Đến khi được nâng cấp thành “ Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng “, thì không chỉ kinh doanh những ngành nghề đơn thuần với công nghệ thủ công là chính nữa mà nó đã được nâng cấp lên
Trang 2CHƯƠNG I : QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI - XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG
ký ngày 30/08/1999, khu đất trên đã trải qua quá trình phát triển và sử dụng như sau:
- Ngày 31/01/1993 Bộ trưởng Bộ GTVT ra quyết định số 130/QĐ/KHĐT, Cảng Hà Nội giao toàn bộ khu đất bao gồm nhà xưởng, nhà văn phòng, nhà kho, bãi cho Tổng công ty XNK, sản xuất cung ứng vật tư GTVT
- Ngày 09/05/1996 Bộ trưởng Bộ GTVT ra Quyết định số 989/QĐ/TCCB/LĐ cho phép thành lập “ Xí nghiệp gốm sứ mỹ nghệ xuất khẩu và trang trí nội thất”
- Ngày 28/10/1999 Bộ trưởng Bộ GTVT ra Quyết định số967/QĐ/BGTVT cho phép thành lập DNNN “ Công ty Mỹ nghệ và Trang trí nội thất” trên cơ sở chuyển đổi tổ chức “ Xí nghiệp gốm sứ mỹ nghệ xuất khẩu và trang trí nội thất”
Trang 3- Ngày 16/12/1999 ông Tổng Giám đốc Tổng công ty Thương mại và Xây dựng (trước kia là Tổng công ty XNK, sản xuất, cung ứng vật tư GTVT)
ra Quyết định số 54/QĐ/TCLĐ giao cho công ty Mỹ nghệ xuất khẩu và Trang trí nội thất toàn bộ mặt bằng 8327 mét vuông bao gồm nhà làm việc, kho xưởng và các công trình trên khu đất làm trụ sở và sản xuất, kinh doanh
- Ngày 13/09/2001 Bộ trưởng Bộ GTVT ra Quyết định số 3017/QĐ/BGTVT về việc đổi tên doanh nghiệp nhà nước “ Công ty Mỹ nghệ
và Trang trí nội thất” thành “ Công ty Thương Mại - Xây Dựng Bạch Đằng” Công ty Thương Mại - Xây Dựng Bạch Đằng với chức năng hoạt động rộng rãi đa ngành nghề : Sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, gốm sứ,
đồ chơi, quà lưu niệm, máy móc thiết bị, nông lâm thuỷ sản, hàng tiêu dùng, phương tiện vận tải, kinh doanh kho bãi xây dựng công trình giao thông vận tải công nghiệp và dân dụng
Hiện nay, công ty đang dùng 4000 mét vuông mặt bằng làm nhà kho, xưởng sản xuất và nhà văn phòng, số còn lại làm sân, cây xanh và đường đi
Chính nhờ sự cố gắng không ngừng vươn lên đó, từ khi chỉ là một phân xưởng nhỏ bé được nâng cấp lên thành “ Xí nghiệp gốm sứ mỹ nghệ xuất khẩu và trang trí nội thất” Từ chỗ chỉ với mục đích giải quyết công ăn việc
Trang 4làm cho người lao động dư thừa của tổng công ty bằng những công việc thủ công thuần tuý, đã có sự cải tiến khi chuyển sang công nghệ sản xuất mới Đó
là sự cải tiến về mặt công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành nguyên nhiên vật liệu, chuyển đổi từ những chất liệu gốm sứ làm bằng đất sét sang chất liệu nhựa tổng hợp với bột đá tự nhiên, và nguyên liệu thạch cao các sản phẩm của công ty cũng ngày một phong phú hơn (các loại ca, cốc, búp
bê, đồ chơi ) Bên cạnh đó công ty còn mở rộng quy mô sản xuất thêm nhiều xưởng sản xuất mới như xưởng sản xuất đồ mộc, xưởng sản xuất đồ nhựa Nhưng khi đó sản phẩm của công ty chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường trong nước và chưa tìm được đầu ra cho thị trường thế giới Vì vậy, sản xuất vẫn mang tính manh mún, thủ công, thị trường không ổn định, hoạt động kinh doanh phát triển không đồng đều
Sau hơn 3 năm không ngại gian khó (từ năm 1996 đến 1999), xí nghiệp luôn tìm cách vươn lên bắt nhịp cùng nhịp sống của cơ chế thị trường Xí nghiệp luôn tìm cách xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp với trình
độ sản xuất của mình, củng cố thị trường trong nước và luôn tìm kiếm, khai thác, thâm nhập thị trường mới Bên cạnh việc không ngừng cải tiến mẫu mã, sáng tạo ra những phương thức làm việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, xí nghiệp luôn tìm hiểu, nghiên cứu thị hiếu của người tiêu dùng, để có thể thoả mãn nhu cầu của khách hàng cũng như có thể thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của mình Đến khi được nâng cấp thành “ Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng “, thì không chỉ kinh doanh những ngành nghề đơn thuần với công nghệ thủ công là chính nữa mà nó đã được nâng cấp lên ở mức cao hơn với chức năng hoạt động rộng rãi đa ngành nghề : Sản xuất các sản phẩm thủ công
mỹ nghệ, gốm sứ, đồ chơi, quà lưu niệm, đồ gỗ, sơn mài, các sản phẩm trang trí nội thất, gia công hàng xuất khẩu và kinh doanh các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, nguyên vật liệu sản xuất, máy móc thiết bị, nông lâm thuỷ sản, hàng tiêu dùng, phương tiện vận tải, kinh doanh kho bãi, sản xuất kinh doanh hàng may mặc, đồ da, hàng kim khí hoá chất, điện máy và lắp giáp điện tử XNK uỷ thác,
Trang 5kinh doanh dịch vụ vận tải, du lịch lữ đoàn, xây dựng công trình giao thông thủy lợi công nghiệp và dân dụng
Trên đà phát triển không ngừng của công ty Trong thời gian ngắn, nhờ
sự cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng mẫu mã, phong phú chủng loại, các mặt hàng của công ty ngày càng xuất hiện ở nhiều nơi, có mặt trên khắp các thị trường cả trong và ngoài nước, thu hút được sự chú ý, quan tâm của nhiều người tiêu dùng, giá trị thương hiệu của công ty cũng dần được nâng lên
Hiện nay, công ty đã thu hút được 250 lao động thường xuyên với mức lương bình quân là 750.000đ/người/tháng và đang trên đà tăng trưởng mạnh, đời sống của cán bộ công nhân viên đang được nâng cao Trong thời gian tới, công ty sẽ tiếp tục chọn, đào tạo thêm 100 lao động, công nhân kỹ thuật để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu Trong những năm qua Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng đã thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước, nộp tiền thuê đất đầy đủ và nộp tiền vào ngân sách nhà nước nhiều tỷ đồng
Từ đó ta có thể thấy quá trình hình thành và phát triển của công ty khá thần tốc Đó là nhờ vào sự nỗ lực của nội bộ công ty cùng với những chính sách ưu đãi của Bộ GTVT dành cho công ty Từ một phân xưởng nhỏ trước năm 1996, giờ đây công ty đã trưởng thành và tự thân vận động không ngừng lớn mạnh trên thị trường trong và ngoài nước, đặc biệt là thị trường quốc tế
Từ chỗ thị trường tròng nước chiếm ưu thế, hiện nay thị trường quốc tế là một thị trường trọng điểm của công ty mà công ty chưa khai thác được hết tiềm năng nhưng không hề bỏ qua thị trường trong nước với hơn 70 triệu dân, thu lợi cho nhà nước nhiều tỷ đồng Giờ đây, Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng (trực thuộc Bộ GTVT), có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng theo quy định của nhà nước, thực hiện chế độ hạch toán độc lập, công ty
có tài khoản tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam Về mặt hàng kinh doanh xuất nhập khẩu nằm trong danh mục hàng hoá đã được Bộ Thương Mại phê
Trang 6duyệt và nằm trong danh mục hàng hoá xuất khẩu với số lượng và giá trị hàng hoá tương đối lớn
2.Chức năng và nhiệm vụ chung của công ty
2.1 Chức năng
Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng là một DNNN thuộc “Tổng công ty xây dựng- Thương mại “ thuộc Bộ GTVT có các chức năng chính sau: + Sản xuất kinh doanh hàng may mặc, đồ da, hàng kim khí hoá chất, điện máy và lắp ráp điện tử Nhận xuất nhập khẩu uỷ thác cho các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước
+ Tổ chức xuất nhập khẩu và kinh doanh phương tiện vận tải, kinh doanh kho bãi theo giấy phép kinh doanh của công ty phù hợp với quy chế hiện hành của Nhà nước Tổ chức tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu trong nước
2.2 Nhiệm vụ
Với những chức năng trên, công ty có những nhiệm vụ chủ yếu sau: + Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh của công ty theo quy chế hiện hành phù hợp
