1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài: " TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIỚI NHO HỌC TRUNG QUỐC MẤY NĂM NAY NGUYỄN TÀI THƯ " pptx

16 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 314,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng “dân bản” của Nho gia và ý nghĩa lịch sử của nó Các nhà nghiên cứu Trung Quốc tuy đều thừa nhận tư tưởng “dân là gốc nước” dân vi bang bản là một giá trị trong truyền thống tư

Trang 1

Nghiên cứu triết học

Đề tài: " TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIỚI NHO HỌC TRUNG QUỐC MẤY NĂM NAY NGUYỄN TÀI THƯ "

Trang 2

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIỚI NHO HỌC TRUNG QUỐC MẤY NĂM NAY

NGUYỄN TÀI THƯ (*)

(Tiếp theo số 7 và hết)

4 Tư tưởng “dân bản” của Nho gia và ý nghĩa lịch sử của nó

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc tuy đều thừa nhận tư tưởng “dân là gốc nước” (dân vi bang bản) là một giá trị trong truyền thống tư tưởng của Nho gia, song một số người thấy sự cần thiết phải đi sâu hơn, phải nêu được cơ sở xuất hiện cũng như quá trình phát triển của tư tưởng này và ý nghĩa lịch sử của nó Từ những xuất phát điểm để nghiên cứu khác nhau, các tham luận đã

có sự đi sâu hơn vào vấn đề đã từng được đề cập nhiều lần trước đây

Trần Hàn Minh (Học viện Quản lý cán bộ của Công đoàn Thiên Tân),

trong bài Truyền thống dân bản Nho gia và vận mệnh lịch sử của nó, cho

rằng, “dân bản” là tư tưởng dân chủ đầu tiên ở Trung Quốc Dựa vào nhận

định của Ph.Ăngghen về chế độ dân chủ nguyên thuỷ trong Nguồn gốc của

gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước, Trần Hàn Minh cho “Dân bản là chế

độ dân chủ trưởng thành tự nhiên”, và những kẻ thống trị cổ đại Trung Quốc đều đã có ý thức “ái dân”, “trọng dân”, “tôn dân”, “thân dân”, “bảo dân” Những tư tưởng này được trình bày rõ ràng nhất và hệ thống nhất là

ở Mạnh Tử Ông còn cho rằng, vì vai trò quan trọng của tư tưởng này, nên các triều đại chuyên chế vẫn phải dựa vào nó để biện hộ cho sự thống trị của mình

Tào Đức Bản (Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh), trong bài Bàn về văn hóa

nhân bản Nho gia, cho cơ sở tư tưởng của văn hóa này là mối quan hệ giữa

nghĩa và lợi; ở đó, kẻ thống trị phải làm cho dân giàu và làm lợi cho dân, đồng thời phải biến tư tưởng đó thành hành động thực tế

Trần Quốc Chiến (Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Bắc Kinh) có bài

Trang 3

Chủ nghĩa dân bản của Mạnh Tử Ông đã phân tích tư tưởng dân bản của

Mạnh Tử trên hai phương diện: chính trị và kinh tế Về chính trị, tư tưởng

dân bản của Mạnh Tử thể hiện qua các câu nói “Bảo dân nhi vương” (Bảo

vệ được dân thì làm vua), “Đắc dân tâm” (Được lòng dân), “Thoả dân vọng” (thoả mãn điều mong muốn của dân), “Dữ dân đồng lạc” (cùng vui với dân) và đặc biệt là câu nói nổi tiếng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân

vi khinh” (Dân là quan trọng, sau đó là xã tắc, vua là nhẹ) Trần Quốc Chiến còn so sánh tư tưởng của Mạnh Tử với tư tưởng của các nhà Nho khác trong lịch sử; cho rằng ở nhiều nhà Nho khác, tư tưởng “trọng dân”,

