Qua phỏng vấn sâu những người dân và cán bộ quan chức chính quyền địa phương, họ đều cho rằng trong những 90 của thế kỷ XX, chính quyền địa phương Bát Tràng chủ yếu chú trọng phát triển
Trang 1(tiếp theo và hết)
Hoàng Thế Anh*
III Vai trò chính quyền địa
phương ở Bát Tràng: chủ yếu
quản lý hành chính
Bát Tràng là một xã thuộc huyện Gia
Lâm, thành phố Hà Nội, có hai thôn Bát
Tràng và Giang Cao, là một khu sản
xuất và kinh doanh gốm sứ lâu đời và
nổi tiếng ở Việt Nam (bài viết này coi
đây như là một khu chuyên doanh) Diện
tích toàn khu là 164 ha, năm 1989, số
dân toàn khu là 4964 người với 1170 hộ
Đầu năm 2002, dân số toàn khu là 6655
người với 1628 hộ (Phan Huy Lê,
Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang
Ngọc, 1995, tr 18; Đảng uỷ, Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã Bát
Tràng, 2002, tr 9) Khu chuyên doanh
gốm sứ Bát Tràng là một khu dân cư có
thu nhập cao ở nông thôn Việt Nam,
mức bình quân thu nhập của các hộ thấp
cũng đạt 10 - 20 triệu đồng/năm, của các
hộ trung bình là 40 - 50 triệu đồng/năm,
còn các hộ có thu nhập cao đạt tới hàng
trăm triệu đồng/năm Thu nhập từ nghề
gốm sứ của Bát Tràng chiếm tới 86%
tổng thu nhập của toàn khu Trong khi
đó mức thu nhập bình quân của một lao
động ở hộ phi nông nghiệp ở các vùng nông nghiệp khác là 430.000 - 450.000
đồng/tháng, ở hộ kiêm nghề từ 190.000 - 240.000 đồng/tháng, ở hộ lao động thuần nông chỉ có khoảng 70.000 - 100.000
đồng/tháng (Trần Minh Yến, 2004, tr 65) Tổng giá trị sản lượng toàn khu tăng từ 94,7 tỷ đồng năm 1996 lên đến 112,17 tỷ đồng năm 2000 Trong đó năm
2000 thủ công nghiệp chiếm 90 tỷ; dịch
vụ 20 tỷ; nông nghiệp 0,17 tỷ; thu nhập khác 2 tỷ (Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân xã Bát Tràng, 2002, tr 126) Tốc độ đô thị hoá ở Bát Tràng rất nhanh, rất nhiều gia đình đã xây biệt thự và mua ô tô (Uỷ ban nhân dân xã Bát Tràng, 2003, tr 3) Có thể nói rằng Bát Tràng là một trong những khu phát triển so với các làng xã khác ở nông thôn Việt Nam
Như trên đây đã trình bày, ở Phong Khê, Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc, chính quyền địa phương là nhân
tố quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển, ngược lại, qua những tư liệu do Uỷ
* TS Viện Nghiên cứu Trung Quốc
Trang 2ban nhân dân xã Bát Tràng cung cấp và
tư liệu phỏng vấn sâu năm 2003, 2004,
2005, cho thấy rằng chính quyền địa
phương không phải là nhân tố quan
trọng thúc đẩy kinh tế địa phương phát
triển Chính quyền địa phương ở Bát
Tràng cũng như chính quyền địa phương
những nơi khác ở Việt Nam ngoài việc
quản lý nông nghiệp ra, chủ yếu nghiêng
về quản lý hành chính Trong quá trình
chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang
kinh tế thị trường, do việc phân cấp
quản lý, chính sách thuế… còn nhiều bất
cập, nên chưa kích thích được quan chức
địa phương tích cực thúc đẩy kinh tế
phát triển
1 Chủ yếu quản lý hành chính
Các báo cáo công tác hàng năm của
Uỷ ban nhân dân xã Bát Tràng (1993,
1994, 1995, 1996, 1997, 1998, 1999) đều
đặt nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp vào
vị trí hàng đầu, đối với sản xuất thủ
công nghiệp chỉ giới thiệu sơ qua tình
hình sản xuất gốm sứ, tổng kết những
điều kiện có lợi, nêu ra một số khó khăn
trong sản xuất gốm sứ (5) Hoặc tổng kết
một ngân hàng nào đó đã cho các doanh
nghiệp và các hộ vay vốn (6) Còn những
hoạt động trợ giúp doanh nghiệp và các
hộ gia đình phát triển sản xuất kinh
doanh thì sao? Qua phỏng vấn sâu
những người dân và cán bộ quan chức
chính quyền địa phương, họ đều cho
rằng trong những 90 của thế kỷ XX,
chính quyền địa phương Bát Tràng chủ
yếu chú trọng phát triển nông nghiệp và
quan tâm đến các tổ chức chính trị
xã hội, như theo bà O, nguyên Thư ký
công đoàn Xí nghiệp gốm sứ Bát Tràng,
Chánh văn phòng Hội gốm sứ Bát Tràng cho biết:
