Phần tổng quan tìm hiẻu thành phần hóa học của lá cây xuân hoa
Trang 2Góp phân tìm hiểu thành phân hóa học của lá cây Xuân Hoa Trang 3
TỔNG QUAN
11 MÔ TẢ THỰC VẬT
Cây Xuân Hoa có tên khoa hoc 14 Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radik thuộc họ Ô rô (Acanthaceae)",
Cây Xuân Hoa còn có những tên gọi khác như: Hoàn ngọc, Nhật nguyệt, Tà
lnh, Nội đồng, Trạc mã Thần tượng linh, Cây mặt quỷ, Cây khi ăn Ủ“
Cây Xuân Hoa là dạng cây bụi, cao từ 1-2 m, phần gốc hóa gỗ màu nâu, thân
non mầu xanh lục, phân nhiều cành mảnh Lá có phiến thon, to đến 20x4,5 em, đáy
là hay nhọn, mặt đưới có đốm đen, gân phụ 8-9 cặp, cuống dài 5,5 cm Phát hoa không chia nhánh, cao 30 cm, 14 dai nhu kim, đài Š-6 cm, vành có ống dài 2-4 cm,
tai tĩn xanh hay trắng, môi trên lõm, raôi dưới 3 thuỳ to, tiểu nhị thụ 2 Nang có lông mịn, cao 3,5 em, phần lép 2,2 cm, hột 4 (hình 1.1 và 1.2)”
1.2 VUNG PHAN BO VA THU HAL
Cây Xuân Hoa là cây mọc tự nhiên 6 ving ndi, vai nim gần đây được trồng
khấp nơi ở Việt Nam để làm kiểng và lâm thuốc, Cây mọc đưới tán lá rừng, ưa ẩm,
sinh trưởng nhanh, nhân giếng bằng cành giâm”!, Cây sinh trưởng mạnh trong mda xuân hè, mùa đông có hiện tượng nửa rụng lá Bộ phận sử dụng của cây là lá, ré, dùng tươi hoặc khô Cây có thể được thu bái quanh năm
1.3 THANH PHAN HOA HOC
1.3.1 Một số chỉ tiêu sinh bóa của lá cây Xuân Hoa”,
Hầm lượng điệp lục tổng số được xác định bằng cách nghiền lá tươi trong cồn
96%, ly tâm lấy dich, đo hấp thu ở bước sóng 447, 662 và 668 nm (bang 1.1)
HVCH: TRAN KIM THU LIEU
Trang 3Góp phân tìm hiểu thành phần hóa học của lá cây Xuân Hoa Trang 4
Hình 1.2 Lá và hoa cây Xuân Hoa
Hình 1.1 Cây Xuân Hoa
Pseuderanthemum palatiferum
(Nees) Radlk Acanthaceae
HVCH: TRAN KIM THU LIEU
Trang 4
Góp phân tìm hiểu thành phần hóa học của lá cây Xuân Hoa Trang 5
Bảng 1.1: Hàm lượng diép luc, protein va polysaccarid™
Trọng lượng khô (%) 13,40 + 0,81
Diệp lục tổng số (mg/g lá tươi) 2,56 + 0,56
Nitơ tổng số (% chất khô) 4,90 + 0,45
Protein tổng số (% chất khô) 30,80 + 5,00
Protein hòa tan (mgíg lá tươi) 25,50 + 25,00
Bảng 1.2: Hàn lượng một số nguyên tố đa lượng và vỉ lượng trong lá
cây Xuân Hoa!