“ái dân”, “dưỡng dân” chỉ là để che đậy tính ích kỷ của giai cấp thống trị Còn Mạnh Tử thì khác hẳn, tư tưởng trọng dân của ông là “chân thành”, trong lịch sử không ai bì được với Mạnh Tử về tư tưởng trọng dân Từ đó, tác giả cho tư tưởng dân bản của Mạnh Tử đã mang sắc thái “nhân đạo chủ

nghĩa cấp tiến và tinh thần dân chủ” Về kinh tế, Trần Quốc Chiến cho

rằng, tư tưởng dân bản của Mạnh Tử thể hiện trong đường lối “nhân

chính” Nó bao gồm bốn phương diện: phân định lại bờ vùng, bờ thửa; tạo cho dân một sản nghiệp cố định; hướng dẫn dân biết cách thức làm ăn, như làm ruộng có thời, không dùng lưới nhặt mắt để đánh bắt cá tôm, không đẵn cây rừng vào mùa xuân, v.v.; và thu của dân phải có mức độ, vào khoảng một phần mười của thu hoạch được Từ đó, Trần Quốc Chiến đi đến nhận định: tư tưởng nhân bản của Mạnh Tử có nội dung đầy đủ nhất,

có giá trị nhất trong lịch sử và vẫn còn có ý nghĩa đối với ngày nay

Trần Tăng Huy (Đại học Thượng Hải), trong bài Tư tưởng dân bản của

Nho gia và ý nghĩa đương đại của nó, đã trình bày sự diễn biến của tư

tưởng này trong quá trình phát triển của lịch sử Trung Quốc Ông cho tư tưởng “Dân là gốc nước” của Nho gia đã đối lập với các tư tưởng “Thần (thần thánh) vi bang bản” và “ Quân (vua chúa) vi bang bản” trước đó Ông nhận định: tư tưởng “dân bản” là ý kiến của nhiều người, nhưng Khổng –

Trang 4

Mạnh vẫn tiêu biểu hơn cả, đặc biệt là Mạnh Tử - “Người tập đại thành tư tưởng dân bản trước Tần” Sau Mạnh Tử, thì Giả Nghị thời Hán đã đưa tư tưởng “dân bản” lên một đỉnh cao mới với quan điểm “Dân giả vạn thế chi bản” (Dân là gốc của muôn đời) Sau thời Hán, tư tưởng “dân bản” còn được các nhà Nho của các triều đại sau này nhắc tới với nội dung và tính chất khác nhau, không những thế, tư tưởng đó còn được các nhà cải lương

tư sản đầu thế kỷ XX đề cập với một nội dung mới Còn về mối quan hệ giữa tư tưởng “dân bản” với thực tiễn, Trần Tăng Huy cho rằng, không phải các triều đại đều vận dụng như nhau mà ở đó, có thực chất và hình thức khác nhau Ông nêu một vấn đề mà ông cho rằng có tính quy luật, đó

là sau mỗi lần có các cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân, nếu kẻ cầm

quyền mới lên ý thức được sức mạnh của dân, ban bố đường lối và chính sách có lợi cho dân thì tạo được cục diện thịnh trị, như triều Văn Đế, Cảnh Đế thời Hán; triều Trinh Quán thời Đường Thái Tông; triều Khang

Hy, Càn Long thời Thanh

“Dân bản” không phải là vấn đề mới, trước đây đã có người nói tới Điểm mới của Hội thảo này là trình bày tư tưởng “dân bản” sâu hơn, có hệ thống hơn và chỉ ra được quá trình phát triển lịch sử của nó Vấn đề còn tồn tại là,

tư tưởng “dân bản” có phải là tư tưởng dân chủ không Trong cuộc hội thảo này, có người nêu tư tưởng “dân bản” là tư tưởng dân chủ đầu tiên trong lịch sử, nhưng tư tưởng “dân bản” là để bảo vệ sự thống trị lâu dài của các triều đại phong kiến; hoặc có người trước đây đã nói, tư tưởng “dân bản” không phải là tư tưởng dân chủ Vì vậy, mối quan hệ giữa “dân bản” và

