Nguồn vốn trong nước Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và tiết kiệm của chí
Trang 1Trường Đại Học Quy Nhơn Khoa Kinh Tế & Kế Toán
BÀI TIỂU LUẬN
Bộ Môn: Kinh Tế Đầu Tư Giáo Viên: Hoàng Thị Hoài Hương
Sinh Viên Thực Hiện : Nhóm 12
Đề Tài 7 : Vai trò và mối quan hệ giữa vốn trong và ngoài nước
Trang 3Mục Lục
Lời mở đầu
Chương I: Những vấn đề lý luận chung
I Khái niệm phân loại và bản chất của nguồn vốn đầu tư
1 Khái niệm
1.1 Vốn đầu tư
1.2 Nguồn vốn đầu tư
2 Các nguồn huy động vốn đầu tư
2.1 Nguồn vốn trong nước
2.2 Nguồn vốn nước ngoài
II Vai trò và mói quan hệ của nguồn vốn đầu tư trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
1 Nguồn vốn nước ngoài là quan trọng
2 Nguồn vốn trong nước là quyết định
Chương II: Thực trạng vốn đầu tư trong nước, nước ngoài và mối quan hệ giữa chúng ở Việt Nam
I Thực trạng về nguồn vốn trong nước
1 Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước
1.1 Ngân sách nhà nước
1.2 Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước
1.3 Vốn đầu tư từ khu vực tư nhân
2 Thị trường vốn
II Thực trạng về vốn nước ngoài
1.Nguồn vốn tài trợ phát triển chính thức
2 Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài
III Thực trạng về mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong và ngoài nước
IV Đánh giá
1.Những mặt đạt được
2 Những mặt hạn chế
Chương III: Giải pháp
I Định hướng thu hút các nguồn vốn đầu tư
II Giải pháp & Kiến nghị
Trang 4Lời mở đầu
chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sữa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết biij và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội
Thực hiện đầu tư là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội Quá trình này đòi hỏi phải tiêu hao những nguồn lực của xã hội mà trong
đó vốn là một trong những nguồn lực quan trọng Trên góc độ vĩ mô, vốn được chia làm hai loại: Vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài Hai nguồn vốn này có quan hệ mật thiết với nhau cũng như tác động trực tiếp đến nền kinh tế của mỗi quốc gia , vùng lãnh thổ
Tại Việt Nam, chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa-hiện đại hóa , tăng trưởng kinh tế phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp thì việc sử dụng nguồn vốn đầu tư để đạt được mục đích này là rất quan trọng Chính vì thế, chúng
ta cần phải nghiên cứu trên cơ sở lý luận về vài trò và mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, để từ đó ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam
Với những lý do nêu trên , nhóm 12 chúng em đã thực hiện nghiên cứu đề tài này Trong quá trình thực hiện còn nhiều thiếu sót, nhưng với tinh thần cầu thị và học hỏi, chúng em mong giáo viên và các bạn chân thành đóng góp ý kiến để chúng
em có thể thực hiện tốt hơn những đề tài sau
Trang 5Chương I : Những vấn đề lý luận chung
1.2 Nguồn vốn đầu tư
Là các kênh tập trung và phân phối cho vốn đầu tư phát triển đáp ứng nhu cầu
2
Các nguồn huy động vốn đầu tư :
2.1 Nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội
2.1.1 Nguồn vốn Nhà nước
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước
a.Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước:
Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lựơc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn
b.Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước:
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế tín dụng, các đợn vị
sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
Bên cạnh đó , vốn tín dụng phát triển của nhà nước còn phục vụ công tác quản lý
và điều tiết kinh tế vĩ mô Thông qua nguồn vốn tín dụng, nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành , vùng, lĩnh vực theo hướng chiến lược của mình
Trang 6c.Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước:
Được xác định là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn khá lớn Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực thì khu vực kinh tế Nhà nước với
sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.(thông thường chiếm từ 14-15%)
2.1.2 Nguồn vốn từ khu vực dân cư và tư nhân
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà cuă được huy động triệt để
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong dân cư
có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích luỹ tryuền thống Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt … nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập
và chi tiêu của các hộ gia đình
2.2 Nguồn vốn nước ngoài:
