Phần tổng quan điều chế một số dẫn xuất từ tinh dầu quế
Trang 1B DHAN TONG QUAN
+
Trang 2
Phần tổng quan _
I Cay qué
Cây quế có tên khoa học 1A Cinnamomum, thuộc họ Long não Lauraceae Qué 1a loai cay lâu năm, thân gỗ, một trong những loại cây có
yêu cầu đặc biệt về điều kiện tự nhiên và chỉ phát triển được ở một số vùng
nhất định thuộc vùng nhiệt đới, nhiều nắng, nhiều mưa, ẩm độ cao Trong các vùng nhiệt đới, quế cũng chỉ thích hợp ở một số vùng và trở thành đặc
sản riêng của vùng đó '?
Trên thế giới có 3 giống quế chính là quế Xrilanca, quế Trung Quốc
và quế Việt Nam,
1.1.1 Quế Xrilanca
Quế Xrilanca có tên khoa hoc 1A Cinnamomum zeylanicum Nees Cay
có chiều cao từ 20 -25m Lá mọc đối, dài, có hình bầu dục, nhấn bóng, về phía cuống hơi thon lại Phiến lá có chiéu dài từ 11 — 20cm, rộng 4 - 6cm,
có 3 — 5 gân rõ rệt nổi lên ở cả mặt trên và mặt dưới, mặt trên của lá có lông măng Hoa có màu trắng hay màu vàng nhạt, mọc thành chùy ở kẽ lá
hay đầu cành và dài từ 10 — 12cm, cuống hoa chính và cuống hoa phụ có nhiều lông Quả mọng có hình trứng, thuôn dài 8mm, phía cuốn có đài tổn
Vỏ quả có màu sẫm, hơi dày, chứa một hạt.`
Theo báo cáo của Gildemeister va Hoffmann, tinh dau vỏ quế Xrilanca
có những tính chất sau ` :
Chỉ số khúc xạ ở 20% : 1,581 — 1,591
Hàm lượng aldehyd 3 65 — 76%
Độ hòa tan ở 20 °C trong
Trong tỉnh dầu vỏ quế, ngoài thành phần chính cinnamaldehyd và
eugenol còn có các cấu tử phụ như :
Trang 3
Ân tổng quan _
Metyl-n-amyl ceton, furfural, I-oœ-pinen, |-phellandren, p-cymen, benzaldehyd, nonylaldehyd, hydro-cinnamaldehyd, I-linalool, linalyl isobutirat, caryophyllen
Theo báo cáo của Gildemeister và Hoffmann, tỉnh đâu lá quế Xrilanca
có những đặc điểm như sau *:
Độ hòa tan ở 20 °C trong
Ngoài các cấu tử chính là cinnamaldehyd và eugenol, trong tỉnh dầu
lá quế Xrilanca còn có các thành phần phụ như :
Terpen, benzaldehyd, I-linalool, l-œ-pinen, |-B-phellandren, J-c- phellandren, a- va B-caryophyllen, safrol, geraniol, l-borneol, l-œ-terpineol, cinnamyl- alcol, phenyl-propyl-alcol, benzoy!-benzoat, piperiton
1.1.2 Quế Trung Quốc
Quế Trung Quốc có tên khoa học là Ciinamomwm cassia Blume Cây
có kích thước trung bình khoảng 12 - 17m Lá mọc so le, dài và cứng, phiến
lá dài từ 12 — 15cm, rộng 2,5 — 6cm, mặt trên của lá nhấn và bóng, mặt dưới
có lông, có 3 gân , 2 gân phụ nổi rất rõ Cuống lá to, mặt trên của cuống có
rãnh dài 1,5 — 2cm Hoa mọc thành chùy ở những kế lá phía trên Quả có hình trứng, thuôn dài từ 12 — 13mm, phía dưới có đài tồn hoặc nguyên hoặc
hơi chia thùy.*
Trang 4
Theo công ty Fritzsche Brothers, le, New York, tính chất của tỉnh
dầu quế Trung Quốc có các đặc điểm sau °:
Tỷ trọng ở 15% : 1,046 — 1,059
Năng xuất quay cực 25°C : - 0°40" — 0°30"
Ham lugng aldehyd : 88 ~ 99%
Độ hòa tan trong etanol 70% (vw) : 2
Ngoài thành phần chính là cinnamaldehyd, trong tỉnh dầu vỏ quế
Trung Quốc còn có các thành phần phụ sau :
Các acid béo, benzaldehyd, o-metoxy-benzaldehyd, coumarin, cinnamyl acetat, phenyl-propyl-acetat, salicylaldehyd, acid cinnamic, acid salicylic, acid benzoic, o-metoxy-cinnamaldehyd
1.1.3 Cây quế Việt Nam
Dựa vào các điểu kiện tự nhiên nước ta, việc trồng quế được qui hoạch theo 4 vùng chính Trong từng vùng, việc chọn giống quế trồng cũng rất đặc trưng để phù hợp điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu.”