“dân chủ” vẫn còn là vấn đề cần phải được làm sáng tỏ thêm

5 Nho giáo có phải là một tôn giáo không?

Mấy thập kỷ trước, giới học thuật Trung Quốc không thừa nhận Nho giáo

là một tôn giáo, mà chỉ cho đó là một học thuyết triết học và chính trị – xã hội Lúc bấy giờ, trong chính sách của Nhà nước, trong các sách giáo khoa

Trang 5

về tôn giáo học, lịch sử tôn giáo ở Trung Quốc, người ta không đề cập đến Nho giáo Nhưng giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới một mực cho Nho giáo cũng là một tôn giáo, và cùng theo đó là ở Trung Quốc, những người tán đồng tư tưởng trên ngày một nhiều, khiến vấn đề phải được đặt ra để thảo luận Ngoài cuộc hội thảo chung về Nho giáo với văn minh đương đại mà ở đó có người đề cập tới tính chất tôn giáo của Nho học, còn có cuộc hội thảo chuyên đề về “Nho học, Nho giáo và tôn giáo học” diễn ra ở Bắc Kinh vào tháng 8 - 2006 để đi sâu thêm vấn đề trên

Xoay quanh sự nhận thức các khái niệm “Thiên”, “Thiên mệnh”, “Thiên nhân hợp nhất” trong Nho giáo, cũng như so sánh các khái niệm đó với

“Chúa trời” (Thiên chúa, Thượng đế) của Kitô giáo, với “thần” của các tín ngưỡng vu thuật, các học giả đi đến những nhận định khác nhau

Xét về bản chất nhân sinh và chức năng nhân thế của Nho, học giả Ngô

Quang (Viện Khoa học xã hội tỉnh Triết Giang) cho đạo Nho không phải là tôn giáo Theo ông, Nho học về bản chất là một loại triết học nhân văn đạo đức, chứ không phải tôn giáo Nhưng những người có quan điểm như Ngô Quang trong cuộc hội thảo lần này không nhiều như trước kia

Đại đa số các học giả đều cho rằng, ngoài tính chất là học thuyết triết học, chính trị, đạo đức, đạo Nho còn là một tôn giáo Tuy phương pháp tiếp cận khác nhau nhưng nhận định chung về tính chất tôn giáo của Nho thì cơ bản giống nhau Có người đi đến nhận định trên dựa trên công năng của

“Thiên”, “Thiên mệnh” không khác gì với công năng của Chúa trời trong đạo Thiên Chúa, hay ý chỉ của Thánh Ala của đạo Ixlam Đó là quan điểm của Quách Tề Dũng (Đại học Vũ Hán), của Đơn Thuần (Viện Nghiên cứu Tôn giáo thế giới, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) Quách Tề Dũng nói: Thiên của Nho gia không những là đối tượng tín ngưỡng của con người, không những là nguồn gốc của hết thảy giá trị mà còn là cảnh giới mà con

Trang 6

người có thể vươn tới Không những thế, “Thiên” còn là lực lượng sáng tạo

ra tự nhiên Đơn Thuần cũng cho rằng, thiên mệnh có giá trị phổ quát, đó là một hình thức biểu đạt tình hoài tôn giáo của Trung Quốc Bên cạnh đó, còn có người tiếp cận từ tư liệu lịch sử để khẳng định Nho cũng là một tôn

giáo Đó là Châu Khả Chân (Khoa Triết học, Đại học Tô Châu) Một mặt,

ông dựa vào tư liệu trong lịch sử của Trung Quốc cho rằng ở thế kỷ thứ V, thời Nam Triều, Nho giáo đã kết hợp với Phật giáo, Đạo giáo thành “Tam

giáo”, “hiển nhiên là nó đã được thừa nhận là “một giáo” lâu rồi” Mặt

khác, ông dựa vào những phát biểu của một số học giả có quyền uy của Âu,

Mỹ trong thời cận hiện đại để biện hộ cho luận điểm của mình Ông nhắc

tới cuốn sách Tôn giáo của Trung Quốc: Nho giáo và Đạo giáo (xuất bản

năm 1915) của học giả người Đức Max Weber mà ở đó đã cho Nho giáo là

tôn giáo Hoặc ông nhắc tới cuốn sách Sự xung đột của các nền văn minh

(xuất bản năm 1993) của học giả nổi tiếng người Mỹ hiện nay là

Huntington Trong cuốn sách đó, Huntington cho văn minh Trung Quốc là

“văn minh Nho giáo”, cho Trung Quốc là “quốc gia Nho giáo” Trên cơ sở

đó, ông kết luận Nho giáo cũng là một tôn giáo

Dù cùng công nhận Nho giáo là một tôn giáo, song sự nhận định của các học giả cũng có những mức độ và sắc thái khác nhau Giáo sư Nhậm Kế