“Việt Nam mình là một nước 80% kinh tế dựa vào nông nghiệp, chính quyền chủ yếu chú trọng đến phát triển nông nghiệp, nếu một xã nào hay một thôn nào phát triển ngành nghề thủ công nghiệp, thoát ly khỏi nông nghiệp thì chính quyền không để ý nữa ở những vùng xung quanh, bao gồm cả Bát Tràng trước đây sản xuất nông nghiệp, cán bộ ở
ủy ban xã đều làm nông nghiệp Trước
đây chúng tôi còn làm ở xí nghiệp gốm
sứ Bát Tràng, chúng tôi không biết ông Chủ tịch xã là ai cả, đến với uỷ ban xã là làm việc đăng ký kết hôn, đến làm giấy khai sinh, chúng tôi cũng không để
ý đến hội đồng nhân dân là ai, ủy ban nhân dân có những ai.” (Ghi chép từ phỏng vấn bà O, nguyên Thư ký công
đoàn Xí nghiệp gốm sứ Bát Tràng, Chánh văn phòng Hội gốm sứ Bát Tràng)
Hoặc theo ông Đ, Chủ tịch Hội khuyến học xã Bát Tràng, “ở đây chính quyền địa phương chỉ bảo vệ cho những Hội mang tính chất chính trị xã hội, như
Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội khuyến học, thực ra đối với Hội khuyến học của tôi các ông ấy cũng hững hờ ông Chủ tịch xã hôm vừa rồi đến nhà tôi chơi, qua câu chuyện thấy rằng, ông này rất chú trọng đến Hội nông dân, nhưng bây giờ tất cả đất trả lại Nhà nước hết rồi, Hội nông dân không còn nữa, tất cả dân Bát Tràng sống nhờ Hội gốm, nhưng ông quản lý lỏng lẻo, chẳng biết gì cả…” (Ghi chép từ phỏng vấn ông Đ, Chủ tịch Hội khuyến học xã Bát Tràng)
Trang 3Nếu chính quyền địa phương Bát
Tràng muốn quan tâm, tìm cách phục vụ
các doanh nghiệp, hộ gia đình thì cũng
rất khó, bởi chính quyền không có kinh
phí
“Khi nước ta bắt đầu thực hiện chính
sách đổi mới, xã cũng rất muốn quan
tâm đến sản xuất của bà con, nhưng các
anh ở xã không có một khoản kinh phí
nào đứng ra cung cấp nguyên liệu cho
nhân dân, đó là cái khó của chính quyền
Đảng uỷ, lãnh đạo, hội đồng cũng bàn,
nhưng cũng không có biện pháp gì Lúc
đó tôi được phân công phụ trách kinh tế,
chức năng đó thì phù hợp với mình rồi,
tôi mới đứng ra thành lập 1 tổ chuyên
mua than về cho các hộ sản xuất, nhưng
vấn đề đặt ra là có khoản kinh phí nào
không, tôi đề xuất vay ngân hàng vài
trăm triệu các ông có tán thành không,
như vậy là chịu rồi Tôi bảo thôi đừng
phân công tôi làm kinh tế nữa, kinh tế
phải có hiệu quả Xã lại phân công làm
công tác tổ chức các đoàn thể Đến bây
giờ cùng tập thể bàn xã đóng góp gì cho
người lao động ở đây, thực ra thì cũng
khó, nhưng tại sao các hộ tư nhân cung
cấp được nguyên liệu cho bà con, là vì
người ta có vốn, người ta dám mua chịu,
người ta dám cho chịu, ông xã lấy tiền
đâu ra vài trăm triệu, xã được Nhà nước
bao cấp, Nhà nước cho đồng nào được
đồng đó, làm gì ra có vài trăm triệu để
cung cấp nguyên liệu cho bà con Vì vậy,
thứ nhất, xã chỉ có thể khuyến khích cho
các hộ nhập nguyên liệu, kể cả hoá chất
mua từ nước ngoài, nhưng cũng phải
động viên họ mua phải mua rõ ràng
Thứ hai, là bảo vệ tốt an ninh trật tự cho
nhân dân sản xuất, vì có an ninh tốt bà
con mới an tâm sản xuất, nếu an ninh
không tốt thì vứt đi.” (Ghi chép phỏng vấn ông M, Bí thư Đảng Uỷ xã Bát Tràng)
Tuy trong giai đoạn này chính quyền Bát Tràng không trực tiếp phục vụ hoặc can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và hộ gia đình, nhưng chính quyền đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, hộ gia đình tự do phát triển Như ông H, Phó Chủ tịch, kiêm Trưởng công an xã nói:
“Chính quyền địa phương chủ yếu tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
đăng ký, ví dụ như doanh nghiệp cần xác nhận gì thì đến địa phương xác nhận,
địa phương đều làm rất nhanh, còn quản lý thì không quản lý gì Nói là tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mua nguyên liệu, nhưng thực tế theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp tự đi mua nguyên liệu… Địa phương ở đây đối với phát triển kinh tế chỉ đưa ra định hướng chung về tổng thể, còn thực hiện thế nào thì mình không can thiệp được, ví dụ như ông xã đặt kế hoạch tăng trưởng 15%, nhưng doanh nghiệp người ta không xuất khẩu được, hoặc các hộ dân gặp những khó khăn, địa phương cũng không có biện pháp gì Mình cũng chỉ chung chung, quảng bá làng nghề, thu hút khách du lịch đến tham quan Nhưng hiệu quả như vậy cũng chỉ chung chung, không có cụ thể.” (Ghi chép từ phỏng vấn ông H, Phó Chủ tịch, kiêm Trưởng công an xã)