1 Vùng quế Hoàng Liên Sơn
Quế vùng này được trồng chủ yếu ở Yên Bái Đây là vùng quế lớn
nhất nước ta, diện tích rừng quế vào khoảng 10.000 ~ 12.000 hecta Quế ving nay chi yéu 1a loai Cinnamomum cassia Blume, c6 dac điểm thực vat
giống quế Trung Quốc
2 Vùng quế Quảng Nam, Quảng Ngãi
Nghề trồng quế ở đây phát triển rất lâu đời, năng suất và chất lượng
quế khá tốt Rừng quế vùng này có diện tích khoảng 6.000 — 7.000 hecta và chi yéu 1a 104i Cinnamomum obtusifolium Nees Quế này có lá mọc so le, phiến lá có hình bầu dục, thon, nhỏ, dài từ 7,5-10cm, rộng 2,5-3cm, mặt trên của lá có mầu hơi nâu, có 3 gân gốc, trong đó một cặp cách gốc 3-4 mm chạy đến 1⁄3 phần đuôi của lá, gân phụ không rõ lắm, cuống lá có chiều dài
Trang 5
từ 7-8mm Cụm hoa mọc ở ngọn nhánh, nách lá và cao từ 4-5 cm, hoa cao 5mm, có lông mịn."
3 Vùng quế Thanh Hóa- Nghệ Tĩnh
Diện tích rừng quế vùng này khoảng 5.000 — 6.000 hecta, chủ yếu là
loai Cinnamomum loureirii Nees Lá mọc gần như đối, phiến lá có hình bầu
dục, thon, đài 12-15em, rộng 5cm, đầu lá thon, cặp gân gốc cách cuống lá 5-
7mm, mặt trên của lá có màu xanh tươi bóng, mặt dưới có màu nâu sẫm, có
rãnh, dài 1,5cm Chùy hoa mọc ở nách lá, đài 6-7cm, cuống hoa dài 6-8mm,
bao hoa có lông sắc, Quả cao lem, lúc đầu có màu xanh sau chuyển sang
nâu tím khi chín, bóng loáng,
4 Vàng quế Quảng Ninh
Đây là vùng sản xuất có truyền thống lâu đời, Quế Cinnamomum zeylanicum Nees, c6 dac tính thực vật giống quế Xrilanca Đây là vùng cung cấp quế quan trọng cho xuất khẩu Diện tích rừng quế khoảng 4.000 —
5.000 hecta.ˆ
IL Tréng trot, thu hoạch và chế biến
I.1 Trồng trọt
Giống cây đóng vai trò quan trọng, quyết định chất lượng sản phẩm cây quế Hiện nay ở nước ta có ba phương pháp sản xuất giống quế, sản xuất giống bằng hạt, bằng chổi non và bằng cành, trong đó, việc sản xuất giống bằng hạt rất phổ biến.”
Hạt quế được lấy từ quả chín của các cây già và khỏe (trên 15 năm tuổi) Quả chín sau khi thu hái đem về xát vỏ, rửa sạch và gieo ngay thì mới
có tỷ lệ nảy mầm cao Trường hợp không gieo ngay thì phải phơi khô hạt đã
được xử lý trong bóng râm, thoáng mát và trộn với cát ẩm mới có thể để
được một tháng mà vẫn đầm bảo hạt nảy mầm với tỷ lệ cao Sau khi gieo
khoảng 15 ngày hạt có thể nảy mầm Khi cây non được 2-3 lá người ta bắt
đầu xới xáo, làm cổ và chăm sóc thường xuyên Để quế con tại vườn ươm
cho đến năm sau, khi cây con cao khoảng 50cm đưa đi trồng ở nơi cố định
Có hai cách trồng, trồng cây cách cây 3m (thu hoạch một lần sau 10 năm)
Trang 6
hoặc cây cách cây 1,5m (thu hoạch nhiều lần sau 4-5 năm) Việc trồng cây
bằng hạt có ưu điểm là giữ được những đặc tính tốt của cây mẹ lâu dài, đồng thời nhờ chăm sóc tốt sẽ xuất hiện những ưu thế mới của cây con.”