+ Tuân thủ các chính sách, chế độ quản lý xuất nhập khẩu Thực hiện các chính sách về thuế nộp ngân sách nhà nước
+ Kinh doanh đúng mặt hàng, theo đúng ngành nghề đã đăng ký và mục đích chung của công ty
+ Bảo toàn và sử dụng tài sản được giao theo đúng chế độ của nhà nước quy định, đạt hiệu quả kinh tế xã hội và tăng cường điều kiện vật chất cho cán
bộ CNV của công ty
+Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động và các biện pháp khuyến khích vật chất, tinh thần đúng chế độ chính sách của nhà nước, đảm bảo mức lương tối thiểu và cải thiện đời sống người lao động
+ Đào tạo bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ nghiệp vụ chuyên môn
Trang 7+ Nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, nâng trình độ tổ chức quản lý, phát huy năng lực kinh doanh, tăng năng suất lao động, thực hiện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với hiệu quả cao
+ Tổ chức và nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước nắm vững nhu cầu thị hiếu tiêu dùng để hoạch định chiến lược Marketing đúng đắn, đảm bảo cho kinh doanh của đơn vị được chủ động ít rủi ro và mang lại hiệu quả tốt
II.CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY
Phòng
KD-XNK
Phòng KHSX
Phòng
dự án
Phòng TCKT
Phòng bảo vệ
Trang 8- Điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả, thực hiện theo đúng qui định của nhà nước ban hành
1 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban bộ phận trực thuộc công ty
1.2.Phòng KD-XNK
* Chức năng
- Tổ chức tốt khâu KD-XNK , phương tiện vận tải kho bãi theo giấy phép kinh doanh của công ty phù hợp quy chế hiện hành của nhà nước
- Tổ chức tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu trong nước
- Tổ chức tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế và trong nước
- Quản lý phòng mẫu, trực tiếp chỉ đạo tổ mẫu thực hiện và triển khai mẫu mã, đáp ứng kịp thời với khách hàng
* Nhiệm vụ
- Triển khai công tác xúc tiến thương mại, quảng cáo thương hiệu của công ty trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Trực tiếp làm các thủ tục xuất, nhập khẩu của công ty, xuất nhập khẩu
uỷ thác Trực tiếp ký kết, khai thác hàng gia công xuất khẩu, gia công sản xuất
và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Giám đốc công ty về hiệu quả công việc
- Đàm phán và dự thảo hợp đồng thương mại trong nước, quốc tế, trình Giám đốc duyệt
- Xây dựng bảng giá bán hàng trong nước, xây dựng Catologue cho hàng hoá, xây dựng chương trình quảng ba thương hiệu của công ty
- Lập kế hoạch sản xuất hàng hoá nội địa, lập các đơn hàng hợp đồng xuất khẩu
- Giao kế hoạch sản xuất và hợp đồng xuất khẩu cho phòng KHSX thực hiện, giám sát, kiểm tra phòng KHSX thực hiện từng hợp đồng, đơn hàng (đảm bảo đúng chất lượng, chủng loại, số lượng, thời gian)
Trang 9- Trực tiếp giao nhận hàng hoá với khách hàng (được biểu hiện bằng các bảng kê chi tiết hàng hoá có ký nhận của khách hàng)
- Theo dõi, quản lý các điểm bán hàng, các khách hàng và trực tiếp thu hồi công nợ
- Được phép khai thác kinh doanh hàng hoá xuất khẩu và hàng hoá bán trong nước (nhưng phải lập phương án trình Giám đốc duyệt trước khi thực hiện )
- Nắm bắt thông tin kinh tế, các văn bản chính sách của nhà nước về công tác xuất nhập khẩu
1.3.Phòng tổ chức hành chính
* Chức năng
- Tổ chức tốt bộ máy quản lý điều hành công ty có hiệu quả
- Công tác tổ chức lao động, chế độ tiền lương, Bảo hiểm xã hội và thường trực hội đồng thi đua
- Công tác quản trị hành chính, văn thư, phục vụ
* Nhiệm vụ
* Về công tác tổ chức lao động, chế độ, tiền lương:
- Quản lý hồ sơ của CBCNV từ cấp trưởng phòng trở xuống, quản lý và theo dõi diễn biến nhân sự của toàn công ty
- Xét tuyển lao động, tiếp nhận lao động, làm thủ tục ký hợp đồng lao động ngắn hạn, dài hạn, thử việc, lao động thời vụ, đề nghị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động đối với cán bộ CNV không thực hiện đúng theo hợp đồng lao động, khi công ty không có nhu cầu sử dụng hoặc đối tượng lao động vi phạm các quy chế, quy định của công ty
- Thực hiện giải quyết các chế độ có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động, các chính sách về lao động, tiền lương, tiền thưởng theo quy định của công ty và các văn bản quy định khác của nhà nước
- Báo cáo định kỳ 6 tháng/lần về lao động, tiền lương và các hình thức bảo hiểm với các cơ quan quản lý khác
Trang 10- Kết hợp với các phòng và Hội đồng thi đua kiểm tra, giám sát, đôn đốc CBCNV thực hiện tốt quy chế, quy định về giờ giấc làm việc và công tác thực hành tiết kiệm
* Về công tác quản trị hành chính, văn thư, phục vụ:
- Quản lý toàn bộ tài sản cố định, tài sản văn phòng công ty (trang thiết bị văn phòng, xe cộ, điện nước )
- Sắp xếp bố trí xe cộ, phương tiện phục vụ cán bộ công ty đi công tác
- Tổ chức cuộc họp, hội thảo, Đại hội của công ty
- Phục vụ lễ tân, tiếp khách, phục vụ lãnh đạo
- Quản lý dấu theo quy định của bộ Công an và quy định sử dụng của Giám đốc, quản lý lưu trữ hồ sơ, tài liệu các văn bản pháp quy của nhà nước, các quyết định, công văn đến, đi có liên quan đến mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, tổ chức của công ty
- Quan hệ đối ngoại với các cơ quan quản lý hành chính, chính quyền địa phương, các đơn vị trong địa bàn và với cơ quan quản lý cấp trên
- Kết hợp với công đoàn, đoàn thanh niên chăm la tới đời sống, văn hoá
xã hội, thăm nom ốm đau, hiếu hỉ của cá nhân, gia đình CBCNV công ty
- Bí mật mọi công tác tổ chức lao động, tổ chức cán bộ, không phát tán
số liệu, tài liệu khi chưa có ý kiến của lãnh đạo
1.4.Phòng tài chính kế toán
* Chức năng
- Quản lý toàn bộ tài sản ( vô hình và hữu hình của công ty ): hàng hoá, tiền tệ, vốn, các khoản thu, chi, tiền lương cán bộ công nhân viên trong công
ty Quản lý mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và tài chính của công ty
- Định hướng xây dựng kế hoạch về công tác tài chính ngắn hạn, dài hạn, tìm các biện pháp tạo nguồn vốn và thu hút nguồn vốn
- Quản lý chặt chẽ các nguồn vốn đầu tư của công ty Cân đối và sử dụng các nguồn vốn hợp lý, có hiệu quả
* Nhiệm vụ
Trang 11- Báo cáo định kỳ quyết toán tài chính, báo cáo nhanh mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để Giám đốc kịp thời điều chỉnh
- Tham gia thẩm định các dự án đầu tư dài hạn, đầu tư bổ xung mở rộng sản xuất kinh doanh
- Kiểm tra chứng từ thanh quyết toán của công ty ( kể cả của các đơn vị thành viên) đảm bảo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước trước khi trình Giám đốc duyệt
- Hướng dẫn chỉ đạo các đơn vị thành viên đang được hạch toán kinh tế nội bộ trong công ty thực hiện đúng quy định về tài chính kế toán của nhà nước, của công ty
- Được phép đề nghị duyệt các phương án kinh doanh, đề nghị cấp vốn, cho vay vốn đối với các phương án của từng đơn vị lên công ty đúng thời hạn
- Chủ động quan hệ với các cơ quan quản lý cấp trên, các cơ quan nghiệp
vụ (tài chính, thuế, ngân hàng)
- Trình duyệt lương hàng tháng của CBCNV đảm bảo chính xác và đúng
kỳ hạn
1.5.Phòng dự án
* Chức năng
- Lập hồ sơ dự thầu, lập dự toán, bóc tách dự toán và thẩm định dự toán
- Lập dự án đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh ngắn hạn, dài hạn, quản lý các dự án đầu tư đã và đang thực hiện đảm bảo có hiệu quả nhất
Trang 12- Lập các dự án, phương án kinh doanh, liên kết, hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực đầu tư, sản xuất kinh doanh
- Đệ trình Giám đốc duyệt các dự án đầu tư hoặc bổ xung nhiệm vụ cho các đơn vị thành viên