Dũ (nguyên Trưởng Khoa Triết học, Đại học Bắc Kinh, nguyên Viện

trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo thế giới, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX đã cho Nho giáo cũng là một tôn giáo, nay làm rõ thêm sắc thái tôn giáo của Nho giáo Trong cuộc hội thảo “Nho học, Nho giáo và tôn giáo học”, Nhậm Kế Dũ nêu lên rằng: So với tôn giáo phương Tây, tôn giáo kiểu Nho giáo của Trung Quốc có sắc thái nhân văn chủ nghĩa rõ rệt; nghĩa là sự sùng bái chỉ là để ghi nhớ và báo

ơn công lao của tổ tiên, của những người có công với dân, với nước Ngoài

ra, có một số người cho rằng nội hàm của khái niệm “Nho giáo” rộng rãi,

Trang 7

có thể hiểu đó là tôn giáo, cũng có thể hiểu đó không phải là tôn giáo, lại cũng có thể hiểu đó vừa là tôn giáo, vừa không phải là tôn giáo Hiểu như thế nào là tuỳ theo lập trường của mỗi người Đỗ Duy Minh, trong cuộc hội thảo “Đổi mới Nho học trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế” tổ chức ở Bắc Kinh tháng 10 – 2005, nói: Nho học thể hiện một cách đột xuất tư tưởng giáo dục luân lý xã hội, đạo lý làm người, học vấn sinh mệnh, phương thức của cuộc sống, thể hiện tín ngưỡng của tinh thần nhân văn, là triết học và cũng là tôn giáo Ông còn nói: Tính tôn giáo và tính hiện thực của Nho gia

là trộn lẫn với nhau Đơn Thuần (Viện Nghiên cứu Tôn giáo thế giới, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc), trong cuộc hội thảo “Nho học, Nho giáo và tôn giáo học” diễn ra ở Bắc Kinh tháng 8 – 2006, dựa vào ý kiến phát biểu của số đông, cũng nói: Nho giáo là hình thái tôn giáo kiểu Trung Quốc, cũng có thể nói là hình thái giáo hoá luân lý kiểu Trung Quốc, hai cái đó không có mâu thuẫn cơ bản

Ngoài việc định tính cho Nho học, Nho giáo, có học giả còn chủ trương phục hồi Nho giáo với tính chất là một tôn giáo thực thụ để đối phó với sự phát triển của tôn giáo khác vào Trung Quốc hiện nay Thang Ân Giai (Học

viện Khổng giáo Hồng Kông) trong bài Phát triển Nho học Khổng giáo là

nhiệm vụ cấp bách trước mắt của Nhà nước là người có chủ trương này

Ông nêu lên rằng, Kitô giáo đang xâm nhập nhanh chóng vào nước Trung Quốc hiện đại, lấn lướt tôn giáo bản địa, khiến cho tôn giáo bản địa mất quyền sinh tồn đáng có, do đó cần phải phát triển “tam giáo”, trong đó có Nho giáo Ông nói: Chính phủ cần căn cứ vào lợi ích quốc gia, dùng biện pháp đúng đắn để hướng dẫn, giúp cho Tam giáo: Nho, Phật, Đạo trở thành chủ thể của tín ngưỡng tôn giáo nhân dân Trung Quốc; và Nhà nước nên khôi phục tổ chức tôn giáo của Khổng giáo, đưa văn miếu và chỗ thờ tự của Nho gia làm nơi hoạt động tôn giáo, bảo hộ sự hoạt động tôn giáo bình thường của Khổng giáo Song, ý kiến này không gây được sự hưởng ứng của