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động được vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm Dòng vốn này diễn ra với nhiều hình thức Mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn giống nhau Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngòai chính như sau:
- Viện trợ phát triển chính thức (ODA -offical development assistance)
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI);
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
2.2.1 Nguồn vốn ODA
Là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay
Trang 7Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF nào khác.Bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của chính phủ, các tổ chức liên hợp quốc…Vốn ODA được các chính phủ tài trợ
là để thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở các nước đang phát triển như xây dựng cơ sở hạ tầng , đầu tư nghiên cứu… các yếu tố không hoàn lại của vay vốn ODA ít nhất 25% , thời gian cho vay dài , khối lượng cho vay lớn, thời gian ân hạn dài
2.2.2 Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràng buộc
về chính trị, xã hội Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường là tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của thị trường thế giới và xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là ngắn hạn Một bộ phận của nguồn vốn này có thể được dùng để đầu tư phát triển Tỷ trọng của nó có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là sáng sủa
2.2.3 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về trình độ kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn Vì thế nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền
sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình
Tài sản trong khái niệm này theo thông lệ quốc tế , có thể là tài sản hữu hình (máy móc , thiết bị , quy trình công nghệ , bất động sản ,…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ , bí quyết,kinh nghiệm quản lý ,…) hoặc tài sản tài chính ( cổ phiếu ,trái phiếu , giấy ghi nợ ,…) Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh
tế có nhân tố nước ngoài
Trang 82.2.4 Thị trường vốn quốc tế
Với xu hướng toàn cầu, mối liên kết ngày càng tăng của thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu
Thị trường vốn quốc tế được biểu hiện bằng sự phát triển của thị trường chứng khoán, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán của các nước đang phát triển ngày càng mạnh mẽ Chính phủ của các nước đang phát triển có thể phát hành trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế để huy động nguồn vốn lớn, tập trung cho phát triển kinh tế
II.
Vai trò và mối quan hệ của nguồn vốn đầu tư trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế :
1 Nguồn vốn trong nước là quyết định
Đây là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định chi phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong nước Trong lịch sử phát triển các nước và trên phương diện lý luận chung, bất kỳ nước nào cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính Sự chi viện
trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng đề ra của quốc gia
1.1 Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN)
Đầu tư từ NSNN là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư
Nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm đẩy mạnh đầu tư của mội thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
Với vai trò là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định điều điều tiết vĩ mô, vốn tư NSNN đã được nhận thức và vận dụng khác nhau tuỳ thuộc quan niệm của mỗi quốc gia Trong thực tế điều hành chính sách tài khoá, Nhà nước có thể quyết định tăng, giảm thuế, quy mô thu chi ngân sách nhắm tác động vào nền kinh tế Tất cả những điều đó thể hiện vai trò quan trọng của NSNN với tư cách là công cụ tài chính vĩ mô sắc bén nhất hữu hiệu nhất, là công cụ bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái…
1.2 Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp
Đây là nguồn vốn có sự phát triển và đổi thay khá mạnh khi nền kinh tế có sự chuyển biến Các doanh nghiệp luôn là lực lượng đi đầu trong việc ứng dụng tiến
bộ khoa học công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật Nên nguồn vốn xuất phát từ nó có vai trò hữu hiệu hỗ trợ cho sự định hướng điều tiết vĩ mô nền kinh tế
1.3 Vốn đầu tư của nhân dân
Nguồn vốn tiết kiệm của dân cư phụ thuộc rất lớn vào thu nhập và chi tiêu của các
hộ gia đình Đây là một lượng vốn lớn Nhờ có lượng vốn này mà đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn trong các doanh nghiệp, nó cũng giải quyết được một
Trang 9phần lớn công ăn việc làm cho lao dộng nhàn rỗi trong khu vực nông thôn từ đó thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.