1.6.Phòng kế hoạch sản xuất
* Chức năng
- Quản lý theo dõi việc mua bán vật tư theo đúng thời điểm, chủng loại,
số lượng, giá thành hợp lý và làm thủ tục nhập, xuất kho theo trình tự quy định của công ty
- Quản lý công tác kỹ thuật, công tác sáng kiến cải tiến trong sản xuất, điều chỉnh, sửa đổi quy trình công nghệ
Trang 13- Được phép đề nghị Giám đốc bổ nhiệm, miễn nhiệm Quản đốc, phó Quản đốc của các phân xưởng sản xuất
- Được phép thay đổi các tổ trưởng tổ sản xuất theo đề nghị của Quản đốc phân xưởng
- Được phép đề nghị phòng TCHC trình Giám đốc buộc thôi việc hoặc các hình thức kỷ luật khác đối vơí người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật, chống đối lệnh sản xuất hoặc vi phạm các nội quy, quy chế của công ty
- Có trách nhiệm phải hoàn thành kế hoạch, đơn hàng, hợp đồng sản xuất của phòng KD-XNK chuyển giao và chịu sự giám sát, kiểm tra về chất lượng sản phẩm, chủng loại, thời gian giao hàng của phòng KD-XNK
- Có những biện pháp tích cực trong việc mới công nghệ để nâng cao năng lực sản xuất, giảm định mức vật tư, giảm giá thành sản phẩm đảm bảo có tính chất cạnh tranh cao
1.7.Phòng kinh doanh thiết bị
* Chức năng
- Tham mưu cho Giám đốc công ty về công tác kinh doanh máy móc thiết bị, phương tiện vận tải Trực tiếp nhập khẩu và kinh doanh thiết bị thi công công trình và các phương tiện vận tải
* Nhiệm vụ
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh thiết bị của công ty, lập dự án kinh doanh của phòng gắn liền với kế hoạch sử dụng vốn trong quý, năm gửi phòng TCKT để trình Giám đốc công ty duyệt
- Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch kinh tế do Giám đốc công ty giao, đảm bảo doanh số và lợi nhuận
- Chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty về hiệu quả kinh tế đối với từng phương án kinh doanh đã đề ra
- Trực tiếp quản lý, điều hành tổ bảo dưỡng, sửa chữa, phục chế máy móc thiết bị Trực tiếp làm thủ tiếp nhận hàng hoá (máy móc, thiết bị) quản lý
và bảo vệ hàng hoá đảm bảo an toàn
Trang 141.8.Phòng bảo vệ
* Chức năng
- Bảo vệ an toàn, an ninh trật tự trong phạm vi mặt bằng của công ty
- Bảo vệ tài sản của công ty, tài sản của CBCNV (phương tiện đi lại)
* Nhiệm vụ
- Phân công bố trí lực lượng thường trực trong phạm vi quản lý của công
ty 24/24 tháng Phân công trực cụ thể do trưởng phòng bảo vệ đảm nhận
- Kiểm tra, giám sát CBCNV thực hiện nội quy, quy chế của công ty (giờ giấc đi làm, chấp hành mọi nội quy, quy chế trong sản xuất)
- Kiểm tra, giám sát vật tư hàng hoá, máy móc thiết bị của công ty khi mang ra, vào địa phận của công ty
- Thường xuyên canh gác, tuần tra trong địa phận của công ty quản lý, đặc biệt là sau giờ hành chính, kịp thời phát hiện các trường hợp gây mất trật
tự, gây nguy hiểm cho người và thiết bị
- Làm tốt công tác thường trực phòng chống lũ lụt, cháy, nổ của công
ty
- Được phép ra, vào vị trí công nhân làm việc (nhưng không ảnh hưởng đến sản xuất) để kịp thời kiểm tra, nhắc nhở người lao động thực hiện tốt nội quy, quy chế của công ty và ngăn chặn các hành vi vi phạm
- Được quyền khám, xét tư trang của CBCNV ra, vào công ty nếu thấy có nghi ngờ trộm cắp tài sản hoặc đưa vào công ty những chất dễ cháy nổ, hàng quốc cấm
1.9.Các trung tâm, xí nghiệp, phân xưởng sản xuất
- Các trung tâm, xí nghiệp, nhà máy thuộc công ty phải thực hiện theo đúng sự uỷ quyền và phân cấp quản lý của Giám đốc công ty, được thể hiện trong quyết định thành lập và thể chế hoá ở quy chế tổ chức và hoạt động của từng đơn vị
Trang 15- Chịu sự kiểm tra, giám sát của các phòng, ban nghiệp vụ của công ty, đặc biệt là công tác tổ chức, công tác tài chính kế toán và thực hiện nghiêm chỉnh theo pháp lệnh của nhà nước
- Phải hạch toán đầy đủ mọi chi phí, thực hiện báo cáo đầy đủ đúng định
kỳ theo tháng, quý, năm
- Phải chấp hành thực hiện chỉ tiêu kinh tế được Giám đốc giao thực hiện hàng năm gồm:
Trách nhiệm và quyền hạn của lãnh đạo phòng
- Trưởng phòng phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc công ty về mọi hoạt động công tác của phòng mình
- Trưởng phòng được phép đề nghị Giám đốc chấm dứt hợp đồng lao động đối với nhân viên của phòng mình, bãi miễn hoặc đề bạt các phó phòng giúp việc cho mình
- Được phép đề nghị định biên của phòng trên cơ sở pháp lý và khoa học đảm bảo sự hoạt động của phòng ổn định, có hiệu quả
- Các trưởng phòng khi có nhiệm vụ đi công tác, phải có trách nhiệm bàn giao công việc cho các phó phòng bằng văn bản cụ thể Phó phòng phải chịu
Trang 16hoàn toàn trách nhiệm trước trưởng phòng và Giám đốc công ty về những công việc được giao
III KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Tổng doanh thu
Doanh thu XNK
DT từ tiêu thụ trong nước
3230 2325,5 904,5
5250
4620
630
18475 16627,5 1847,5
Trang 17LN sau thuế 343,06 101,54 382,58 543,57
Bảng 1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 4 năm gần đây
1.Phân tích tình hình kinh doanh của công ty
Doanh thu bán hàng liên tục tăng trong 4 năm qua, từ 3230 tr.đ năm 1999 lên 25230 tr.đ năm 2002 Điều này chứng tỏ quy mô sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng được mở rộng, mặt hàng kinh doanh phong phú hơn, số lượng hàng hoá nhiều hơn Có thể là quy mô sản xuất được mở rộng qua việc công ty thu hút thêm số lượng lao động, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động
Lợi nhuận từ HĐ kinh doanh là 502 tr.đ năm 1999 sau đó giảm xuống còn 171,6 tr.đ năm 2000 và tăng dần lên vào các năm 2001 và 2002 là 838,95
và 854,37 tr.đ Có được kết quả trên chúng ta có thể có nhận xét như sau: doanh thu liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước nhưng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh năm 2000 lại giảm so với năm 1999 Như vậy có thể là do năm 2000 doanh nghiệp phải chi phí lớn cho chi phí bán hàng hoặc chi phí quản lý, hoặc do tăng các khoản giảm trừ Chi phí bán hàng năm 1999 là 205,5 tr.đ nhưng đã tăng lên là 900,4 tr.đ, một con số quả là không nhỏ đối với một doanh nghiệp có tổng doanh thu là 5250tr.đ
Lợi nhuận từ HĐ kinh doanh giảm mặc dù tổng DT tăng là do chi phí quản lý tăng làm cho lợi nhuận sau thuế của công ty giảm
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính cũng giảm từ –60 xuống –75tr.đ
Lợi nhuận từ HĐBT giảm từ 62,5 xuống 53tr.đ
Từ sự suy giảm trên làm cho lợi nhuận sau thuế của công ty cũng giảm từ 343,06tr.đ xuống còn 101,54 tr.đ Như vậy năm 2000 so với năm 1999 công
ty sản xuất kinh doanh có chiều hướng giảm sút, ngược với xu thế phát triển,
có thể là do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân mà chúng ta sẽ được tìm hiểu
Trang 18sau như thị trường thế giới biến động theo chiều hướng xấu, hay sản phẩm của công ty không đáp ứng được với nhu cầu của người tiêu dùng
Năm 2001 so với năm 1999:
Doanh thu bán hàng năm 2001 là 18475tr.đ tăng so với 5250tr.đ năm
ty trong tình hình hiện nay cũng nhờ vào sự nỗ lực của toàn công ty cũng như
kế hoạch cụ thể của ban quản lý trong việc giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý nhằm giảm giá thành sản phẩm, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận sau thuế
Tổng doanh thu tăng từ 18475tr.đ lên 25230tr.đ Đó là một kết quả đáng mừng đối với toàn công ty Chi phí bán hàng và chi phí quản lý tăng là điều tất nhiên vì tỷ lệ thuận với doanh thu, làm cho lợi nhuận từ HĐ kinh doanh tăng từ 838,95 lên 854,37 tr.đ