Trang 8

các học giả khác

Tính chất tôn giáo của Nho trong sự nhìn nhận của giới học thuật Trung Quốc hiện nay đã rõ Nhưng là một học thuyết bao gồm nhiều nội dung, mang nhiều tính chất như đạo Nho thì việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn vẫn

là một điều cần thiết

6 Xây dựng và phát triển “Tân Nho học” trong giai đoạn hiện nay

“Tân Nho học” vốn là khái niệm do người phương Tây dùng để chỉ “Lý học”, tức Nho học Tống – Minh để phân biệt với Nho học trước Tần Đầu thế kỷ XX, sau phong trào Ngũ Tứ (1919), người Trung Quốc dùng khái niệm “Đương đại Tân Nho gia” để chỉ một dòng phái văn hoá tư tưởng chủ trương kế thừa, phát huy tư tưởng Nho gia và tư tưởng Đông – Tây kết hợp, nhằm tạo nên một sự chuyển hoá hiện đại của tư tưởng nhà Nho Mấy thập kỷ nay, trong khu vực người Hoa sống ở hải ngoại, cũng xuất hiện một tư trào tân Nho học Tư trào này có những tên gọi khác nhau Lý Trạch Hậu và Quách Nghi (Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) gọi đó là “Tân Nho gia hiện đại”, hoặc “Lý học Tống – Minh hiện đại” Thành Trung Anh (Đại học Honolulu, Hoa Kỳ) gọi là “Tân tân Nho học” Lâm An Ngô (Đại học Sư phạm, Đài Loan) gọi là “Hậu Tân Nho học” và

có một số người khác vẫn gọi là “Tân Nho học” Nói chung, nhiều người quen gọi là “Tân Nho học”

Tân Nho học, nếu kể từ đầu thế kỷ XX, đã có lịch sử khoảng 80 năm Trong khoảng thời gian này, đã có mấy lớp nhà Nho được xem là nhà Nho

Tân Nho học Quách Nghi, trong bài Lược bàn về sự triển khai hiện đại

của Nho học, nêu lên rằng, Tân Nho học đã trải qua 3 thế hệ, thế hệ thứ

nhất là Lương Thấu Minh (1893 – 1988), Hùng Thập Lực (1885 –

1968),…; thế hệ thứ hai là Đường Quân Nghị (1909 – 1978), Mâu Tông Tam (1909 – 1993),…; thế hệ thứ ba là Đỗ Duy Minh, Thành Trung

Anh,… Ở thế hệ thứ ba thì Đỗ Duy Minh là nổi tiếng hơn cả Ông này vừa

Trang 9

là giáo sư Đại học Harvard, vừa là Viện trưởng Viện Harvard Yenching của Đại học Harvard Là người sống và giảng dạy ở Mỹ, song ông luôn xuất hiện với phong thái nhà Nho, tự ví mình với người quân tử, hay dùng

các câu trong Kinh Dịch về người quân tử, như: “Thiên hành kiện, quân tử

dĩ tự cường bất tức” (sự vận hành của trời đất thì cứng cát mạnh mẽ, người quân tử do đó mạnh mẽ vươn tới không ngưng nghỉ), “Địa thế khôn, quân

tử dĩ hậu đức tải vật” (thế của đất thì vững chãi, người quân tử có đức dầy nên chuyên chở được vật) để cổ võ mình và để chứng tỏ với đời Ông đi nhiều nơi trên thế giới để truyền bá tư tưởng Tân Nho học, tạo được một ảnh hưởng lớn đối với giới học thuật trên nhiều châu lục

Đều cùng ý tưởng xây dựng Tân Nho học, nhưng điểm xuất phát để nghiên cứu và xây dựng của mỗi thế hệ có khác nhau Nếu như thế hệ thứ nhất mà Lương Thấu Minh là đại biểu, nói rõ lý do: văn hoá Trung Quốc khác với văn hoá phương Tây, người Trung Quốc “đi con đường của Khổng gia”; thế hệ thứ hai mà Mâu Tông Tam là đại biểu, đã phản ứng lại phong trào chống Nho của cuộc vận động Ngũ Tứ, thấy cần phải khẳng định giá trị của Nho học; thì sự xuất hiện thế hệ thứ ba của Tân Nho học là dùng Nho học