Như vậy vốn đầu tư trong nước là nguồn cơ bản đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắc chắn và lâu bền Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển, khả năng tích luỹ thấp thì việc tăng cường huy động các nguồn vốn nước ngoài để bổ sung có ý nghĩa rất quan trọng
2. Nguồn vốn nước ngoài là quan trọng
Nếu như vốn trong nước là nguồn có tính chất quyết định, có vai trò chủ yếu thì vốn nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng trong những bước đi ban đầu tạo ra
Ngoài ra ODA còn có vai trò quan trọng trong việc giúp các nước nghèo tiếp thu những thành tựu khoa học,công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực
Và cuối cùng ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang và chậm phát triển
2.2 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số các nguồn huy động từ nước ngoài Không chỉ có vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế xã hội, mà biểu hiện cụ thể thông qua ba tiêu chí:
- Kích thích công ty khác tham gia đầu tư
- Góp phần thu hút viện trợ phát triển chính thức
- Gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, do đó tăng thêm tỷ lệ huy động vốn trong nước
Ngoài ra FDI còn góp phần quan trọng vào việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế
FDI còn có vai trò tích cực trong việc góp phần giải quyết việc làm và quan trọng hơn cả là đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Số lượng lao động
có việc làm và chuyên môn cao ở trong nước ngày càng tăng, và điều cơ bản mà FDI đã làm được đó là không chỉ nâng cao tay nghề mà còn thay đổi tư duy và phong cách lao động theo kiểu công nghiệp hiện đại, là lực lượng tiếp thu chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiến bộ
qua thị trường quốc tế đẫ chấp nhận sản phẩm của các nước kém phát triển này Chính vì vậy mà FDI còn có vai trò mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài
kinh tế - tài chính và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô Để có thể thu hút FDI, chúng ta
Trang 10phải đứng trước yêu cầu cấp thiết cải tạo và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn Có như thế chúng ta mới lọt vào tầm ngắm của các nhà đầu tư nước ngoài.
Mối quan hệ giữa hai nguồn vốn:
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế của một nước đang phát triển do mức thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng và tích luỹ là rất khiêm tốn Nhưng giai đoạn này lại cần một khoản vốn lớn để đầu tư nhằm hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế lâu dài Trong giai đoạn này thường tồn tại khoảng cách lớn giữa đầu tư với tiết kiệm, cần nguồn bù đắp Hơn nữa trong giai đoạn này do nền công nghiệp của đất nước chưa phát triển nên hàng xuất khẩu nếu có chỉ đa phần là hàng sơ chế nông sản, nguyên liệu thô…
có giá trị gia tăng thấp Ngược lại về phía nhập khẩu do nhu cầu phát triển đòi hỏi phải nhập khẩu hàng cao cấp máy móc thiết bị kĩ thuật công nghệ… có giá trị gia tăng cao Điều đó dẫn đến cán cân thương mại, cán cân thanh toán luôn nằm trong tình trạng thâm hụt Để giải quyết khó khăn này, nhiều nước đã tìm đến nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhằm tài trợ cho những thiếu hụt đó
Mặt khác với các nước đang phát triển thường rơi vào vòng luẩn quẩn
↓
Để tạo ra sự “cất cánh” cho nền kinh tế phải tìm cách tạo ra mức sản lượng, mức thu nhập ngày càng gia tăng muốn vậy cần phải có vốn đầu tư và kĩ thuật tiên tiến
Và trong lúc nền kinh tế còn đang trong trạng thái tự đảm bảo một cách khó khăn
sự sinh tồn của mình, không thể trông đợi hoàn toàn vào con đường “thắt lưng
buộc bụng” tích luỹ nội bộ Mà không phát triển nhanh thì nước đó luôn rơi vào
tình trạng rượt đuổi do tụt hậu phát triển Vốn đầu tư nước ngoài lúc này là cơ sở