Lợi nhuận từ HĐTC từ mức thâm hụt là -286,62 lên mức thâm hụt nhỏ hơn là -33tr.đ, kết quả này làm cho lợi nhuận sau thuế tăng lên.Trong khi HĐTC có dấu hiệu khả quan thì lợi nhuận HĐBT vẫn giảm từ lãi 10 triệu xuống thâm hụt –22 triệu đồng làm cho lợi nhuận sau thuế giảm xuống, nhưng mức giảm này nhỏ hơn so với mức tăng của lợi nhuận từ HĐ kinh doanh và
Trang 19mức giảm thâm hụt từ HĐTC nên LN sau thuế của doanh nghiệp năm 2002 tăng lên so với năm 2001, tăng từ 382,58 tr.đ lên 543,57 tr.đ
Chúng ta vừa phân tích sơ bộ tình hình kinh doanh của công ty trong 4 năm gần đây Nhìn vào bảng biểu ta cũng thấy một thực tế là tổng doanh thu
từ thị trường xuất khẩu liên tục tăng và ở mức cao hơn nhiều so với DT từ thị trường trong nước Điều đó chứng tỏ rằng, thị trường tiêu thụ chính của doanh nghiệp đã và đang dần thay đổi Từ thị trường trong nước sang thị trường xuất khẩu và hướng mạnh về thị trường này Nên doanh thu tăng trong những năm qua cũng có một phần là do chiến lược kinh doanh của công ty đã thay đổi
Đó cũng chính là lý do mà chi phí bán hàng của công ty tăng chậm trong khi chi phí quản lý tăng nhanh để tìm kiếm và thâm nhập thị trường nước ngoài
Đó là chiến lược kinh doanh đúng đắn của công ty trong tình hình hiện nay khi mà xu hướng toàn cầu hoá đang và sẽ tác động đến mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh tế, hơn nữa trong thời gian tới Việt Nam sẽ chính thức gia nhập AFTA, là một sự kiện kinh tế to lớn, ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp đang tồn tại Vì vậy, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì không chỉ thoả mãn nhu cầu trong nước mà phải có chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế - một thị trường đầy cơ hội nhưng cũng đầy thách thức với
sự cạnh tranh cao, rủi ro cao luôn luôn đi cùng với siêu lợi nhuận
Cũng từ bảng trên ta thấy: lĩnh vực kinh doanh chính mang lại lợi nhuận cho công ty là lĩnh vực sản xuất kinh doanh Còn về hoạt động tài chính và hoạt động bất thường thì hầu như không thu được lợi nhuận Như vậy doanh nghiệp cần có kế hoạch phân phối nguồn đầu tư hợp lý hơn nữa để nguồn vốn đâù tư của doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao
2.Đánh giá các hoạt động quản trị của doanh nghiệp
Đơn vị tính : 1000.000đ
Trang 20Tổng số nộp ngân sách Đơn vị tính
Đã thực hiện
5 tháng
Dự kiến thực hiện
6 tháng
Dự kiến thực hiện 6 tháng
Tình hình thực hiện nghĩa vụ ngân sách và phân phối lợi nhuận
Sau mỗi kỳ hạch toán kinh doanh Công ty đều tính toán lợi nhuận và phân bổ lợi nhuận cho các phòng ban theo tỷ lệ thích hợp
Biểu trên cho ta thấy được tình hình thực hiện nghĩa vụ ngân sách nhà nước Công ty đã làm đúng nghĩa vụ của mình và kinh doanh theo đúng luật pháp
Mục tiêu bao trùm, lâu dài của mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
là tối đa hoá lợi nhuận Để thực hiện được mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm (dịch vụ) cung cấp cho thị trường và được người tiêu dùng chấp nhận Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực xã hội nhất định để tạo ra sản phẩm đầu ra
có giá trị cao hơn đầu vào và tiêu thụ được Doanh nghiệp càng tiết kiệm sử dụng các nguồn lực này bao nhiêu thì sẽ càng có cơ hội để thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu Trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm đi thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng và tăng không giới hạn Quy luật khan hiếm bắt buộc mọi người phải lựa chọn và trả lời chính xác 3 câu hỏi là : sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận những doanh nghiệp nào sản xuất đúng loại sản phẩm (dịch vụ) với số lượng và chất lượng phù hợp Mặt khác, mọi doanh nghiệp kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường, mở cửa và ngày càng hội nhập phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh Muốn chiến thắng trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh và đồng
Trang 21thời cũng đề ra những định hướng mang tính chiến lược, kế hoạch trong từng điều kiện cụ thể
2.1.Về chiến lược kinh doanh
Trong thời gian qua, chiến lược của doanh nghiệp đã có sự thay đổi về mặt thị trường từ thị trường trong nước là chính chuyển sang thị trường xuất khẩu, với việc thâm nhập vào thị trường này Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng đã phải chi phí rất nhiều cho công tác tìm kiếm thị trường, và khối quản lý đã làm rất tốt công tác này đặc biệt là mảng thị trường và mảng mạng trong phòng KD-XNK Tuy nhiên, vì là người mới gia nhập thị trường xuât khẩu nên KD-XNK cũng có những thuận lợi và cũng không ít khó khăn
Về thuận lợi: sản phẩm của công ty rất được người tiêu dùng ưa chuộng
do mẫu mã phong phú, phù hợp với thị hiếu của từng nhóm khách hàng, lại là một sản phẩm mới tham gia xuất khẩu nên công ty cũng được sự giúp đỡ của rất nhiều ban, ngành như Bộ Thương mại, Bộ Tài chính sản phẩm được sản xuất ở thị trường lao động rẻ nên giá thành thấp, hấp dẫn người tiêu dùng
Về khó khăn: Đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các nhà kinh doanh, nhà phân phối lớn ở thị trường nước bạn, sản phẩm của ta chưa có uy tín trên thị trường nước ngoài, về thị hiếu của người tiêu dùng cũng thay đổi mà ta cần phải tốn chi phí lớn để nghiên cứu
Nhưng với những thành công bước đầu mà Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng đã đạt được, chúng ta tin tưởng vào chiến lược đúng đắn của công ty trong thời gian qua và có thể kết luận rằng hướng đi của công ty là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và điều kiện sản xuất kinh doanh của công ty Hy vọng rằng trong thời gian tới, Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng và có chiến lược thị trường đúng đắn mang lại hiệu quả kinh tế cao
2.2.Về hoạt động Marketing
Thị trường càng rộng lớn thì tính ổn định càng không cao, nên bộ phận Marketing ngày càng giữ một trách nhiệm to lớn Chiến lược Marketing là
Trang 22một trong 4 bộ phận cấu thành Mar-Mix, nhu cầu và sở thích của con người ngày càng phong phú đa dạng và phức tạp, sản xuất và tiêu dùng không phải lúc nào cũng ăn khớp với nhau, nếu không có chiến lược Mar phù hợp thì sản xuất khó mà ăn khớp với tiêu dùng Khi đó tình trạng thừa hoặc thiếu hàng sẽ xảy ra làm lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả kinh doanh Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải có một chiến lược Marketing phù hợp với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mình
Trong thời gian qua, bộ phận Marketing của công ty đã có được những kết quả rất đáng khen, biểu hiện ở việc doanh thu ở thị trường trong nước ổn định, thị trường xuất khẩu thì được khai phá và đang phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng luôn có mặt ở các phiên triển lãm ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên và cả trung tâm thương mại miền nam thành phố Hồ Chí Minh Mặt hàng của công ty đã được nhiều người tiêu dùng biết đến và chấp nhận, giá trị tài sản vô hình tăng lên, thương hiệu khẳng định vững chắc hơn
và uy tín được nâng lên cùng với chất lượng Đặc biệt là sự thâm nhập thành công vào thị trường xuất khẩu có công rất lớn của bộ phận Marketing trong việc nghiên cứu thị trường và nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, vấn đề tiếp thị sản phẩm của công ty, vấn đề xây dựng kênh phân phối và xúc tiến bán hàng
đã được bộ phận Marketing thực hiện khá tốt
2.3.Về tổ chức nhân sự
Ngày nay, người tổ chức phải tìm kiếm cơ cấu tổ chức thích hợp với sự thay đổi thường xuyên của môi trường đồng thời cũng phải thường xuyên nghiên cứu và hoàn thiện cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