Trồng cây bằng chổi non là việc tận dụng các chổi non của các cây đã
bị chặt sau khi thu hoạch Thông thường mỗi gốc có 3 - 4 chỗi, khi chổi non cao khoảng 50 ~ 60em thì tiến hành tỉa bớt và chỉ để lại mỗi gốc hai chỗi xa nhau Tiếp tục chăm sóc các chổi này để trở thành rừng quế Phương pháp này có nhiều ưu điểm như giảm chi phí, rút ngắn thời gian Tuy nhiên nó cũng có một số nhược điểm như chất lượng sản phẩm có thể bị giảm sút,”
Trồng quế bằng cành là việc chọn các cành lớn, thẳng , có triển vọng phát triển tốt của các cây đã trưởng thành để chiết trồng Chiết cành thường
được tiến hành vào tháng 7 — 8 (âm lịch) và để đến tháng giêng, tháng hai
năm sau có thể cắt đem đi trồng Phương pháp này có ưu điểm là chi phi thấp, thời gian rút ngắn Tuy nhiên, cũng như sản xuất giống bằng chổi, phương pháp này cũng chỉ nên áp dụng một đến hai luân kỳ sản xuất quế, nếu tiếp tục nữa có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.”
Ba phương pháp sản xuất giống trên đây hiện nay đã được nhiều địa phương trồng quế áp dụng Tuy nhiên, phổ biến nhất là phương pháp sản xuất giếng bằng hạt, hai phương pháp còn lại chỉ được áp dụng tùy theo tập quán của từng địa phương Để đạt hiệu quả cao trong quá trình sẩn xuất giống cần phải kết hợp cả ba phương pháp, trong đó phương pháp sản xuất giống bằng hạt phải được xem là cơ bản.”
Việc trồng quế ở nước ta thường dựa trên tập quán lâu đời, các kinh
nghiệm này đem lại kết quả là trồng quế đạt tỷ lệ sống cao, cây có chất lượng tốt
II.2 Thu hoạch và chế biến
Tùy yêu cầu kinh tế đối với sản phẩm quế mà quyết định thời gian kinh doanh quế từng luân kỳ nhất định, nhưng nói chung, sản xuất quế ít
nhất cũng phải từ 10 - 15 năm mới cho thu hoạch vỏ, vỏ quế là bộ phận
quan trọng nhất của cây quế Đặc điểm của cây quế là càng lâu năm vỏ càng dày, tỷ lệ dầu cao và phẩm chất tốt Mặc dầu việc thu hoạch tiến hành
không giống nhau giữa các địa phương nhưng nói chung cũng theo những
Trang 7
kinh nghiệm cơ bản Quế trồng ở nước ta hiện nay thường được thu hoạch vào hai mùa Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên mà quy định thời điểm khai
thác Các tỉnh phía Bắc thường thu hoạch vào thời điểm tháng 4 — 5 (quế vụ
xuân) và tháng 9 — 10 (quế vụ thu) Ở phía Nam, thu hoạch quế vụ xuân vào
thang 1-2 va qué vu thu từ tháng 7 — 10 Thu hoạch vào các thời điểm trên đây là lúc quế đang phát triển mạnh, có nhiều nhựa nên dễ bóc vỏ, ít bị
hư hao.’
Trước khi bóc từ 25 ~ 30 ngày, người thợ lấy đao bóc khoanh dưới gốc
cây một đường khoảng 20cm để nhựa quế không thể lên trên được nhằm
mục đích để bóc sau này, tạo cho vd qué ed mau dd.°"*
Hiện nay việc chế biến quế còn tùy thuộc vào kinh nghiệm của từng
địa phương, chưa theo quy trình kỹ thuật thống nhất Vỏ quế ở thân và cành
to được lột thành từng phiến theo kích thước quy định và chế biến chu đáo
theo kinh nghiệm Vỏ quế gãy, quế vụn, hoặc quế lột ở các cành nhỏ thường
đem phơi khô Vỏ cành ngọn, lá và các bộ phận khác chưa được sử dụng
triệt để Vỏ quế lột về được đem ngâm nước, rửa sạch nhựa và các vết bẩn,
sau đó ủ 6 — 7 ngày Sau khi ủ xong đem phơi nắng, dùng ống tre kiểng lại
để ống quế không thay đổi hình dạng Trong quá trình phơi còn phải tiếp tục lau sạch các nấm mốc, bụi bẩn để thanh quế được sạch bóng Các loại quế
tốt, nhất là quế dùng để làm dược liệu người ta còn dùng sáp ong gắn ở hai