để tạo công ăn việc làm cho số lao động thường là dư thừa, thực hiện phân công lao động mới nhằm mục tiêu nâng cao năng suất lao động Đây là tác động kép của vốn đầu tư nước ngoài vừa tạo công ăn việc làm đồng thời làm gia tăng thu nhập cho người lao động và đất nước Vốn đầu tư nước ngoài khuyến khích nhập các công nghệ tiên tiến là cơ sở làm gia tăng năng suất lao động xã hội, gia tăng sản lượng làm nền kinh tế tăng trưởng Trên cơ sở đó làm gia tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế: Ngân sách Nhà nước tăng do thu thêm thuế lệ phí từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tích luỹ dân cư tăng do thu nhập tăng Như vậy nếu sử dụng tốt thì vốn đầu tư nước ngoài về ngắn hạn là đáp ứng vốn đầu tư phát triển, về dài hạn góp phần gia tăng nguồn vốn tích luỹ trong nước
Song không phải là lúc nào nguồn vốn nước ngoài cũng đem lại hiệu quả như mong muốn, mà nó cũng luôn tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng nợ nước ngoài và gia tăng sự phụ thuộc vào nền kinh tế nước ngoài Vì vậy, vấn đề là làm thế nào để sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài? Mà thông thường để vốn đầu tư nước ngoài phát huy tác dụng cần có một tỉ lệ vốn đối ứng trong nước thích hợp Nghĩa là
Trang 11muốn tiếp nhận được vốn nước ngoài thì trong nước cũng phải chuẩn bị sẵn một
số cơ sở nhất định toạ điều kiện cho vốn nước ngoài hoạt động hiệu quả Theo
tỉ lệ này thường thấp 1/1.5 nghĩa là một đồng vốn nước ngoài cần 1.5 đồng vốn trong nước Ở giai đoạn sau khi các chương trình đầu tư nghiêng về ngành công gnhiệp chế biến có hàm lượng vốn và kĩ thuật cao thì tỉ lệ này tăng lên 1/2.5
Ngoài ra vốn đầu tư trong nước còn đóng vai trò định hướng cho dòng đầu tư nước ngoài chảy vào các ngành, các lĩnh vực cần thiết Đầu tư trong nước trên cơ sở đầu tư ban đầu tạo ra những cơ sỡ hạ tầng căn bản, đầu ra, đầu vào…song lại thiếu máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm đạt chất lượng cao, mang tính cạnh tranh so với quốc tế để phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu.Với cơ sở
hạ tầng sẵn có đó thì đầu tư nước ngoài trở nên an toàn và ít tính rủi ro hơn, bởi vì bản chất của dòng đầu tư nước ngoài là tìm kiếm nơi có tỉ suất lợi nhuận cao hơn, đem lại nhiều lợi nhuận hơn sẽ làm đầu tư nước ngoài tập trung nhiều hơn
Như vậy vốn trong nước và vốn nước ngoài có mối quan hệ mật thiết với nhau
Như Đảng và Nhà nước ta đã xác định trong giai đoạn đầu của quá trình công
nghiệp hoá vốn nước ngoài có thể đóng vai trò xung lực tạo sức đột phá cho bước nhảy vọt sản lượng, cũng như những cơ sở vững chắc cho việc đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh lâu bền Song về lâu dài nó không thể đóng vai trò quyết định so với nguồn lực riêng có của đất nước
Chương II: Thực trạng vốn đầu tư trong nước, nước ngoài và mối quan hệ giữa chúng ở Việt Nam
I
Thực trạng về nguồn vốn trong nước
1 Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước
Để không lệ thuộc nước ngoài về kinh tế Đảng luôn xác định nhiệm vụ và giải pháp quan trọng phát triển kinh tế xã hội là “huy động tối đa nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội nhất là nội lực, nguồn lực trong dân và tăng sức thu hút đầu tư nước ngoài, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư của nước ngoài, tăng cường quản lý sử dụng đất đai, đề cao kỉ luật tài chính, đẩy mạnh thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm, phấn đấu giảm bội chi”.Thực tế cho thấy tỉ lệ vốn đầu tư khu vực trong nước luôn chiếm khoảng trên 70% so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội và hiện nay có xu hướng ngày càng tăng
1.1 Ngân sách nhà nước
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một
Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng
Trang 12đồng và nhà nước của từng cộng đồng Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước.
Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân
Tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 595.000 tỷ đồng tương đương 26,2% tổng sản phẩm trong nước; tính cả 10.000 tỷ đồng thu chuyển nguồn năm 2010 sang năm 2011 thì tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 605.000 tỷ đồngTổng số chi cân đối ngân sách nhà nước là 725.600 tỷ đồng
Mức bội chi ngân sách nhà nước là 120.600 tỷ đồng ,tương đương 5,3% tổng sản phẩm trong nước
đạt 409,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 38,3% GDPTrong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện sáu tháng đầu năm ước tính đạt 73,7 nghìn tỷ đồng, bằng 38,8% kế hoạch năm và
tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Công Thương là 1612 tỷ đồng, bằng 39,5% và tăng 6,8%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1912 tỷ đồng, bằng 52,1% và tăng 22,7%; Bộ Y tế 432 tỷ đồng, bằng 48,1% và tăng 3,9%; Bộ Xây dựng 242 tỷ đồng, bằng 24,7% và giảm 29,6%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 381 tỷ đồng, bằng 42,4% và tăng 2,7%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 260 tỷ đồng, bằng 46,6% và giảm 1,5%
Vốn địa phương quản lý đạt 56 nghìn tỷ đồng, bằng 37,7% kế hoạch năm và tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2010 Một số địa phương có khối lượng vốn đầu tư thực hiện lớn là: Hà Nội đạt 7444 tỷ đồng, bằng 37,1% kế hoạch năm và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2010; thành phố Hồ Chí Minh 6211 tỷ đồng, bằng 44% và tăng 12,5%; Đà Nẵng 3785 tỷ đồng, bằng 66% và tăng 3,6%; Thanh Hóa 2277 tỷ đồng, bằng 46,9% và tăng 11,9%; Quảng Ninh 2035 tỷ đồng, bằng 51,8% và tăng 6,4%; Cần Thơ 1596 tỷ đồng, bằng 57,1% và tăng 11,4%; Hậu Giang 1537 tỷ đồng, bằng 71,6% và tăng 10,9%
1.2 Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước
Thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, các tập đoàn, Tổng Công ty (TCty) nhà nước đều thực hiện nghiêm túc việc rà soát, cắt giảm các dự án đầu tư Trong năm
Trang 132011, khối Doanh Nghiệp (DN) này đã chủ động cắt giảm, dãn tiến độ thực hiện tổng cộng 633 công trình, dự án chưa cần thiết, kém hiệu quả, điều chuyển vốn với tổng trị giá 49.942 tỉ đồng, chiếm hơn 50% tổng trị giá cắt giảm đầu tư của cả nước Đây cũng là nguyên nhân chính khiến giá trị đầu tư của các DN đều thấp hơn so với kế hoạch đã góp phần làm giảm tổng cầu vốn của nền kinh tế
Hầu hết các DN, theo đánh giá, đều gặp khó khăn lớn về nguồn vốn huy động cho đầu tư Nhiều nguồn vốn bố trí để thực hiện các dự án trọng điểm cũng khó thu xếp, chậm tiến độ thi công Giá trị đầu tư bình quân chỉ đạt từ 60-70% kế hoạch Tính đến hết 8 tháng năm 2011, EVN thực hiện khối lượng vốn đầu tư 37.811 tỉ đồng, chỉ bằng 54,1% kế hoạch, trong đó giá trị giải ngân đạt 31.094 tỉ đồng, bằng 44,5% KH Các TCty có mức đầu tư đạt thấp là TCty Hàng không (39%), TCty Ximăng (49%), TCty Sông Đà (59%)
Ngoài ra, những khó khăn nội tại và chi phí đầu vào tăng cao dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của một số DN thấp, thậm chí bị thua lỗ Điển hình là Tập đoàn