Đối mặt với những khó khăn trong cơ chế kinh tế mới, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế tri thức, với những thuận lợi cũng như khó khăn, chúng ta thử tìm hiểu xem Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng đã làm được những gì và hạn chế trong việc giải quyết công ăn việc làm, xây dựng một đội ngũ tổ chức hợp lý như thế nào Với hơn 250 lao động
Trang 23sản xuất trực tiếp sản xuất, so với tiềm năng phát triển của công ty trong thời gian tới, thì Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng cần phải tuyển thêm một đội ngũ lao động trực tiếp sản xuất nữa mới đáp ứng được nhu cầu đề ra Bàn về một vấn đề gì chúng ta cũng phải đi từ cái cũ cho đến cái mới và phải
đi từ thực tiễn vì mọi chân lý đều phải bắt nguồn từ thực tiễn Trong những năm qua, cơ cấu tổ chức của Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng có thể nói là khá hợp lý để duy trì sự phát triển của mình và quản lý CBCNV thực hiện đúng quy chế Về vấn đề tuyển thêm lao động, công ty luôn có những lớp học việc cho công nhân mới vào nghề còn bỡ ngỡ, chưa thành thạo trong công việc Ngoài ra, hàng năm thường xuyên cử cán bộ đi học những lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về chuyên môn, về việc nắm bắt tình hình kinh tế mới các phòng ban trong công ty luôn luôn có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong công việc để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của mình vì mục tiêu chung của công ty
2.4.Tình hình quản trị
Bộ máy quản trị là trung tâm điều khiển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh ở tầm vĩ mô, nếu như khu trung tâm này hoạt động tốt thì những hoạt động ở tầm vi mô mới thu được kết quả như mong muốn được Ban giám đốc của công ty mặc dù chỉ có hai người nhưng đã thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả nhất, vì mục tiêu chung của công
ty, nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi và đã đạt được những kết quả đáng mừng Tuy nhiên trong thời gian tới, khi mà thị trường ngoài nước đang phát triển thì nhiệm vụ của ban quản trị cũng rất nặng nề Công ty cần có một đội ngũ quản trị có trình độ cao để giải quyết tốt nhiệm vụ quản trị trong thời gian tới với hiệu quả cao trong công việc Để làm được như vậy thì Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng đang từng bước cải tiến bộ máy quản trị này, công ty luôn cử một số cán bộ theo học các lớp quản trị chuyên sâu, để mỗi một cán
bộ quản trị đều có kiến thức chuyên môn hoá hoạt động quản trị hay vạn năng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao phù hợp với thời đại mới và sự phát
Trang 24triển như vũ bão của nền kinh tế tri thức với những kỹ năng, kỹ xảo của đội ngũ lao động quản trị
2.5.Về chất lượng sản phẩm và các hoạt động khác
Chất lượng sản phẩm của công ty đã nâng lên rõ rệt do sự thay đổi chất liệu sản phẩm và cải tiến mẫu mã, đã được người tiêu dùng đánh giá cao Trong thời gian tới hy vọng rằng, công ty vẫn giữ vững được ưu thế sản phẩm của mình và cố gắng phát huy hơn nữa để có thể chiến thắng trong cạnh tranh
về mọi mặt, để không chỉ là một doanh nghiệp non trẻ hiện nay nữa mà sẽ trở thành một doanh nghiệp có tên tuổi, không phải núp dưới bóng người anh cả
là Tổng công ty Xây Dựng –Thương mại nữa Chúng ta sẽ hy vọng và không bao giờ thất vọng cả vì một tương lai tươi sáng của thị trường xuất khẩu của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
Các hoạt động khác của doanh nghiệp cũng không có gì phải tranh cãi nhiều, bởi vì các bộ phận đó đêù hoạt động hiệu quả như phòng bảo vệ, phòng
dự án, phòng kinh doanh thiết bị đều đang trong quá trình hoạt động tốt cùng với sự phát triển đi lên của công ty Mỗi một phòng ban đều có chức năng hoạt động riêng biệt và nhiệm vụ cụ thể Nên các phòng ban trong công
ty cần phát huy hơn nữa ưu thế của mình và hạn chế những khuyết điểm, sai lầm
IV MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
1 Đặc điểm về thị trường
Thị trường đầu ra chính cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Công ty bao gồm 2 mảng thị trường là thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu Trong đó, thị trường trong nước tiêu thụ khoảng 30% khối lượng sản phẩm, phần còn lại được tiêu thụ ở thị trường quốc tế Nên đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những chiến lược quan trọng nằm trong chiến lược tiêu thụ sản phẩm của Công ty Trong mảng thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thì Công ty tập trung vào những thị trường xuất khẩu chính như Nhật Bản,
Trang 25Tây Âu,…bên cạnh một số thị trường nhỏ lẻ khác mà Công ty mới thâm nhập được, nhưng khối lượng sản phẩm ở những thị trường này không nhiều chủ yếu là hàng thủ công mỹ nghệ chứ không có những mặt hàng khác như hàng
đồ chơi, hay sắt mỹ nghệ Từ vấn đề mấu chốt thị trường ta hoạch định chiến lược kinh doanh cho từng giai đoạn và có những chính sách phù hợp với chiến lược tiêu thụ sản phẩm của Công ty, chủ yếu tập trung vào thị trường quốc tế
và vấn đề đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những nội dung quan trọng cần giải quyết
2 Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm chủ yếu của Công ty là hàng thủ công mỹ nghệ chiếm trên 30% khối lượng sản phẩm, ngoài ra là các mặt hàng như Gốm Sứ, hàng Đồ chơi, hàng Mây tre, hàng Sắt mỹ nghệ và hàng tạp phẩm Hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn, sau đó đến hàng Đồ chơi, những sản phẩm này chủ yếu được sản xuất tại phân xưởng của Công ty, hiếm khi Công ty phải đi thu mua hàng từ các cơ sở sản xuất khác nên Công ty có thể chủ động trong việc nhận và thực hiện đơn hàng Đến nay, trong danh sách các mặt hàng xuất khẩu của Công ty chủ yếu vẫn là 6 nhóm mặt hàng chính, Công ty đang từng bước thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, nghiên cứu thêm nhiều nhóm mặt hàng mới, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm cũng như đa dạng hoá chất lượng nguồn nguyên liệu tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm có chất lượng khác nhau phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng khách hàng
3.Cơ cấu lao động
Công ty gồm 270 cán bộ CNV Trong đó có 65 cán bộ làm công tác quản
lý (23,7%) và số còn lại là công nhân trực tiêp sản xuất và người lao động làm thuê theo hợp đồng lao động
Đứng đầu công ty là Ban Giám đốc gồm 1 Giám đốc và 1 phó Giám đốc Dưới Ban Giám đốc là các phòng ban trực thuộc, những phòng ban này được chia thành hai khối là khối kinh doanh và khối quản lý
Trang 26+ Trong khối kinh doanh có các phòng ban như : phòng KD-XNK, phòng KHSX, phòng kinh doanh thiết bị, (gồm xưởng cơ khí và xưởng đồ chơi)
+ Trong khối quản lý có các phòng ban như : phòng TCHC, phòng dự án, phòng TCKT
Ngoài ra, công ty còn có văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành phố khác
4.Đặc điểm ngành nghề kinh doanh
Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng với chức năng hoạt động rộng rãi đa ngành nghề : sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, gốm sứ, đồ chơi, quà lưu niệm, đồ gỗ, sơn mài, các sản phẩm trang trí nội thất, gia công hàng xuất nhập khẩu và kinh doanh các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, nguyên vật liệu sản xuất, máy móc thiết bị, nông lâm thuỷ sản, hàng tiêu dùng, phương tiện vận tải, kinh doanh kho bãi, sản xuất kinh doanh hàng may mặc,
đồ da, kim khí, hoá chất, điện máy và lắp ráp điện tử xuất nhập khẩu uỷ thác, kinh doanh dịch vụ vận tải, du lịch lữ hành, xây dựng công trình giao thông vận tải, thuỷ lợi công nghiệp và dân dụng