Chất khoáng (,„ /I00g lá tươi) Chất khoáng | ,„./100g lá tươi)
HVCH: TRAN KIM THU LIEU
Trang 5Góp phân tìm hiểu thành phần hóa học của lá cây Xuân Hoa Trang 6
Kết quả phân tích thành phần chất khoáng của lá cây Xuân Hoa (bắng 1.2)
cho thấy hàm lượng các nguyên tố đa lượng và vi lượng cao so với hầm lượng các
chất này trong các cây khác Hàm lượng Fe là nguồn định dưỡng quý cao gấp bốn
lần đậu tương”, không phát hiện các nguyên tố kim loại nang nhu Cd, Pb, As, Cr
đáng chú ý là hàm lượng V kha cao (3,9mg)
1.3.2 Thành phần hóa học
Năm 1998, Trân Công Khánh và cộng sự”! đã xác định định tính trong lá
Xuân Hoa có sterol, coumarin, đường khử và carotenoid; đã chiết tách được một số chất như: phenyIhepta-1,3,5-triyn, phytol, stigmasterol, poriferasterol, B-sitosterol (ham lượng B-sitosterol chiếm khoảng 0,1% trong lá khô)
Năm 2000, Nguyễn Thị Minh Thu và cộng sự”?! bằng các phần ứng định tính
cho thấy trong lá Xuân Hoa có chất béo, carotenoid, sterol, flavonoid, saponin, acid
hữu cơ và đường tự do, đã phân lập được 7 chất tình khiết, trong đó đã xác định
được cấu trúc hóa học của 4 chất sau: phytol, B-sitosterol, 8-sitosterol 3B-O-
glucosid; hỗn hợp đồng phân epimer cia stigmasterol va poriferasterol
Năm 2003, Lê Thị Lan Oanh và cộng sự l8! đã phân tích hàm lượng acid amin cho biết hàm lượng acid amin tự đo trong lá Xuân Hoa khá cao, nhất là lá được thu hái vào tháng 9-10, có thể lên đến 1347mg%, đặc biệt là các acid amin không thay
thé nhw: isoleucin (150mg%), leucin (85mg%), valin (100mg%)
Năm 2003, Phan Minh Giang và cộng sự! đã cô lập và nhận đanh được 7
hợp chất từ cây Xuân Hoa, đó là: n-peniacosanol, B-sitosterol, stigmasteroi,
B-sitosterol 38-O-glucosid, stigmasterol 38-O-glucosid, 3-metoxykaempferol 7B-0- glucosid va apigenin 78-O-glucosid
HVCH: TRAN KIM THU LIEU
Trang 6Góp phần tìm hiểu thành phần hóa học của lá cây Xuân Hoa Trang 7
Năm 2004, Nguyễn Văn Hùng và cộng sự” đã phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất: 1-triacontanol, hexadecanoat glycerol, acid palmiuc và acid salicylie
Theo Huỳnh Kim Diệu và cộng sự?” trong lá cây Xuân Hoa có các acid
amin nhu: lysin, metionin, treonin
Cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được từ lá cây Xuân Hoa:
CH;(CH;)„CH;OH
1-Triacontanol
¥ 2 3 4 5s 6 7
C) CSC—~CSC—~C=C—CH
Phenylhepta-1,3,5-triyn
Oo
CH:(CH2) i
OH
Hexadecanoat glycerol
Acid salicylic
Acid palmitic
CH;(CH›);;CH;OH Pentacosan-l-ol
_YXÂY*^rZ*4*Xể
Phyiol
TC
oN
f i
me,
HO Sake B-SHosterol
a
A Poriferasterol
HO
HVCH: TRAN KIM THU LIEU
Trang 7Góp phần tìm hiểu thành phân hóa học của lá cây Xuân Hoa Trang 8
HOHạC
HO’
HO
OH
Stigmasterol 3B-O-glucosid
HOH;C OH
OCH;
OH O
3-Metoxykaempferol 7B-O-glucosid
NH) CHCOOH
CH2CH(CH3)2
Leucin
HC oy CH-COOH
H,C-CHY
Isoleucin