CN Tàu thủy VN (Vinashin), chậm tái cơ cấu, sản xuất kinh doanh chưa đáp ứng được yêu cầu kế hoạch đề ra Đến nay, tập đoàn này còn khoản lỗ lên tới 3.092 tỉ đồng Một số đơn vị thành viên Vinashin hiện chưa có khả năng trả nợ lương, bảo hiểm xã hội cho người lao động Tập đoàn Điện lực VN lũy kế lỗ đến ngày
30.6.2011 là 31.565 tỉ đồng Trong đó, riêng năm 2010, EVN do phải phát các nguồn điện chạy dầu giá thành cao, đầu tư tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn mà khoản lỗ lên tới 23.647 tỉ đồng 6 tháng đầu năm 2011, DN này lỗ tiếp gần 8.000 tỉ
TCty Hàng hải VN (Vinalines) 6 tháng đầu năm cũng có mức lỗ khiêm tốn 660 tỉ đồng, chưa kể khoản nợ nhận từ Vinashin chuyển sang là 16.000 tỉ Tiếp đến, TCty Xăng dầu VN (Petrolimex), số liệu đến hết 7 tháng đầu năm, cũng ghi nhận khoản lỗ 1.449 tỉ đồng Còn Tập đoàn Sông Đà thiếu vốn do chủ đầu tư chậm thanh toán theo hợp đồng đến mức nợ lên đến trên 5.500 tỉ đồng Nhiều DN thuộc các lĩnh vực vận tải, xây dựng, ximăng, sắt thép hiện đang có tỉ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đạt thấp, dưới mức 5% Đã xuất hiện nợ xấu của các ngân hàng thương mại lớn tăng cao như Vietcombank tỉ lệ nợ xấu tới 3,47%, NH NNPTNT
nợ xấu tới 6,67% Tình hình đã ở mức báo động khiến Đảng ủy khối DN Trung ương cảnh báo: “Nếu không có các giải pháp tháo gỡ kịp thời, một số DN sẽ dần
Dù hiện thua lỗ, không có khả năng thu xếp vốn để đầu tư các công trình, dự án thuộc lĩnh vực kinh doanh chính, nhưng nhiều tập đoàn, TCty nhà nước vẫn còn găm giữ vốn đầu tư ra ngoài ngành, dẫn đến việc đầu tư phân tán, dàn trải, hiệu quả thấp Thống kê trong số 21 trên tổng số 31 DN, ngân hàng có đầu tư ra ngoài ngành cho thấy, các đơn vị đã dành tới 22.590 tỉ đồng để đầu tư ra ngoài ngành nghề chính Có 6 DN đầu tư trên 1.000 tỉ đồng Trong số này, nhiều nhất là Tập đoàn Dầu khí VN (PVN), dù đã có chủ trương thoái vốn đầu tư ở nhiều lĩnh vực ngoài ngành, nhưng đến nay, tập đoàn vẫn còn tới 6.690 tỉ đồng, chiếm 3,76% vốn
Trang 14điều lệ đầu tư vào các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, bất động sản, chứng khoán Tập đoàn CN Caosu VN đứng vị trí thứ 2 với khoản đầu tư ra bên ngoài khoảng 3.700 tỉ đồng, chiếm 19,8% vốn điều lệ EVN hiện có khoản lỗ khổng lồ lớn nhất trong số các tập đoàn, TCty nhà nước (11.669 tỉ đồng), nhưng cũng chưa kịp thoái vốn ở các lĩnh vực đầu tư ngoài ngành mà DN này đã đầu tư trước đó như ngân hàng, bất động sản, kinh doanh khách sạn Hiện vốn đầu tư ngoài
ngành của EVN là 2.100 tỉ đồng, chiếm 2,8% vốn điều lệ
Hiện có 13 DN đầu tư nhiều nhất vào các lĩnh vực được xem là tiềm ẩn nhiều rủi
ro, dễ mất an toàn vốn là tài chính, ngân hàng, bảo hiểm với số vốn lên tới hơn 10.700 tỉ đồng; 13 DN khác đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán với tổng số vốn là 1.300 tỉ đồng 8 doanh nghiệp đầu tư vào bất động sản, khu công nghiệp xây lắp với tổng vốn hơn 3.754 tỉ đồng; 8 DN đầu tư vào BĐS, khu công nghiệp, xây lắp với tổng vốn hơn 3.754 tỉ đồng, riêng Tập đoàn Caosu đầu tư hơn 1.500 tỉ đồng
1.3 Vốn đầu tư từ khu vực tư nhân
Khu vực tư nhân Việt nam, cả bộ phận doanh nghiệp có đăng ký và bộ phận hộ gia đình phi chính thức chiếm 40% Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong
những năm qua và trong thời gian tới là tiếp tục huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế đặc biệt là nguồn vốn trong dân Theo đánh giá sơ bộ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư và phần tích luỹ của cách doanh nghiệp dân doanh