5.Thiết bị công nghệ máy móc
Là một doanh nghiệp thương mại kiêm sản xuất với chức năng hoạt động rộng rãi đa ngành nghề, Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ là chính, còn các ngành nghề khác như xây dựng công trình giao thông thủy lợi, kinh doanh nông lâm thuỷ sản, kim khí hoá chất, kinh doanh hàng may mặc chỉ là những ngành nghề mang tính thời
vụ của công ty Hiện nay, nhìn chung trang thiết bị công nghệ máy móc của công ty còn khá sơ sài, chưa có gì là hiện đại cả so với các doanh nghiệp khác Một phần là do lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty quyết định, do sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ không đòi hỏi trang thiết bị công nghệ hiện đại
mà chủ yếu là dựa vào trình độ tay nghề của công nhân, nên công ty chú trọng đến khâu đào tạo đội ngũ công nhân viên mới vào nghề qua các khoá học việc (thường là 6 tháng ) Lĩnh vực kinh doanh còn lại của công ty chủ yếu là vấn
Trang 27đề thương mại bán hàng, công ty có đầu tư thêm 30 chiếc xe tải chở hàng phục vụ cho công tác chuyên chở hàng hoá Hiện nay, trong cảng của công ty luôn có 7 chiếc máy xúc hiệu Hàn Quốc và cần cẩu hàng hoá (5 chiếc) tại mặt bằng cạnh sông Hồng
6.Tình hình cung ứng nguyên vật liệu
Trước kia, khi công ty còn là xưởng sản xuất quy mô nhỏ, với thị trường tiêu thụ chủ yếu từ trong nước, sản phẩm còn chưa phong phú về mẫu mã, và chủng loại thì nguyên liệu chủ yếu cho các sản phẩm của công ty là thạch cao
và đất sét đến nay thì nguyên liệu của công ty rất phong phú về chủng loại và chất liệu, từ bột đá thiên nhiên đến nhiên liệu bằng thạch cao, nhựa tổng hợp, polyme càng ngày công ty càng sáng tạo và tìm kiếm ra nhiều nguồn nguyên liệu thay thế và bổ sung khác, làm phong phú hơn nữa nguồn nguyên liệu có sẵn và giảm chi phí nguyên nhiên liệu, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành Hàng ngày công ty có bộ phận chuyên phụ trách về vấn đề nguyên liệu cung cấp cho công nhân sản xuất trực tiếp tại phân xưởng Và bộ phận này chuyên ký kết cũng như giao dịch với các nguồn cung ứng nguyên liệu để vận hành bộ máy sản xuất của doanh nghiệp Bộ phận chuyên trách vấn đề cung ứng nguyên vật liệu chịu trách nhiệm trước trưởng phòng kế hoạch sản xuất và thống kê đơn giá, số lượng nguyên vật liệu chuyển vào hàng ngày, hàng tháng, quý một cách cụ thể
7.Đặc điểm về tài chính của công ty
Trang 28Nhìn vào biểu trên ta thấy tổng số vốn kinh doanh của công ty tăng đều qua các năm Điều này cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty rất khả quan Hàng năm tỷ trọng vốn lưu động luôn luôn cao hơn tỷ trọng vốn cố định Điều này là hoàn toàn hợp lý Do công ty có chức năng chính là kinh doanh thương mại nên tỷ trọng vốn lưu động cao hơn vốn cố định là rất tốt Riêng năm 2001 VLĐ tăng lên 71,43% trong khi vốn cố định giảm xuỗng còn 28,57% là do công ty nhận thức được tầm quan trọng của việc kinh doanh tiêu thụ hàng hoá nên hướng mạnh vào thị trường này để phát triển sản xuất khi thị trường tiêu thụ mở rộng đối với một số mặt hàng chủ chốt của công ty như kinh doanh hàng may mặc, hàng nông lâm thuỷ sản, kim khí hóa chất thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm tăng doanh thu Nhưng đến năm 2002 thì VCĐ tăng lên
là 33,87% làm giảm tỷ lệ VLĐ xuống Do công ty đã đầu tư thêm trang thiết
bị, nhà xưởng để mở rộng quy mô sản xuất, tuyển thêm lao động mua thêm một số tài sản cố định khác phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Điều
đó chứng tỏ rằng công ty đã có một chiến lược kinh doanh hợp lý với từng giai đoạn phát triển riêng biệt phù hợp với tình hình tài chính của công ty và phù hợp với những thay đổi của smôi trường kinh doanh trong giai đoạn mới
Số đầu năm (VNĐ)
Số cuối kỳ (VNĐ)
2 Các khoản đầu tư tài chính
Trang 29ngắn hạn
+ Vốn kinh doanh ở các đơn
vị nôi bộ
135
Trang 30Tình hình quản lý các loại tài sản lưu động
V.CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH
Kinh doanh trên thị trường quốc tế, phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về cạnh tranh gay gắt
Trang 31CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI-XÂY DỰNG BẠCH
ĐẰNG
I.ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
1.Tình hình thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Trong nền kinh tế hàng hoá hiện nay, dù kinh doanh trong bất kỳ lĩnh vực nào, mỗi doanh nghiệp đều phải đương đầu với hàng loạt đối thủ cạnh tranh Công ty Thương Mại-Xây Dựng Bạch Đằng phải tự hạch toán kinh doanh nên Công ty đã tận dụng tối đa mọi cơ hội kinh doanh để tìm được nguồn đơn đặt hàng cho mình Lĩnh vực kinh doanh của Công ty đang có sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ trong và ngoài nước Thị trường đầu ra lúc này như là mảnh đất đầy dinh dưỡng nuôi sống cả tập thể công nhân viên trong công ty, có được thị trường hay không, có nhiều hay ít thị trường sẽ quyết định đến sự tồn tại, hay diệt vong của mình Do đó, mở rộng thị trường
là điều kiện tất yếu để công ty tồn tại và phát triển
Đến nay, mặt hàng thủ công mỹ nghệ của công ty đã có mặt ở trên 30 quốc gia tới các vùng lãnh thổ trên thế giới Trong lĩnh vực kinh doanh của mình, công ty đã thực hiện tốt các đơn đặt hàng đảm bảo chất lượng hàng cho nhà phân phối, tạo lòng tin cho khách hàng để ổn định và tiếp tục phát triển khu vực bạn hàng của Công ty Quy mô mặt hàng xuất khẩu tuy chưa lớn nhưng đã đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho Công ty hàng ngàn USD, đóng góp vào ngân sách Nhà nước, tạo công ăn việc làm, duy trì và nâng cao dần thu nhập cho cán bộ nhân viên và công nhân lao động trực tiếp tại phân xưởng Kết quả kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty theo khu vực được thể hiện
Trang 322054
5075 2071,4 1511,5
10578
24570 10764,5
4578 10101,4
57363 2014,7
15073
38048
17576
7786 7875,7 8197,3 2517,6
27750
48076
30015 10015,7 7877,9 15371,4 3001,5
(Nguồn : Phòng kinh doanh Xuất Nhập khẩu)
Bảng số liệu trên cho chúng ta thấy, kim ngạch xuất khẩu của Công ty trong những năm gần đây liên tục tăng, đặc biệt là có sự tăng trưởng mạnh vào năm 2002 Đó là một tín hiệu đáng khả quan đối với cả tập thể cán bộ công nhân viên của Công ty trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới
Bảng trên cũng cho ta thấy thị trường xuất khẩu chủ yếu của Công ty là thị trường Bắc Mỹ, Nhật Bản và EU Hiện nay, thị trường Nhật Bản là một trong những thị trường có nhu cầu lớn nhất về nhiều loại hàng thủ công mỹ nghệ cũng như các sản phẩm khác mà Công ty xuất khẩu như sản phẩm Gương, Hàng Đồ chơi, Hàng Sắt Bên cạnh đó là một số thị trường mới nổi lên như thị trường Đông Nam á với hơn 500 triệu dân đang là một trong những hướng phát triển chủ đạo của Công ty trong thời gian tới
Liên minh Châu Âu (EU) là thị trường xuất khẩu lớn của rất nhiều sản phẩm chủ lực của Việt Nam như sản phẩm dệt may, hàng da dày, hàng thủ công mỹ nghệ,…với những ưu thế hơn hẳn so với các thị trường tiêu thụ khác trên thế giới như mức cầu lớn, thu nhập bình quân đầu người cao, EU là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định Nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng Châu Âu, Công ty Thương Mại-Xây Dựng Bạch Đằng đã đầu tư cơ
sở vật chất phục vụ cho xuất khẩu vào khu vực này, đẩy mạnh xúc tiến bán
Trang 33hàng, tiếp thị, đặt những trụ sở giao dịch, các văn phòng đại diện, đồng thời Công ty cũng thường xuyên tham gia những Hội trợ triển lãm, trưng bày những Showroom tại các trung tâm Thương mại lớn như London, Paris, Berlin,…Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này trong những năm qua liên tục tăng, từ 4037,6 nghìn USD năm 1999 lên tới 48.076 nghìn USD năm