để đáp trả các trào lưu tư tưởng phương Tây ngày càng lan tràn trên thế giới Đỗ Duy Minh khẳng định một cách rõ ràng: Sự thách thức của tư tưởng phương Tây đối với Nho học, có thể xét từ ba tầng lớp: Thứ nhất là tầng lớp của tinh thần siêu việt, cũng tức là phương hướng văn hoá mà Kitô giáo làm đại biểu, trong đó còn phải kể đến Do Thái giáo và Hồi giáo; thứ hai là tầng lớp xã hội, là vấn đề xây dựng xã hội mà trước mắt có ảnh hưởng lớn nhất đối với phương Đông là chủ nghĩa Mác; thứ ba là tầng lớp tâm lý, là tâm lý học cổ điển S.Freud cùng với phân tích học tâm lý ở đó

mà ra Từ đó, theo ông, trước sự thách thức của văn minh hiện đại phương Tây thì sự trả lời mang tính chất sáng tạo chính là điểm xuất phát của sự phát triển thời kỳ thứ ba của Nho học Theo Đỗ Duy Minh cũng như nhiều

Trang 10

người khác trong cuộc thì ý đồ của Nho học thế hệ thứ ba là: một sự kết hợp tư tưởng Trung Quốc – phương Tây hiện đại trên cơ sở Nho gia sẽ là

tư tưởng thích hợp nhất đối với thế giới ngày nay

Đề cập đầu tiên tới việc xây dựng Tân Nho học hiện đại là người Hoa hải ngoại Người Trung Quốc đại lục đã đi sau họ một bước Từ năm 1949 đến nay, tình hình nghiên cứu Nho học ở Trung Quốc đại lục có thể chia làm bốn giai đoạn: giai đoạn thứ nhất từ 1949 – 1966, chủ yếu là phân tích tư tưởng phong kiến của Nho giáo; giai đoạn thứ hai từ cuối 1966 – 1977 là giai đoạn “cách mạng văn hoá vô sản”, Nho giáo lúc này được xem là đối tượng để phê phán; giai đoạn thứ ba từ 1978 đến cuối những năm 80, Nho học được nghiên cứu dưới quan điểm đa nguyên văn hoá; giai đoạn thứ tư

từ đầu những năm 90 cho đến nay, hướng nghiên cứu dần đi đến khẳng định giá trị tích cực của Nho giáo Nhiều học giả Trung Quốc đại lục thấy phải phục hồi và phát triển Tân Nho giáo (cũng gọi là Tân Nho học) Giữa

họ và người Hoa hải ngoại đã có sự hợp lưu

Từ khi giới học giả Trung Quốc đại lục tham gia vào việc phục hưng và phát triển Nho học thì việc nghiên cứu và truyền bá Nho học mở ra một thời kỳ mới với số người tham gia đông đảo hơn, công việc triển khai có quy mô lớn hơn và ý đồ đề cao giá trị Nho học cũng mãnh liệt hơn Về đại thể, công việc được triển khai trên bốn lĩnh vực cơ bản: xây dựng phương hướng nghiên cứu, phát triển; xây dựng lý thuyết mới có nguồn gốc từ Nho; truyền bá kiến thức Nho học cho nhân dân và tổ chức, chỉ đạo điều hành các việc trên

Phương hướng nghiên cứu, phát triển Nho học là điều khó khăn nhất và cũng phức tạp nhất Hiện còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau Đỗ Duy Minh mới nêu lên nguyên lý chung là “phải sáng tạo” trong nghiên cứu Thành

Trung Anh thì nêu được cụ thể hơn Ông nêu lên hai ý: một là, về phương

pháp, cần phải chỉnh đốn, dung hợp một cách sáng tạo giá trị của Nho học

Ngày đăng: 11/08/2014, 01:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w