a.Tiết kiệm của khu vực dân cư
Cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước một bộ phận không nhỏ trong dan cư
có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích luỹ truyền thống Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ tồn tại dưới dạng vàng ngoại tệ tiền mặt Nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Điều này đã được thể hiện bằng thực tế, nguồn vốn huy động từ tiết kiệm của dân cư chiếm 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Qua một số đợt phát hành công trái đã huy động một lượng vốn rất lớn từ dân cư, chỉ một thời gian ngắn nhưng số tiền huy động đã lên đến hàng ngàn tỉ đồng
b Đầu tư của khu vực dân doanh
Cùng với sự xác định của Đảng và Nhà nước về vai trò cụ thể của thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh thì trong những năm đổi mới vừa qua , diễn biến cơ cấu
nguồn vốn đầu tư ở nước ta đã cho thấy xu thế vận động hướng tới cơ cấu ngày càng có hiệu quả phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Trong đó đặc trưng là nguồn vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã gia tăng trong tổng đầu tư xã hội
Xét về mặt hiệu quả và chất lượng, có bằng chứng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là tương đối cao so với các khu vực kinh tế khác Với tính chất phong phú, đa dạng, linh hoạt, năng động và chứa đựng cả những khả năng lớn của sáng kiến cá nhân, trên phương diện lý thuyết, khu vực
Trang 15kinh tế ngoài quốc doanh có cơ sở và trách nhiệm phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của mình.
2
Thị trường vốn
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phảt triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán là trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, tổ chức tài chính
Kinh tế Việt Nam trong 06 tháng đầu năm 2011 diễn biến theo chiều hướng xấu, nổi bật là tình trạng lạm phát gia tăng mạnh, chỉ số CPI tính đến tháng 6/2011 tăng 13,29% so với tháng 12/2010 và tăng 20,82% so với cùng kỳ năm 2010 ; trong khi
đó tăng trưởng GDP chỉ ở mức trung bình (GDP trong sáu tháng đầu năm 2011 ước tính tăng 5,57% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó quý I tăng 5,43%; quý II tăng 5,67%); tình trạng thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại chưa có dấu hiệu được cải thiện (bội chi ngân sách của Việt Nam luôn ở mức 5%GDP từ nhiều năm nay; thâm hụt thương mại tính đến 15/5 là 5.8 tỷ USD, tăng tới 13% so với cùng kỳ năm 2010 và dự báo vào khoảng 7,5 tỷ USD trong 06 tháng đầu năm) Diễn biến trên được thể hiện rất rõ qua diễn biến ảm đạm của thị trường chứng khoán Việt Nam trong 06 tháng đầu năm 2011, chỉ số Vnindex đã có lúc giảm xuống mức 371 điểm ngày 26/5/2011và Hnindex cũng đã thiết lập mức đáy mới
Chỉ số VNI bị thao túng bởi một nhóm cổ phiếu có vốn hóa lớn tiểu biểu là BVH, MNS, VIC, DPM, VCB, CTG, VNM, đây cũng là những cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư của khối ngoại Động thái này đã giúp cho VNI neo tại khu vực 450 – 480 điểm trong một thời gian khá dài trước khi sụt giảm mạnh từ giữa tháng 5 Trong khi đó, chỉ số HNX phản ánh trung thực hơn so với VNI do không bị bóp méo bởi một số cổ phiếu vốn hóa lớn, do đó nhiều cổ phiếu tại đây