2002 Dự kiến trong tương lai kim ngạch xuất khẩu vào EU vẫn tiếp tục tăng Hiện nay, EU đang là một trong những thị trường chủ đạo của Công ty Thị trường tiêu thụ chủ yếu của khu vực này là Pháp và Đức
Tỷ trọng thị phần của một số thị trường chủ yếu của Công ty
15,48 35,95 15,75 6,7 14,78 8,39 2,95
15,53 39,2 18,12 8,02 8,11 8,45 2,59
19,53 33,83 21,12 7,05 5,54 10,82 2,11
Thị trường xuất khẩu của Công ty phân bố không đều, tập trung vào một
số thị trường chính như Bắc Mỹ, EU và Nhật Bản, trong đó chủ yếu là thị trường EU luôn luôn chiếm ưu thế hơn hẳn so với các thị trường khác chiếm 20,4% năm 1999 sau đó tăng mạnh vào năm 2000 và năm 2001 với 39,2% doanh thu từ xuất khẩu của Công ty Sau một thời gian tăng trưởng mạnh thị trường này đang có xu hướng suy giảm, từ 39,2% năm 2001 xuống còn 33,83% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong năm 2002 Thị trường Nhật Bản cũng là một trong những thị trường chính của Công ty, với phong tục Phương Đông truyền thống, cũng giống như người Việt Nam hay Trung Quốc, người Nhật có nhu cầu khá lớn về hàng thủ công mỹ nghệ,
Trang 34hàng Gốm Sứ và đồ gố Đó đều là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Công ty Họ có sở thích tặng nhau những món quà làm bằng đồ Gốm Sứ với những hoạ tiết mang tính nghệ thuật cao mang biểu tượng của tình yêu, tình bạn Nắm bắt được phong cách sống cũng như tâm lý của người Nhật với truyền thống dân tộc bất khuất, Công ty đã xuất khẩu sang thị trường này những sản phẩm có biểu tượng của đất nước họ như hình con chuồn chuồn và khóm khoai, hình tượng võ sỹ đạo,…là những sản phẩm rất được người Nhật
ưa thích và đánh giá cao Do vậy, việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường này rất thuận lợi và Nhật Bản luôn là một thị trường có thị phần lớn của Công ty với doanh thu và quy mô các mặt hàng xuất khẩu liên tục tăng Mặc dù có suy giảm trong năm 2001 từ 28,28% xuống còn 15,75% tổng kim ngạch xuất khẩu nhưng đã khôi phục trở lại vào năm 2002 chiếm 21,12% tổng kim ngạch xuất khẩu
Trong những năm qua Công ty Thương Mại-Xây Dựng Bạch Đằng mới chỉ xuất khẩu được một lượng khá nhỏ vào thị trường Đông Nam Á, mức cao nhất là 10,38% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sau đó giảm dần vào các năm sau Hiện nay, con số này là 7,05% tổng giá trị kim ngach xuất khẩu, một con
số khá khiêm tốn với một thị trường hơn 500 triệu dân trong khu vực Một phần là do tại các nước này có các đặc điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán có sự giao thoa mang đậm phong cách Phương Đông Cho nên, phần lớn các nước trong khu vực này cũng tự mình sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ với chất liệu bằng Gốm, Sứ đáp ứng nhu cầu của nước đó, không những thế mặt hàng này còn được xuất khẩu ra nước ngoài trên các thị trường mà Công ty đang tiêu thụ sản phẩm của mình
Vì vậy, sản phẩm của họ cạnh tranh rất quyết liệt với các sản phẩm của Công
ty trên một số thị trường chủ yếu Tuy vậy, sản phẩm của Việt Nam vẫn được khách hàng ưa chuộng trên thế giới thậm chí ta còn cạnh tranh quyết liệt và chiến thắng ngay tại "sân khách" Có được những kết quả đó là so sản phẩm của ta có sự tinh xảo trong nghệ thuật, sản phẩm mang đậm nét văn hoá dân
Trang 35tộc như bộ bàn ghế mây, chiêc nón bài thơ,…mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất sang thị trường này chủ yếu là đồ trang trí nội thất, hàng sắt, hàng đồ chơi, vật dụng gia đình, gương gỗ
Trung- Nam Mỹ là thị trường chiếm tỷ trọng lớn của Công ty trong những năm 1999, 2000 với kim ngạch xuất khẩu năm 1999 là 5075 nghìn USD chiếm 15,64% sau đó tăng lên 10101,4 nghìn USD chiếm 14,78% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu.Công ty xuất khẩu sang 3 thị trường chính là Achentina, Braxin, Chilê Trong 2 năm trở lại đây tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đã bị suy giảm chỉ chiếm 8,11% năm 2001 và 5,54%
tỷ trọng năm 2002 Từ năm 2001 do kinh tế Achentina rơi vào tình trạng khủng hoảng, nên xuất khẩu sang thị trường này giảm đi rõ rệt, thị trường Braxin và Chilê cũng gặp không ít khó khăn nên kim ngạch xuất khẩu sang khu vực thị trường này giảm đi rõ rệt Từ sự khó khăn trên, Công ty đã phải tích cực tìm kiếm cơ hội mở rộng sang các thị trường và khu vực thị trường khác Với sự nỗ lực của Công ty, trong thời gian ngắn, Công ty đã chuyển hướng xuất khẩu sang một số thị trường mới như thị trường Trung Đông, đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường EU để có thể chuyển khu vực thị trường theo hướng phù hợp hơn
Đối với thị trường Nga và các nước SNG, sau hơn 10 kể từ khi Liên Bang Xô Viết tan rã, những điều kiện ưu đãi trước kia không còn nữa, mối quan hệ kinh doanh với khu vực này ngày càng trở lên khó khăn hơn, kim ngạch xuất khẩu từ 2017,4 nghìn USD chiếm 10,46% năm 1999 tăng lên
5736 nghìn USD nhưng chỉ chiếm 8,39% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu Với
sự cố gắng để duy trì và phát triển một thị trường truyền thống, Công ty Thương Mại-Xây Dựng Bạch Đằng đã nỗ lực rất nhiều để tăng dần giá trị kim ngạch xuất khẩu cũng như tăng dần tỷ trọng của thị trường này lên, đến năm
2002 kết quả thật đáng khích lệ cho tập thể cán bộ công nhân viên trong Công
ty với 15.371,4 nghìn USD chiếm 10,82% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu
Ba thị trường chính là Nga, Hungari, Sec trong đó chỉ có thị trường Nga là
Trang 36luôn duy trì lượng đơn đặt hàng thường xuyên, mặt hàng xuất khẩu mạnh sang khu vực là mây tre, thảm, Gốm Sứ và hàng Đồ chơi
Đặc điểm của khu vực thị trường này là yêu cầu cao về kỹ thuật, mẫu
mã không quá cầu kỳ nhưng đẹp mắt và gây ấn tượng nên trước đây lượng hàng xuất khẩu sang thị trường này là rất lớn Thị phần hàng thủ công mỹ nghệ của hàng Việt Nam nói chung và hàng của Công ty nói riêng bị mất đi là
do sản phẩm của ta bị cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm của Trung Quốc và các nước trong khu vực như Malaysia, Indonexia, Philippin,…Để khắc phục những khó khăn trên và giành lợi thế trong cạnh tranh, Công ty đã đầu tư xây dựng và mở rộng một mạng lưới kho tàng, các cửa hàng và nhiều quầy bán buôn, bán lẻ trên khắp thị trường Nga và các nước SNG, cử đại diện của Việt Nam sang và thuê thêm lao động của nước sở tại phục vụ Mạng lưới này hoạt động khá hiệu quả và đã đem lại những kết quả đáng mừng, thể hiện ở tỷ trọng thị phần đang được ổn định chiếm 10,82% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu
Tuy nhiên, bên cạnh đó Công ty vẫn chưa bám sát được những thay đổi, thị hiếu trên thị trường này, thiếu những mẫu mã mới và những mặt hàng có chất lượng nên đã để rớt mất mảng lớn trên thị trường này Mặc dù vậy, đây cũng là khu vực thị trường có nhu cầu lớn, tiêu thụ được cả những mặt hàng truyền thống và mặt hàng mới Do đó, Công ty cần có sự quan tâm đúng mức
và có sự thay đổi phù hợp với sự thay đổi của thị trường, khai thác thị trường với đúng quy mô và tiềm năng sẵn có của nó, tạo ra những sản phẩm mẫu mã mới, chất lượng cao, giá cả và phương thức thanh toán phù hợp hơn nữa để tăng sức cạnh tranh trên thị trường này
Giá trị kim ngạch xuất khẩu sang thị trường khác của Công ty cũng đã có
sự điều chỉnh nhất định, từ 7,64% tỷ trọng năm 1999 xuống còn 2,95% năm
