1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học " Tiến trình và mục đích gia nhập WTO của Đài Loan " pps

8 443 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 143,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đây xin điểm lại những mốc chính trong tiến trình gia nhập WTO của Đài Loan: Ngày 1-1-1990, sau khi chính quyền Đài Loan đánh giá thấy việc gia nhập GATT có lợi nhiều hơn cho sự phát

Trang 1

Dương văn lợi*

ài Loan với nguồn tài nguyên

thiên nhiên thiếu hụt, thị

trường trên đảo bị giới hạn,

nên sự phát triển kinh tế chủ yếu dựa

vào mậu dịch đối ngoại, thị trường xuất

khẩu chủ yếu là Mỹ và Nhật Bản Trước

những năm 80 của thế kỷ XX, Mỹ, Nhật

và các nước phương Tây đã áp dụng

chính sách nâng đỡ và rộng mở đối với sự

phát triển của nền kinh tế Đài Loan

Nhưng sau đó, do cuộc khủng hoảng dầu

mỏ thế giới lần thứ hai, nền kinh tế thế

giới không mấy khởi sắc, các nước

phương Tây để bảo vệ lợi ích của mình

đã thực thi chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch,

áp dụng hàng loạt biện pháp hạn chế

trong thương mại Hơn nữa, Mỹ còn

nhiều lần gây áp lực với Đài Loan về vấn

đề mậu dịch, buộc Đài Loan mở cửa thị

trường trên đảo và hạ thấp thuế quan

Môi trường quốc tế bên ngoài như vậy là

điều bất lợi cho sự phát triển nền kinh tế

Đài Loan Chính bối cảnh kinh tế này

đã trở thành động lực thôi thúc Đài Loan

đệ đơn xin gia nhập GATT (General

Agreement on Tariffs and Trade-tổ chức

tiền thân của WTO) Bài viết này chủ yếu

tập trung trình bầy, phân tích tiến trình

và mục đích gia nhập WTO của Đài

Loan

I Tiến trình gia nhập WTO của

Đài Loan Vào đầu tháng 1-1990, theo quy định

Điều khoản thứ 33 của GATT, Đài Loan với quyền tự chủ trong quan hệ mậu dịch

đối ngoại đã chính thức đệ đơn tới Ban Thư ký xin gia nhập GATT Trải qua nhiều năm nỗ lực, cuối cùng đã hoàn tất các hạng mục đàm phán xin gia nhập song phương và đa phương vào năm 2001 Ngày 18-9-2001, Ban Công tác kết nạp

Đài Loan đã tiến hành Hội nghị lần thứ

11 chấp nhận Nghị định thư gia nhập và Báo cáo của Ban Công tác này Đồng thời, tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ tư họp ngày 11-11 cùng năm đã thông qua

Đơn xin gia nhập của Đài Loan Ngày 12 tháng 11, nguyên Bộ trưởng Bộ Kinh tế Lâm Tín Nghĩa đại diện cho Đài Loan ký Nghị định thư gia nhập WTO và được Quốc hội Đài Loan

* Thạc sỹ Viện Nghiên cứu Trung Quốc thông qua ngày 16-11 Ngày 20-11 Tổng thống Trần Thủy Biển đã phê chuẩn

Điều ước gia nhập này Sau khi Nghị

định thư trình lên Tổng Thư ký WTO

được chấp nhận, trải qua 30 ngày chờ đợi

đến ngày 1-1-2002, Đài Loan đã chính

Đ

Trang 2

thức trở thành thành viên thứ 144 của

WTO Sau đây xin điểm lại những mốc

chính trong tiến trình gia nhập WTO của

Đài Loan:

