu thế và luồng di dân ra các vùng ven biển lớn nhất trong lịch sử Nước biển dâng caolàm tăng rủi ro ngập lụt ở các vùng dễ bị tổn thương nhất, là nguyên nhân gây tổn thất
về kinh tế và đẩy con người vào tình trạng nguy hiểm Ngập lụt vùng duyên hải donước dâng kèm theo bão đã ảnh hưởng đến hàng chục triệu người và thiệt hại hàngchục triệu USD Trung Quốc cũng là nước nằm trong danh sách 10 nước có phần đôngdân số sống ở các vùng ven biển có độ cao chưa đến 10m so với mực nước biển Tronggiai đoạn từ 2000-2005, tốc độ tăng dân số của Trung Quốc là gần 1%, trong khi tốc
độ tăng số ở các vùng ven biển có độ cao chưa đến 10m so với mực nước biển là gần1,9%, ở khu vực đô thị là 3,4% Nước biển dâng sẽ có những ảnh hưởng lớn đến sinh
kế và sự tồn tại của những cộng đồng tại các vùng ven biển thấp này
Trong 50 năm qua, tốc độ nước biển dâng ở Trung Quốc là 2,5mm/năm Mựcnước biển dâng cao ở các địa phương có sự khác biệt lớn, trong đó có ảnh hưởng củacác hoạt động kiến tạo địa chất và hoạt động do con người, tùy địa phương nhưngcùng góp phần làm mực nước biển dâng cao tương đối Mực nước biển dâng caotương đối ở khu vực có ý nghĩa quan trọng hơn so với mực nước biển dâng cao toàncầu Tốc độ nâng kiến tạo ở Qinhoangdao và bán đảo Sơn Đông cao hơn so với tốc độnước biển dâng nên mực nước biển khu vực này hạ thấp chút ít Các vùng đồng bằngven biển và châu thổ của các con sông lớn nằm trên đới địa chất có tốc độ sụt lún 1-3mm/năm Tốc độ sụt lún của nền đất còn bị ảnh hưởng bởi tải trọng lớn của các côngtrình xây dựng cao tầng dày đặc và hoạt động bơm hút nước ngầm quá mức ở các khuvực này Do vậy, mực nước biển dâng tương đối tại đây có thể cao hơn nhiều so vớimực nước biển dâng cao do nóng lên toàn cầu gây ra Kết quả khảo sát của Bộ Tàinguyên và Đất đai Trung Quốc năm 2003 cho thấy từ tháng 9/2002 đến tháng 9/2003,Thượng Hải lún thêm 13mm mà nguyên nhân chính là do bơm hút nước ngầm và xâydựng các tòa nhà cao chọc trời Năm 2004, Thượng Hải lún thêm 8mm, gây báo độngcho chính quyền địa phương Mức độ bơm hút nước ngầm ở thành phố này được giớihạn là khoảng 50 triệu m3/năm, song thực tế mức độ khai thác lớn hơn hai lần Bộ Tàinguyên và Đất đai Trung Quốc dự định kiểm soát tốc độc lún sụt ở Thượng Hải chỉ ởmức 5mm/năm vào năm 2020
Bảng 7 Ước tính tốc độ nước biển dâng và triều dâng
Năm Tốc độ nước biển dâng (cm) Tốc độ thuỷ triều dâng (cm)
Trang 31Cao 44 81
Nguồn: Shouye Yang, Congxian Li, Daidu Fan, Tongji University, Shanghai,
“Impacts of climate changes on Chinese coastal zones and the adaptation strategy”,
2004.
Thực tế, mực nước biển dâng có thể thay đổi theo hướng tăng hoặc giảm và có sựkhác nhau giữa các địa phương Dự báo tốc độ nước biển dâng vào năm 2050 tại 3 châuthổ lớn ở Trung Quốc có thể rất khác biệt, như 70-90 cm ở vùng châu thổ sông Hoàng
Hà, 50-70 cm ở lưu vực sông Dương Tử và 40-60 cm ở châu thổ sông Châu Giang.Một trong những ảnh hưởng đầu tiên của mực nước biển dâng là gia tăng xói lở
bờ biển Các bờ biển dạng bùn gần các châu thổ sông chiếm khoảng 1/4 đường bờ biểncủa đại lục Các châu thổ này có thể tiến ra biển với tốc độ nhanh, do phù sa sông cungcấp rất phong phú Gần đây, tốc độ bồi tụ của các vùng ngập triều giảm do giảm lượngphù sa từ các sông Trường Giang và Châu Giang, tuy nhiên xu thế bồi tụ vẫn tiếp diễn.Xói lở bờ biển diễn ra mạnh nhất khi lượng phù sa giảm dưới mức tới hạn hoặc hoàntoàn không được cung cấp, mà điển hình là châu thổ sông Hoàng Hà ở phía Bắc tỉnhGiang Tô Bờ biển khu vực này đã lùi vào sâu 20km và 14.000km2 đồng bằng châuthổ sông đã bị nhấn chìm kể từ năm 1855 khi sông Hoàng Hà được chuyển hướng vềVịnh Bột Hải ở phía Đông Bắc tỉnh Sơn Đông Gần 70% đường bờ biển dạng bùn củaTrung Quốc đang bị nước biển xâm thực do nước biển dâng, giảm phù sa sông, khaithác cát và các công trình xây dựng không hợp lý ở vùng ven hải Một nghiên cứu khuvực phía Nam bán đảo Sơn Đông dựa trên những quan trắc thực địa dọc theo 33 kmđường bờ biển dạng bùn trong 20 năm qua cho thấy các hoạt động khai thác cát, giảmphù sa và nước biển dâng góp phần gây xói lở bờ biển, tương ứng với 50%, 40% và10% Như vậy có thể thấy rõ, xói lở vùng ven biển Trung Quốc là hậu quả của sự kếthợp giữa các quá trình tự nhiên và các hoạt động con người
