Du lịch sinh thái với việc giáo dục môi trường cho học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM XUÂN HẬU
Thành phố Hồ Chí Minh-2007
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau bao tháng ngày miệt mài học tập, nghiên cứu, hôm nay đã kết thúc khoá học,
và cũng kết thúc đề tài Luận văn “ DU LỊCH SINH THÁI VỚI VIỆC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ” Thật nhiều cảm xúc, em xin bày tỏ lòng kính trọng và tri ân sâu sắc:
Tất cả các Thầy Cô phụ trách khoá học, các Thầy Cô trong Khoa Địa Lý trường Đại Học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ
em trong suốt khoá học
Thầy PGS.TS Phạm Xuân Hậu đã giảng dạy và hướng dẫn em trong quá trình học
và hoàn thành Luận văn
Ban Giám Hiệu nhà trường, Phòng Khoa Học Công nghệ sau Đại Học đã tạo điều kiện thuận lợi cho Học viên trong việc học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Cùng lời cảm ơn chân thành đến các Thầy Cô, Đồng nghiệp, Bạn bè, Gia đình đã
có nhiều sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành tốt khoá học và Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 8/2007 Tác giả Luận văn
Nguyễn thị Minh Hà
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTTN : Bảo tồn thiên nhiên
BVMT : Bảo vệ môi trường
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang Biểu đồ 2.1: Số lượng học sinh - sinh viên đến tham gia
chương trình từ năm 1999 - 2006 38 Bảng 2.2: Các loài động vật có xương sống trên cạn hiện diện
ở khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu 45 Bảng 2.3: Những địa điểm thường được tham quan 63 Bảng 3.1: Nội dung chương trình Giáo Dục Bảo Tồn và Bảo
Vệ Môi Trường tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn 73
Trang 5DANH MỤC BẢN ĐỒ
Trang Bản đồ 2.1 Khu BTTN rừng ngập mặn Cần Giờ 39 Bản đồ 2.2 Một số điểm DLST ở Tiền Giang 48
Bản đồ 2.3 Một số điểm DLST ở vùng Nam Trung Bộ 56
Bản đồ 2.4 Bản đồ vị trí hành chánh Vườn quốc gia Cát Tiên 57
Sơ đồ 2.5 Khu du lịch sinh thái Mađagui 60
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái 11
Hình 1.3 Mô hình của việc dạy và học trong GDMT 27
Hình 2.1 Một số loài động thực vật quý hiếm tại TCV 35
Hình 2.2 Một số hình ảnh về rừng ngập mặn Cần Giờ 43
Hình 2.3 Quan hệ giữa chế độ ngập triều, thể nền và phân bố loài cây 41
Hình 2.4 Sơ đồ phân bố các hội đoàn rừng Sác vùng Duyên Hải
Hình 2.8 Một số hình ảnh về rừng quốc gia Cát Tiên 58
Hình 2.9 Một số loài động vật quý hiếm trong khu rừng già
Hình 2.10 Một số cảnh quan tại khu du lịch Mađagui 62
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề bảo vệ môi trường để phát triền cho các thế hệ hôm nay và cả những thế
hệ mai sau, tức là phát triển bền vững, đã trở thành một trào lưu rộng lớn của toàn nhân loại Gần đây nhất, hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững được tổ chức tại Johannesburg (Nam Phi) năm 2002 đã tổng kết các vấn đề về môi trường và phát triển trên thế giới trong những năm qua và đưa ra các chương trình hành động cụ thể
Từ năm 2000, công cuộc bảo vệ môi trường đã gắn liền với các hoạt động chính trị nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về các vấn đề môi trường
Vấn đề giáo dục môi trường cũng đang là vấn đề phát triển trước mắt và lâu dài của mọi xã hội trên con đường phát triển bền vững Giáo dục môi trường có thể được thông qua nhiều hình thức khác nhau, song giáo dục môi trường ở trường phổ thông chiếm vị trí đặc biệt, vì đây là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước
Một khi ống khói của các nhà máy, xí nghiệp ngày càng vươn cao nhiều hơn trên bầu trời, dân số không ngừng gia tăng, đô thị hoá và tập trung dân cư đông đúc, khói bụi giao thông…đang là vấn nạn thì nhu cầu tìm về với thiên nhiên là điều tất yếu Vì thế du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, và Việt nam cũng nằm trong xu thế đó
Trong nhà trường, hoạt động du lich hiện nay cũng đang phát triển rất mạnh Đây
là hoạt động ngoại khoá rất hấp dẫn, thu hút sự tham gia đông đảo của nhiều học sinh Đây có thể là một công cụ khá tốt để có thề lồng vào những nội dung giáo dục môi trường, nâng cao nhận thức thực tế cho học sinh; đồng thời qua đó kết hợp với việc ứng dụng các bài học lý thuyết trên lớp và hình thành ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên lẫn môi trường nhân văn cho học sinh Bên cạnh các hình thức khác, giáo dục môi trường qua hoạt động du lịch sinh thái (DLST) là một hình thức hấp dẫn, sinh động, lý thú, và đạt hiệu quả cao Đó cũng chính là lý do của đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử đề tài
Vấn đề DLST đối với mọi người nói chung và đối với học sinh nói riêng không còn là vấn đề quá mới mẻ Nhưng qua các tour DLST, học sinh học được điều gì, và
Trang 8có ý thức, trách nhiệm như thế nào trong vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ các yếu tố sinh thái vẫn chưa được đặt ra cụ thể Nhiều học sinh vẫn nghĩ đi du lịch là để giải trí, vui chơi thoải mái sau những giờ học căng thẳng Đề tài này muốn nghiên cứu sâu hơn tác động của DLST với việc giáo dục môi trường đối với đối tượng đặc biệt là học sinh, để từ đó có những cách thức tổ chức phù hợp và có hiệu quả
4 Phạm vi đề tài
Không gian nghiên cứu của đề tài mở rộng từ TP.Hồ Chí Minh ra một số điểm DLST ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, phù hợp với đối tượng học sinh THPT tại TP.Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ của đề tài
_ Tìm hiểu các điểm, các tour DLST điển hình trong cả nước nói chung và ở thành
phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận nói riêng
_ Kết hợp các tour DLST tiêu biểu với việc giáo dục môi trường cho đối tượng du lịch là học sinh phổ thông
_ Qua hoạt động DLST, bổ sung kiến thức, hình thành ý thức và trách nhiệm bảo
vệ môi trường cho học sinh ở khu DLST nói riêng và môi trường sống nói chung
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận: dựa trên quan điểm tổng hợp, quan điểm hệ thống, quan
điểm phát triển bền vững
6.1.1 Quan điểm tổng hợp:
Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội không hiện diện riêng lẻ mà có liên quan mật thiết với nhau Vì thế nghiên cứu bất cứ lãnh vực nào trong tự nhiên, xã
Trang 9hội cũng phải xem xét trên quan điểm tổng hợp với những mối liên hệ đan xen, nhân quả Vấn đề phát triển du lịch sinh thái với giáo dục môi trường là hai mặt không thể tách rời và đều được xem xét trong mối liên hệ với các yếu tố môi trường chung quanh (môi trường tự nhiên và môi trường xã hội)
6.1.2 Quan điểm hệ thống:
Du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng bản thân nó đã là một hệ thống phức tạp từ nhỏ đến lớn, từ gần đến xa Một điểm đến không bao giờ tồn tại riêng rẽ mà kết hợp đồng thời với nhiều yếu tố khác: tự nhiên, xã hội, cơ sở hạ tầng, chính sách phát triển… Vì thế sử dụng quan điểm hệ thống để nghiên cứu đề tài là điều kiện cần thiết
để giải quyết vấn đề
6.1.3 Quan điểm phát triển bền vững:
Phát triển bền vững cho hôm nay và cho cả những thế hệ tương lai là yêu cầu bức thiết của mọi quốc gia và lãnh thổ hiện nay Nghiên cứu du lịch sinh thái là hướng tới
sự phát triển du lịch bền vững và bản thân nó cũng bao gồm cả vấn đề giáo dục môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển cộng đồng
6.2 Phương pháp nghiên cứu: sử dụng các phương pháp thu thập, xử lý tài liệu;
phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp thống kê; phương pháp bảng biểu, bản đồ; phương pháp khảo sát thực địa
6.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu
Đây là phương pháp được áp dụng đầu tiên trong quá trình làm đề tài, thu thập, thanh lọc những đề tài theo nội dung, yêu cầu cần tìm hiểu, sắp xếp theo từng đề mục, so sánh, đối chiếu các tài liệu và chọn lọc, xử lý
6.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu khoa học Việc thu thập thông tin
qua các cuộc phỏng vấn, khảo sát nhiều đối tượng, nhiều trường giúp cho việc thực
hiện đề tài được khách quan mà quan sát của một người không thể có được
6.2.3 Phương pháp thống kê
Sau khi thu thập được nhiều dữ liệu, thống kê theo từng đề mục, nội dung cần nghiên cứu
Trang 106.2.4 Phương pháp bảng biểu, bản đồ
Đây là phương pháp đặc trưng của môn Địa, một số nội dung được trình bày trên
các bảng biểu, các địa danh được thể hiện trên bản đồ để làm rõ hơn những nội dung được đề cập đến trong đề tài
6.2.5 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp cần thiết để đề tài nghiên cứu mang tính thực tế và khả thi
Tuy vậy, do còn hạn chế về thời gian và điều kiện nên việc khảo sát thực địa chỉ được tiến hành ở một số nơi tiêu biểu (như Thảo Cầm Viên, Củ Chi, Bình Châu, Vũng Tàu, Tiền Giang, Vĩnh Long, Ma đa gui…)
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái với việc giáo dục môi trường
cho học sinh THPT ở TP.Hồ Chí Minh
Chương 3: Định hướng tổ chức các tour du lịch sinh thái với việc giáo dục môi
trường cho học sinh THPT
Kết luận
Trang 11
Thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn từ tiếng Pháp: “Tour” nghĩa là đi vòng quanh,
cuộc dạo chơi Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm hồi phục, nâng cao sức khỏe và khả năng lao động của con người, liên quan mật thiết đến sự chuyển chỗ của họ Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh
để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh Ngày nay, người ta đã thống nhất rằng về cơ bản, tất cả các hoạt động di chuyển của con người ở trong hay ngoài nước, trừ việc đi
cư trú chính trị, tìm việc làm và xâm lược, đều mang ý nghĩa du lịch Du lịch còn nhằm thoả mãn những nhu cầu to lớn về mặt tinh thần, tăng cường sự hiểu biết, mối quan hệ, tình hữu nghị giữa các dân tộc, các vùng…
Du lịch phát triển đòi hỏi phải phát triển và mở rộng các ngành kinh tế khác để phục vụ cho nhu cầu du lịch như giao thông vận tải, thiết bị điện, hàng tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, khách sạn, nhà hàng, các tổ hợp dịch vụ…
Về phương diện lãnh thổ, du lịch cũng có những tác động nhất định, đặc biệt đối với các vùng xa xôi, vùng kinh tế chậm phát triển nhưng có nhiều tiềm năng lôi cuốn khách du lịch Bộ mặt nền kinh tế của vùng dần dần được thay đổi tuỳ thuộc vào số lượng khách đến
Theo I.I.Pirôgionic (1985), thuật ngữ du lịch chuyển tải 3 nội dung cơ bản: cách thức sử dụng thời gian rỗi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên; dạng chuyển cư đặc
Trang 12biệt; ngành kinh tế, một trong những ngành thuộc lĩnh vực phi sản xuất nhằm phục vụ các nhu cầu văn hoá – xã hội của nhân dân Vì thế, khái niệm du lịch có thể được xác định như sau:
Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di
chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá
(I.I.Pirôgionic, 1985)
b Tài nguyên du lịch
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên
du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành, chuyên môn hoá các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch vụ Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hoá - lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch
Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm:
_ Tài nguyên tự nhiên: gồm địa hình, khí hậu, nguồn nước, động thực vật
_ Tài nguyên nhân văn: gồm các di tích lịch sử - văn hoá, kiến trúc; các lễ hội; các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học; các đối tượng văn hóa - thể thao và hoạt động nhận thức khác
1.1.1.2 Du lịch sinh thái
a Khái niệm du lịch sinh thái
Ngày nay, xu hướng chung của toàn thế giới coi du lịch nói chung, du lịch sinh
thái (DLST) nói riêng như là nguồn tài nguyên quý giá DLST đã và đang trên đà trở mình và đã trở nên phổ biến đối với những người yêu thiên nhiên, nó xuất phát từ các trăn trở về môi trường, kinh tế và xã hội - một trong những cách thức để trả nợ cho môi trường tự nhiên và làm tăng giá trị của các khu bảo tồn thiên nhiên còn lại
Trang 13Du lịch sinh thái (DLST) là một khái niệm tương đối mới và rộng DLST bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời Có người cho rằng DLST là sự kết hợp ý nghĩa của hai khái niệm “du lịch” và “sinh thái”
Năm 1993, Lindberg và Hawkins đã đưa ra một định nghĩa phản ánh khá đầy đủ
về nội dung và chức năng của DLST : “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu
thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”
Tổ chức Bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN) cũng đưa ra định nghĩa đầy đủ hơn:
“DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên
không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực” (Ceballos-Lascurain, 1996)
Ở Việt Nam, trong lần hội thảo về “Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt
Nam” từ 7/9/1999 đến 9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa về DLST là : “DLST là loại
hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Ngoài những khái niệm và định nghĩa trên còn có một số định nghĩa mở rộng hơn
về nội dung của DLST:
“DLST là sự tạo nên và thỏa mãn sự khao khát thiên nhiên, là sự khai thác các
tiềm năng du lịch cho bảo tồn và phát triển và là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hóa và thẩm mỹ”
“DLST là du lịch vào những khu tự nhiên hầu như không bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng ngoạn, trân trọng khung cảnh và muông thú hoang dã và các biểu thị văn hóa được khám phá trong các khu vực này”
(Cebllos-Lascurain, H, 1987)
“DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và
lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng
Trang 14thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương” (Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, 1998)
“DLST là một hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên và định hướng về môi trường
tự nhiên và nhân văn, được quản lý một cách bền vững và có lợi cho sinh thái” (Hiệp
hội DLST Australia)
“DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối
tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững” (Lê Huy Bá-2000)
Lịch sử nhân loại đã chỉ ra rằng: quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, một mặt góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân; mặt
khác, nó cũng gây ra những “vấn đề” cho môi trường sinh thái: tài nguyên sinh vật
và đa dạng sinh học đã và đang bị đe dọa đến mức báo động, các dạng tài nguyên môi trường đất, nước, không khí cũng đang trên đà suy thoái và ô nhiễm
Cho đến nay, khái niệm DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang diễn tiến nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về DLST, nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết
về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hóa
mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa DLST nói theo một định nghĩa nào chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu
tố: (1) sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường; (2) trách nhiệm với xã hội và cộng
đồng
Khái quát lại, có thể coi DLST là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản:
_ Phát triển dựa vào những giá trị của thiên nhiên và văn hoá bản địa
_ Được quản lý bền vững về môi truờng sinh thái
Trang 15_ Có giáo dục và diễn giải về môi trường
_ Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng
Khái niệm về DLST có thể được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái
(Theo Phạm Trung Lương)
b Tài nguyên du lịch sinh thái
b.1 Tài nguyên du lịch sinh thái
Tài nguyên trong DLST được phân thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân
văn (có quan hệ mật thiết với các nhân tố con người và xã hội)
“Tài nguyên DLST là các yếu tố cơ bản để hình thành các điểm, các tuyến hoặc
các khu DLST; bao gồm các cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, giá trị nhân văn, các công trình sáng tạo của nhân loại có thể được sử dụng nhằm thoả mãn cho nhu cầu về DLST.”
Lấy thiên nhiên và văn hoá bản địa làm cơ sở để phát triển, tài nguyên DLST là một bộ phận cấu thành trong tài nguyên du lịch, bao gồm các giá trị của tự nhiên thể
Trang 16hiện trong một hệ sinh thái (HST) cụ thể và các giá trị văn hoá bản địa tồn tại và phát triển không tách rời khỏi hệ sinh thái tự nhiên đó
Tài nguyên DLST rất đa dạng và phong phú Một số loại tài nguyên DLST chính thường được khai thác và phục vụ nhu cầu du khách bao gồm:
_ Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), các khu dự trữ sinh quyển (DTSQ)…)
_ Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, làng hoa…)
_ Các giá trị văn hoá bản địa có sự hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại
và phát triển của HST tự nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống dân tộc…
“Văn hoá bản địa là các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành trong quá
trình phát triển của một cộng đồng dân cư, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa thế giới
tự nhiên và con người trong không gian của một HST tự nhiên cụ thể”
_ Đa dạng sinh học (ĐDSH) là một tài nguyên của DLST, không thể tách rời
ĐDSH ra khỏi DLST, là một hợp phần trong nhiều thành phần tạo nên DLST
“ĐDSH là tổng hợp toàn bộ các gien, các loài và các HST Đó là sự biến đổi liên tục theo tiến hóa để tạo ra các loài mới trong điều kiện sinh thái mới khi những loài khác biến đi” ĐDSH bao gồm đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng sinh thái Chính
sự đa dạng về gien (đa dạng di truyền), đa dạng loài góp phần tạo nên sự đa dạng về HST
b.2 Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái
Tài nguyên DLST có những đặc điểm chung sau:
_ Tài nguyên DLST rất phong phú và đa dạng
Tài nguyên DLST được hình thành trên nền tảng các tài nguyên trong tự nhiên,
mà bản thân tự nhiên thì rất đa dạng và phong phú Tài nguyên DLST bao gồm những HST đặc biệt, là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển của nhiều loài sinh vật quý hiếm Vì thế tài nguyên DLST có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách
_ Tài nguyên DLST thường nhạy cảm với các yếu tố tác động
Trang 17So với nhiều loại tài nguyên du lịch khác, tài nguyên DLST thường rất nhạy cảm
với những tác động của con người Bất kỳ một sự tác động nào làm thay đổi tính chất của tự nhiên hoặc một hợp phần của tự nhiên hoặc làm suy giảm hay mất đi một số loài sinh vật cấu thành nên HST nào đó dưới tác động của con người sẽ là nguyên nhân làm thay đổi, thậm chí làm biến mất HST đó và kết quả là một diễn thế sinh thái mới xuất hiện Tài nguyên DLST sẽ bị ảnh hưởng với những mức độ khác nhau
_ Thời gian khai thác tài nguyên DLST là không đồng nhất
Có loại tài nguyên DLST có thể khai thác được quanh năm, có loại tài nguyên DLST khai thác theo thời vụ, chủ yếu dựa vào các yếu tố khí hậu, mùa di cư, sự sinh sản của các loài sinh vật… Vì vậy để khai thác tốt tiềm năng tài nguyên DLST, các nhà quản lý, các nhà điều hành DLST cần phải nghiên cứu và hiểu rõ tính chất thời
vụ của các loại tài nguyên DLST để đưa ra những giải pháp hợp lý với mỗi hoàn cảnh khai thác
_ Tài nguyên DLST thường nằm xa các khu dân cư và thường được khai thác
tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch
Tài nguyên DLST thường nằm cách xa các khu dân cư, bởi chúng sẽ nhanh chóng
suy giảm, bị biến đổi, thậm chí không còn nữa, do tác động trực tiếp của người dân như săn bắn, chặt cây… nhằm thỏa mãn cho các nhu cầu cuộc sống của mình Vì thế phần lớn các tài nguyên DLST nằm trong phạm vi các khu bảo tồn thiên nhiên – nơi
Do các đặc điểm trên, để có thể khai thác có hiệu quả tài nguyên DLST, cần thiết phải có cơ sở hạ tầng thuận lợi nhằm tiếp cận với các khu vực tiềm năng.Thực tế cho thấy những vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, miệt vườn, sân chim… Nơi nào
Trang 18có vị trí địa lý thuận lợi, tiện đường giao thông thì hoạt động du lịch nói chung, DLST nói riêng sẽ phát triển hơn Ngược lại, nơi có nhiều tài nguyên DLST đặc sắc như HST núi cao Phanxipăng, rừng tràm U Minh, HST rừng ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi ở khu bảo tồn Phong Nha - Kẻ Bàng…còn chưa được khai thác tương xứng, chủ yếu là vì điều kiện giao thông và cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn
_ Tài nguyên DLST có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài
Điều này dựa trên khả năng tự phục hồi, tái tạo của tự nhiên Tuy vậy, thực tế cho
thấy nhiều loại tài nguyên DLST đặc sắc như các loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm hoàn toàn có thể biến mất do những tai biến tự nhiên hoặc do các tác động của con người Vì thế cần phải nắm được các quy luật của tự nhiên, lường trước được những tác động của con người lên tự nhiên nói chung, lên tài nguyên DLST nói riêng để có những giải pháp, những định hướng để khai thác có hiệu quả, tôn tạo, bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên nhằm đáp ứng cho việc phát triển du lịch Đây cũng là yêu cầu sống còn của du lịch nhằm góp phần phát triển du lịch bền vững
Mỗi một điểm du lịch đều có 3 đặc trưng cơ bản nhất là: tính giao thoa, chu
trình sống và khả năng chịu tải Tuy nhiên đối với một khu vực phát triển DLST thì yếu tố bền vững là chủ đạo, vì vậy, khái niệm chu trình sống được đặt vào vị trí thứ yếu trong lãnh thổ DLST Do đó, hai đặc tính quan trọng trong lãnh thổ DLST mà ta cần chú ý là tính giao thoa và khả năng chịu tải
c.1 Tính giao thoa hoà hợp nhưng độc lập tương đối
Đây là một đặc tính thể hiện sự kết hợp giữa hai yếu tố: không gian du lịch và
không gian kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương Đặc tính này đòi hỏi sự phối hợp giữa công tác quản lý môi trường và công tác quản lý kinh tế xã hội tại điểm du lịch Nếu không biết khai thác sử dụng đặc tính này có thể mang lại hậu quả ô nhiễm môi trường khu du lịch, dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”
Khả năng tải là số lượng người cực đại mà HST ở khu du lịch có thể chấp nhận,
không gây suy thoái HST tự nhiên, không gây xung đột xã hội giữa cộng đồng địa
Trang 19phương và du khách, không gây suy thoái nền kinh tế truyền thống của cộng đồng bản địa
Trong phát triển DLST, khả năng tải là yếu tố quan trọng hàng đầu, nó liên quan trực tiếp đến sự bền vững của khu du lịch, và nó quyết định sự tồn tại của nền văn hoá bản địa Một khu DLST chỉ chấp nhận một khối lượng khách và phương tiện chuyên chở nhất định Ở đây ta xét đến 3 giá trị khả năng chịu tải:
_ Khả năng chịu tải sinh thái
_ Khả năng chịu tải xã hội
_ Khả năng chịu tải kinh tế
Khả năng chịu tải sinh thái: là áp lực sử dụng HST du lịch ở mức cực đại mà
không xảy ra suy thoái Bất cứ dấu hiệu suy thoái môi trường nào cũng đều chứng tỏ
sự vượt quá ngưỡng của khả năng chịu tải
Khả năng chịu tải xã hội: là số lượng du khách tham gia hoạt động DLST được
cộng đồng địa phương chấp nhận (chịu đựng được) Số lượng này tuỳ thuộc vào giới hạn chấp nhận của cộng đồng chứ không phải là số lượng du khách được lãnh thổ du lịch thu hút Khả năng chịu tải xã hội có thể tăng được thông qua chương trình giáo dục du khách, giáo dục cộng đồng
Khả năng chịu tải kinh tế: là khả năng chấp nhận các chức năng du lịch mà không
gây phương hại đến các hoạt động mà địa phương mong đợi, có nghĩa là hoạt động kinh tế địa phương có thể chấp nhận hoạt động du lịch sinh thái và không mâu thuẫn với hoạt động kinh tế mà DLST mang lại Ngược lại các hoạt động DLST và nguồn kinh tế mà DLST mang lại có thể gây phương hại đến các hoạt động kinh tế khác của địa phương thì có nghĩa là đã vượt quá khả năng tải
1.1.2 Khái niệm về môi trường
1.1.2.1 Môi trường
Môi trường được một số tác giả định nghĩa như sau:
“Môi trường là tổng hợp các yếu tố tồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến
sinh vật” (Masn và Lanenhim, 1957)
Trang 20“Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể, có liên quan mật thiết và có ảnh
hưởng đến sự tồn tại của con người như: đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng Ôzôn, sự đa dạng sinh học về các loài” (Joe Whiteney, 1993)
“Môi trường là hoàn cảnh sống của sinh vật, kể cả con người mà sinh vật và con
người đó không thể tách riêng ra khỏi điều kiện sống của nó” (Các tác giả Trung
Quốc)
“Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế, xã hội, tác
động lên từng cá thể hay cả cộng đồng” (UNEP)
Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam sửa đổi (2006) định nghĩa:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
“Thành phần môi trường là các yếu tố vật chất tạo thành môi trường như: đất,
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái, và các hình thái vật chất khác”
“Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch
đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”
Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và đầy
đủ hơn về môi trường:
“Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội-nhân văn và các
điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ”
Có thể phân tích định nghĩa này chi tiết hơn như sau:
-Các thành tố sinh thái tự nhiên gồm: đất trồng; lãnh thổ; nước; không khí; động, thực vật; các hệ sinh thái; các trường vật lý (nhiệt, điện, từ, phóng xạ)
-Các thành tố xã hội-nhân văn gồm: dân số và động lực dân cư, tiêu dùng, xả thải; nghèo đói; giới; dân tộc, phong tục, tập quán, văn hoá, lối sống, thói quen vệ sinh; luật, chính sách, hương ước, lệ làng…; tổ chức cộng đồng, xã hội…
Trang 21-Các điều kiện tác động (chủ yếu và cơ bản là hoạt động phát triển kinh tế) gồm: các chương trình và dự án phát triển kinh tế, hoạt động quân sự, chiến tranh…; các hoạt động kinh tế: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, du lịch, xây dựng, đô thị hoá…; công nghệ, kỹ thuật, quản lý
Ba nhóm yếu tố trên tạo thành ba phân hệ của hệ thống môi trường, bảo đảm cuộc sống và sự phát triển của con người với tư cách là thành viên của một cộng đồng hoặc một xã hội
1.1.2.2 Cấu trúc hệ thống môi trường
Vấn đề môi trường chỉ được phác hiện và quản lý tốt khi xem xét môi trường
trong tính toàn vẹn hệ thống của nó Môi trường có tính hệ thống Đó là các hệ thống
hở, gồm nhiều cấp, trong đó con người và các yếu tố xã hội-nhân văn, thông qua các điều kiện tác động, tác động vào hệ thống tự nhiên Không thể có vấn đề môi trường nếu thiếu hoạt động của con người Trong bất cứ vấn đề môi trường nào cũng có đầy
đủ các thành tố của ba phân hệ:
_ Phân hệ sinh thái tự nhiên: tạo ra các loại tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, nơi cư trú và nơi chứa đựng chất thải
_ Phân hệ xã hội-nhân văn: tạo ra các chủ thể tác động lên hệ tự nhiên
_ Phân hệ các điều kiện: tạo ra các phương thức, các kiểu loại, các mức độ tác động lên cả hai hệ tự nhiên và hệ xã hội nhân văn Những tác động lên hệ tự nhiên gây ra do con người và hoạt động phát triển của con người được gọi là tác động môi trường Những tác động ngược lại của hệ tự nhiên lên xã hội và hoạt động của con người được gọi là sức ép môi trường
1.1.2.3 Chức năng của môi trường
Hệ thống môi trường có bốn chức năng cơ bản:
_ Cung cấp nơi sống cho con người (nơi cư trú an toàn và đủ điều kiện để phát triển các phẩm cách cá nhân và cộng đồng, tạo dựng bản sắc văn hóa)
_ Cung cấp nguyên liệu và năng lượng
_ Chứa đựng và tự làm sạch chất thải
_ Cung cấp (lưu giữ) thông tin cho các nghiên cứu khoa học
Trang 221.1.2.4 Suy thoái môi trường
Suy thoái môi trường là sự giảm khả năng đáp ứng 4 chức năng cơ bản nói trên
của hệ thống môi trường Suy thoái môi trường biểu hiện ở các mặt sau:
_ Mất an toàn nơi cư trú (do sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường và mất ổn định
xã hội)
_ Cạn kiệt tài nguyên (do khai thác quá mức, sử dụng không hợp lý và do biến động điều kiện tự nhiên)
_ Xả thải quá mức, ô nhiễm
Suy thoái môi trường là quá trình chậm, khó định lượng chính xác, khó đảo ngược nên đòi hỏi phải được can thiệp bằng một chiến lược, bằng các chương trình phát triển bền vững
1.1.2.5 Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự tích luỹ trong môi trường các yếu tố (vật lý, hoá học, sinh học) vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường, khiến cho môi trường trở nên độc hại đối với con người, vật nuôi, cây trồng Ô nhiễm môi trường là yếu tố có thể định lượng được
- Yếu tố vật lý: bụi, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, nhiệt, điện, từ trường, phóng xạ…
- Yếu tố hoá học: các chất khí, lỏng và rắn
- Yếu tố sinh học: vi trùng, ký sinh trùng, vi rút
Tổ hợp các yếu tố trên có thể làm tăng mức độ ô nhiễm lên rất nhiều
Các tác nhân gây ô nhiễm xuất phát từ nguồn ô nhiễm, lan truyền theo các đường: nước mặt, nước ngầm, không khí, theo các tác nhân truyền bệnh (côn trùng, vật nuôi), người bị nhiễm bệnh…
Mặc dù chất gây ô nhiễm có thể có từ nguồn gốc tự nhiên nhưng phần lớn các nguồn ô nhiễm là từ nguồn nhân tạo, liên quan đến hoạt động sản xuất và hoạt động sống của con người
1.1.3 Giáo dục môi trường
1.1.3.1 Quan niệm về giáo dục môi trường
_ Theo Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN):
Trang 23“Giáo dục môi trường là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ tương tác giữa con người, nền văn hoá và thế giới vật chất bao quanh giáo dục môi trường; đồng thời, cũng thực hiện quá trình đưa ra nội bộ quy tắc ứng xử với những vấn đề liên quan tới đặc tính môi trường”
_ Theo UNESCO thì “giáo dục môi trường cố gắng:
+ Thúc đẩy nhận thức rõ ràng và quan tâm đối với mối quan hệ phụ thuộc giữa kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội trong các vùng đô thị và nông thôn
+ Mang lại cho mọi người cơ hội đạt được tri thức, các giá trị, thái độ, cam kết
và kỹ năng cần thiết để bảo vệ và cải thiện môi trường
+ Tạo ra những mẫu mực mới trong hành vi của các cá nhân, nhóm và xã hội như là một tổng thể hướng về môi trường.”
1.1.3.2 Mục tiêu giáo dục môi trường
i Mục tiêu giáo dục môi trường của UNESCO và UNEP
_ Nhận thức: giúp cho các đoàn thể xã hội và cá nhân đạt được một nhận thức và
sự nhạy cảm đối với môi trường và những vấn đề có liên quan
_ Kiến thức: giúp các đoàn thể xã hội và cá nhân tích luỹ được nhiều kinh nghiệm
khác nhau và có được sự hiểu biết cơ bản về môi trường và những vấn đề có liên quan
_ Thái độ: giúp các đoàn thể xã hội và cá nhân có được những kỹ năng trong việc
xác định và giải quyết các vấn đề môi trường
_ Tham gia: tạo cơ hội cho các đoàn thể xã hội và cá nhân tham gia một cách tích
cực ở mọi cấp trong việc giải quyết những vấn đề môi trường
ii Mục tiêu giáo dục môi trường trong nhà trường Trung học ở Việt Nam
_ Cung cấp cho học sinh những kiến thức nhất định về môi trường, cụ thể nhằm
trang bị cho học sinh:
+ Có được những hiểu biết tương đối đầy đủ về tự nhiên, môi trường sống của đất nước
Trang 24+ Nhận thức được rõ những mối quan hệ khắng khít, tương tác lẫn nhau giữa con người với các yếu tố tự nhiên; tầm quan trọng của môi trường đối với sự tồn tại
và phát triển của con người
+ Hiểu và nắm được những chủ trương, chính sách và luật lệ cơ bản của Nhà Nước về vấn đề bảo vệ môi trường
_ Trên cơ sở kiến thức để bồi dưỡng cho học sinh thái độ và hành vi cư xử đúng đắn với môi trường
+ Từng bước bồi dưỡng cho học sinh tình cảm, lòng yêu quý tự nhiên tha thiết, muốn bảo vệ môi trường, bảo tồn các phong cảnh đẹp, di tích lịch sử, văn hoá của dân tộc
+ Phải làm cho việc bảo vệ môi trường trở thành thói quen và nếp sống của học sinh Làm cho các em có thái độ tích cực chống lại các hoạt động phá hoại môi trường, làm ô nhiễm môi trường
_ Trang bị và xây dựng cho học sinh một số kỹ năng và giúp cho họ nắm bắt được những biện pháp bảo vệ môi trường xung quanh khu vực mình đang sống Từ đó các
em có thể đóng góp một cách có hiệu quả vào công cuộc xây dựng đất nước
1.2 Lợi ích của du lịch sinh thái trong giáo dục môi trường
1.2.1 Đối với ngành giáo dục:
_Các chuyến tham quan du lịch mang nhiều giá trị thực tiễn cho ngành giáo dục như: mở mang kiến thức, tầm nhìn cho học sinh, giáo dục được ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn, nâng cao trình độ nhận thức các vấn đề tự nhiên, xã hội
_ Du lịch ngoài trời tạo môi trường vui chơi lành mạnh, giải tỏa áp lực học tập ở nhà trường, kết hợp vui chơi và học tập, đáp ứng nhu cầu xã hội hoá giáo dục
1.2.2 Đối với ngành du lịch:
_Đây là mô hình hứa hẹn một sự phát triển mới cho ngành du lịch, vì đối tượng
phục vụ của nó rất đông và lâu dài
_Thu hút được đầu tư vào địa phương có điểm tham quan du lịch
_Thu được nhiều lợi nhuận Đa dạng hoá sản phẩm du lịch
Trang 25_Tăng lợi ích cộng đồng, đồng thời bảo tồn được môi trường tự nhiên và nhân văn Tạo việc làm cho người lao động
_Nâng cao trình độ và nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ phục vụ du lịch
1.2.3 Đối với học sinh:
_Về mặt kiến thức:
Đây là nét độc đáo của loại hình DLST vì không những học sinh được thưởng thức những nét đẹp khác nhau của thiên nhiên, có dịp mở mang thêm kiến thức cho bản thân, đồng thời tận mắt chứng kiến các hiện tượng, các khái niệm đã được học trong sách vở, thông qua thực tế sinh động của môi trường xung quanh Thông qua chuyến đi các học sinh cũng có thể thực hành, vận dụng các lý thuyết đã học vào thực
tế bằng nhiều phương pháp khác nhau
Hiện nay, với chương trình sách Giáo khoa mới cải cách, môn Địa lý ở khối 10 bậc THPT phần Địa lý Tự nhiên đã được đưa vào giảng dạy trở lại trong chương trình Ví dụ như ở chương Cấu trúc của Trái Đất, các Quyển của lớp vỏ Địa lý, có đến 12 nội dung chính liên quan đến 4 Quyển của Trái Đất mang ý nghĩa giáo dục môi trường (Hình 1.3) Các chuyến DLST sẽ là sự kết hợp kiến thức, sự hiểu biết và các biện pháp bảo vệ môi trường (Quyển) tùy theo địa điểm mà chúng ta lựa chọn
Hình 1.2: Nội dung bảo vệ môi trường ( Theo Lê văn Khoa và một số tác giả)
Trang 26_Về mặt giáo dục:
a Giáo dục về ý thức:
Những chuyến đi sẽ giúp các học sinh nâng cao nhận thức về môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn, từ đó dẫn đến ý thức biết trân trọng, bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, các chuyến đi cũng làm cho các em thấy thoải mái hơn, vui tươi hơn, cảm thấy yêu quê hương đất nước mình hơn khi tận mắt chứng kiến các thắng cảnh, các di tích có từ lâu đời Từ đó cũng hình thành trong các em ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị nhân văn, những nét văn hoá truyền thống, những di tích lịch sử… Các em không chỉ chú ý đến vẻ đẹp của tự nhiên mà còn được hướng dẫn phát hiện những hiện tượng xấu, phá hoại môi trường như đốn chặt rừng bừa bãi, bẻ lá cành, nhổ cây, đốt lửa trong rừng, viết vẽ tuỳ tiện lên vách đá…
b Góp phần hình thành nhân cách:
Qua những chuyến đi xa tạo cho học sinh có cuộc sống hoà đồng trong môi trường tập thể, không thể dựa dẫm vào người thân, cha mẹ, biết tự lập Trong một tập thể lớn, các em sẽ xích lại gần nhau hơn, biết giúp đỡ và thân thiện với nhau hơn, phát huy được nhiều khả năng còn tiềm ẩn Bên cạnh đó, còn giúp cho học sinh thấu hiểu, cảm thông đời sống của người dân địa phương (ở những nơi có tuyến, điểm du lịch), đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, từ đó hình thành nhân cách sống vì mọi người, vì lợi ích cộng đồng
Kỷ luật là sức mạnh của tập thể Đã tham gia trong một tập thể thì tinh thần kỷ luật phải được đặt lên hàng đầu để bảo đảm cho chuyến đi thành công tốt đẹp Kỷ luật
ở đây được thể hiện qua việc chấp hành đúng các quy định về giờ giấc đi lại, ăn uống, lên xuống xe, giờ tham quan, nội quy chung, kỷ luật chung, v.v… Qua đó các học sinh được rèn luyện ý thức kỷ luật, tự giác chấp hành mọi qui định, không để người
khác nhắc nhở
1.3 Vấn đề giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông:
Vấn đề môi trường là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giới Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu Cùng với sự phát triển kinh tế ồ ạt, sự gia tăng dân số quá nhanh, sự
Trang 27thiếu hiểu biết về môi trường, con người đã khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đã tàn phá môi trường, gây nên sự mất cân bằng sinh thái, làm suy giảm tính đa dạng sinh học và suy kiệt các loại tài nguyên thiên nhiên Bên cạnh đó, thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm và những hành động vô tình hay hữu ý gây tổn hại tới môi trường đã làm cho môi trường ngày càng suy thoái nghiêm trọng Giáo dục môi trường,bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững đang là một trong những mục tiêu chiến lược mang tính toàn cầu được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm
Ở nước ta, giáo dục môi trường (GDMT) đã được Quốc hội thông qua như là một trong những nguồn lực bảo vệ môi trường Trong chương XI Nguồn lực bảo vệ môi trường, điều 107, Luật Bảo Vệ Môi Trường (sửa đổi 11/2005) đã qui định rõ về việc giáo dục môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường:
1 Công dân Việt nam được giáo dục toàn diện về môi trường nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức bảo vệ môi trường
2 Giáo dục về môi trường là một nội dung của chương trình chính khoá của các cấp học phổ thông
3 Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường, khuyến khích mọi
tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường
4 Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường
GDMT cần thiết cho tất cả mọi thành phần trong xã hội và là cơ sở cho mọi hoạt động bảo vệ môi trường Thông qua GDMT để cung cấp cho mỗi cá nhân một năng lực biết suy xét và xử lý thông tin dựa trên các khía cạnh sinh thái, xã hội, thẩm mỹ, đạo đức, chính trị, kinh tế, để đạt được hệ thống kỹ năng: thấy được vấn đề, biết giải quyết nó Điều quan trọng hơn, GDMT thúc đẩy mạnh mẽ những sự thay đổi trong hành vi, giúp họ biết quyết định và biết tham gia bảo vệ môi trường một cách tích cực, tự giác
GDMT có thể được thông qua nhiều hình thức khác nhau, song GDMT ở trường phổ thông chiếm vị trí đặc biệt bởi vì trường phổ thông là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước Họ cần phải được giáo dục một cách có hệ
Trang 28thống về tư tưởng “phát triển bền vững” ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường GDMT cho học sinh phổ thông vừa đạt được lợi ích trước mắt, vừa có lợi ích lâu dài
Vì vậy việc làm này được xem là có tác dụng rộng lớn, sâu sắc và lâu bền nhất
GDMT trong nhà trường phổ thông nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là: mỗi học sinh được trang bị một ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của Trái Đất, một khả năng biết đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên và một giá trị nhân cách khắc sâu bởi một nền tảng đạo lý về môi trường Mục đích này chỉ có thể đạt được khi chúng ta đồng thời chú trọng cả ba thành phần của GDMT là giáo dục về môi trường , vì môi trường và bằng môi trường
Giáo dục về môi trường cung cấp cho học sinh tri thức hiểu biết về môi trường Giáo dục vì môi trường để học sinh biết đánh giá thái độ, hành vi của mình trước môi trường
Bằng môi trường nghĩa là giáo dục học sinh thông qua môi trường, coi môi trường
là cơ sở để tiến hành hoạt động giáo dục
Trong mối quan hệ giữa ba thành phần đó thì giáo dục vì môi trường là mục tiêu căn bản và cuối cùng, còn giáo dục về môi trường và bằng môi trường là những bước đầu tiên làm phương tiện để đạt được mục tiêu giáo dục vì môi trường
Hình 1.3: Mô hình của việc dạy và học trong giáo dục môi trường
(Nguồn [7] )
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VỚI VIỆC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH THPT
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
Nước Việt nam tuy nhỏ bé nhưng được thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh quan xinh
đẹp, đa dạng và độc đáo, vừa mang tính chất văn hoá thế giới vừa có tính lịch sử đặc thù của dân tộc Việt Nam Những danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long –
di sản của thế giới; Cần Giờ - khu dự trữ sinh quyển của thế giới, một số vườn quốc gia có hệ sinh thái đa dạng, nuôi dưỡng biết bao loài động, thực vật quý hiếm, với không gian thoáng đãng, rừng xanh ngút ngàn, biển cả êm đềm… Bên cạnh thiên nhiên hấp dẫn còn có những nét tín ngưỡng đặc sắc, những di tích khảo cổ, di tích văn hoá lịch sử,…khêu gợi tính tò mò ham hiểu biết của con người Với xu hướng phát triển khoa học kỹ thuật như vũ bão, nhu cầu thích tìm về thiên nhiên của con người ngày càng gia tăng, những cảnh thiên nhiên tươi đẹp, nên thơ, không khí trong lành là những nơi hấp dẫn cả khách du lịch trong nước và thế giới
2.1.1 Các hệ sinh thái điển hình và đa dạng sinh học
Việt Nam, do đặc điểm vị trí địa lý, địa hình và hình thái lãnh thổ trải dài trên 15
vĩ tuyến, với hơn 3200km bờ biển, tài nguyên du lịch sinh thái rất phong phú và đa dạng mà tiêu biểu là một số loại sau:
2.1.1.1 Hệ sinh thái rừng nhiệt đới
đới) phát triển trong điều kiện nền nhiệt và ẩm đều cao, ổn định; phân bố chủ yếu tại
một số khu vực thuộc sườn Đông của dãy Trường Sơn - từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi
_ HST rừng rậm gió mùa ẩm thường xanh trên núi đá vôi (HST karst) phân bố
ở các vùng núi đá vôi phía Bắc, trên các á đai 600 – 1000m, 1000 – 1600m như Cao Bằng, Bắc Cạn, Hải Phòng, Ninh Bình…
Trang 30_ HST xavan nội chí tuyến gió mùa khô (HST rừng xavan), phát triển ở nơi có
tương quan nhiệt - ẩm dưới 1, là nơi lượng mưa nhỏ hơn khả năng bốc hơi như ở Ninh Thuận, Nghệ An…
_ HST rừng khô hạn, điển hình là rừng khộp; là loại rừng nhiệt đới đặc trưng ở
khu vực Đông nam Á, phát triển trong điều kiện mùa mưa tập trung và mùa khô kéo dài đến 7 tháng; phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên, Tây Ninh…
2.1.1.2 Hệ sinh thái núi cao
Ở độ cao trên 1000m, chiếm khoảng 10% diện tích vùng núi Việt Nam, phân bố ở
vùng núi SaPa, Tam Đảo, Ba Vì, Bạch Mã, Bà Nà, Hoàng Liên Sơn, Đà Lạt …
2.1.1.3 Hệ sinh thái đất ngập nước
Trong đó nổi bật là:
_ HST rừng ngập mặn ven biển dọc bờ biển Việt Nam từ Móng Cái đến Cà
Mau, trong đó HST rừng ngập mặn đồng bằng sông Cửu long có thành phần loài đa
dạng và phong phú nhất
_ HST đầm lầy nội địa phân bố chủ yếu ở các vùng trũng Hà Tiên, Đồng Tháp
Mười, U Minh…
_ HST đầm phá phân bố chủ yếu ở dải ven biển miền Trung từ Thừa
Thiên-Huế đến Ninh Thuận như đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, đầm Lăng Cô, đầm Trường Giang, đầm An Khê, đầm Thị Nại, đầm Ô Loan…
_ HST sông, hồ ở ven các sông, hồ nổi tiếng như sông Hương, sông Hồng,
sông Cửu Long, sông Đồng Nai, hồ Thác Bà, hồ Hoà Bình, hồ Trị An, hồ Ba Bể, hồ Tây, hồ Than Thở…
2.1.1.4 Hệ sinh thái san hô, cỏ biển
Là một trong những HST đặc thù của vùng biển nhiệt đới, phân bố ngoài khơi
vùng biển Việt Nam, trong các vịnh biển, quanh các đảo
2.1.1.5 Hệ sinh thái vùng cát ven biển
Phân bố chủ yếu từ Nam Thanh Hóa đến Vũng Tàu, phát triển trên các loại đất cát khác nhau như đất cồn cát trắng vàng, đất cát biển, đất cát đỏ, tạo thành các dạng địa hình độc đáo vùng ven biển, nhất là vùng duyên hải Nam Trung Bộ
Trang 312.1.1.6 Hệ sinh thái biển - đảo
Với hơn 2700 đảo lớn nhỏ, trong đó chỉ có 3 đảo có diện tích từ 100km2 trở lên là Cái Bầu, Cát Bà, Phú Quốc Khu vực tập trung nhiều đảo nhất là vịnh Bắc Bộ (83%
số đảo) Các đảo và vùng nước quanh đảo là nơi bảo tồn, phát triển nguồn gien tự nhiên rất phong phú và lưu giữ những nguồn gien quý hiếm của khu hệ sinh vật Việt nam
2.1.1.7 Hệ sinh thái nông nghiệp
HST nông nghiệp là HST nhân sinh, có tác động của con người và được con người duy trì để phục vụ cho đời sống của mình Nhóm HST nông nghiệp bao gồm 3 phân hệ: phân hệ đồng ruộng, phân hệ vườn làng và phân hệ sông hồ, ao đầm HST nông nghiệp là tài nguyên DLST độc đáo, được khai thác để tạo nên các sản phẩm DLST làng quê, trang trại hấp dẫn và phổ biến trên thế giới hiện nay Ở Việt Nam, đặc biệt
ở các vùng làng quê đồng bằng sông Cửu Long, DLST đã xuất hiện và phát triển, mặc dù còn chưa hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó, song đã thu hút được sự quan
tâm lớn của nhiều đối tượng khách du lịch
2.1.2 Tổ chức không gian du lịch sinh thái
Dựa vào sự phân bố địa lý, cấu trúc quần thể động, thực vật, sự khác nhau về tổ hợp loài và giới hạn phân bố các loài mang tính chỉ thị, tổ chức không gian hoạt động
du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn ở nước ta được phân thành 7 cụm vùng tiêu biểu:
2.1.2.1 Không gian du lịch sinh thái vùng núi và ven biển Đông Bắc:
bao gồm một phần các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn,Thái Nguyên Các hệ sinh thái điển hình và có giá trị cao được chọn khu vực này là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên (Lạng sơn), rừng văn hoá lịch sử Pắc Bó, Trùng Khánh (Cao Bằng), Vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Cạn), Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) và hệ sinh thái rừng ngập mặn Quảng Ninh, Hải Phòng
2.1.2.2 Không gian du lịch sinh thái vùng núi Tây Bắc và Hoàng Liên Sơn:
chủ yếu phần phía Tây của 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu với vùng sinh thái núi cao Sapa- Phanxipăng và khu bảo tồn Mường Nhé – nơi đang tồn tại 38 loài động vật quí hiếm cần được bảo vệ như Voi, bò tót, Gấu chó, Hổ và Sói đỏ
Trang 322.1.2.3 Không gian du lịch sinh thái Đồng bằng Sông Hồng: chủ yếu thuộc
các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Thanh Hoá Các khu bảo tồn thiên nhiên điển hình được chọn cho vùng này là Tam Đảo, Cúc Phương, Ba
Vì và Xuân Thuỷ (khu bảo vệ vùng đất ngập nước (Ramsa) đầu tiên ở Việt Nam)
2.1.2.4 Không gian du lịch sinh thái vùng Bắc Trung Bộ: bao gồm phần phía
Tây nam Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà nẵng và phía Đông Nam Thừa Thiên- Huế So với các nước trong khu vực Đông nam Á, đây là địa bàn được đánh giá cao nhất về tính đa dạng sinh học với khu bảo tồn thiên nhiên phong nha-
Kẻ Bàng được xếp vào loại lớn trên thế giới và nhiều khu rừng nguyên sinh có giá trị
2.1.2.5 Không gian du lịch sinh thái vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên:
gồm phần phía Tây của Tây Nguyên, một phần Bắc Lâm Đồng kéo dài đến Khánh Hoà Các hệ sinh thái điển hình của vùng này bao gồm rừng khộp ở Yok đôn, đất ngập nước Hồ Lắc, hệ sinh thái núi cao Ngọc Linh, Biodup- Núi Bà, hệ sinh thái san
hô Nha Trang
2.1.2.6 Không gian du lịch sinh thái Đông Nam Bộ: là vùng chuyển tiếp từ
cao nguyên Tây Nguyên cực Nam Trung Bộ xuống đồng bằng Nam Bộ, bao trùm khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai - Bình phước - Lâm Đồng), Côn Đảo, Bình Châu - Phước Bửu (Bà Rịa - Vũng Tàu), Biển Lạc – Núi Ông (Bình Thuận)
2.1.2.7 Không gian du lịch sinh thái Đồng Bằng Sông Cửu Long: dựa vào
hai hệ sinh thái đất ngập mặn và rừng ngập mặn thuộc các tỉnh dọc sông Mê kông đến Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang Vùng này tập trung chủ yếu vào rừng ngập mặn Cà Mau, Tràm chim Đồng Tháp, Cù lao sông Tiền, sông Hậu và khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc
Du lịch sinh thái thường lấy các Vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên hay rừng phòng hộ môi trường, các di sản văn hoá, lịch sử và các vườn chim, các khu giải trí do con người tạo nên làm địa điểm để phục vụ du lịch Chúng ta sẽ tìm hiểu một
số địa điểm thuận lợi cho DLST trong phạm vi không gian từ thành phố Hồ Chí Minh
ra một số nơi thuộc Nam Trung Bộ và Nam Bộ mà có thể phục vụ tốt cho đối tượng
du lịch là học sinh, chủ yếu là học sinh Phổ thông Trung học tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 332.2 Thực trạng phát triển các tour du lịch sinh thái ở thành phố Hồ Chí Minh và phụ cận với việc giáo dục môi trường cho học sinh
2.2.1 Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Thảo Cầm Viên Sài Gòn (TCVSG) ở số 2B đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh, từ lâu đã nổi tiếng là một di tích văn hoá, lịch sử, một bảo tàng thiên nhiên quý giá của TP Hồ Chí Minh và của cả nước Là một công viên lớn nhất thành phố (với diện tích khoảng 17 ha), TCVSG là nơi trưng bày bộ sưu tập động thực vật chọn lọc, trong đó có nhiều loài quý hiếm của Việt Nam và của nhiều nước khác Chính vì sự đa dạng các loài động thực vật, lại ở ngay trong lòng thành phố, TCVSG thật sự là nơi tham quan, vui chơi, giải trí của người dân thành phố và của du khách trong và ngoài nước, là một trường học sinh động giúp học sinh và mọi người tìm hiểu về thế giới thiên nhiên kỳ thú
Đôi dòng lịch sử…
Sau khi xâm chiếm Nam Kỳ, người Pháp bắt đầu tổ chức chăn nuôi và trồng trọt tại Sài Gòn Năm 1864, người Pháp xây dựng Vườn Bách Thảo trên diện tích 12 ha, vốn là một vùng đất hoang ở phía đông bắc kênh L’avanche (kênh Thị Nghè bây giờ) Ông Louis Adolphe Germain, một thú y sĩ của quân đội Pháp được giao nhiệm vụ mở mang khu vực này Ông đã lập hàng loạt thiết kế quy hoạch cần thiết cho một vườn thú tương lai
Công trình hoàn thành vào tháng 3 năm 1865 Nhận thấy tầm quan trọng của một vườn thú lớn ở Viễn Đông, toàn quyền Đông Dương đã mời ông J.B.Louis Pierre, người phụ trách chăm sóc thực vật của vườn Bách Thảo Calcutta (Ấn Độ) sang làm giám đốc Ông Pierre được giao nhiệm vụ sưu tập các loài thực vật, động vật của Nam kỳ và ba nước Đông Dương để chuyển vào Viện Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên Paris Cuối năm 1865, Vườn Bách Thảo được mở rộng thành 20 ha Là một nhà khoa học, ông đã giữ lại nhiều cây rừng tự nhiên, đồng thời du nhập một số loài cây đại mộc từ các lục địa khác và trồng thành công một số cây ăn trái thuộc khu vực Đông Nam Á, để từ đây cho ra những vườn cây ăn trái sung túc khắp miền Nam Ông làm giám đốc trong 12 năm và đã để lại cho chúng ta một di sản quý giá: bộ sưu tập hơn
100 000 tiêu bản hiện được lưu giữ tại bảo tàng thực vật thuộc Viện Sinh Học Nhiệt
Trang 34Đới TP Hồ Chí Minh và hàng ngàn cây cổ thụ trên các đường phố khu trung tâm, vườn cây trong công viên Tao Đàn Theo thời gian, cơ sở vật chất của Vườn Bách Thảo được chỉnh trang, tôn tạo, mở rộng sang bên kia sông Thị Nghè thêm diện tích
13 ha và năm 1927 một chiếc cầu đúc đã nối liền hai khu của Vườn Bách Thảo Năm
1956, Vườn Bách Thảo (sở thú) chính thức mang tên Thảo Cầm Viên Sài Gòn Quan
hệ trao đổi, mua bán thú với nhiều nước được mở rộng, làm tăng ảnh hưởng của TCVSG trên thế giới
Bộ sưu tập cây xanh của TCV với hơn 500 loài khác nhau gồm 2.100 cây thân gỗ, khoảng 500 chậu cảnh trưng bày kiểng cổ, hơn 30 loài xương rồng, 23 loài lan nội địa, 34 loài bonsai và hàng chục ha thảm cỏ xanh Khi bước chân vào TCVSG, ta có cảm giác lạc trong đại ngàn những cây đại mộc, dáng cây thẳng đứng vút vào trời xanh, xoè tán che nắng cho những con đường trải nhựa, những chuồng thú nằm bên dưới Đó là những cây còn sót lại của rừng miền Đông Nam Bộ như cây Dầu rái, Sao đen; có những cây có tuổi thọ từ 100 đến 200 năm tuổi như Sóng rắn thơm, Lòng mang lá cò ke, cây Mét với đường kính gốc 2m, cây Viết Chát, cây Sọ khỉ (Cây Xà cừ) nguồn gốc từ Châu Phi được nhập vào Việt Nam cuối thế kỷ 19, tán lá rộng chừng 20-30m, đường kính 3.20m, chu vi phải sáu người ôm mới xuể
Xương rồng ở đây thuộc các giống Opunita, Cereus, Echevevia, Echinocatus, Pereskia… những cây Kim giao, Xương rồng búa, Xương rồng 3 cạnh, Ngọc kỳ lân với tuổi thọ trên 100 năm, đường kính gốc tới 30-40cm, thân hoá gỗ, cành tán xum xuê Ngoài ra, trong TCV còn có các loài thực vật cho hoa đẹp.Lan rừng ở Việt Nam hiện đã xác định có khoảng 800 loài Lan rừng trong TCV tuy còn khiêm tốn về chủng loại nhưng đã đặc trưng được cho khu hệ lan vùng nhiệt đới…
Song điều thật sự hấp dẫn khi thăm TSVSG là được tận mắt thấy những loài động vật quí hiếm Các loài chim lớn nhất Việt Nam như Đại bàng đầu trọc sải cánh dài 3m, Kên kên Ấn Độ, Đại bàng biển, Ó biển, Diều hoa…; nhiều loài chim như Hồng hoàng, Niệc mỏ vằn, Niệc cổ hung có tên trong Sách Đỏ Việt Nam Thú móng guốc
có Nai, Hươu vàng, Hươu sao … Các loại thú khổng lồ như khu Voi, Hà mã, Gấu, Bò tót, Ngựa hoang; chuồng Cọp, Hắc tinh tinh…luôn hấp dẫn du khách mọi lứa tuổi Ngoài khu chuồng chim với các loài chim họ Trĩ màu sắc sặc sỡ như Công xanh
Trang 35Đông Dương, Trĩ sao; họ Vẹt như Vẹt Cuba, Vẹt Nam Mỹ, Vẹt Châu Úc…còn có các loài chim quý hiếm như Bồ nông chân xám, Cò lạo Ấn Độ, Già đẩy, Hạc cổ trắng…;
Đà điểu Châu Phi (loài chim lớn nhất trên thế giới hiện nay), Đà điểu Chấu Úc, Đà điểu Tân ghinê Đảo Vượn với những loài đặc hữu có giá trị khoa học cao như Vượn
má vàng, Voọc bạc,Voọc vá chân nâu, Voọc vá chân đen…Chưa kể đến lãnh địa của các loài bò sát như Cá Sấu ( nước mặn, nước ngọt), Trăn, Thằn lằn kích thước lớn như Rồng đất, Cự đà xanh, Kỳ đà hoa…,và hàng loạt các loài thú ăn thịt nhỏ như Cầy mực, Báo lửa, Báo gấm, Mèo gấm, Báo hoa mai…là những loài đặc hữu có tên trong sách Đỏ Việt Nam và thế giới
Nhân giống thành công nhiều loài động vật quý hiếm
Nghiên cứu khoa học và nhân giống các loài động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng
là một trong những mục tiêu quan trọng của TCV nhằm góp phần vào việc bảo tồn các loài động vật sinh sản trong điều kiện nuôi để bổ sung cho các quần thể bị suy giảm ngoài tự nhiên hoặc sử dụng cho các chương trình trao đổi động vật giữa các vườn thú TCV đã nhân giống thành công Beo lửa (động vật có nguy cơ tuyệt chủng chỉ có ở Đông Nam Á), Sư tử Nam Mỹ, Trĩ sao, Mèo gấm, Báo lửa, Nai Cà tông, Cá sấu nước ngọt, nước mặn, Công xanh, Gà lôi… Ngoài ra TCV đã và sẽ thu nạp thêm nhiều loài chim, thú Châu Phi mới lạ, quý hiếm như Ngựa vằn, Hươu Cao Cổ, Linh dương sừng xoắn, Tê giác trắng, Thiên nga đen, Sếu vương miện…
Hiện nay, tại hầu hết các Vườn thú trên thế giới, giáo dục bảo tồn và bảo vệ môi trường là một trong những chức năng và hoạt động chính của Vườn thú Mục tiêu nhằm giáo dục công dân, trước mắt là các em học sinh, sinh viên, nâng cao sự hiểu biết và nhận thức đối với các loài động thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng và bảo vệ môi trường sống, từ đó có sự hiểu biết đúng đắn, có thái độ tích cực góp phần bảo tồn các loài và bảo vệ môi trường Để hỗ trợ và trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục bảo tồn và bảo vệ môi trường tại Vườn thú, Hiệp hội các nhà giáo dục bảo tồn của các Vườn thú trên thế giới (IZE) đã được thành lập và hiện nay,Thảo Cầm Viên Sài Gòn là thành viên của Hiệp hội này Ngoài ra, trong mối quan hệ hợp tác được
mở rộng, TCVSG cũng là thành viên của Hiệp hội các Vườn thú Đông Nam Á (SEAZA) và các tổ chức, các Vườn thú thuộc nhiều quốc gia trên thế giới
Trang 36Với những điều kiện sẵn có (như bộ sưu tập động thực vật sống phong phú, đa dạng, các trang thiết bị nghe nhìn, đội ngũ cán bộ khoa học…), từ năm 1999, Thảo Cầm Viên (TCV) Sài Gòn đã phối hợp với các trường Phổ thông trong thành phố thực hiện chương trình GDBT và BVMT, nhằm nâng cao nhận thức của các em đối với việc bảo vệ các loài nguy cấp và môi trường thiên nhiên, có được sự hiểu biết đúng đắn, có thái độ tích cực góp phần bảo tồn các loài động thực vật hoang dã và môi trường sống
Đến với TCV, tùy theo cấp học, trình độ và nội dung lựa chọn, các em sẽ được tìm hiểu các chuyên đề phong phú, với ban soạn thảo và ban giảng huấn gồm các Tiến sĩ, Bác sĩ thú y, Kỹ sư nông nghiệp, Cử nhân Sinh học và các cộng tác viên đến từ các trường Đại học Nội dung các chuyên đề giảng dạy cho học sinh chia thành 4 lĩnh vực chính: môi trường, bảo tồn, động vật và thực vật; được biên soạn dựa trên chương trình học phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12, và chương trình Đại học Nông Lâm, Đại học Khoa học Tự nhiên…, đặc biệt có một số chuyên đề rất gần với chương trình học về thế giới tự nhiên như: Chúng ta cùng nhau bảo vệ môi trường; Môi trường sống và sự thích nghi của động vật; Các loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng;
Đa dạng sinh học - Rừng mưa nhiệt đới, Sa mạc, Rừng ngập mặn; Sinh vật và Môi trường; Tài nguyên động thực vật rừng Việt Nam…; Các em còn được tham gia thảo luận cùng với Giáo viên hướng dẫn các biện pháp cụ thể như:
_ Những nguyên nhân chính gây giảm số lượng các loài động vật hoang dã
_ Những biện pháp cần làm để bảo tồn động vật hoang dã ở Việt Nam
_ Em có thể làm gì để góp phần bảo vệ các loài động vật hoang dã (nói chung) và các loài động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng (nói riêng)
_ Các nguyên nhân dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học
_ Em làm gì để góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh học…
Các em còn được hiểu biết về các cấp đánh giá tình trạng nguy cấp của các loài động thực vật quý hiếm (theo IUCN) được sử dụng trong Thảo Cầm Viên và trong sách Đỏ Việt Nam như: E (Endangered): Đang nguy cấp; V (Vulnerable): Sẽ nguy cấp; R (Rare): Hiếm; T (Threatened): Bị đe dọa; K (Insufficiently known): Biết không chính xác Khi đi tham quan thực tế, kỹ năng quan sát và thực hành của các em
Trang 37cũng được trau dồi qua việc làm bài tập thu hoạch Trí tuệ cá nhân và tập thể đều
Từ đó giúp các em biết yêu quý thiên nhiên, hiểu được giá trị các nguồn tài nguyên, giảm thiểu tối đa tác động xấu của con người lên môi trường, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ lợi ích của các thế hệ mai sau
Sau hơn 7 năm thực hiện chương trình, số lượng học sinh sinh viên đến tham quan học tập ngày càng tăng, thể hiện qua biểu đồ sau:
6084 0
Biểu đồ 2.1: Số lượng học sinh-sinh viên đến tham gia chương trình từ
1999-2006 ( Nguồn: Phòng Giáo dục bảo tồn - Thảo Cầm Viên Sài Gòn)
Qua đó chúng ta cũng thấy được tầm quan trọng của chương trình cũng như sự đồng tình ủng hộ của nhiều trường học trong cộng đồng xã hội
2.2.2 Khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ
Rừng ngập mặn (RNM) Cần Giờ nằm gọn trong huyện Cần Giờ thuộc thành phố
Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố hồ Chí Minh khoảng 50km về phía Đông Nam Trước kia RNM Cần Giờ là một quần thể thực vật đa dạng sinh học Nhưng trong chiến tranh, bom đạn và các loại chất độc hoá học đã huỷ hoại gần như hoàn toàn khu rừng này Đến năm 1978, Thành uỷ và Uỷ Ban Nhân Dân (UBND) thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo ngành Lâm nghiệp, UBND và nhân dân huyện Cần Giờ phục hồi lại hệ sinh thái RNM đa dạng, độc đáo này
Trang 38Môi trường của RNM Cần Giờ có điều kiện rất đặc biệt Đất mặn phèn tiềm tàng,
có tầng sinh phèn sâu, ngập mặn thường xuyên và bãi bồi cát ngập
triều Hệ sinh thái trung gian (hệ đệm) giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn Là vùng ven biển có nhiều cửa sông, RNM Cần Giờ nhận một lượng lớn phù sa từ thượng nguồn và lưu vực của các con sông, và dưới sự ảnh hưởng của biển - thủy triều đã hình thành hệ thực vật rừng sác phong phú về các chủng loại và là nơi cung cấp thức ăn nuôi dưỡng, là nơi cư trú của các loài thủy sinh vật và động vật có xương sống ở cạn Hiện nay rừng đang nuôi sống trên 150 loài thực vật, các loài chủ yếu như Bần trắng, Mắm trắng, các quần hợp Đước đôi - Bần trắng cùng Xu ổi, Trang, Đưng… và các loài nước lợ như Bần chua, các quần hợp Mái dầm, Ô rô, Dừa lá, Ráng…, các loài cỏ biển; đất canh tác nông nghiệp với lúa, khoai mỡ, các loài đậu, dừa… các vườn cây ăn trái Quần thể Đước đôi chiếm ưu thế, quần thể Chà là phân bố trên vùng đất cao ít ngập nước hoặc chỉ ngập nước trong thời gian ngắn vào những ngày triều cường của tháng Thứ tự phân
bố từ thấp lên cao của các loại cây như sau: Bần trắng - Mắm trắng - Đước đôi – Sú - Vẹt - Cóc đỏ - Giá - Chà là Trên 70 loài động vật thủy sinh không xương sống, 137 loài cá, 31 loài bò sát, 19 loài thú, 130 loài chim, 3 loài lưỡng thê…Các loài đang được thuần dưỡng hiện nay là:Nai, Kỳ đà, Cá sấu, Heo rừng, Rái cá…,trong đó có một số loài vật quý hiếm được ghi trong sách Đỏ như Cá sấu hoa cà, Bồ nông chân xám, Rái cá lông mượt…
Chính vì hiệu quả về mặt kinh tế và môi trường rất lớn, RNM Cần Giờ vừa là “lá phổi”, vừa là “quả thận”, có chức năng làm sạch không khí và nước thải từ các thành phố công nghiệp trong thượng nguồn sông Đồng Nai – Sài Gòn đổ ra biển Đông, góp phần cải tạo môi trường thành phố Hồ Chí Minh và vùng lân cận
Từ tháng 3/1999, Ủy ban Nhân dân TP HCM đã giao RNM Cần Giờ cho Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn nhằm đầu tư và phát triển các loại hình du lịch sinh thái, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội cho địa phương và cải thiện đời sống dân cư Hiện nay, nơi đây đã được xây dựng thành các khu, điểm du lịch hấp dẫn như: khu Vàm Sát – Đầm Dơi, du thuyền Cá sấu, Đầm Chim cò, Hồ Chết, tháp Tang Bồng, Đảo khỉ…
Trang 39Đây là một khu rừng theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài được khôi phục, chăm sóc, bảo vệ và quản lý thuộc vào loại tốt nhất ở Việt Nam và thế giới Ngày 21/1/2000, UNESCO đã công nhận rừng ngập mặn Cần Giờ là khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) rừng ngập mặn thế giới đầu tiên của Việt Nam (The Can Gio Mangrove Biosphere Reserve) trong mạng lưới 368 Khu DTSQ của thế giới Khu DTSQ Cần Giờ bao gồm các hệ sinh thái trên đất liền và các vùng ven biển được Chương trình Con người và sinh quyển của UNESCO công nhận nhằm thúc đẩy và xây dựng mối quan hệ cân bằng giữa con người và thiên nhiên Rừng ngập mặn Cần Giờ được công nhận là khu DTSQ vì thực hiện được 3 chức năng do UNESCO đặt ra gồm: chức năng bảo tồn (đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng cảnh quan, hệ sinh thái, loài và di truyền); chức năng phát triển (thúc đẩy phát triển kinh tế mà vẫn bảo vệ môi trường và các giá trị văn hóa); chức năng trợ giúp (hỗ trợ cho việc nghiên cứu, giám sát, đào tạo và giáo dục về bảo tồn và phát triển bền vững ở phạm vi địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế) Tổng diện tích khu DTSQ RNM Cần Giờ là 75.740 ha, trong đó vùng lõi (4.721 ha), vùng đệm (41.139 ha) và vùng chuyển tiếp (29.880 ha)
Ngoài việc là một khu dự trữ sinh quyển thế giới, RNM Cần Giờ trước đây còn là căn cứ địa Cách mạng, một di chỉ văn hóa - lịch sử nổi tiếng, ghi dấu nhiều chiến công oanh liệt của quân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ Để tưởng nhớ các chiến sĩ đặc công rừng Sác đã làm nhiệm vụ tại đây, khu DLST Vàm Sát đã dựng lên ngọn tháp cao 26m, đặt tên là Tang Bồng, hình cánh cung - biểu tượng cho sức mạnh và ý chí của tuổi trẻ các thế hệ cha anh trong chiến tranh Đứng trên ngọn tháp cao này, du khách có thể phóng tầm mắt ra xa, nhìn thấy sự mênh mông, xanh thẳm của toàn khu rừng Cần Giờ, thấy bến đò Bà Rịa – Vũng Tàu và những khu nhà cao tầng ở trung tâm TP Hồ Chí Minh
Trang 40
(Nguo