Ngày 1-1-1990, sau khi chính quyền

Đài Loan đánh giá thấy việc gia nhập

GATT có lợi nhiều hơn cho sự phát triển

của nền kinh tế nên đã lấy danh nghĩa

“Lãnh thổ Hải quan riêng biệt Đài Loan,

Bành Hồ, Kim Môn và Mã Tổ” dựa theo

Điều khoản quy định thứ 33 của GATT

chính thức đệ đơn xin gia nhập tới Ban

Thư ký, đồng thời cũng gửi kèm “Bản ghi

nhớ Thể chế Thương mại”, nhưng đơn

này đã bị gác lại không được Ban Thư ký

của GATT giải quyết Đến năm 1991, do

được sự ủng hộ của Tổng thống Mỹ lúc đó

nên Đài Loan đã phá bỏ được cục diện bế

tắc này trong hơn 1 năm, làm cho các

thành viên của GATT đã chuyển hướng

tích cực và khẳng định đối với đơn xin gia

nhập của Đài Loan

Nửa đầu năm 1992, Mỹ và Liên minh

châu Âu tích cực tìm kiếm những nhận

thức chung của các nước thành viên

nhằm thành lập Ban Công tác gia nhập

GATT đối với Đài Loan Đến ngày

8-9-1992, Chủ tịch Hội đồng GATT

đã triệu mời đại biểu các nước thành viên

chủ yếu tiến hành hỏi ý kiến và đi đến

nhận thức chung về việc xin gia nhập của

Đài Loan Cuối cùng vấn đề này của Đài

Loan cũng đã được liệt vào chương trình

làm việc của Đại hội đồng GATT Ngày

29-9-1992, Đại hội đồng GATT thống

nhất thông qua thành lập Ban Công tác

thẩm tra Đề án xin gia nhập GATT của

Đài Loan, đồng thời cho phép Đài Loan

có tư cách là quan sát viên để Đài Loan

có thể tham gia các hội nghị có liên quan khác

Ngày 24-2-1993, Chính phủ Thụy Sĩ

đồng ý cho Đài Loan thành lập Đoàn đại biểu tại GATT ở Giơ-ne-vơ Tên tiếng Anh chính thức của Đoàn đại biểu này là

“Representation of the separate customs territory of Taiwan, Penghu, Kinmen and Matsu in GATT” Ngày 21-12-1994, Thứ trưởng Bộ Kinh tế Đài Loan Hứa Hà Sinh đã dẫn đoàn đại biểu tham gia Hội nghị lần thứ 7 của Ban Công tác kết nạp

Đài Loan Hội nghị lần này đã hoàn thành việc thẩm tra hệ thống thương mại của Đài Loan

Hiệp định vòng đàm phán Uruguay

đã quyết định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 1-1-1995,

và đến ngày 1 tháng 12 cùng năm đơn xin gia nhập của Đài Loan mới được chuyển lên Ban Thư ký WTO xem xét theo Điều khoản thứ 12 của Hiệp định WTO

Đến năm 2000, Đài Loan đã hoàn tất

đàm phán song phương và ký Hiệp định song phương với tất cả các nước trong Ban Công tác, và thông thường Đại hội

đồng WTO có thể chấp thuận ngay sau

đó Tuy nhiên, do sức ép trong quan hệ quốc tế, Đài Loan đã không thể kết thúc

lộ trình gia nhập WTO của mình dễ dàng như vậy Các thỏa thuận song phương chủ yếu đã kết thúc, nhưng dưới một thỏa thuận không chính thức là chỉ có thể gia nhập tổ chức này sau Trung Quốc