Gia tăng xâm nhập mặn tại các vùng cửa sông và tầng ngậm nước là một hậu quảkhác của nước biển dâng, làm trầm trọng hơn tình trạng thiếu nước ngọt và gia tăngđất nhiễm mặn tại các vùng đồng bằng ven biển Nước biển xâm nhập tại các vùng cửasông hình phễu chịu tác động mạnh của quá trình động lực của sông và nước biểndâng, nhất là khi lưu lượng dòng chảy giảm sẽ gây ra những tác động nghiêm trọngđến quá trình xâm nhập mặn Với Trung Quốc, các châu thổ lớn như Trường Giang(Dương Tử) và Châu Giang có thể bị ảnh hưởng bởi sự nhiễm mặn khi nước biển dângcao kết hợp suy giảm lưu lượng nước ở thượng nguồn vào mùa khô
Sông Trường Giang có 3 nhánh và đổ ra biển theo 4 cửa Nước mặn xâm nhậpvào nội địa theo các cửa này với mức độ khác nhau Xâm nhập mặn trong mùa đông ởnhánh phía Bắc diễn ra theo cấp số do cửa sông dạng hình phễu và lưu lượng thấp nên
Trang 32nước mặn còn có thể xâm nhập sang cả nhánh phía Nam Dữ liệu quan sát và môphỏng dạng số cho thấy xâm nhập mặn ở cửa sông Trường Giang chủ yếu bị chi phốibởi lưu lượng dòng chảy sông và ảnh hưởng của thuỷ triều Các nhân tố chi phối khác
là gió, dòng chảy thềm lục địa và khả năng hòa trộn Dòng chảy thềm lục địa ngoàikhơi cửa sông Trường Giang chủ yếu là các dòng biển ấm Đài Loan và dòng SubeiCoast mang nước biển đến vùng cửa sông và có nguy cơ xâm nhập qua cửa sôngTrường Giang Tình hình xâm nhập mặn ở cửa sông Trường Giang còn bị tác động củađập Tam Hiệp và dự án bơm nước từ sông Trường Giang lên miền Bắc Trung Quốc Đập Tam Hiệp làm tăng lưu lượng xả của sông Trường Giang thêm 1.500 m3/strong tháng 1 và tháng 2 vào năm khô hạn và dự án bơm nước từ sông Trường Gianglên miền Bắc Trung Quốc làm giảm 800 m3/s ở nhánh phía đông trong giai đoạn 1 Sosánh với các kết quả trước khi có dự án, Đập Tam Hiệp góp phần làm giảm sự xâmnhập mặn từ sông Trường Giang và dự án bơm nước lên miền Bắc Trung Quốc lại làmtăng nguy cơ nhiễm mặn do thay đổi lưu lượng dòng chảy sông Tại trạm đo Datong,tỉnh An Huy, sự xâm nhập mặn ở cửa sông Dương Tử có hệ số là 0,884, nghĩa là khilượng nước ngọt giảm xuống dưới mức 7.000m3/giây, nước mặn sẽ tiến sâu vào đấtliền hơn 100km Đảo Chongming hoàn toàn được bao quanh bởi nước mặn trong thờigian 5 tháng khi lượng nước ngọt giảm xuống ngưỡng 7.300-8.000m3/giây
Các nhà khoa học Trung Quốc dự báo: tại cửa sông Trường Giang, nếu mựcnước biển dâng 0,44m vào năm 2050, ranh mặn 1-5%o sẽ xâm nhập vào sâu hơn 3kmtrong mùa lũ, nước dâng 0,96m vào 2100 ranh mặn 1-5%o sẽ xâm nhập vào sâu hơn 6-8km Vào mùa khô, nếu nước biển dâng 0,8m ranh mặn này sẽ tiến sâu vào đất liềnhàng chục km
Ngoài lưu vực sông Trường Giang, lưu vực sông Châu Giang cũng có thể bị ảnhhưởng Lưu vực Châu Giang có tổng diện tích tiêu thoát nước khoảng 453.690km2,trong đó diện tích châu thổ là 9.750km2, với hệ thống sông ngòi chằng chịt và là mộttrong những hệ thống tiêu thoát nước phức tạp nhất trên thế giới Khu vực này chịuảnh hưởng của chế độ khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, với lượng mưa trung bình nămlên tới 1.470mm chủ yếu diễn ra trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 9 Vùng châu thổsông là đồng bằng có độ cao thấp so với mực nước biển Tại đây, nước mặn thườngxâm nhập vào theo các cửa phía Đông, còn ở các cửa phía Tây, dòng chảy sông chiếm
ưu thế Sông Châu Giang đổ ra biển theo 8 nhánh và nước mặn xâm nhập vào đất liềnqua các nhánh sông này ở mức độ khác nhau do lưu lượng nước ngọt cung cấp và chế
độ triều khác nhau Tuỳ theo các đặc điểm này mà vào mùa khô nước mặn có thể xâmnhập vào đất liền sâu hơn 20-60 km so với vào mùa mưa
Kể từ mùa thu năm 2004, tình trạng hạn hán ở lưu vực sông Châu Giang trở nênnghiêm trọng hơn Mực nước sông ngòi phổ biển ở mức thấp Xâm nhập mặn diễn ramạnh mẽ đe doạ an ninh nguồn nước cấp cho các thành phố Ma Cao, Zhuhai, TrungSơn và Quảng Châu Trước tình hình đó, tháng 1/2005, Bộ Tài nguyên Nước, Vănphòng Nhà nước về Kiểm soát Ngập lụt và Giảm nhẹ Hạn hán Trung Quốc đã phải