đầu thanh quế, bổ vào hòm gỗ kín, lót kẽm hoặc vải xung quanh để giữ phẩm chất, màu sắc, mùi vị lâu dài Loại vỏ cách gốc 30 -40 em (tối đa 1/2m) được gọi là quế hạ căn, có phẩm chất khá Cách gốc 1,2m đến điểm phân cành gọi là quế thượng châu, có phẩm chất tốt Loại quế ở các cành to gọi là quế thượng biểu, có chất lượng trung bình Vỏ cành nhỏ gọi là quế
chi, có chất lượng kém Đối với quế Yên Bái, sau khi bóc vỏ người ta chỉ phơi khô trong mát rối đóng gói chứ không ủ như đối với các loại quế
khác.!2®°
1.3 Sản xuất quế
II.3.1 Tình hình buôn bán quế trên thị trường thế giới
§ản lượng quế trung bình hàng năm trên thế giới vào khoảng 15.000
tấn, chủ yếu do các nước Trung Quốc Xrilanca, Indonisia, Malaysia, Việt
Nam cung cấp Các nước như Nhật Bản, Singapore nhập quế thô và tái
“7s
Trang 8
xuất tỉnh dầu quế Sau đây là nhu cầu và khả năng cung cấp quế trên thế giới, theo tài liệu thống kê của Bộ Thương mại, 1996
Nước Nhập khẩu | Nhu cầu ( Tấn/năm) | Nhập khẩu (Tấn/ năm)
_Liên Bang Nga 1.000 300 — 400
-Tiệp Khắc 500 200 ~ 300
Quế buôn bán trên thị trường thường theo các tiêu chuẩn nhất định do các công ty thương mại thiết lập Theo đó, quế được phân làm 3 loại, quế ống, quế bể và quế vụn cành Ý,
a/ Quế ống
Loại này có chiểu dài khoảng 1m, đày từ lem trở lên, có màu nâu
vàng , giòn, bể mặt nhẫn, không được có mắt (có thể có một ít mắt rất nhỏ)
Loại này gồm có các tiêu chuẩn như sau Ay
1 Tiêu chuẩn loại Fines
00000
0000
000
00
0
Trong đó 00000 là hạng tốt nhất , 0 là hạng xấu nhất
2 Tiêu chuẩn Barcelona hay Tây Ban Nha
“Tiêu chuẩn này dành cho các loại quế có chất lượng trung bình Tiêu chuẩn này phân làm 4 hạng sau *:
Trang 9
B-IL : Hơi dày hơn hạng 0 của tiêu chuẩn Fines, B-IH : Mồng hơn hạng B-I
B-II : Mồng, có màu nâu đỏ
B-IV : Giống hạng B-III nhưng mồng hơn
HạngB-I tốt nhất
3 Tiêu chuẩn Hamburg
Tiêu chuẩn này gồm 4 hạng *:
H-I : Ngang hạng B-]I
H-IIL ; Mỏng hơn hạng H-I
H-II : Hạng trung bình
H-IV : Ngang hạng H-III, có mầu nâu đỏ
Hạng H-I tốt nhất
b/ Quế bể
Là loại quế ống bị vỡ do quá trình chuyên chở, làm sạch Loại này
cũng có thể lấy từ phần vỏ gần thân gỗ hoặc các nhánh không cho được quế ống thẳng theo đúng chiều dài qui định Ê
c/ Quế vụn cành
Loại này gồm các phần bào vỏ ngoài, phần giữa vỏ trong và vỏ ngoài,
Loại quế này được phân làm các hạng sau 4;
Loai | : Khéng có cát, đất và rác
Loại 3 : Có lẫn một ít đất
Loại 0: Giống như loại I nhưng được rửa sạch hơn
Loại 00 : Giống như loại 0 nhưng được tẩy sạch
Các tiêu chuẩn về tỉnh dầu của vỏ và lá quế thường dựa theo tiêu
chuẩn của công ty Fritzsche Brothers, Inc New York và được các nhà kinh
doanh tỉnh dầu quế áp dụng
Trang 10
1.3.2 Tình hình sản xuất quế ở Việt Nam
Việc xuất khẩu quế của chúng ta chủ yếu dựa vào cảm quan khi xem quế Người ta thường cạo một lớp mỏng ở đầu thanh quế rồi nhìn, nếu thấy nhiễu đâu, nếm có vị cay ngọt hơi chát, khi ngâm trong nước sôi nước có màu trắng đục là được.”
Theo tài liệu của bộ thương mại, năm 1991 nước ta xuất được 1130
tấn quế ống Năm 1992, bộ Lâm nghiệp có chủ trương trồng mới cây quế, nhưng do không chọn được giống tốt nên đến nay, sau 7 năm mới phát hiện
các cây quế này cho vỏ mỏng, hàm lượng tỉnh dầu thấp, không bán được Năm 1997, sản lượng quế xuất khẩu đạt 350 tấn, năm 1998 còn 270 tấn,
năm 1999 chỉ còn 220 tấn Báo đài đã nhiều lần đưa tin tình hình nói trên
Ngoài việc sản lượng quế sút giảm nghiêm trọng do rừng quế tự nhiên
đã cạn kiệt, chúng ta còn chưa tận dụng vỏ quế vụn, quế cành, lá quế để ly trích thu hồi tinh dầu
Sau đây là một số tiêu chuẩn về vỏ quế theo Tiêu Chuẩn Việt Nam TCVN 3230/ 79 : (trang sau)