Trang 3

Ngày 18-9-2001, Thứ trưởng Bộ Kinh

tế Trần Thụy Long dẫn đoàn tham gia

Hội nghị chính thức lần cuối của Ban

Công tác kết nạp Đài Loan vào WTO

được khai mạc ở Giơ-ne-vơ Tại Hội nghị,

công việc thẩm định các văn bản gia

nhập WTO của Đài Loan như Nghị định

thư gia nhập, Báo cáo của Ban Công tác,

Bảng tổng hợp miễn giảm thuế quan và

Bảng cam kết của ngành dịch vụ

đã thuận lợi hoàn thành

Ngày 11-11-2001, Hội nghị Bộ trưởng

WTO lần thứ tư tại Qatar chính thức

thông qua Đề án gia nhập WTO của Đài

Loan Sau khi Quốc hội Đài Loan và

Tổng thống Trần Thủy Biển thông qua

và phê chuẩn Điều ước Ngày 2-12, Đài

Loan gửi công hàm xác nhận Nghị định

thư lên Tổng Thư ký WTO, trải qua 30

ngày thụ lý, đến ngày 1-1-2002 Đài Loan

đã chính thức trở thành thành viên của

WTO

Trong tiến trình gia nhập WTO, Đài

Loan đã trải qua hơn 200 vòng đàm phán

song phương và 10 vòng Hội nghị đàm

phán đa phương, tổng cộng phải tiến

hành đàm phán với 26 đối tác thành viên

WTO Nhằm giảm bớt những tác động

tiêu cực cho nền kinh tế-đặc biệt là

ngành nông nghiệp khi gia nhập WTO,

trong quá trình đàm phán, Đài Loan

đã tích cực đấu tranh và đạt được một số

kết quả đáng khích lệ Như trong lĩnh

vực nông nghiệp, có 41 mặt hàng nông

sản thuộc loại hạn chế nhập khẩu được

áp dụng Điều khoản Xử lý đặc biệt trong

Phụ lục 5 của Hiệp định Nông nghiệp,

tức là được thực hiện mở cửa thị trường

theo phương thức hạn chế số lượng nhập khẩu, và 14 loại hàng nông sản nhạy cảm như mía đường, sữa nước, lạc, tỏi,

đậu đỏ, nấm hương khô, bưởi, hồng, lê, cau, thịt gà, thịt bụng lợn, nội tạng, hoa loa kèn Đài Loan có thể áp dụng “Biện pháp phòng vệ đặc biệt (SSG)” Về lĩnh vực công nghiệp, sản phẩm công nghiệp

ôtô được áp dụng chế độ hạn ngạch thuế quan, Đài Loan là khu vực duy nhất được

áp dụng hạn ngạch nhập khẩu mặt hàng

ôtô Ngoài ra, còn một số mặt hàng khác thay vì phải hạ thấp thuế quan hay phải

mở rộng cửa thì Đài Loan đã đấu tranh

được thực hiện hạn ngạnh thuế quan theo những lộ trình nhất định hoặc được kéo dài thời gian thực hiện mở cửa để các ngành kém sức cạnh tranh trên đảo có thời gian chuẩn bị hội nhập Vậy, đạt

được kết quả như trên là do đâu? Có thể thấy đó là nhờ vào Đài Loan đã chuẩn bị một sách lược rõ ràng trong đàm phán, những sách lược đó là:

Thứ nhất, phát triển các ngành nghề

đồng thời với việc gia nhập WTO Trong khi tiến hành các vòng đàm phán, các bộ ngành đã xem xét kỹ lưỡng đến nhu cầu phát triển của toàn bộ nền kinh tế để có thể giành lấy lợi ích lớn nhất phù hợp cho

Đài Loan Chú ý đến năng lực cạnh tranh của một số ngành hàng cá biệt nhằm giảm nhẹ mức độ tác động khi gia nhập

Thứ hai, “lấy thua ít là thắng lợi” để làm hội phí Theo quy định của WTO người xin gia nhập hội cần phải giao nộp hội phí, bao gồm mở cửa thị trường, dành cho các nước hội viên được hưởng đãi ngộ