Bắt đầu từ năm 2000, ở Bát Tràng bắt đầu chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang thủ công nghiệp, nông dân
đã dần dần thoát ly khỏi đồng ruộng, không sản xuất nông nghiệp nữa Như
Trang 4trong “Báo cáo kết quả các đề án phát
triển kinh tế năm 2002 phương hướng
nhiệm vụ năm 2003” của Uỷ ban nhân
dân xã Bát Tràng chỉ ra rằng: “Đến năm
2003, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa
phương đã đạt được kết quả: kết thúc HTX
nông nghiệp, hết kinh tế nông nghiệp,
chuyển toàn bộ quỹ đất, lao động sang sản
xuất tiểu thủ công nghiệp.” (tr 2)
Cũng bắt đầu từ năm 2000, ngoài chú
trọng vào công tác hành chính và thực
hiện đường lối, chính sách của Đảng,
Nhà nước ra, chính quyền địa phương
Bát Tràng bắt đầu chú trọng đến thúc
đẩy kinh tế thủ công nghiệp phát triển
Như nghiên cứu đề xuất các giải pháp
trên cơ sở pháp luật và đặc thù làng
nghề để kích cung cầu sản xuất (UBND
xã Bát Tràng, 2000, tr.1) Năm 2001,
quy hoạch chi tiết làng nghề truyền
thống đã được phê duyệt, Uỷ ban nhân
dân xã phối hợp với các cơ quan thuộc
UBND huyện, các đơn vị tư vấn, lập dự
án khả thi xây dựng trung tâm thương
nghiệp, cụm sản xuất gốm sứ tập trung
Tiến tới quy hoạch lại sản xuất bảo đảm
phát triển đồng thời giảm ô nhiễm môi
trường Ngoài ra, chính quyền địa
phương còn tổ chức hội thảo thương mại
điện tử, quảng cáo trên mạng, ứng dụng
công nghệ đốt lò gas bằng chai sang đặt
bồn, chôn đường ống dẫn đến hộ tiêu thụ
Tạo điều kiện cho các nguồn vốn đầu tư
phát triển sản xuất của địa phương như
vay từ Quỹ quốc gia hỗ trợ làng nghề,
Ngân hàng phục vụ người nghèo và
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam Tổng vốn ngân
hàng đầu tư vào xã Bát Tràng trong 2
năm là 4,1 tỷ đồng (UBND xã Bát Tràng,
2001, tr 2) Đặc biệt là chính quyền Bát
Tràng đã động viên, thúc đẩy thành lập Hội gốm sứ Bát Tràng, sau khi Hội gốm
sứ này ra đời (ngày 15 tháng 12 năm 2001), chính quyền địa phương chủ yếu lại tập trung vào công việc hành chính, còn các công việc phục vụ doanh nghiệp chủ yếu giao cho Hội gốm sứ đứng ra
đảm nhiệm Như chị T, Giám đốc Trung tâm xúc tiến xuất khẩu gốm sứ Bát Tràng thuộc Hội gốm sứ Bát Tràng nói:
“Chính quyền ở đây chỉ làm về mặt hành chính thôi, họ đồng ý cho thành lập Hội, có hoạt động gì thì họ cũng tham gia như một vị khách mời, không
đóng góp tiền vào, không có sự quan tâm
đặc biệt Chỉ có là việc thành lập Hội, chính quyền chỉ thúc đẩy việc thành lập Hội, giúp cho việc thành lập Hội xong, chính quyền không giúp gì nữa Hy vọng chính quyền ở Hà Nội, cụ thể là Bát Tràng có những đầu tư cho Hội, chẳng hạn như mặt bằng, Hội cũng phải đi mượn, cái thiết thực nhất đó còn chưa có, thì nói gì đến cái khác nữa “ (Ghi chép phỏng vấn chị T, Giám đốc Trung tâm xúc tiến xuất khẩu gốm sứ Bát Tràng thuộc Hội gốm sứ Bát Tràng)
Sau khi thành lập, Hội gốm sứ Bát Tràng đã có một số hoạt động tổ chức
được các cuộc hội thảo quy mô, tổ chức cho các doanh nghiệp đi tham quan khảo sát v.v…
“Trước đây chưa có Hội xã cũng làm một số việc, nhưng chưa có buổi hội thảo nào quy mô như thế này Có Hội thì mới
tổ chức được cuộc Hội thảo như vậy, nếu không có Hội thì ai đứng lên tổ chức Xã thì chỉ thúc đẩy thành lập ra Hội, từ
đó đến nay chẳng làm gì hết, chẳng tổ
Trang 5chức cho các doanh nghiệp đi tham quan,
khảo sát ở đâu hết Những việc này
xã giao cho Hội hết, như tổ chức Hội thảo
khoa học, tổ chức đi khảo sát, các vị nhà
báo, nhà khoa học muốn tìm hiểu về các
công ty của Bát Tràng, thì xã đều giới