HC-S-CHp-CHy-CH-COOH
NH,
Metionin
‘OH B-Sitosterol 3B-O-glucosid
OH O Apigenin 7B-Ó-glucosid
NH2»CHCOOH
H(CH3)2 Valin
NHạ-CH;-CH;-CH;-CH;- CH-COOH
NH, Lysin
HO oy-CH-COOH
7
HC“ NH,
Treonin
HVCH: TRẦN KIM THU LIỄU
Trang 8Góp phân tìm hiểu thành phần hóa học của lá cây Xuân Hoa Trang 9
1.4 DƯỢC TÍNH
Năm 1997, Trần Công Khánh! đã thử tác dụng kháng vi sinh vật của cao
đặc chiết từ lá cây Xuân Hoa cho thấy cao có tác dụng ức chế vi khuẩn Gram âm ở
đường tiêu hóa, đặc biệt É scheri Chin là một trong những vi khuẩn gây bệnh
đường tiêu hóa, ức chế vi khuẩn Gram dương, nấm mốc, nấm men Diéu nay phi
hợp với kinh nghiệm dân gian sử dụng lá cây Xuân Hoa để chữa các bệnh đau
bụng, rối loạn tiêu hóa, bệnh ung thư thời kỳ mới phát và các bệnh viêm loét dạ dày, tá trang, tri, đau răng, lợi với liều dùng là 0,75-1,5g lá tươi/kg thể trọng
Năm 1999, Lê Thị Lan Oanh và cộng sự! đã thử độ độc của dịch chiết lá
Xuân Hoa (chiết bằng nước hoặc bằng dung dịch đệm phosphat) cho thấy lá Xuân
Hoa không độc với cá chọi Ngoài ra, protein của lá Xuân Hoa bển với nhiệt; khi sấy khô ở 50-60°C, hoạt tính của proteinase còn giữ lại được khoảng 30% so với lá tươi
Năm 1999, Nguyễn Thị Minh Thu và các cộng sự!'?! đã thử độc tính cấp diễn
và tác dụng bảo vệ tế bào gan của cây Xuân Hoa trên chuột nhắt trắng cho thấy: Cao đặc toàn phần lá cây Xuân Hoa ở các liều: 0,83g/kg; 1,67g/kg; 3,13g/kg;
5,56g/kg; 9,19g/kg; 11,5g/kg thé trong khong gây độc tính cấp diễn trên chuột,
chuột sống hoàn toàn khóe mạnh qua 48 giờ, nên không có giá trị LDạo Ngoài ra, cao này có xu hướng ức chế quá trình peroxyd hóa lipid màng tế bào, nghĩa là có xu
hướng tác dụng bảo vệ tế bào gan trên thực nghiệm
Năm 2006, Huỳnh Kim Diệu và cộng sự !'Ì đã xác định hiệu quả của bột lá
Xuân Hoa trên trị bệnh tiêu chảy heo con theo mẹ, liều dùng từ 1-3 lá trong thời gian từ 2 đến 3 ngày, so sánh với hai loại kháng sinh Coli-norgen và Cotrimxazol
Kết quả sau 3 ngày điều trị được trình bày trong bang 1.3
HVCH: TRAN KIM THU LIEU
Trang 9Gép phan tìm hiểu thành phần háa học của l4 cây Xuân Hoa Trang 10
Bang 1.3: Hiệu quả điều trị bệnh tiêu chây heo con theo heo me",
Được liệu dùng để Tỉ lệ (%)
điều trị Khôi bệnh Tái phát Giám lượng E.col
Khang sinh Cotrimxazol 88,33 14,29 97,28
Trong một nghiên cứu khác Huỳnh Kim Diệu và cộng sự?” đã bước đầu thứ
nghiệm lá cây Xuân Hoa trong việc chữa một số loại bệnh trên người và động vật như: Huyết áp, tiêu chây, viêm khớp, viêm họng, viêm loét đạ đầy, viêm tá tràng,
chảy máu, chấn thương, sâu răng, trĩ, viềm gan, viêm mũi, ly, thấp khớp, viêm não Năm 2005, bác sĩ Xuân Luc!” dua ra mOt số bài thuốc từ cây Xuân Hoa: 1- Chữa các bệnh về đường tiêu hóa: Ăn từ 7-9 lá, khoảng 2-3 lần/ngầy, có thể nấu canh để ăn