đã sụt giảm khá sâu, đa số mất giá từ 50 – 100% thị giá so với mức đầu năm và hiện theo thống kê có tới 2/3 cổ phiếu có thị giá dưới mệnh giá Với việc sụt giảm trong suốt thời gian trên thì hiện chỉ số P/E toàn thị trường chỉ còn khoảng 8.5, mức khá thấp so với các thị trường chứng khoán các nước trên thế giới Thực tế, nếu loại bỏ nhóm 03 cổ phiếu BVH, MSN, VIC thì thực tế Vnindex hiện đang ở
Hoạt động giải chấp diễn khá mạnh do thị trường giảm sút mạnh khiến cho bộ phận nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy cao phải thanh lý bớt danh mục đầu tư để trả nợ, trong khi đó các Công ty chứng khoán ( CTCK) cũng mạnh tay trong việc giảm hạn mức cho vay đối với các nhà đầu tư nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn và giảm thiểu rủi do triển vọng thị trường không mấy sáng sủa Thực tế chúng ta vẫn chưa thể xác định chính xác được số lượng nợ xấu tại các công ty chứng khoán, một số bài viết cho rằng các khoản phải thu của các CTCK hiện khoảng 11.200 tỷ đồng , đây thực sự là vấn đề không chỉ đối với các CTCK mà còn ảnh hưởng trực tiếp
Trang 16đến hệ thống ngân hàng do đa số các CTCK tại Việt Nam đều công ty con hoặc có liên hệ mật thiết với các NHTM, hiện theo thống kê tại Tp Hồ Chí Minh tính đến hết tháng 4, nợ xấu của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tăng lên 4,2%
so với tháng trước là 3,9% trong đó các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính có nợ xấu lên đến 26,3%, ngân hàng quốc doanh 5,6%, NHTMCP ở mức 2,9%
Nhà đầu tư trong nước gần như mất hết niềm tin vào thị trường, một bộ phận tỏ ra bức xúc trước cách hành xử của những người có trách nhiệm khi không có một động thái đáng kể nào giúp hỗ trợ nhà đầu tư và nâng cao tính thanh khoản của thị trường như cho phép thanh toán T+2, miễn thuế thu nhập chứng khoán Tuy mới đây Bộ Tài chính (1/6) đã ban hành Thông tư 74/2011/TT-BTC hướng dẫn hoạt động giao dịch chứng khoán, mặc dù nội dung thông tư có nhiều điểm tích cực như cho phép giao dịch ký quỹ (Margin), mua bán trong phiên, mở nhiều tài khoản qua đó hợp thức hóa các hình thức giao dịch đã được hầu hết các CTCK sử dụng, tuy nhiên nội dung được NĐT mong đợi nhất là thanh toán T+2 vẫn chưa được đề cập Dù sao Thông tư này được đánh giá là liều thuốc cần thiết nhằm giải tỏa phần nào tâm lý của NĐT thời gian qua
Nhà đầu tư nước ngoài vẫn liên tục mua ròng tuy nhiên giá trị mua ròng đã giảm khoảng một nửa so với cùng kỳ năm 2010 đạt mức 3,620 tỷ đồng, tập trung vào các mã truyền thống như VNM, CTG, DPM, VCB, PVD, HAG trên sàn Hose và PVS, VCG, PVX… trên sàn Hax Tuy nhiên xu hướng này đã gặp thử thách thời gian khi thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn đang trong xu hướng giảm trung hạn và triển vọng kinh tế chưa có nhiều tiến triển
tế ta đã giải quyết nợ quá hạn với IMF IMF cũng tuyên bố cho Việt Nam vay theo thể thức dự phòng 230 triệu USD Đến năm 1994 Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam, năm 1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN.Những điều đó đã làm dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được thuận lợi hơn