thiệu về Hội Hội được giao con dấu
riêng, hoạt động theo ngành dọc của Hội,
sự chỉ đạo của xã là hàng tháng báo cáo
hoạt động của Hội với xã để cho xã nắm
được.” (Ghi chép từ phỏng vấn bà O,
nguyên Thư ký công đoàn Xí nghiệp gốm
sứ Bát Tràng, Chánh văn phòng Hội
gốm sứ Bát Tràng)
2 Thiếu cơ chế khuyến khích chính
quyền địa phương tích cực thúc đẩy
kinh tế địa phương phát triển
So với chính quyền địa phương ở
Phong Khê, chúng ta thấy rằng chính
quyền địa phương ở Bát Tràng yếu hơn
trong việc thúc đẩy kinh tế địa phương
phát triển, mà chủ yếu chú trọng việc
quản lý nông nghiệp và hành chính Khi
nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị
trường, chính quyền địa phương Bát
Tràng chỉ biết đứng ở bên ngoài doanh
nghiệp, muốn phục vụ doanh nghiệp hay
cung cấp những hàng hoá công cộng như
chính quyền Phong Khê thì cũng rất khó
Tại sao lại có sự khác biệt này, qua điều
tra, thấy rằng chế độ tiền lương của Nhà
nước đối với cán bộ địa phương còn nhiều
bất cập, thậm chí, trước đây có khi còn
chậm trả lương cho cán bộ Như ông Đ
cán bộ xã kể lại:
“Trước đây lương ít quá, không thu
được thuế thì lấy đâu ra tiền Trước đây,
mỗi khi hội nghị, hội hè động viên chính
trị, tiền không có thì vay tạm quỹ lương của anh em, Chủ tịch đồng ý cho vay, vài cuộc như vậy thì cán bộ làm gì có lương nữa Lương lúc đó có đáng là bao nhiêu
đâu, tôi làm Thường vụ Đảng uỷ xã, Uỷ viên uỷ ban phụ trách mảng văn hoá xã hội, thời đó hơn 100.000 đ Có khi còn lĩnh lương theo quý….” (Ghi chép từ phỏng vấn ông Đ, Chủ tịch Hội khuyến học xã Bát Tràng)
Mặc dù hiện nay theo chế độ công chức xã, lương Chủ tịch xã cũng chỉ khoảng gần 600.000 đồng, Phó Chủ tịch xã khoảng 500.000 đồng, còn các vị trí khác thì càng ít hơn Với đồng lương như vậy, cán bộ xã ngoài việc làm hành chính ở xã ra còn về nhà tổ chức sản xuất, kinh doanh, có khi chỉ làm nửa ngày ở xã Như ông H, Phó Chủ tịch UBND, kiêm Trưởng công an xã cho biết:
“Bọn tôi chủ yếu thu nhập ở gia đình
là chính, ngoài giờ làm Nhà nước, ở nhà vẫn có cơ sở sản xuất, nếu trông vào lương 500.000 đồng thì làm sao đủ
được… ở đây mình cũng tranh thủ thời gian, ở nhà thì mình chỉ chỉ đạo thôi, chứ không làm trực tiếp… ở đây những
ai trực tiếp nhận và trả hồ sơ hành chính
là phải trực 8 tiếng, theo quy định cán bộ chuyên môn cũng làm 8 tiếng, nhưng hiện nay vẫn theo nếp cũ, chủ yếu làm việc vào buổi chiều Buổi sáng có khi đến huyện họp, có khi xuống xóm.” (Ghi chép
từ phỏng vấn ông H, Phó Chủ tịch, kiêm Trưởng công an xã)
Tiền lương trả cho cán bộ xã đã ít rồi, gần đây Nhà nước còn ban hành chính sách trả tiền lương đối với những cán bộ
về hưu ra xã làm việc, số cán bộ này không được nhận 2 lương như trước đây
Trang 6nữa, mà chỉ được hưởng 40% lương làm ở
xã thôi Như ở Bát Tràng cũng có một số
cán bộ đã về hưu về xã làm việc
“Nhưng hiện nay lại có nghịch cảnh
mới là trước đây ông về hưu, rồi ra làm
Chủ tịch xã ông vẫn được ăn 2 lương,
nhưng bây giờ lại khác, nếu ông về hưu
ông làm Chủ tịch xã thì ông chỉ được
hưởng 40% tiền lương của chức Chủ tịch
xã thôi, tự nhiên nói lên một điều rằng
các cụ về hưu rồi, các cụ về nghỉ đi để
cho lớp trẻ nó ngoi lên Các cụ cứ ngồi
mãi thì làm sao phát triển được, như ông
M Bí thư, ông A Chủ tịch trước đây được
gần 600.000 tiền lương ở xã, nhưng từ
bây giờ chỉ được hơn 200.000 thôi, còn
ông sống bằng lương hưu của ông.” (Ghi
chép từ phòng vấn ông Đ, Chủ tịch Hội
khuyến học xã Bát Tràng)
Như trên đã trình bày, thực hiện
chiến lược cải cách phóng quyền nhượng
lợi và cải cách tài chính, cơ chế phân
thuế ở Trung Quốc đã kích thích chính
quyền địa phương chủ động, nhiệt tình
thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển
Còn ở Việt Nam hiện nay, chính quyền
xã có nên làm kinh tế, dịch vụ để có
nguồn thu ngoài ngân sách Nhà nước,
phục vụ cho hoạt động bộ máy và nâng
cao phúc lợi cho nhân dân hay không?