Trang 4

Tối huệ quốc và đãi ngộ quốc dân Do Đài

Loan trong lúc đàm phán chưa là thành

viên của WTO, nhưng khi xin gia nhập

vẫn phải dựa theo tập quán của WTO mở

cửa thị trường cho các nước hội viên còn

Đài Loan thì lại không được yêu cầu các

nước hội viên mở cửa thị trường cho

mình Trước tình hình đó, sách lược đàm

phán gia nhập WTO của Đài Loan lúc đó

phải là một loại sách lược “thua ít chính

là thắng” Ví dụ, Đài Loan một mặt cam

kết mở cửa thị trường, nhưng mặt khác

lại tận dụng tranh thủ kéo dài thời gian

điều chỉnh mở cửa

Thứ ba, liên kết các nước nhỏ dụ dỗ

nước lớn Đài Loan gia nhập WTO tổng

cộng có 26 nước đối tác yêu cầu đàm

phán, do số lượng các quốc gia đàm phán

quá nhiều nên trong sách lược đàm phán,

Đài Loan đã áp dụng trước tiên kết thúc

đàm phán song phương với các nước nhỏ

như Na-uy, Iceland (hay vấn đề đàm

phán tương đối nhỏ), sau đó căn cứ vào

đó thương lượng với các nước lớn nhằm

khơi dậy lòng đại nghĩa của họ, thúc đẩy

các nước lớn như Mỹ nhanh chóng đồng ý

kết thúc đàm phán với Đài Loan

Thứ tư, tiến hành diễn thuyết hợp

tung liên hoành Để tranh thủ sự ủng hộ

Đài Loan gia nhập WTO của các nước

thành viên, Đài Loan đã lợi dụng Hội

nghị Bộ trưởng APEC, Hội nghị Bộ

trưởng WTO và các loại Hội nghị quốc tế

khác tiến hành diễn thuyết kêu gọi các

nước ủng hộ

Cuối cùng là tìm kiếm sự ủng hộ trong

Viện Lập pháp Đài Loan bởi sự ủng hộ

của Viện Lập pháp là điểm mấu chốt cho

Đài Loan liệu có thể thuận lợi trở thành thành viên của WTO hay không Một khi các thành viên trong Viện này không biểu quyết thông qua thì dù kết quả đàm phán có tốt đẹp đến đâu thì việc trở thành thành viên của WTO cũng khó thành hiện thực Do vậy, các cơ quan hành chính của Đài Loan đã thành lập một “Tổ công tác liên Bộ về trao đổi giữa việc Đài Loan gia nhập WTO với Viện Lập pháp” nhằm có những nhận thức chung để tranh thủ sự ủng hộ từ phía Viện Lập pháp

Như vậy, về khía cạnh đàm phán, để

có thể đàm phán thương mại thành công thì người tham gia đàm phán cần phải có trí tuệ, cũng cần phải học tập, cần thể lực, cũng cần sự nhẫn nại và quan trọng hơn cần phải có sự ngầm hiểu lẫn nhau trong

đoàn đàm phán Được như vậy thì có thể biến dị kiến thành tương đồng, biến đối lập thành hợp tác Bí quyết thành công trong đàm phán thương mại phải chăng

là cần tận dụng hết các cơ hội có thể để tiếp tục đàm phán, tuyệt đối không phá

vỡ, không bỏ cuộc và với sách lược hai bên cùng thắng mới là nguyên tắc chỉ

đạo cao nhất của người đàm phán, mới có thể hóa giải được những tranh chấp trong thương mại Ngược lại, nếu với lập trường cứng rắn và cố chấp, khi gặp phải

áp lực của đối phương thì lập tức nói

“không”, tất nhiên sẽ thể hiện khí phách của người đàm phán và dường như duy trì được sự tôn nghiêm của dân tộc, nhưng về lâu dài mà nói thì đàm phán của hai bên sẽ đổ vỡ, sự việc bất thành sẽ tạo nên những thiệt hại lớn về lợi ích

Trang 5

thương mại không thể tính hết Đây là

điểm chúng ta cũng cần phải suy ngẫm,

nhất là trong xu thế hội nhập quốc tế ngày

nay và đàm phán là yếu tố không thể thiếu

trong quan hệ thương mại quốc tế

II Những lợi ích về kinh tế,

chính trị của Đài Loan khi gia

nhập WTO

Nền kinh tế Đài Loan là một nền kinh

tế hướng ngoại lấy xuất khẩu làm chủ

đạo, từ những năm 60 đến những năm 90

của thế kỷ XX, nền kinh tế Đài Loan luôn

duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao,

nhưng năm 2001 tốc độ tăng trưởng kinh

tế là -2,18%, đây là lần đầu tiên tăng

trưởng âm trong vòng 50 năm Đài Loan

là một khu vực xuất khẩu lớn đứng thứ

15 trên thế giới, không ít những ngành

nghề như các ngành về công nghệ thông

tin đều có sức cạnh tranh nhất định trên

quốc tế Vậy, chúng ta có thể đặt câu hỏi

vì sao Đài Loan lại nỗ lực gia nhập WTO

trong khi Đài Loan đã có khoảng 160 đối

tác thương mại? Hay mục đích và những

lợi ích khi Đài Loan gia nhập WTO là gì?

Bởi đây chính là những động lực quan

trọng bao trùm lên các chính sách của

Đài Loan trong suốt hơn 1 thập kỷ, đến

mức “ứng trước” nhiều khoản cam kết để

Đài Loan có thể gia nhập WTO

Nhìn vào quá trình phát triển của Đài

Loan chúng ta có thể thấy, từ những

năm 50 của thế kỷ XX, nền nông nghiệp

của Đài Loan dần chuyển hình sang nền

kinh tế công nghiệp, nhưng do thị trường

trên đảo nhỏ bé cần phải dựa vào thương

mại để mở rộng quy mô, do đó từ năm

1958 Đài Loan bắt đầu áp dụng chính sách phát triển hướng về xuất khẩu Chính sách này cũng phù hợp với trào lưu mở cửa mậu dịch của quốc tế trong những năm 60 nên mậu dịch đối ngoại của Đài Loan đã phát triển mạnh mẽ Nhưng bước vào giai đoạn những năm 70, tình hình quốc tế rất bất lợi đối với Đài Loan Trước tiên, Đài Loan bị đưa ra khỏi Liên Hợp quốc (1971), tiếp theo là cắt đứt quan hệ với nước có nguồn nhập khẩu lớn nhất là Nhật Bản (1973) và nước có thị trường xuất khẩu lớn nhất là