2000 và đến năm 2002 con số này là 2,11% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu Đây phần lớn là những thị trường nhỏ lẻ, không được đầu tư nhiều về mạng lưới kênh phân phối nên Công ty không coi đây là thị trường chủ lực Tuy
Trang 37vậy, Công ty cũng không bỏ qua bất kỳ một cơ hội nào để có được những đơn đặt hàng hấp dẫn
2.Thực trạng xuất khẩu qua một số năm gần đây
2.1 Quy mô của sản phẩm xuất khẩu
Trong thị trường cạnh tranh quốc tế, dù kinh doanh trong bất kỳ lĩnh vực nào, mỗi doanh nghiệp đều phải đương đầu với hàng loạt đối thủ cạnh tranh, nên thị phần, lợi nhuận của Công ty luôn luôn có nguy cơ bị san sẻ Để hạn chế được áp lực cạnh tranh và có thể giành thắng lợi trong cạnh tranh Công ty luôn phải tìm cách tận dụng những lợi thế sẵn có của mình, hạn chế đến mức tối đa những khó khăn của Công ty, luôn có kế hoạch kinh doanh các sản phẩm phù hợp với nhu cầu, đồng thời cũng đa dạng hoá sản phẩm tránh tập trung cao vào một số mặt hàng dẫn đến rủi ro trong xuất khẩu
Cơ cấu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Công ty
17.543,55 20.851,33 4.114,22 5.945,8 7.367,3 6.607,3 6.663,4
27.214,39 30.174,59 7.347,11 8.414,72 9.851,14 9.006,76 5.046,89
38.383,24 48.558,13 9.336,46 7.744,86 13.741,79 14.864,44 9.478,57
( Nguồn :Báo cáo kết quả kinh doanh: Phòng Kế toán )
Từ khi thành lập cho đến nay, hàng thủ công mỹ nghệ vẫn là mặt hàng chủ lực mà Công ty tiến hành xuất khẩu Qua nhiều năm hoạt động kinh doanh, Công ty đã có nhiều kinh nghiệm trong việc xúc tiến xuất khẩu, thẩm
Trang 38định giá cả, cải tiến mẫu hàng phù hợp hơn với thị hiếu của người tiêu dùng, Công ty đã có những khách hàng truyền thống trong lĩnh vực này nên việc trị giá hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu liên tục tăng từ 5.423,11 nghìn USD năm 1999 lên 20.851,33 nghìn USD năm 2000 đặc biệt là vào năm 2002 với trị giá hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu là 48.558,13 nghìn USD
Sau hàng thủ công mỹ nghệ thì hàng Đồ chơi chiếm trị giá khá lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu Từ 6.392,94 nghìn USD năm 1999 lên 17.543,55 nghìn USD năm 2000 tăng 11.150,61 nghìn USD Đến năm 2001 trị giá hàng
Đồ chơi trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu là 27.214,39 nghìn USD và năm gần đây nhất con số này là 38.383,24 nghìn USD
Tỷ trọng cơ cấu hàng xuất khẩu so với tổng số
Đơn vị tính : %
Hàng Đồ chơi Hàng thủ công mỹ nghệ
Mây tre Gốm sứ
Gỗ mỹ nghệ Sắt mỹ nghệ Hàng tạp phẩm
32,3 27,4 5,3 6,47 12,41 7,56 8,56
25,67 30,51 6,02 8,7 10,78 8,79 9,75
28,04 31,09 7,57 8,67 10,15 9,28 5,2
27,01 34,17 6,57 5,45 9,67 10,46 6,67
(Nguồn : Phân xưởng sản xuất)
Qua bảng trên ta thấy, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Công ty là hàng
Đồ chơi và hàng thủ công mỹ nghệ Năm 1999 tỷ trọng hàng Đồ chơi xuất khẩu là 32,3% so với tổng số sau đó đến hàng thủ công mỹ nghệ chiếm 27,4%, hàng mây tre chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ là 5,3%, đồ Gỗ mỹ nghệ cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn là 12,41%, hàng Đồ chơi của Công ty rất phong phú về chủng loại và mẫu mã, kiểu dáng đẹp, nên được tiêu thụ với một số lượng lớn ở nước ngoài Mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Công
ty không chỉ có tính nghệ thuật cao mà còn có giá trị văn hoá sâu sắc, mang
Trang 39hình tượng về đất nước, con người, mang bản sắc văn hoá dân tộc sâu sắc phù hợp với truyền thống và phong tục tập quán của nước sở tại
Mặt hàng thủ công mỹ nghệ là một trong những hàng xuất khẩu chính của Công ty , luôn luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu các mặt hàng phục vụ xuất khẩu Nếu như năm 1999 tỷ trọng của mặt hàng này là 27,4%thì đến năm
2000 là 30,51% và năm 2001 con số này là 31,09% và năm 2002 chiếm tỷ trọng là 34,17% Hầu hết các sản phẩm của Công ty làm bằng chất liệu tự nhiên như bằng đất sét, hiện nay các sản phẩm này đã được bổ sung bằng các chất liệu nhân tạo như bằng thạch cao, hay bằng nhựa tổng hợp Các sản phẩm như lọ hoa, khay đựng hoa quả, guốc gỗ, tượng phật, và hình tượng chúa Giêsu, hình Đức mẹ đồng trinh, hay tượng thần Cupid,…các mặt hàng này được khách hàng nước ngoài đánh giá cao có giá trị nghệ thuật cao, điêu khắc hoa văn tinh tế và độc đáo Tuy nhiên mặt hàng này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của Công ty
Mặt hàng Đồ chơi cũng chiếm một tỷ trọng tương đối trong tổng số các mặt hàng xuất khẩu, nhưng hiện nay mặt hàng này đang dần được thay thế bởi các mặt hàng khác, từ 32.3% năm 1999 đến năm 2000 là 25,67%, năm 2001 là 28,04%, đến năm 2002 chiếm 27,01% Hàng Đồ chơi là mặt hàng có chủng loại phong phú nhất với nhiều mẫu mã, chủng loại, các sản phẩm của Công ty
có sự chọn lọc ở mẫu mã và chất liệu hợp lý có sự thử nghiệm ở một số thị trường lớn trước khi tung sản phẩm ra thị trường Mặc dù tỷ trọng xuất khẩu của mặt hàng này có suy giảm hơn nhưng trước yêu cầu của sự điều chỉnh cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cho phù hợp với điều kiện của Công ty là một sự sắp xếp có kế hoạch, có sự tính toán từ trước để phù hợp với xu thế tiêu dùng xuất khẩu
Hàng Gỗ mỹ nghệ và Sắt mỹ nghệ cũng là mặt hàng chiếm tỷ trọng tương đối trong cơ cấu các mặt hàng phục vụ xuất khẩu Với ưu thế hơn hẳn
so với các nước trong khu vực về nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao, được đào tạo từ Trường Dạy Nghề do chính Công ty tổ chức Nguồn lao động
Trang 40này đã tạo ra những sản phẩm có độ tinh xảo trong kiến trúc, hoa văn mang đậm nét văn hoá của các nền văn hoá khác nhau Mặt hàng Gỗ mỹ nghệ từ chỗ chiếm 12,41% tỷ trọng năm 1999 với trị giá 2.456,23 nghìn USD đang có xu hướng giảm dần và đến năm 2002 chỉ chiếm 9,67% tỷ trọng tương ứng với 13.741,79 nghìn USD
Còn mặt hàng Sắt mỹ nghệ lại tăng dần trong tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu Từ 7,56% năm 1999 lên 8,79% năm 2000, năm 2001 là 9,28% và đến năm 2002 con số này là 10,46% Qua đó ta có thể thấy, doanh số xuất khẩu hàng Sắt mỹ nghệ liên tục tăng qua các năm và dự kiến mặt hàng này sẽ là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Công ty Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là Chân nến, Chao đèn, Giá kệ, Ghế ngồi,… sản phẩm làm từ sắt rất đa dạng do sử dụng sơn tĩnh điện nên màu sắc đặc trưng thường là màu đen chì và được kết hợp với một số vật liệu khác để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh như khung sắt đựng rượu có quấn mây ở thành tạo nên một sản phẩm rất ấn tượng, độc đáo, mặt hàng này một phần là Công ty thu gom nhưng phần lớn Công ty tự sản xuất Trong thời gian tới, Công ty sẽ xuất khẩu mặt hàng sắt tự sản xuất chứ không phải thu gom từ nơi khác khi đó tỷ trọng mặt hàng sắt mỹ nghệ xuất khẩu sẽ tăng lên
Sản phẩm Gốm Sứ của Công ty rất đa dạng về chủng loại, mẫu mã phong phú, kiểu dáng đẹp, không chỉ có tính nghệ thuật cao mà còn có giá trị sử dụng lâu bền Các loại bình hoa, chậu, đôn, đĩa ấm chén làm bằng Gốm men rạn, men ngọc, men chảy,… với hoa văn phong phú, độc đáo là những sản phẩm được rất nhiều khách hàng nước ngoài quan tâm Bên cạnh đó, Công ty cũng chú ý thu mua, sản xuất những sản phẩm độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc như những tấm bình phong có hình tượng đồng quê, sản phẩm Gốm với màu xanh đặc trưng khiến khách hàng rất thích
Tuy nhiên, việc vận chuyển hàng Gốm sứ rất khó khăn vì đây là mặt hàng cồng kềnh, dễ vỡ nên đòi hỏi phải cẩn thận trong mọi khâu nhất là khâu vận chuyển, kể cả chèn lót, bốc xếp, chi phí vận chuyển lại cao Hơn nữa hàng