Việc phân cấp mạnh hơn, nhiều hơn nữa
cho cấp xã về quản lý tài chính – ngân
sách và quản lý sử dụng đội ngũ cán bộ
chuyên môn có thể là cơ hội, điều kiện
tốt để xã phát huy tích tính cực của bộ
máy chính quyền xã hay không?(Hoàng
Chí Bảo, 2004, tr 376) Đây là những
vấn đề còn đang được thảo luận và cần
có thực tiễn để chứng minh Thực tiễn ở
Bát Tràng cho thấy, theo quy định phân
cấp quản lý, chính quyền địa phương
không có quyền quản lý các doanh nghiệp, mà các doanh nghiệp do thành phố quản lý Chính quyền địa phương cũng không được hưởng tỷ lệ % thuế doanh nghiệp đóng trên địa bàn xã
“Doanh nghiệp, hợp tác xã thì do họ
tự làm, thuế thì do Cục thuế Hà Nội thu,
ra quyết định thành lập doanh nghiệp là
do thành phố ra quyết định Rất buồn cười, có ông giám đốc doanh nghiệp chỉ
có trình độ lớp 4, thành phố cũng cho phép làm chủ doanh nghiệp, làm ăn không có trình độ bị bắt đi tù, thành phố
đổ tại địa phương không quản lý tốt Như vậy là không đúng, trước khi anh ký cho người ta thành lập doanh nghiệp thì anh phải xem trình độ của người ta có
đủ năng lực không thì anh mới ký cho người ta làm giám đốc Mà không đủ trình độ thì không được ký Nếu ai mà qua xã xin chứng nhận, xã chúng tôi phải bắt họ mang giấy tờ đến xem có
đúng không, nếu đúng thì mới cho thành lập Chứ bây giờ mà cho họ thành lập công ty A chẳng hạn, mình (xã) chẳng biết vì do huyện hoặc thành phố làm cơ, xã cũng chẳng biết gì, cho nên tất cả thuế doanh nghiệp đều do ông Cục thuế của thành phố thu các doanh nghiệp, thuế này mới là lớn, đấy mới là cá quả, cá sộp, còn thuế của các hộ dân chỉ là đòng đong cân cấn thôi Thành phố thu được bao nhiêu thuế của doanh nghiệp, xã cũng chẳng biết, thành phố không cho xã nắm cái này.” (Ghi chép phỏng vấn ông M, Bí thư Đảng Uỷ xã Bát Tràng)
Chính quyền địa phương chỉ được hưởng tiền thuế đất, một phần thuế của các hộ gia đình sản xuất, như ông H, Phó Chủ tịch, kiêm Trưởng công an xã cho biết:
Trang 7“Địa phương được hưởng tiền thuế đất
100%, tiền thuế đất này thu từ các hộ
dân Tiền thuê đất của các doanh nghiệp
đóng trên địa bàn thì địa phương được
hưởng theo phân cấp của thành phố
Thuế giá trị gia tăng thu từ các hộ thì
địa phương được hưởng 32% Môn bài từ
bậc 3 đến bậc 6 địa phương được hưởng
100%, từ bậc 1 đến bậc 3 thì lại phân
cấp theo luật ngân sách Địa phương tiến
hành thu thuế hàng loạt những hộ gia
đình, còn các đơn vị, doanh nghiệp thì
do Cục thuế hoặc Chi cục thuế, Cục thuế
là của thành phố, Chi cục thuế là của
huyện.” (Ghi chép từ phỏng vấn ông H,
Phó Chủ tịch, kiêm Trưởng công an xã)
Số tiền mà chính quyền địa phương
được hưởng là một bộ phận của ngân
sách xã, sử dụng vào việc chi trả lương
và các hoạt động của đoàn thể Ngoài ra
hàng năm xã còn được cấp một phần
ngân sách từ nguồn phân bổ ngân sách
của Nhà nước, nên địa phương thu được
nhiều thuế, thu nhập tài chính cũng
không nhiều, thu nhập của quan chức
địa phương cũng không tăng lên, như:
“Thu ngân sách trên địa bàn 1 năm
được khoảng 2 tỷ, xã được hưởng hơn
500 triệu, đủ tiền cho hoạt động bộ máy,
bao gồm tiền lương, tất cả các hoạt động
đoàn thể Theo kế hoạch năm 2005 tổng
thu thuế trên địa bàn Bát Tràng là trên
3 tỷ đồng, ngân sách xã được hưởng trên
500 triệu, theo quy định của Luật Ngân
sách số tiền này chỉ đủ chi dùng cho bộ
máy chính quyền và các đoàn thể… ”
(Ghi chép từ phỏng vấn ông H, Phó Chủ
tịch, kiêm Trưởng công an xã)
IV Kết luận Trên đây chúng ta thấy rằng Trung Quốc thực hiện chiến lược phóng quyền nhượng lợi và cải cách chính sách thuế, nên chính quyền địa phương được trao quyền tự chủ trong quản lý kinh tế ở Phong Khê lợi ích của chính quyền địa phương gắn liền với sự phát triển kinh
tế ở địa phương Trong giai đoạn hiện nay, kinh tế tư nhân phát triển, chính quyền địa phương đóng vai trò cung cấp hàng hoá công cộng có thu phí Khác với trước đây, vai trò của chính quyền địa phương không phải như một hội đồng quản trị can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nữa, mà hoàn toàn đứng bên ngoài doanh nghiệp Trước tiên, chính quyền địa phương chủ
động cung cấp hàng hoá công cộng cho
đại đa số doanh nghiệp tư nhân, như: thúc đẩy, hướng dẫn doanh nghiệp tư nhân tham gia Hội chợ giao dịch Quảng Châu, nhờ đó mà nhiều doanh nghiệp
đã nhận được các đơn đặt hàng Đầu tư xây dựng thị trường chuyên doanh, giải quyết vấn đề có thành phố nhưng không
có chợ, giúp doanh nghiệp có nơi để trưng bày giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm Khuyến khích, hướng dẫn doanh nghiệp tư nhân chuyển vào các khu công nghiệp, các doanh nghiệp chuyển vào các khu công nghiệp này đã có không gian
mở rộng quy mô sản xuất, giải quyết
được vấn đề mặt bằng của các doanh nghiệp Hàng năm chính quyền Phong Khê tổ chức các hoạt động thu hút, tuyển dụng và đào tạo nhân tài, thông qua những hoạt động này các doanh nghiệp đã tuyển dụng được những nhân tài Giúp các doanh nghiệp tư nhân cải
Trang 8tạo và nâng cao kỹ thuật, hướng dẫn các
doanh nghiệp xin những dự án đầu tư và
đầu tư tiền vào các công trình cải tạo kỹ
thuật của doanh nghiệp tư nhân Hàng
năm tổ chức cho các doanh nghiệp tư
nhân tham gia vào các hội chợ triển lãm,
giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài, ngoài
ra còn hướng dẫn doanh nghiệp phương
thức làm ăn Sau đó, chính quyền lại thu
lợi nhuận từ các khoản thu thuế, các
khoản lệ phí của các doanh nghiệp
Chính quyền địa phương và các doanh
nghiệp cùng sinh tồn với nhau, trong
một cơ chế “doanh nghiệp kiếm tiền,
kinh tế địa phương phát triển; chính
quyền trước tiên nhượng lợi cho doanh
nghiệp, sau đó lại thu lợi về”
Qua nghiên cứu vai trò chính quyền
địa phương trong phát triển kinh tế ở
Phong Khê chúng ta có thể thấy được sự
biến đổi vai trò của chính quyền địa
phương ở Trung Quốc từ khi Trung Quốc
thực hiện cải cách mở cửa đến nay như
sau:
Trong thời kỳ đầu cải cách mở, chính
quyền địa phương là người sở hữu các
doanh nghiệp hương trấn ở địa phương,
vai trò của chính quyền địa phương như
một nhà kinh doanh, quan chức địa
phương giữ vai trò như một hội đồng
quản trị doanh nghiệp Có nơi như ở khu
Đại Khâu, Thiên Tân, Trung Quốc, toàn
bộ khu vực có 24 thôn, các tổ chức chính
trị, kinh tế ở Đại Khâu trộn lẫn vào
nhau, như một tổng công ty Tổng công
ty vừa là văn phòng Đảng uỷ, vừa là cơ
quan hành chính của khu, hình thành
một chỉnh thể hợp nhất, bao gồm Đảng,
chính quyền, doanh nghiệp Bí thư Đảng
uỷ kiêm Trưởng khu và kiêm Tổng giám
đốc công ty cho đến năm 1992 (Lin Nan,1996) Từ giữa những năm 1990 của thế kỷ XX, khi nền kinh tế Trung Quốc chuyển dần sang nền kinh tế thị trường, chế độ sở hữu thay đổi, kinh tế tư nhân phát triển, vai trò chính quyền địa phương Trung Quốc cũng có thay đổi, không giữ vai trò như nhà kinh doanh nữa Chính quyền địa phương không có quyền sở hữu doanh nghiệp nữa, mà
đứng ở bên ngoài doanh nghiệp cung cấp hàng hoá công cộng và các dịch vụ khác cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, khi doanh nghiệp phát triển chính quyền địa phương cũng được hưởng lợi ích từ các khoản thuế và phí của doanh nghiệp
Hành động này của chính quyền địa phương ở Phong Khê chúng ta còn thấy giống như chính quyền địa phương ở khu (thị trấn) chuyên doanh dệt may Tây Tiều, thành phố Nam Hải, Quảng Đông, Trung Quốc (Khâu Hải Hùng, Thôi Cường, 2004), khu (thị trấn) chuyên doanh đồ gia dụng gỗ lim Đại Dũng, thành phố Trung Sơn, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc (Ngô Lăng Phương, 2004)… Khác với chính quyền địa phương ở
Phong Khê, ở Bát Tràng do chính sách tiền lương, việc phân cấp quản lý và chính sách thu thuế chưa tạo được động lực kích thích chính quyền địa phương
nỗ lực phục vụ doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế phát triển Khi kinh tế nông nghiệp không còn nữa, vai trò của chính quyền địa phương chuyển dần sang quản
lý thủ công nghiệp, nhưng thể chế chính sách còn nhiều hạn chế, nên việc phục
vụ doanh nghiệp chuyển cho tổ chức xã hội (Hội gốm sứ Bát Tràng) phục vụ
Trang 9doanh nghiệp Chính quyền địa phương
chỉ đóng vai trò làm công việc hành
chính
Sau khi Trung Quốc thực hiện chính
sách cải cách mở cửa, ở Phong Khê nói
riêng và ở Trung Quốc nói chung, chính
quyền địa phương là nhân tố quan trọng
thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển,
thì ở Bát Tràng không phải như vậy
Vậy nhân tố nào là nhân tố quan trọng
thúc đẩy kinh tế Bát Tràng phát triển
trong những năm gần đây Chúng tôi sẽ
tiếp tục thảo luận trong những bài viết
sau
Chú thích:
(5) Như trong “Báo cáo sơ kết công tác quý
III và phương hướng công tác quý IV năm
1993” viết: “……Mùa hè năm nay có thuận
lợi lớn đó là thời tiết rất thuận lợi ít ảnh
hưởng của bão, không có nước lụt, vật tư,
nguyên liệu, nhiên liệu thuận tiện cho việc
mua bán, song giá cả ngày một tăng cao hơn
so với các tháng đầu năm Về tiêu thụ đã có
nhiều nguồn hơn trước Đặc biệt là khách
nước ngoài vào thâm nhập ký kết hợp đồng,
mua hàng ngày một đông Qua thông tin
đánh giá của khách nước ngoài, sứ Bát
Tràng dần dần có uy tín trên thị trường”(tr
1) Trong “Báo cáo sơ kết công tác quý I và
phương hướng công tác quý II năm 1994”
viết về sản xuất thủ công nghiệp: “Quý I đầu
năm là thời kỳ sản xuất có chậm, do ảnh
hưởng của Tết Nguyên đán, thời tiết mùa
xuân ẩm nhiều, ít nắng,mặt khác sức mua
giảm Song thuận lợi cơ bản là lượng khách
nước ngoài đã thăm và quan hệ mua hàng
ngày một đông hơn Các đơn vị kinh tế trong
xã đã ký kết được các hợp đồng kinh tế với
nước ngoài Về mặt cung ứng vật tư nguyên
liệu nhìn chung rất thuận lợi, giá cả ổn định,
chất lượng bảo đảm”(tr 2) v.v…
(6) Trong “Báo cáo kết quả hoạt động năm
1996 và phương hướng nhiệm vụ năm 1997” viết: “Hai ngân hàng Công thương Chương Dương và Nông nghiệp đã giải quyết cho các doanh nghiệp và hộ sản xuất vay trên 17 tỷ
đồng….” (tr 2)
Tài liệu tham khảo
1 Ngô Duy Anh, Hình ánh Thuần, Trương Thu Toàn, ngày 13 tháng 9 năm
2003, “Đặc sắc kinh tế đô thị gốm –Tổng thuật sự phát triển kinh tế ở Phong Khê”, Nhật báo Triều Châu (TQ), tr 1
2 Ngô Duy Anh, Hình ánh Thuần, ngày
22 tháng 9 năm 2003, “Khu Phong Khê tích cực thực hiện chiến lược phát triển khoa học
kỹ thuật hưng sứ –Đẩy mạnh sáng tạo kỹ thuật”, Nhật báo Triều Châu (TQ), tr 1, tr 3
3 Hoàng Chí Bảo (chủ biên) , 2004, “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
4 Phạm Đức Chính, 2004, “Nghiên cứu so sánh chiến lược cải cách từ mô hình kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang thị trường”, Nghiên cứu kinh tế, số 318, tr 67 - 79
5 Trần Kiện Dân, Khâu Hải Hùng , 1994,
“Xã đoàn, tư bản xã hội với phát triển kinh tế – chính trị”, Nghiên cứu xã hội học (TQ), số 4,
tr 64 – 74
6 Cao Bồi Dũng (chủ trì), 2004, “Nghiên cứu vấn đề cải cách thuế và phí ở Trung Quốc”, Nhà xuất bản khoa học kinh tế (TQ)
7 Dương Thiện Hoa, Tô Hồng, 2002, “Từ nhà kinh doanh chính quyền kiểu đại lý đến nhà kinh doanh chính quyền kiểu mưu lợi – Chính quyền hương trấn trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường “, Nghiên cứu xã hội học (TQ), số 1, tr 17 – 24