2- Bệnh chẩy mầu da đầy, đường ruột, tiểu ra máu, tiểu buốt: ăn lá hoặc sắc nước
lá đặc để uống, 2 lần /ngầy
3- Các bệnh ung thư thời kỳ phát bệnh: Lượng lá dùng thường xuyên theo mức độ
đau, thông thường ngày 2 lần mỗi lần 3-7 lá
4- Các bệnh về gan (xơ gan cổ trướng, viêm gan, ): Ăn lá tươi như trên ngày 2 lần
khi đói Bột lá khô cùng với bột Tam Thất theo tỉ lệ 1:1 là thuốc trị xơ gan cổ trướng đặc hiệu
5- Bệnh về thận (viêm thận cấp hoặc mãn, suy thận, các hiện tượng nước tiểu đục,
tiểu ra máu: Ăn lá với liều lượng như trên Í lần/ngày
HVCH: TRAN KIM THU LIEU
Trang 10Góp phần tìm hiểu thành phần hóa học của lá cây Xuân Hoa Trang 11
6- Chữa viêm loét (Đau dạ dày, hoành tá tràng, đại tràng, trĩ nội ngoại, trực trang :
An lá tươi khi đói (tốt nhất là vào buổi sáng) Với các vết thương thuộc phạm vi dạ
day, chỉ cần ăn trong 1 tuân, tránh uống rượu mạnh Khi chữa vết loét thuộc phần
ruột, liều lượng cần nhiều hơn tùy theo nặng, nhẹ
7- Điều chỉnh huyết áp, ổn định thần kinh: Khi biến đổi huyết áp (cao hay thấp) ăn
xong sau thời gian ngắn, huyết áp sẽ trở lại bình thường
8- Chữa về chấn thương (các loại chấn thương, đặc biệt chấn thương sọ não, va đập,
gãy dập xương hay bắp thịt): Lá thuốc có tác dụng cầm máu, khôi phục các mô cơ
bị dập, chống viêm nhiễm, lá làm cả thuốc đắp và thuốc uống Khi vết thương kín
có thể nhai để đắp, vết thương hở nên giã để đắp
9- Chữa cảm cúm: Nếu kéo theo rối loạn tiêu hóa, đau đâu, mệt mỏi, nhiệt độ cao, nên ăn lá cách 2 giờ, cơn sốt nhanh chóng hạ đồng thời rối loạn tiêu hóa cũng khỏi
Sau cơn sốt, nên ăn cháo có lá thuốc trộn vào làm cho người bệnh mau chóng trở lại
bình thường
Đ)H,H,TƯ NHIÊN
THU VEEN
1.5 KHAO SAT HOAT TINH SINH HOC
1.5.1 Giới thiệu chung”
Cho đến nay, các nhà hoá học thuộc hướng nghiên cứu hợp chất thiên nhiên
vẫn còn thói quen sử dụng các kỹ thuật chiết tách, sắc ký để cô lập rồi xác định cấu
trúc hoá học của các hợp chất hữu cơ có trong cây mà không lưu tâm đến việc thử hoạt tính sinh học của các hợp chất đó
Trong sàng lọc sinh học, các nhà nghiên cứu thường tìm những mô hình thử nghiệm sinh học đơn giản, chính xác và dễ áp dụng và chỉ trong một thời gian
HVCH: TRAN KIM THU LIEU
Trang 11Góp phần tìm hiểu thành phân hóa học của lá cây Xuân Hoa Trang 12
ngắn, có thể thực hiện sàng lọc sơ bộ trên nhiều mẫu cây khác nhau và chí tốn một
lượng nhỏ mẫu cao trích,
Ví dụ: Dùng crien có nắp đậy, ngâm 5 gam mẫu cây khô trong 24 giờ, ở nhiệt
độ phòng với 50 mÍ dung môi như eter dẫu hoả, benzen, cloroform, metanol sau
đó lọc, bã còn lại tiếp tục trích như thế vài lần nữa Thu hổi dung môi ở áp suất
thấp, nhận được cao trích, Cao trích này được dùng để thử hoạt tính sinh học, chỉ
cần một lượng từ 2-20 mg là đủ,
Ở Việt Nam, các thí nghiệm như thế này ít được dùng đến, do vậy việc thiết