Mỹ (1979) Khi bị cô lập về chính trị thì

sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới mậu dịch đối ngoại Hơn nữa, sự khó khăn trong ngoại giao lại càng làm tăng thêm tính quan trọng của mậu dịch đối ngoại Trong giai

đoạn này, chính quyền Đài Loan lợi dụng thông qua con đường quan hệ song phương để duy trì các mối quan hệ tốt

đẹp về mậu dịch, bảo đảm sự phát triển của nền kinh tế Sau khi đoạn giao với

Mỹ, 98% quan hệ thương mại của Đài Loan là quan hệ với các quốc gia không

có bang giao, nên mậu dịch đối ngoại lúc này là cực kỳ khó khăn

Sang những năm 80, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ngày càng lan rộng, Đài Loan

do không phải là thành viên của GATT nên khi đối diện với chủ nghĩa bảo hộ thì cần phải dựa vào đàm phán để hóa giải nguy cơ, và thường xuyên phải đối diện với chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của các nước Đài Loan tuy được hưởng chế độ

“Tối huệ quốc vĩnh viễn” đối với Mỹ, nhưng với các quốc gia khác không phải

Trang 6

nước nào cũng được như vậy Trải qua

thời gian dài thực hiện công tác mậu dịch

đối ngoại đã làm cho Đài Loan hiểu rõ

rằng, trước tình trạng không có quan hệ

ngoại giao, thiếu hụt sự trợ giúp của

chính trị, không gia nhập tổ chức kinh tế

quốc tế, thì vấn đề thương lượng về

thương mại với các nước khác là vô cùng

gian khổ Với kinh nghiệm của giai đoạn

những năm 70 và 80 khiến cho Đài Loan

có cảm nhận sâu sắc vai trò quan trọng

của việc gia nhập các tổ chức kinh tế

quốc tế là tuyệt đối cần thiết đối với sự

phát triển kinh tế của Đài Loan Và đây

có thể coi là lý do cốt yếu để Đài Loan nỗ

lực gia nhập WTO

Tuy nhiên, ngoài lý do trên, Đài Loan

còn có những lý do về mặt kinh tế và

chính trị mà các nước thành viên đem lại

cho Đài Loan sau khi gia nhập Trước

tiên về mặt kinh tế, Đài Loan gia nhập

WTO có ít nhất ba điểm lợi sau:

Một là, Đài Loan là một trong những

khu vực công nghiệp hóa mới, nền kinh

tế Đài Loan đang tiến tới tự do hóa và

quốc tế hóa, nên gia nhập WTO có thể

thúc đẩy Đài Loan tiến thêm một bước

hội nhập vào thị trường quốc tế, phát

triển quan hệ kinh tế với các quốc gia và

khu vực

Hai là, gia nhập WTO có thể bảo đảm

được trạng thái cân bằng giữa nghĩa vụ

phải thực thi với lợi ích được hưởng thụ

trong mậu dịch đối ngoại

Ba là, Đài Loan được hưởng thụ chế

độ đãi ngộ tối huệ quốc và có địa vị bình

đẳng trong cạnh tranh quốc tế với các

quốc gia và khu vực khác Đồng thời, có

thể lợi dụng những quy tắc trong Hiệp

định Tổ chức Thương mại Thế giới để chống lại các biện pháp bảo hộ mậu dịch bất công bằng Trong điều kiện tranh chấp thương mại đang ngày càng gia tăng, thì Đài Loan có thể lợi dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để xử lý tranh chấp thương mại khi sảy ra Như vậy, hàng hóa xuất khẩu của Đài Loan sẽ

được bảo đảm hơn trên trường quốc tế và

có lợi cho việc mở rộng hoạt động mậu dịch đối ngoại Về tổng thể gia nhập WTO có lợi cho nền kinh tế trên đảo và cải thiện cơ cấu ngành nghề Tất nhiên, khi Đài Loan gia nhập WTO thì cũng gặp phải những nhân tố bất lợi về kinh tế Như, về ngắn hạn thì một số ngành nghề thiếu sức cạnh tranh sẽ chịu tác động mạnh khi mở cửa thị trường, nhưng nhìn chung là lợi nhiều hơn hại