8 Khâu Hải Hùng, Thôi Cường, 2004,
“Tập quần sáng tạo – Nghiên cứu trường hợp tập quần ngành dệt may Tây Tiều”, Nghiên cứu học thuật (TQ), số 7, tr 25 – 31
Trang 109 Khâu Hải Hùng, Từ Kiến Ngưu, 2004,
“Bình luận nghiên cứu vai trò chính quyền
địa phương trong quá trình thị trường
chuyển đổi”, Nghiên cứu Xã hội học (TQ), số
4, tr 24 – 30
10 Tôn Quang Huy, ngày 1 tháng 1 năm
2001, “Bước đi công nghiệp hoá, đô thị hoá
Phong Khê bước nhanh vào thế kỷ mới”,
Nhật báo Triều Châu (TQ), tr 5, tr 8
11 Lin Nan, 1996, “Chủ nghĩa xã hội thị
trường mang tính địa phương: Sự vận hành
thực tế của chủ nghĩa hợp tác địa phương ở
nông thôn Trung Quốc” (bản dịch tiếng TQ),
Xã hội học nước ngoài (TQ), số 5 – 6, tr 68 – 86
12 Trần Như, Tạ Chiêu Hiền, Lư Diệu
Lương, 2004, “Trần Như Văn: Kinh doanh
Phong Khê“, Đại kinh mậu (TQ), số 8, tr.17
13 Trương Ngọc, 2004, “Động cơ, nguyên
nhân cơ bản của việc sáng tạo của chính quyền
địa phương và định vị vai trò của nó”, Khoa
học xã hội Vân Nam (TQ), số 3, tr 24 – 27
14 Trịnh Vĩnh Niên, 1994, “Chiến lược
phân quyền và diễn tiến chế độ bán liên
bang”, trong Ngô Quốc Quang, “Nhà nước,
thị trường và xã hội: nghiên cứu khảo sát
Trung Quốc cải cách – từ 1993 đến nay”,
15 Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến,
Nguyễn Quang Ngọc, 1995, “Gốm Bát Tràng
thế kỷ XIV – XIX”, Nhà xuất bản thế giới
16 Dương Thuỵ Long, 1998, “Nói về 3
giai đoạn chuyển đổi phương thức của sự
thay đổi thiết chế ở nước ta –Hành vi sáng
tạo thiết chế của chính quyền địa phương”,
Nghiên cứu Kinh tế (TQ), số 1, tr 3 – 10
17 Dương Thuỵ Long, Dương Kỳ Tĩnh,
2000, “Mô hình thay đổi thiết chế tiệm tiến
kiểu bậc thang –Lại bàn về vai trò của chính
quyền địa phương trong sự thay đổi thiết chế
ở nước ta”, Nghiên cứu Kinh tế (TQ), số 3, tr
24 – 31
18 Khâu Trấn Lư, 2004, “Gốm sứ Triều
Châu –Dấu hiệu tiến lên năm 2003”, Hiệp
hội công thương gốm sứ Triều Châu (TQ)
19 Lục Phàm, Mai Tử, 2001, “Cửa sổ sáng ngời đô thị gốm sứ Nam quốc – thăm thành phố gốm sứ Phong Khê”, Triều Châu (TQ), số 2, tr 40 – 41
20 Ngô Lăng Phương, 2004, “Chủ thể hành động trong tập quần doanh nghiệp – Nghiên cứu xã hội học tập quần doanh nghiệp đồ gia dụng gỗ lim thị trấn Đại Dũng thành phố Trung Sơn”, Luận văn Tiến sĩ Xã hội học, Sở Xã hội học, trường Đại học Trung Sơn, Trung Quốc
21 Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông và những người khác, 2001, “Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
22 Bành Ngọc Sinh, 2002, “Công ty công nghiệp thị trấn, thôn ở Trung Quốc: quyền sở hữu, quản lý công ty và sự giám sát đôn đốc của thị trường“, trong Khoa xã hội học trường Đại học Thanh Hoa (chủ biên), “Bình luận xã hội học Thanh Hoa”, quyển 2002, Nhà xuất bản Văn hiến khoa học xã hội (TQ),
tr 1 – 39
23 Hình ánh Thuần, ngày 13 tháng 10 năm 2003, “Hãy để cho Phong Khê đi ra thế giới”, Nhật báo Triều Châu (TQ), tr 1, tr.3
24 Hình ánh Thuần, Ngô Duy Anh, ngày
15 tháng 9 năm 2003, “Khoảng cách tiếp xúc con số 0 với thị trường quốc tế – Phong Khê thực hiện chiến lược thức đẩy hướng ngoại phát triển ngành gốm sứ”, Nhật báo Triều Châu (TQ), tr 1, tr 3
25 Hình ánh Thuần, Trương Thu Toàn, ngày 29 tháng 1 năm 2004, “2,1 tỷ NDT, nói
điều gì, từ những con số lý giải phương hướng kinh tế Phong Khê”, Nhật báo Triều Châu (TQ)
26 Cục công nghiệp khu Phong Khê thành phố Triều Châu, Hiệp hội công nghiệp gốm sứ khu Phong Khê thành phố Triều Châu, ngày 20 tháng 8 năm 1999, ngày 20 tháng 1 năm 2000, ngày 15 tháng 8 năm
2003, “Gốm sứ Phong Khê”