lập những mô hình thử nghiệm hoạt tính sinh học như thế này để triển khai hằng ngày, trong các phòng thí nghiệm là hết sức cần thiết
1.5.2 Giới thiệu về ấu thể Artemia salina Leach",
Artemia salina là tên Latin của một loài giáp xác sống ở biển, ở dạng trứng
chúng có vỏ bọc mầu nâu khá dày Khi trứng này được đem ngâm vào nước mặn 3,0 - 3,5%, vỏ nở thành nanpHus Arfmia không có tự nhiên ở Việt Nam cũng như khu vực Đông Nam A
Trứng bào xác Artemia Vinh Châu do khoa Sinh ~ Trường Đại Học Cần Thơ
sẵn xuất, Đây là giống SFB (San Francisco Bay, Mỹ), trứng có mầu vàng đậm đến
vàng nâu (200g) đựng trong hộp thiếc, với tiêu chuẩn chất lượng như sau: Kích
thước trứng 230 + 3nm; số lượng trứng 300000-290000 trứng/g; độ ẩm 3,5 - 4%;
hầm lượng acid béo không no 17mg/g; tỷ lệ nổ ở 26°C sau 24 giờ là 76% (210000
ấu trùng/g) và nở sau 48 giờ là 84% (335000 ấu trùng/§)
Ngâm trứng vào nước biển 3,5%, sau 1-2 giờ, trứng hút nước trương lên có
dạng hình cầu Thường thì sau khoảng 20-24 giờ sẽ thành nauplius Au thé nauplius
HVCH: TRẤN KIM THU LIEU
Trang 12Góp phần tìm hiểu thành phần hóa học của lá cây Xuân Hoa Trang 13
có màu trắng sữa hay hồng Một mắt đơn có ba đôi phần phụ, chiều đài từ 0,43 đến
0,5 nm , Chúng bơi lội theo đường Zig zag và có tập tính hướng về ánh sáng
Nauplus trải qua thêm 15 lần lội xác, mất 10-15 ngày, thì trở thành con
trưởng thành Con cái sẽ sinh sản với túi ấp đây trứng, tuổi thọ trung bình của Ảrtemia ruộng nuôi khoảng 45-60 ngày,
Artemia salina là loài ăn không chọn lọc, thường chúng dùng thức ăn có nguồn gốc từ sinh vật như mùn bã hữu cơ, tảo đơn bào va vi sinh vật Trong sản
xuất có thể nuôi chúng bằng các nguyên liệu như cám gạo, bột đậu xanh, bột đậu nành,
1.5.3 Thứ độc tính theo phương pháp thứ nghiệm Brine shrimp”?,
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy có một mối liên quan thuận
chiều giữa độc tính của cao trích từ cây thuốc trên ấu thể Artemia salina với tác
dụng của cao thuốc đó trên những dòng tế bào ung thư như: L5178Y; L1210; KB (humannasopharyngeal carcinoma); P-388 (3PS) bénh bach cầu chuột,
Đa số các hợp chất hữu cơ có tác dụng trên tế bào ung thư đều có tác dụng
với thử nghiệm Brine shrirap Xác định liều chết trong thử nghiệm Brine shrimp có
thể dự đoán được cao trích có khá năng giết tế bào ung thư trong môi trường nuôi cấy tế bào hoặc môi số loài côn trùng khác nhau; cũng nhữ có một số ảnh hưởng
lién quan dude ly
Mô hình này đang được nhiều nước trên thế giới sử dụng, vì không đòi hói
trang thiết bị đất tiền và điều kiện vô trùng như trường hợp nuôi cấy tế bào, sử dụng lượng ruẫu cao ít (2-20 mg), thời gian thử nghiệm ngắn (24 giờ sau khi cho ấu thể
vào), kết qủa lập lại giống nhau và nhất là thuận tiện cho các nhà hóa học có thể
HVCH: TRẤN KIM THU LIEU