Đài Loan là một nền kinh tế hướng ngoại bởi vậy gia nhập WTO Đài Loan sẽ

có nhiều cơ hội thương mại hơn Về lĩnh vực công nghiệp, giá nhập khẩu nguyên liệu giảm xuống có lợi cho các doanh nghiệp hạ thấp giá thành sản phẩm

Đồng thời, giá nhập khẩu sản phẩm công nghiệp hạ sẽ kích thích tiêu dùng trên

đảo, từ đó tạo cho các hoạt động thương mại thêm sôi nổi Ngoài ra còn có tác dụng thúc đẩy việc nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trên đảo với hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài vào

Đài Loan là một trong những thị trường xuất khẩu lớn đối với các ngành điện tử

và ngành dầu khí nên khi gia nhập WTO Đài Loan có thể lợi dụng việc cắt giảm thuế quan của thị trường các nước

Trang 7

mà mở rộng thị trường xuất khẩu đối với

các ngành có ưu thế Về lĩnh vực nông

nghiệp, mặc dù gia nhập WTO ngành

nông nghiệp sẽ chịu tác động lớn nhất,

tuy nhiên đối với các doanh nghiệp nhập

khẩu và doanh nghiệp chế biến hàng

nông sản thì do giá nhập khẩu giảm nên

đã hạ thấp được giá thành sản phẩm

Đồng thời, khi gia nhập WTO, Đài Loan

cam kết xóa bỏ hạn chế khu vực nhập

khẩu và số lượng nhập khẩu nên sản

phẩm nông nghiệp tiêu thụ trên đảo và

doanh nghiệp gia công chế biến hàng

nông sản sẽ có nhiều cơ hội được lựa chọn

sản phẩm đa dạng hơn và cũng có thể hạ

thấp giá thành Về lĩnh vực dịch vụ, gia

nhập WTO sẽ có nhiều cơ hội buôn bán

mới trong các ngành nghề liên quan như

ngành dịch vụ thông tin di động, hệ

thông quản lý thông tin viễn thông, hệ

thống phần mềm viễn thông loại lớn,

quảng cáo và phân phối Doanh nghiệp

ngành bảo hiểm tài chính có thể mở rộng

nghiệp vụ ra nước ngoài, tiến hành

chuyển đổi sang quốc tế hóa, có lợi cho

doanh nghiệp Đài Loan thi hành sách

lược toàn cầu Còn về phương diện mua

sắm của chính phủ, Đài Loan có thể thu

hút được những kỹ thuật, trình độ quản

lý tiên tiến của nước ngoài, giúp cho việc

nâng cao chất lượng và kỹ thuật các công

trình trên đảo, tạo đà cho việc nâng cao

năng lực cạnh tranh của các doanh

nghiệp Đài Loan Đồng thời, sau khi gia

nhập WTO, có thể tăng thêm cơ hội hợp

tác làm ăn giữa doanh nghiệp Đài Loan

với doanh nghiệp nước ngoài Ngoài ra,

có thể mở rộng thị trường mua sắm chính

quyền trong các nước đã ký Hiệp định

Mua sắm Chính phủ, làm tăng thêm cơ

hội phát triển hướng ra bên ngoài cho các doanh nghiệp Đài Loan Đó là tất cả những điểm lợi về mặt kinh tế khi Đài Loan gia nhập WTO

Thứ hai về mặt chính trị, như trên

đã nói từ đầu những năm 70, sau khi chính quyền Đài Loan bị rút khỏi Liên hợp quốc thì địa vị quốc tế của Đài Loan ngày càng hạ thấp Ngày càng có nhiều quốc gia thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, đặc biệt là trong những năm gần đây sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc tăng lên thì chính quyền Đài Loan lại càng trở nên đơn độc Để tìm kiếm không gian sinh tồn và mở rộng vũ

đài quốc tế của mình, chính quyền Đài Loan hết sức coi trọng việc tận dụng tối

đa mỗi khi có cơ hội đến Và việc gia nhập WTO cũng có thể coi là một cơ hội

mà Đài Loan có thể tận dụng Theo một

số nghiên cứu của các học giả Trung Quốc thì khi gia nhập WTO Đài Loan có thể thực hiện mưu đồ chính trị của mình trong ba phương diện sau:

Một là, có lợi cho việc thực thi chính sách “ngoại giao thực dụng” Đài Loan gia nhập WTO có thể lợi dụng cơ hội mỗi lần WTO tổ chức các hội nghị quốc tế, tổ chức đa biên, đàm phán song phương và các hoạt động khác thì có thể tiếp xúc rộng rãi với các quốc gia thành viên Từ

đó có thể xây dựng các mối quan hệ với những nước này nhằm thực hiện chính sách “ngoại giao thực dụng” Chính quyền Đài Loan đang nằm trong thế bị cô lập nên bức bách tìm kiếm các loại diễn

đàn có thể biểu đạt ý đồ chính trị của

Trang 8

mình, khi gia nhập WTO thì có thể vận

dụng cụ thể và thực thi các chính sách

ngoại giao thực dụng như “ngoại giao

thương mại”, “ngoại giao đồng tiền”

Đồng thời, có thể lợi dụng đầy đủ những

ưu thế về thương mại và lượng dự trữ

ngoại tệ phong phú để triển khai chính

sách “ngoại giao kinh tế” nhằm kéo gần

quan hệ với các nước á, Phi và Mỹ La

tinh

Hai là, có lợi cho việc mở rộng không

gian sinh tồn quốc tế Đài Loan gia nhập

WTO, một mặt giúp Đài Loan tăng cường

tiếp xúc với các quốc gia “không có quan

hệ bang giao”(1) để có thể nhận được

nhiều hơn sự hiểu biết và ủng hộ của các

quốc gia này, đặc biệt là sự ủng hộ phía

sau của một số tập đoàn các nước phương

Tây Đồng thời Đài Loan có thể lợi dụng

quan hệ quốc tế đa phương để tạo thế cân

bằng quan hệ hai bờ

Ba là, Đài Loan gia nhập WTO với tư

cách khu vực thuế quan độc lập như vậy

Đài Loan trở thành “một thực thể kinh

tế” bình đẳng trong các hoạt động quốc tế

của WTO

Tóm lại, sau 12 năm nỗ lực Đài Loan

cuối cùng cũng đã trở thành thành viên

của một tổ chức thương mại lớn nhất

toàn cầu Nhìn lại chặng đường gia nhập

WTO của Đài Loan có thể thấy Mỹ

đã đóng vai trò quan trọng trong việc

thúc đẩy tiến trình này Tuy nhiên, so

với một số nước và khu vực khác thì 12

năm là khoảng thời gian tương đối dài,

bởi một trong những lý do quan trọng đó

là Đài Loan phải thực hiện nguyên tắc

“Trung Quốc trước, Đài Loan sau”, do

vậy, dù Đài Loan có hoàn tất công việc

đàm phán với các đối tác thì cũng phải

đợi Trung Quốc gia nhập xong mới đến lượt Những lợi ích về kinh tế và chính trị như trên thì việc Đài Loan nỗ lực gia nhập WTO là cần thiết

Tài liệu tham khảo

1 Báo cáo của Ban Công tác Đài Loan

2 Nghị định thư gia nhập WTO

3 Lâm Trường Hoa, “Phân tích tình hình kinh tế Đài Loan năm 2004 và triển vọng 2005”, Tạp chí Nghiên cứu Đài Loan, Trung Quốc, số 1/2005

4 Trần Hướng Thông, “Gia nhập WTO tác động tới nền kinh tế Đài Loan và đối sách của nó”, Tạp chí Kinh tế Châu á TBD, Trung Quốc, số 5/2002

5 Hà Kỳ Sinh, “Bàn đến vấn đề pháp luật khi Đài Loan gia nhập WTO”, Tạp chí Nghiên cứu Đài Loan, Trung Quốc, số 4/1997

6 Giang Bỉnh Khôn, “Suy nghĩ về phát triển nền kinh tế Đài Loan và triển vọng”, Nxb Liên Kinh, Đài Bắc, 2004

7 “Thế kỷ mới gia nhập WTO: Bước ngoặt và ảnh hưởng”, Nxb Cục Thương mại Quốc tế, Bộ Kinh tế Đài Loan, Đài Bắc, 2002

8 Tạp chí “Triển vọng kinh tế”, Đài Loan, số 83 (9/2002); số 86 (3/2003); số 89 (9/2003)

Ngày đăng: 10/08/2014, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm